Thiền sư NGỘ ẤN:
Diệu tính hư vô bất khả
phan,
Hư vô tâm ngộ đắc hà
nan.
Ngọc phần sơn thượng sắùc
thường nhuận,
Liên phát lô trung thấp vị
can.
Dịch:
Chân Như Diệu Tính". vô
ngôn thuyết,
Chỉ
ngộ Chân Như mới hiểu thôi,
Trên
núi ngọc thiêu màu tỏa sáng
Trong
lò sen nở sắc khoe tươi.
·Thiền
sư VIÊN CHIẾU:
Ly hạ trùng dương cúc,
Chi đầu thục khí oanh
Trú tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thố minh.
Dịch:
Dưới giậu, cúc thu nở
Đầu cành chim xuân ca,
Ngày ngày mặt trời chiếu,
Đêm đến trăng hiện ra.
·Thiền
sư MÃN GIÁC:
Xuân khứ bách hoa
lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc
tận,
Đình tiền tạc dạ nhất
chi mai
Dịch:
Xuân đi, trăm hoa rụng
Xuân đến nở. trăm hoa.
Trước mắt, đời chuyển
biến!
Đầu xanh tuyết điểm pha.
Đừng nghĩ:
Xuân tàn hoa rụng hết
Bên thềm, mai nở trắng...
đêm qua!
·Đoàn
Văn Khâm truy tặng thiền sư CHÂN KHÔNG
Hạnh cao triều dã chấn
thanh phong,
Tích trụ như vân mộ tập
long.
Nhân vũ hốt kinh băng tuệ
đống
Đạo lâm trường thán yển
trinh tùng!
Phần oanh bích thảo thiêm
tân tháp.
Thủy trám thanh sơn nhận
cựu dung.
Tịch tịch thiền quan thùy
cánh khấu,
Kinh qua sầu thính mộ thiền
chung.
Đoàn Thăng dịch:
Tiếng lừng ngoài nội với
trong triều,
Môn đệ rồng mây quấn
quít theo
Thương xót nhà nhân cây
cột đổ,
Ngậm ngùi vườn đạo gốc
tùng xiêu.
Non xanh tưởng thấy chân
dung cũ
Tháp mới bên mồ cỏ biếc
leo.
Vắng vẻ cửa Thiền ai kẻ
gõ,
Qua đây buồn lắng tiếng
chuông chiều.
(TVLT,
Tì)
·Thiền
sư KHÔNG LỘ:
Trạch đắc long xà địa
khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô
dư.
Hữu thời trực thượng
cô phong đỉnh,
Trường khiếu nhất thanh
hàn thái hư.
Kiều Thu Hoạch dịch:
Kiểu đất long xà chọn
được nơi
Tình quê lai láng chẳng hề
vơi
Có khi xông thẳng lên đầu
núi
Một tiếng kêu vang, lạnh
cả trời.
(TVLT
TI )
Nguyễn Lang dịch:
Chọn nơi địa thế đẹp
sông hồ
Vui với tình quê quên sớm
trưa
Có lúc trèo lên đầu chóp
núi.
Kêu
dài một tiếng lạnh hư vô.
(VNPGSL
TI)
·Đoàn
Văn Khâm vãn Thiền sư QUẢNG TRÍ:
Lâm loan bạch thủ độn
kinh thành,
Phất tụ cao sơn viễn cánh
hinh
Kỷ nguyện tịnh cân xu trượng
tịch,
Hốt văn di lý yếm thiền
quynh.
Trai đình u điểu không đề
nguyệt,
Mộ tháp thùy nhân vị tác
minh.
Đạo lữ bất tu thương
vĩnh biệt,
Viện tiền sơn thủy thị
chân hình.
Ngô Tất Tố dịch:
Lánh chợ vào rừng, tóc
bạc phơ
Non cao giũ áo ngát hương
thừa.
Trùm khăn những muốn hầu
bên chiếu,
Treo dép đà nghe khép cửa
chùa.
Trăng dọi sân trai, chim khắc
khoải,
Tháp không bia chữ, mộ thờ
ơ.
Bạn thiền thôi cũng đừng
thương xót!
Non nước ngoài am, đó dáng
xưa.
(VHĐL,
TI)
·Thiền
sư KHÁNH HỶ:
Lao sinh hưu vấn sắc kiêm
không,
Học đạo vô qua phỏng tổ
tông.
Thiên ngoại mịch tâm nan
định thể,
Nhân gian thực quế khởi
thành tùng.
Càn khôn tận thị mao đầu
thượng,
Nhật nguyệt bao hàm giới
tử trung.
Đại dụng hiện tiền, quyền
tại thủ,
Thùy tri phàm thánh dữ tây
đông?
Đồ Nam Tử dịch:
Cõi trần chi kể sắc cùng
không,
Học đạo thì theo phép tổ
tông.
Tâm ngoài trời dễ tìm đâu
thấy,
Quế cung trăng há xuống
đây trồng.
Nhật nguyệt thu vào trong
hạt cải,
Kiền khôn hiện giữa lỗ
chân lông.
Đại dụng sao cho tay nắm
chắc.
Nào ai thánh trí, ai phàm
dong.
(Ng.
S. Đuốc Tuệ)
Đào Phương Bình dịch:
Kiếp trần khoan nói sắc
cùng không,
Học đạo gì hơn hỏi tổ
tông.
Tâm kiếm ngoài trời không
định thể,
Quế trồng cõi tục há đâm
bông,
Mảy lông chứa cả kiền
không rộng
Hạt cải thu gồm nhật nguyệt
trong.
Trước mắt, nắm ngay công
dụng lớn,
Ai hay phàm thánh với Tây
Đông.
(VTLT,
TI)
·Thiền
sư KHÔNG LỘ:
Vạn Lý thanh giang vạn lý
thiên,
Nhất thôn tang giá nhất
thôn yên.
Ngư ông thùy trước vô nhân
hóan,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết
mãn thuyền.
Kiều Thu Hoạch dịch:
Trời xanh nước biếc muôn
trùng,
Một thôn sương khói, một
vùng dâu đay
Ông chài ngủ tít ai hay,
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết
bay đầy thuyền.
(TVLT,
TI)
·Thiền
sư QUẢNG NGHIÊM:
Ly tịch phương ngôn tịch
diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô
sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên
chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ
hành.
Dịch:
Lìa tịch diệt, bàn câu
tịch diệt,
Chứng vô sinh hãy thuyết
vô sinh.
Tài trai tự chủ tròn thiên
chí;
Khoan. vọng Như Lai - thẳng
lộ trình.
·Thiền
sư MINH TRÍ:
Tùng phong thủy nguyệt minh,
Vô ảnh diệc vô hình
Sắc thân giá cá thị,
Không không tầm hưởng thanh.
Nam Trân dịch:
Gió cành thông, lòng sông
trăng sáng,
Bóng cũng không, hình dáng
cũng không.
Sắc thân, thân sắc đều
không,
Như tìm tiếng dội trong
vòng hư vô.
(TVLT,
TI)
·ThiỀN
Sư THƯỜNG CHIẾU;
Đạo bản vô nhan sắc,
Tân tiên nhật nhật khoa.
Đại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia.
Dịch:
Đạo vốn không nhan sắc,
Ngày phô vẻ gấm hoa.
Cả đại thiên sa giới,
Đâu chẳng là quê nhà.
x
X