|
c
Kinh
Lời Dạy Cuối Cùng Của Phật
HT. Thích
Trí Tạng dịch
Lời mở
đầu
Ðây là thông điệp cuối cùng
của Ðức Phật trao cho hàng đệ tử khi Phật sắp thị tịch
niết bàn ở rừng Sala song thụ, thuộc thành Câu-thi-na-yết-la
(Kussinagayâ), Ấn Ðộ, trong đêm trăng tròn tháng 2 âm lịch,
cách nay 2523 năm _ dương lịch 1980.
Kể từ ngày ấy đến nay,
lịch sử ghi dấu về con người và cuộc đời, đã có biết
bao sự đổi thay! Trải qua biết bao triều đại hưng suy! Cũng
như đã có những nền văn hoá, văn minh của loài người qua
từng thời kỳ rực rỡ rồi tàn lụi! Hầu hết, những di
sản tinh thần và vật chất ấy, hiện nay chỉ còn là những
dấu vết hoang tàn, những mảnh vụn chữ nghĩa, ghi chép trong
các sách thánh hiền, và được coi đó như những bảo vật
lưu trữ tại các cổ thư viện, bảo tàng viện. Nhưng với
con người muôn thuở, về tính thể, vẫn có
những nét giống nhau; nếu
có sự khác biệt thì đó là về cảm nghĩ, về lối sống,
về hoàn cảnh xã hội con người thuở xưa có khác con người
ngày nay. Ðức Phật sinh ra trong thế giới loài người nhưng
Phật là đấng Giác Ngộ - Người Phật - nên Phật thấu hiểu
những nỗi lo toan, băn khoăn, thắc mắc về (khắp mặt) tâm
lý, tình cảm, về trí tuệ, đạo đức, về lối sống của
con người và, do đấy, giáo pháp của Phật rất thân thiết,
gần gũi với chúng ta. Giáo pháp ấy là tổng hợp mọi khuôn
nếp sống và quán triệt hết những gì là tinh hoa cao đẹp
nhất của con người và vạn hữu- một nền giáo lý xây dựng
trên sự thật về con người và về cuộc đời : lấy CON
NGƯỜI làm chủ điểm để giải quyết những việc liên quan
đến cuộc sống con người. Ðấy là tất cả Sự Thật (mà)
trong kinh gọi là khế lý và khế cơ. Khế lý có nghĩa giáo
lý của Ðức Phật là sự thật, đúng chân lý. Khế cơ, tức
giáo pháp ấy thích hợp với mọi trình độ con người và
xã hội loài người, trong khắp các thời đại.
Phần nội dung và chủ yếu
của thông điệp là thuyết minh về pháp "Tứ đế"(1) và "Lục
độ"(2), là hai nguyên lý căn bản nhằm giáo dục con người
cách tu dưỡng thân tâm, diệt trừ mọi nỗi nguy khốn, khổ
đau, hòng giúp con người xây dựng một Xã hội người thực
sự văn minh, nhân bản và hạnh phúc, một lối sống cao đẹp
của Ðạo Làm Người. Và, muốn được như vậy, Ðức Phật
khuyên con người hãy sống thương yêu, hỷ xả ...và đừng
bao giờ tạo "nghiệp" gây khổ não cho nhau, vì mọi con người
đều đáng thương, đều cần phải được sống xứng đáng
cho trọn kiếp người. Mọi con người đều đáng tôn trọng
và cần được phụng sự.
Dưới đây tôi xin dẫn một
đoạn nói về pháp "Tứ Ðế" do tôn giả A-Nâu-Lâu-Ðà (Anurudha),
một cao đệ của Ðức Phật, thuyết trình trước liệt vị
thánh tăng vân tập ở rừng Sa La song thụ, khi Ðức Thế Tôn
sắp tịch diệt niết bàn, để tất cả chúng ta cùng lĩnh
hội, suy ngẫm và thực hành.
"... Mặt trăng có thể nóng,
mặt trời có thể lạnh, chứ chân lý Tứ Ðế không thể
nào khác được. Như Ðức Phật dạy : Khổ đế, sự thật
là khổ, quyết không có gì là vui sướng cả. Mà chính Tập
đế là nhân
(nguyên nhân gây ra mọi nỗi
khổ đau), hẳn không có nhân nào khác. Vậy Diệt khổ tức
là diệt trừ nguyên nhân. Nhân mà diệt thì quả cũng bị
diệt.
ÐẠO DIỆT KHỔ TỨC LÀ CHÍNH
ÐẠO, NGOÀI RA KHÔNG CÒN ÐẠO NÀO KHÁC NỮA.".
Trong pháp Tứ Ðế gồm có
Thập Nhị Nhân Duyên(3) và Bát Chính đạo(4) . Mà giáo lý
Thập Nhị Nhân Duyên là trình bày sự hình thành về vũ trụ
và về con người một cách chính xác, khoa học(5). Tuy nhiên,
Ðức Phật rất khiêm tốn, Phật chỉ nhận mình như một
vị Y Vương, và giáo pháp của Phật như là những liều thuốc
thần hiệu, uống hay không uống, tuỳ mỗi bệnh nhân sử
dụng nó. Lại như kẻ dẫn đường giỏi, dắt loài người
về nẻo chính, nghe mà không đi theo, thì đó không phải lỗi
của kẻ dẫn đường.
Ðạo Phật là một triết lý
sống, một đạo đã mang lại ánh sáng Trí Tuệ, Niềm Tin
và Tình Thương đến với con người và cuộc đời...
Viết tại tổ đình Giác Minh,
PL 2523 - DL 1980
Sramana
TRÍ TẠNG
_______
KHÓA
LỄ
(Kỷ
niệm ngày đức Thế Tôn niết bàn)
PHẦN NGHI LỄ
(Ðại chúng vân tập trước
chính điện, chắp tay hướng lên ngôi Tam Bảo.Sau 3 hồi chuông
trống bát nhã chấm dứt, chủ lễ đọc) :
Ai nấy cung kính
(Mọi người đọc theo) :
Dốc lòng kính lạy Phật,
Pháp, Tăng ở khắp mười phương(*) lll
(3 lễ, quỳ chắp tay đọc
bài kệ dâng hương) :
Ðệ tử kính dâng hương
Hiện mây lành năm sắc
Khắp Pháp giới mười phương
Kết đài sen sáng rực
Cầu Phật từ gia hộ
Lòng nở đóa hoa tươi
Hạnh bồ tát xin giữ
Nguyện cứu giúp loài người
Hương thơm bay sực nức
Ðem hạnh phúc cho đời
Bao ưu phiền rũ sạch
Ðạo Vàng tỏa nơi nơi.
Nam mô Hương Cúng Dường bồ
tát lll
(câu này đọc 3 lượt)
Dâng hương cúng dường rồi,
Con dốc lòng kính lạy Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hết thảy Phật, Pháp, Tăng ở khắp
mười phương lll
(Lạy 1 lạy, mọi người đứng
chắp tay đọc bài kệ tán Phâït) :
Ðấng Pháp vương vô thượng,
Thày dạy khắp trời, người.
Lòng từ ơn cứu độ
Ðạo Vàng chiếu muôn nơi
...
(*) CHÚ Ý : Mỗi l (chấm tròn)
là một tiếng chuông
Lớn thay! công đức Phật,
Trí tuệ và Từ bi.
Xưng dương cùng tán thán,
Xin trọn đời quy y.
Úm phạ nhật la vật. lll
(Câu thần chú đọc 3 lượt)
DỐC LÒNG KÍNH LẠY : Khắp
pháp giới hư không , ngôi thường trụ Tam Bảo trong ba đời
quá khứ, hiện tại, vị lai, mười phương chư Phật, Tôn
pháp, Thánh hiền tăng l (1 lạy).
DỐC LÒNG KÍNH LẠY : Ðức
đại từ bi phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, giáo chủ cõi Sa Bà,
Ðức đại từ Di Lặc tôn Phật, Ðức đại trí Văn Thù Sư
Lợi bồ tát, Ðức đại hành Phổ Hiền bồ tát, chư vị
Hộ Pháp Thiện Thần, cùng hết thảy chư Phật, Bồ tát trong
Pháp hội Linh Sơn l (1 lạy).
DỐC LÒNG KÍNH LẠY : Ðức
đại từ bi A Di Ðà Phật, giáo chủ cõi Cực Lạc phương
Tây, Ðức đại bi Quán Thế AÂm bồ tát, Ðức đại lực
Ðại Thế Chí bồ tát, Ðức đại nguyện Ðịa Tạng Vương
bồ tát, cùng hết thảy chư vị Bồ Tát trong Hải Hội Thanh
Tịnh l (1 lạy).
Nay con xin vì các bậc con mang
ơn cùng hết thảy chúng sinh, từ bỏ mọi nghiệp chướng,
dốc lòng dãi bày sám hối lll (1 lạy)
(Ðại chúng qùy, chắp tay,
chủ lễ, đọc) :
Chúng con và pháp giới chúng
sinh xin chí thành sám hối.
(Mọi người đọc theo) :
Nghĩ : con từ kiếp lâu xa,
Chân tâm khuất lấp nên sa
cõi trần
Luân hồi sinh tử tấm thân
Thay hình đổi dạng bao lần
đắng cay!
Vốn xưa tạo nghiệp đã dầy
Tham, sân, si những đắm say...
phận mình
Bởi thân, miệng, ý phát sinh
Con nay sám hối tội tình sạch
trong.
Nam mô Cầu Sám Hối bồ tát
ma ha tát lll
(câu này đọc 3 lượt)
Sám hối phát nguyện rồi,
Con xin dốc lòng kính lạy Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni cùng hết thảy Phật, Pháp, Tăng ở khắp
mười phương (1 lạy) lll
(Ðại chúng đồng quỳ. Riêng
vị chủ sám tay cầm 3 nén hương vái và đọc lời nguyện
cầu):
Hôm nay là ngày Rằm tháng Hai
âm lịch, ngày Ðức Phật niết bàn, đệ tử chúng con vân
tập về chùa Giác Minh, chí thành đốt nén hương GIỚI, hương
ÐỊNH, hương TUỆ, hương GIẢI THOÁT, hương GIẢI THOÁT TRI
KIẾN, cúng dường lên mười phương tam thế chư Phật, chư
tôn Pháp, chư Bồ tát, chư Thánh hiền tăng, chư vị Tây thiên
Ðông đô, Việt Nam lịch đại Tổ sư, Hộ pháp Thiện thần,
cúi xin rủ lòng thương xót.
Phật tử chúng con một lòng
hướng về ba ngôi tôn quý : Phật - Pháp - Tăng, phát nguyện
thụ trì Pháp bảo. Nguyện cầu Chính Pháp truyền bá nơi nơi
... "kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người đau
khổ được an vui tịnh lạc". LẠI NGUYỆN : " người người
từ bỏ tham, giận, si mê; tưới tắm dòng suối từ bi, giải
thoát; làm lành tránh ác, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn
nhau; muôn loài an vui, hạnh phúc".
Phật tử chúng con nguyện đời
đời kiếp kiếp thường làm bà con quyến thuộc, một lòng
hộ trì Phật Pháp, giơ cao ngọn đuốc Trí Tuệ soi sáng trần
gian; mang vui tươi an lạc đến cho muôn loài chúng sinh.
LẠI CẦU : Cha mẹ tổ tiên
và những người thân đã quá vãng đều được sinh về cõi
Phật, cha mẹ hiện sống cũng được an vui, tự tại.
NGUYỆN CẦU : Quốc thái dân
an, pháp giới chúng sinh đều được tỉnh thức.
Hương GIỚI, hương ÐỊNH,
với hương TUỆ,
Hương GIẢI THOÁT, GIẢI THOÁT
TRI KIẾN
Kết thành mây sáng trưng cõi
pháp
Cúng dường chư Phật khắp
mười phương(*).
Nam mô Hương Cúng Dường bồ
tát ma ha tát lll (câu này đọc 3 lượt)
(Mọi người ngồi kết già,
chắp tay và tụng bài kệ dâng hương) :
Lò trầm vừa chợt đốt
Khắp cõi pháp thơm lừng
Cúng dường lên chư Phật
Và Bồ tát Thánh tăng
Thần chú sạch 3 nghiệp :
Úm sa phạ bà phạ, truật đà
sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ truật độ hám l (đọc 3
lượt)
Thần chú yên cõi đất :
Nam mô tam mãn đá một đà
nẫm, úm độ rô, độ rô, địa vĩ tát bà ha l (đọc 3 lượt)
(Thần chú cúng dường) :
Úm nga nga nẵng tam bà phạ
phiệt nhiệt la hộc l (đọc 3 lượt)
" Lạy Ðấng tam giới tôn,
Quy mệnh mười phương Phật.
Con nay phát nguyện lớn,
Trì tụng Pháp vương kinh.
Trên đền bốn trọng ơn,
Dưới cứu ba đường khổ.
Nguyện pháp giới chúng sinh,
Ðều trọn thành Phật đạo
". l
Kệ khai kinh :
Phật pháp linh thiêng mầu nhiệm,
Chứng cho lòng trong trắng
Dù một nén tâm hương
Mây lành che chín cõi
Chư Phật hiện mười phương
Nam mô Hương Vân Cái bồ tát
ma ha tát lll (câu này đọc 3 lượt)
(*) Như Lai Ngũ Phận Pháp
Thân, gồm có :
1. GIỚI, nghĩa là giới thân
của Như Lai về ba nghiệp (thân, miệng, ý)đều thanh tịnh,
gọi là Giới Pháp Thân.
2. ÐỊNH, chân tâm của
Như Lai vẳng lặng, lìa tất cả vọng niệm, gọi là Ðịnh
Pháp Thân.
3. TUỆ, chân trí của Như
Lai viên minh, quán đạt pháp tính, gọi là Tuệ Pháp Thân,
tức là Căn Bản Trí.
4. GIẢI THOÁT, thân tâm
Như Lai thoát khỏi tất cả mọi hệ lụy, gọi là Giải Thoát
Pháp Thân, tức chỉ cái đức Niết Bàn Tịch Tĩnh.
5. GIẢI THOÁT TRI KIẾN,
biết đã được Giải Thoát, gọi là Giải Thoát Tri Kiến
Thân, tức là Hậu Ðắc Trí.
Năm điều này có thứ tự,
nhờ Giới sinh Ðịnh,nhờ Ðịnh mà sinh Tuệ, nhờ Tuệ mà
đắc Giải Thoát, nhờ Giải Thoát mà có Giải Thoát Tri Kiến.
Giới hương, Ðịnh hương,
giữ Tuệ hương,
Giải Thoát, Giải Thoát Tri
Kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp
giới
Cúng dường thập phương vô
lượng Phật.
22
21
Ngàn năm mới gặp một lần.
Con nay dốc lòng tu niệm,
Nguyện xin chứng nhập ý thần1
Nam mô Khai Bảo Tạng bồ tát
ma ha tát l
Nam mô Ðại từ bi phụ Thích
Ca Mâu Ni Phật lll
(2 câu trên mỗi câu đọc
3 lượt và tụng tiếp vào chính kinh).
1: Nguyện hiểu sâu nguồn
giáo lý Giác Ngộ Giải Thoát để tự giác giác tha, tự độ
độ tha.
KINH
PHẬT DẠY LẦN CUỐI
KHI
SẮP NIẾT BÀN
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc
bắt đầu chuyển pháp Luân (Dhammachakhappavattanasoutta) độ
cho tôn giả A Nhã Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya); lần giảng
Pháp cuối cùng, độ cho trưởng lão Tu Bạt Ðà La (Subhadra).
Và những ai mong cầu được cứu độ, Ðức Phật đều bình
đẳng hóa độ cho hết cả. Ngay khi Phật sắp tịch diệt
(niết bàn) ở rừng Sa La song thụ; lúc ấy khoảng nửa đêm,
bầu trời tịch mịch, không một âm vang, Ðức Phật vì lòng
thương các đệ tử mà lược thuyết những Pháp Yếu như
sau : lll
* Các thày Tỷ khưu, sau khi
Ta tịch diệt, các thày hãy trân trọng tôn kính TỊNH GIỚI,
như đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo được của
báu. Phải coi giới luật là bậc đại sư của các thày cũng
như lúc Ta còn ở đời, không khác. Mà giữ tịnh giới, các
thày không được buôn bán, đổi chác, tạo lập vườn nhà
làm của riêng, chứa chấp kẻ tôi đòi, cùng chăn nuôi các
loại sinh động vật.
Cho đến các thứ báu vật
đều nên tránh xa như tránh xa lò lửa. Cũng không được phá
hủy cây cối, khai khẩn ruộng đất, xem tướng lành dữ,
coi sao, đoán điềm, lấy số, bói toán ... đều là những
việc không nên làm. Hãy tiết chế thân tâm, ăn ngủ đúng
giờ, giữ gìn đời sống thanh tịnh. Ngoài ra, các thày còn
không nên dự vào các công việc thế tục, như nhận lĩnh
sứ thần, thông báo tin tức, luyện chú, vẽ bùa, làm giả
thuốc thánh, kết bạn với người quyền quý, thân cận kẻ
càn dỡ, xấc láo. Phải đoan tâm chính niệm để cầu tự
độ. Không được bên trong thì dấu nhẹm thói xấu của mình,
mà bề ngoài lại giả vờ đạo đức, hòng lừa bịp quần
chúng. Ðối với bốn món cúng dường2 chỉ cần "vừa đủ",
không nên chứa góp khi được cúng dường. Ðấy là lược
thuyết về tướng trạng của sự giữ giới.
"Giới" là đường chính, nẻo
thuận, và là gốc của giải thoát, cũng gọi là Ba -la- đề-
mộc -xoa (Pratimoksha).
2 Bốn món của đàn việt cúng
dường chư Tăng là : các thức ăn uống, quần áo, chăn màn
và thuốc thang.
Muốn dứt trừ khổ đau, thủ
đắc phép thiền định để đạt được trí tuệ, ta không
thể không nương vào sự giữ giới mà có. Nên các thày phải
giữ tịnh giới, không được lơ là, hủy phạm. Ai chuyên
giữ tịnh giới ắt hưởng mọi pháp lành; nếu tịnh giới
không giữ, thì các công đức tốt đẹp không thể nảy sinh.
Phải biết rằng : giới là nơi trú ngụ an ổn công đức
đệ nhất. l
* Các thày Tỷ khưu, đã hay
giữ tịnh giới ; còn cần phải biết cách tự chế, không
cho năm căn3 dông dỡ đuổi theo năm dục vọng4 . Cũng như
người chăn trâu, cầm roi trông chừng,là cốt giữ trâu khỏi
ăn lúa mạ nhà người ta. Nếu bỏ mặc năm căn, thì chẳng
những năm dục vọng sẽ vô cùng bừa bãi, mà còn không thể
chế ngự được và, như vậy, khác gì con ngựa dữ, không
có dây cương kìm hãm, có lúc nó sẽ kéo người ta sa xuống
hố hầm. Tuy (việc đó) có bị bức hại, cũng chỉ trong một
đời; chứ bọn giặc năm căn thì gieo tai vạ cho nhiều đời
! Ách
nạn ấy mới thật khủng khiếp,
há lại không thận trọng ư? Cho nên người có trí sáng, phải
chế ngự nó mà không dễ dãi, và đề phòng nó như bọn giặc,
chớ để buông thả! Nếu để buông thả năm căn, chẳng bao
lâu chúng sẽ tác hại. Mà năm căn, tâm là chủ động : các
thày phải khéo léo lắm mới chế ngự nổi nội tâm. Cái
" tâm " thật đáng sợ, đáng sợ hơn rắn độc, thú dữ,
oán tặc. Và cả lửa cháy phừng phừng nữa cũng chưa thể
đem so sánh được với tâm. Như một kẻ tay cầm bình mật,
chân bước đi vội vã, chỉ biết có bình mật mà không thấy
được hố sâu ! Như con voi điên dại không có khóa chân ;
con vượn, con khỉ leo trèo, nhảy nhót trên cành cây, khó mà
cấm cản nổi chúng. Phải gấp điều phục chúng. Chớ có
buông xuôi, bỏ mặc ..... Ai bỏ mặc cho tâm chạy theo sở
thích, người ấy đã đánh mất hết mọi sự tốt lành.
Nhưng nếu biết chế ngự nội
tâm, mọi việc sẽ chu toàn cả. Do đấy, là Tỷ khưu, các
thày phải siêng năng tinh tiến, cần chiết phục được nội
tâm mình. l
3 Năm căn : mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân.
4 Năm món ham muốn : tiền
của, nữ sắc, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.
* Các thày Tỷ khưu, khi thụ
dụng thức ăn uống, nên coi như dùng thuốc, ngon hay không
ngon, cũng không ăn thêm lên hoặc ăn bớt đi. Mà chỉ coi sự
ăn uống cốt sao để nuôi thân khỏi đói khát, thế thôi.
Như con ong hút nhụy hoa mà không làm tổn hại đến sắc hương,
Tỷ khưu cũng nên như thế : khi nhận món cúng dường của
thí chủ, các thày nên coi đó như liều thuốc dùng để chữa
bệnh tật, không được tham cầu quá mức khiến cho tâm thiện
bị hủy hoại. Cũng như người có trí tuệ, lường biết
sức lực con bò chở được nhiều hay ít; không để bò chở
quá nặng đến phải kiệt sức. l
* Các thày Tỷ khưu, ban ngày
cần để tâm siêng năng tu tập pháp lành, chớ bỏ phí thì
giờ! Ðầu hôm, sớm mai cũng đừng bỏ phí! Nửa đêm thì
tụng kinh để tiêu trừ phiền não. Không vì chút lý do ngủ
nghỉ làm hỏng cả cuộc đời, đến trở thành vô ích! Phải
luôn suy niệm về lẽ vô thường, và coi đó như ngọn lửa
đốt cháy thế gian mà gấp lo tu tập bản thân. Chớ có ham
ngủ nghỉ. Bọn giặc phiền não thường rình rập ám hại
người,thực nguy hiểm, nguy
hiểm còn hơn cả oán thù truyền kiếp. Các thày há lại lấy
sự ngủ nghỉ làm trọng mà không sớm tỉnh thức đó sao?
- "Phiền não" chính là con rắn độc ở ngay nội tâm các thày,
cũng như con rắn đen núp trong căn buồng nơi các thày thường
ngủ. Các thày hãy lấy lưỡi câu giới luật mà sớm trừ
diệt nó đi. Chỉ chừng nào bọn giặc phiền não ra khỏi
nội tâm rồi, ta mới được tự tại, nghỉ ngơi. Nếu biết
chúng còn ẩn núp ở đâu đó mà vẫn yên ngủ, thì đấy
hẳn là người không biết hổ thẹn là gì! Người biết hổ
thẹn khác nào mặc chiếc áo đẹp nhất trong các đồ trang
sức. Sự biết thẹn ví như lưỡi câu thép ngăn ngừa người
ta không phạm những điều phi pháp.
Này, Các thày Tỷ khưu, các
thày hãy thường xuyên biết hổ thẹn, chớ có coi thường,
quên lãng, xa lìa lòng hổ thẹn, tức tự mình đã đánh mất
hết công đức rồi vậy. Người biết hổ thẹn ắt được
hưởng mọi pháp lành. Người không biết hổ thẹn, đâu có
khác gì loài cầm thú. l
* Các thày Tỷ khưu, nếu có
người từ đâu đến đánh gãy chân tay..., các thày hãy nén
lòng tức giận, cũng như hãy giữ gìn miệng lưỡi, chớ có
buông ra những lời chửi rủa. Còn để tâm tức giận là
trái với đạo giải thoát, mất hết các công đức - Công
đức của nhẫn nhục hơn cả trì giới và khổ hạnh. Ai có
năng lực thực hành hạnh nhẫn nhục, thật xứng đáng là
bậc đại nhân. Người nào không biết vui vẻ chịu đựng
những lời xỉ vả ác độc như uống nước cam lộ, thì không
thể gọi là người trí tuệ hiểu đạo. Vì sao? - Vì tức
giận sẽ phá hoại các pháp lành, làm tổn thương đến thanh
danh, người đời nay và người đời sau không ai còn muốn
nhìn thấy mình nữa. Nên biết rằng : tâm tức giận còn độc
hại hơn lửa nóng! Hãy đề phòng, gìn giữ, chớ để cho
chúng len lỏi, đột nhập trong người ta. Bọn giặc cướp
lấy công đức, vẫn không nguy hiểm bằng tức giận. Người
tại gia đam mê sắc dục bởi họ không phải là người hành
đạo, không có phương pháp để kiềm chế, nên có tức giận
còn có thể tha thứ, chứ người xuất gia hành đạo, là người
từ bỏ dục vọng, mà vẫn chứa trong lòng sự tức
giận, thì không nên vậy. Cũng
như áng mây trắng hiền hòa đang trôi lơ lửng giữa bầu
trời trong xanh, bỗng nhiên ầm ầm nổi cơn sấm sét, hẳn
không thể nào thích hợp. l
* Các thày Tỷ khưu, khi cạo
bỏ mớ tóc trên đầu, xa lìa mọi thứ trang sức ở đời,
khoác trên vai tấm áo hoại màu, tay cầm bình bát, đi khất
thực để tự nuôi sống; đã biết thực hiện như thế mà
còn khởi tâm kiêu mạn, thì hãy sớm trừ diệt đi. Ðến
như người tại gia còn không nên kiêu mạn thay, huống nữa,
người xuất gia hành đạo, đã tự hạ mình đi khất thực,
chỉ vì mưu cầu giải thoát? ...l
* Các thày Tỷ khưu, tính nịnh
bợ, quanh co là trái với lẽ đạo, thế nên các thày cần
giữ tâm ngay thẳng. Phải nhớ rằng : nịnh bợ, quanh co là
một thủ đoạn để lừa dối kẻ khác; người hành đạo
thì không thể như thế. Cho nên điều căn bản mà các thày
phải giữ, đó là : LÒNG NGAY THẲNG THẬT THÀ. l
* Các thày Tỷ khưu, cần nên
biết rằng : người càng nhiều dục vọng, thì sự tham cầu
lợi lộc càng lắm và khổ não cũng rất nhiều.
32
31
Người ít dục vọng không
tham cầu, không ham muốn, nên không bị khổ đau. Thực vậy,
tâm ít dục vọng còn phải tu tập, huống chi tính ít dục
vọng thường hay sinh ra các công đức. Người ít dục vọng
không nịnh bợ, quanh co để mong thu phục lòng người, cũng
không bị "các căn" 3 lôi kéo. Người càng ít dục vọng thì
tâm lúc nào cũng thanh thản, không bợn chút lo âu, sợ hãi,
gặp khi hữu sự vẫn thừa sức đối phó, mà lúc bình thường
sống rất đạm bạc, đơn sơ. Người ít dục vọng có cảnh
vui của niết bàn, như thế mới thực đúng với ý nghĩa của
chữ "thiểu dục". l
* Các thày Tỷ khưu, nếu muốn
thoát các khổ não, cần phải "biết đủ" (tri túc). BIẾT
ÐỦ LÀ PHƯƠNG PHÁP HOÀN HẢO AN VUI NHẤT MÀ NGƯỜI TA CẦN
LẤY ÐÓ LÀM NƠI TRÚ ẨN. Người biết đủ tuy nằm trên đất
cũng vẫn sung sướng. Người không biết đủ dẫu ở thiên
đường mà vẫn thấy không vừa ý. Người không biết đủ
tuy giàu mà nghèo. Người biết đủ tuy nghèo mà giàu. Người
không biết đủ thường làm nô lệ cho năm dục vọng4, thực
đáng để cho người biết đủ xót thương... Ðó gọi là
biết đủ l
* Các thày Tỷ khưu, muốn trọn
hưởng niềm vui trong sáng của niết bàn, cần nên tránh xa
những chỗ ồn ào, tìm ở nơi thanh vắng. Người nào thường
ở nơi thanh vắng, dẫu là vua Ðế Thích hay chư thiên đều
phải kính trọng. Lý do : vì những người này đã thoát ly
hẳn đồ chúng5 của mình và người, một mình ở nơi thanh
vắng, cốt để suy tư về cỗi rễ của sự diệt khổ. Thật
vậy, càng ở chỗ đông người, càng dễ bị người ta quấy
phá. Như cây to lớn, các loài chim rủ nhau về đậu, tất
cây phải héo gẫy. Người đời thường bị ràng buộc, đắm
chìm trong những nỗi khổ ... đâu có khác gì con voi già yếu
đi trên bùn lầy, mà không thể gỡ chân ra nổi. Người tỉnh
thức hãy sớm tránh xa chỗ huyên náo. l
4 Năm món ham muốn : xem chú
thích trang 25.
5 Ðồ chúng : Sự : Chỉ
cho hết thảy sự huyên náo.
Lý : tức thân ngũ uẩn
(sắc, thụ, tưởng, hành, thức) và mọi phiền não.
3 Năm căn : xem chú thích
trang 25.
34
33
* Các thày Tỷ khưu, người
siêng năng tinh tiến bất cứ công việc gì cũng làm xong, mà
không coi là khó. Bởi thế, các thày hãy siêng năng tinh tiến!
Ví như dòng nước chảy không dừng, dẫu là đá cũng có lúc
bị xoi mòn. Nếu tâm người tu hành thường chán nản, lười
biếng, khác nào khi dùi lửa, chưa được nóng đã thôi, lúc
ấy dù muốn lấy lửa cũng không thể nào có được. Ðó
gọi là "tinh tiến". l
* Các thày Tỷ khưu, cầu có
bạn hiền, cầu được sự hỗ trợ không gì bằng đừng
quên mất chính niệm. Nếu không tự đánh mất chính niệm
(bất vong niệm), thì bọn giặc phiền não không thể nào thẩm
nhập tâm hồn. Do đó, các thày phải luôn luôn giữ cho tâm
chính niệm. Ðể mất chính niệm, bao nhiêu công đức sẽ
mất hết. Chính niệm là sức mạnh vạn năng sẽ giúp ta thắng
lướt được đám giặc ngũ dục, không bị chúng bức hại.
Như người mặc áo giáp ra trận, không hề biết sợ hãi là
gì. Ðó gọi là "bất vong niệm".l
* Các thày Tỷ khưu, nếu ai
nhiếp phục được tâm thì tâm an định. Tâm định nên bất
cứ tướng trạng sinh diệt của bất cứ vật thể nào hiện
có ở thế gian cũng thấy biết cả. Vì thế, các thày hãy
tinh tiến tu tập pháp định. Người đắc định thì tâm không
bao giờ tán loạn. Cũng như muốn chứa giữ nước, phải biết
ngăn be bờ đê. Hành giả cũng thế, muốn cho suối nguồn
trí tuệ không bị rỉ cạn, phải siêng năng tu phép thiền
định. Ðó gọi là tu "định". l
* Các thày Tỷ khưu, người
có trí tuệ thì không còn tham đắm. Các thày hãy tỉnh táo,
tự soát xét mình, đừng bao giờ nhầm lỗi. Nếu thực hành
đúng như thế, các thày đã sống trong giáo pháp của Ta, ắt
được giải thoát. Nhược bằng trái lại, các thày đã chẳng
xứng đáng là người xuất gia nữa - cũng chẳng phải cư
sĩ, không biết nên gọi các thày là hạng người nào? !
Người có trí tuệ, như con
thuyền bền chắc vượt thoát khỏi bể sinh tử luân hồi
; là ngọn đèn lớn chiếu sáng bức màn vô minh đen tối ;
là phương thuốc hay chữa lành hết mọi tật bệnh ; là nhát
búa sắc bén chặt đứt hết cây phiền não; do đó, các thày
phải lấy ba môn học căn bản là : VĂN (nghe), TƯ (nhớ), và
TU mà trau dồi trí tuệ ngày thêm tiến ích. Người nào có
ánh sáng trí tuệ, tuy mang đôi mắt thịt, nhưng lại là người
minh kiến, có tầm vóc nhìn xa thấy rộng. Ðó gọi là "trí
tuệ". l
* Các thày Tỷ khưu, nếu còn
hay hý luận, ắt tâm bị rối loạn, dẫu là người xuất
gia cũng không bao giờ đạt được giải thoát. Là Tỷ khưu,
các thày hãy gấp từ bỏ hý luận, giữ tâm không loạn động.
Nếu muốn hưởng trọn vẹn niềm vui an tịnh, cách tốt nhất,
các thày phải mau chóng trừ diệt tai họa hý luận kia đi.
Ðó gọi là "bất hý luận". l
* Các thầy Tỷ khưu, trong khi
tu tập công đức, các thày hãy nhất tâm từ bỏ các tính
phóng túng dông dỡ như tránh xa oán tặc. Giáo pháp của Ðấng
đại bi Thế Tôn hoàn toàn có những lợi ích thiết thực.
Các thày nên lấy đó làm mẫu mực cho sự tu hành của mình
: dù ở núi rừng, bên bờ suối, dưới gốc cây, hay trong
tĩnh thất, hay ở bất cứ
nơi nào thanh vắng, các thày
hãy luôn nhớ nghĩ giáo pháp của Ta, chớ có lãng quên. Phải
luôn luôn cố gắng tinh tiến tu hành. Nếu không làm gì...,
chết uổng, chỉ kết liễu trong ân hận hối quá! Ta như vị
lương y, coi bệnh cho thuốc, uống hay không uống, không phải
lỗi ở lương y. Lại như kẻ dẫn đường giỏi, dắt loài
người về nẻo chiùnh, nghe mà không chịu đi theo thì đó
không phải là lỗi của kẻ dẫn đường. l
* Các thày Tỷ khưu, như pháp
Tứ Ðế (Catvàriaryasatyanu)6 đã giải rõ những nỗi khổ và
sự diệt khổ, nếu còn chỗ nào khả nghi hãy gấp hỏi đi,
không nên mang trong lòng sự ngờ vực mà không yêu cầu giải
quyết.
Trong khi Ðức Thế Tôn cao giọng
nói như thế ba lần, nhưng không một vị nào "thỉnh vấn"
- Vì sao ? Vì trong đại chúng không ai còn điều gì đáng nghi
ngờ nữa cả.
6 Bốn Sự Thật :
- Sự thật thứ nhất :
Sự khổ.
- Sự thật thứ hai : Nguyên
nhân sự khổ.
- Sự thật thứ ba : Sự
khổ tiêu diệt (giải thoát)
- Sự thật thứ tư : Phương
pháp diệt trừ nguyên nhân sự khổ.
Ngay lúc ấy, Tôn giả A - Nâu
- Lâu - Ðà (Anusudha) liền quan sát tâm tư đại chúng, rồi
bạch với Ðức Phật rằng : Kính lạy Ðức Thế Tôn, mặt
trăng có thể nóng, mặt trời có thể lạnh, chứ chân lý
Tứ Ðế không thể nào khác được. Như Ðức Phật dạy :
KHỔ đế, sự thật là khổ, hẳn không có gì vui sướng cả.
Mà chính TẬP đế là nhân (nguyên nhân gây ra mọi khổ đau),
hẳn không có nhân nào khác. Vậy DIỆT khổ tức là diệt
trừ nguyên nhân. Nhân mà diệt thì quả cũng bị diệt. ÐẠO
DIỆT KHỔ TỨC LÀ CHÍNH ÐẠO, NGOÀI RA KHÔNG CÒN ÐẠO NÀO
KHÁC NỮA! Thưa Thế Tôn, các Tỷ khưu quyết không còn điều
gì nghi ngờ đối với pháp Tứ Ðế cả. Nhưng, giả thử
trong đại chúng đây, có vị còn chưa hoàn thành đạo nghiệp
mà Ðức Phật đã diệt độ, hẳn phải buồn rầu? Nhưng
có vị chỉ mới vào đạo, nghe Ðức Phật thuyết pháp, liền
được cứu độ. Ví như trong đêm tối chợt hiện ra ánh
sáng, tức là thấy đạo. Cũng có vị đã HOÀN THÀNH ÐẠO
NGHIỆP và ÐÃ ÐƯỢC CỨU ÐỘ thoát khỏi bể khổ, thì lại
nghĩ rằng : sự diệt độ của Ðức Thế Tôn sao đến mau
quá !
Tôn giả A - Nâu - Lâu - Ðà
vừa thốt ra lời ấy thì trong đại chúng thảy đều LIỄU
NGỘ chân nghĩa Tứ Ðế. Ðức Thế Tôn lại một lần nữa,
vì muốn cho đại chúng có tâm bền vững, nên đã rủ lòng
đại bi mà ân cần dạy bảo thêm : l
* Các thày Tỷ khưu, không nên
mang lòng buồn thương sầu não, nếu Ta có ở đời thêm chừng
một kiếp, rồi cũng tất phải chia ly! Hội tụ mà không chia
ly thật chưa từng thấy bao giờ! Những việc "tự lợi, lợi
tha" Ta đều đã dạy đầy đủ trong kinh điển, nếu có trụ
thế lâu hơn nữa cũng chẳng ích gì! Những ai cần cứu độ,
dù chư thiên hay loài người, đều đã được cứu độ, và
những ai chưa được cứu độ cũng đều đã gây nhân duyên
để được cứu độ. Từ nay về sau, các đệ tử của Ta
phải biết triển chuyển thực hành, thì đó các thày đã
làm cho pháp thân thường trụ của Như Lai không bị hủy diệt!
Tuy nhiên, cũng cần nên nhớ : Cuộc đời là vô thường. Hễ
có hội tụ ắt có chia ly. Ðừng ôm lòng sầu thảm. Tất
cả sự tướng ở đời là như thế đó. Phải siêng năng
tinh tiến mà sớm cầu giải thoát. Hãy lấy ánh sáng trí tuệ
để diệt trừ mê tối. Cuộc đời thực là nguy khốn, không
có chi bền chắc cả! Ta nay đã diệt trừ hẳn mọi nỗi nguy
khốn, như trừ diệt cơn ác bệnh, và coi đấy như trút bỏ
được hết tội ác mà : (giả danh) gọi là cái "xác thân"
cứ mãi bị đắm chìm trong bể lớn sinh, già, ốm, chết!
Huống nữa, người có trí sáng, đã trừ diệt " mọi nỗi
nguy khốn " như trừ diệt oán tặc, làm sao lại không vui mừng
cho được ? l
* Các thày Tỷ khưu, phải một
lòng siêng năng tu đạo "xuất thế", sớm cầu ra khỏi những
nỗi nguy khốn kia đi. Hết thảy sự tướng của các "Pháp",
dù động hay bất động7 hiện có ở thế gian, đều hủy
hoại, bất an. Các thày, tới đây tạm chấm dứt, không nhắc
lại nữa. Giờ đã điểm, Ta sắp diệt độ đây. Và đây
là LỜI DẠY CUỐI CÙNG Ta trao lại cho các thày. lll
7 Pháp động và bất động
: cõi DỤC có 6 tầng trời thuộc pháp động. Cõi SẮC có
18 và VÔ SẮC có 4, cộng 28 cõi. Những cõi trời này, kiếp
sống dài lâu, ngoại đạo chấp là thường, nên gọi là pháp
động.
KINH TÂM Yếu BáT NHÃ BA LA MẬT
ÐA
Khi Bồ tát Quán Tự Tại thực
hành sâu xa pháp Bát nhã ba la mật đa, soi thấy năm uẩn vốn
KHÔNG, liền độ thoát hết mọi khổ ách.
Này! Xá Lợi Tử, sắc chẳng
khác không, không chẳng khác gì sắc, mà sắc tức là không,
không cũng là sắc; thụ, tưởng, hành, thức đều như thế
cả.
Này! Xá Lợi Tử, tướng "Không"
của các pháp là không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch,
không thêm cũng không bớt. Do đó, trong Chân Không không có
sắc, không có thụ, tưởng, hành , thức; không có nhãn, nhĩ,
tị, thiệt, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp; không có nhãn giới cho đến ý thức giới; không có
vô minh, không có chấm hết vô minh, không có già, chết, cũng
không có hết già, chết; không có khổ, không có nguyên nhân
của khổ, không có giải thoát, không có con đường giải
thoát; không có trí giác, không có tựu thành.
Bởi chẳng có gì để thành
tựu, Bồ tát y theo Bát nhã ba la mật đa, tâm không bị ngăn
ngại. Vì không ngăn ngại, nên không còn sợ hãi, lìa xa vọng
tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh niết bàn. Các Ðấng
Giác Ngộ trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều nương
theo Bát- nhã- ba- la- mật- đa mà chứng đạo quả Vô thượng
Chính đẳng Chính giác.
Vậy biết rằng : Bát nhã ba
la mật đa là linh ngữ siêu việt, linh ngữ của trí tuệ,
linh ngữ tối thượng, vô song, có khả năng giải cứu hết
mọi khổ đau; đúng thực không sai. Vì thế nói bài thần
chú Bát nhã ba la mật đa :
"Yết đế, Yết đế, Ba la
yết đế. Ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha. Ma ha bát
nhã ba la mật đa" lll
(câu thần chú đọc 3 lượt).
(Thần chú diệt hết mọi cỗi
rễ nghiệp chướng, quyết sinh Tịnh độ) :
Nam mô A di đá bà giạ, đá
tha già đá giạ, đá địa giạ tha, a di lị đô bà tỳ, a
di lị đá tất đam bà tỳ, a di lị đá tỳ ca lan đế, a di
lị đá tỳ ca lan đá, già di dị già già na, chỉ đá ca lệ
sa bà ha lll
(câu thần chú đọc 3 lần).
PHẦN HỒI HƯỚNG
PHÁT NGUYỆN
(Ðại chúng ngồi kết già,
chắp tay đồng tụng):
"Kính lạy Ðức Thích Ca Văn
Phật,
Một ngôi chí tôn trên trời
đất.
Ðạo pháp mênh mông bể khơi
hẹp,
Công đức vòi vọi, núi non
thấp.
Xót thương chúng sinh cõi Sa
Bà,
Ðời đời chìm đắm trong
bể khổ :
Khổ về thể xác lẫn tâm
hồn,
Phát nguyện ra tay khắp tế
độ.
Trút bỏ tôn vinh cùng tình
ái,
Hết lòng hết sức lo cứu
đời,
Bình đẳng, không phân ai quý
tiện;
Từ mẫn thương yêu cả mọi
loài.
Bốn điều Thánh Ðế rất
nhiệm mầu,
Gỡ sạch nhân duyên mười
hai mối;
Mở đường giác ngộ ra bến
mê,
Hết thảy thánh, phàm trong
tam giới.
Trong cõi vô thường thay đổi
mãi,
Dẫu rằng trời đất cũng
hư không,
Ðến ngôi niết bàn là cao
nhất,
Bất sinh bất diệt biết bao
cùng!" l
Nam mô Sa Bà giáo chủ đại
từ bi phụ
Thích Ca Mâu Ni Phật lll
(đọc 3 lượt)
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật
lll
(niệm 1 tràng)
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát l
(10 niệm)
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát l
(10 niệm)
Nam mô Quán Thế AÂm Bồ Tát
l
(10 niệm)
Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải
Chúng
Bồ Tát lll
(10 niệm)
(Chủ lễ quỳ, đọc) :
Chúng con xin chí thành phát
nguyện :
(Mọi người cùng quỳ, đọc
theo) :
Chúng sinh không số lượng,
thề nguyện đều độ khắp.
Phiền não không cùng tận,
thề nguyện đều dứt sạch.
Pháp môn không kể xiết,
thề nguyện đều tu học.
Phật đạo không gì hơn,
thề nguyện được viên thành.
l
Nguyện đem công đức tụng
kinh này
Bao nhiêu thắng phúc xin hồi
hướng :
Cầu cho chúng sinh trong bể
khổ,
Chóng được sinh về cõi An
Dưỡng.
Mười phương chư Phật và
Bồ tát,
Là những bậc chứng đạo
Bồ đề,
Rủ lòng tiếp bốn loài, chín
cõi.
Ðều siêu thăng Hoa Tạng Huyền
Môn
Chốn tối tăm tám nạn, ba
đường
Ðồng thể nhập Như Lai Pháp
Tính lll
Kính lạy Ðức đại từ bi
phụ Thích Ca Mâu Ni Phật, hiện nghìn trăm ức hóa thân cứu
độ chúng sinh, đấng giáo chủ cõi Sa Bà, là vị đại sư
trong ba cõi, cha lành của bốn loài, một bậc Thày cao cả
của cõi trời, cõi người, chúng con xin chí thành kính lễ.
lll
(Câu này đọc 3 lượt).
Con quy y Phật, nguyện cho chúng
sinh, thể theo đạo lớn, phát tâm vô thượng l (1 lễ)
Con quy y Pháp, nguyện cho chúng
sinh, hiểu thấu nghĩa kinh, trí tuệ như bể l (1 lễ)
Con quy y Tăng, nguyện cho chúng
sinh, thống lý đại chúng, hết thảy vô ngại lll (1 lễ)
(Mọi người đứng chắp tay
đọc) :
HÒA NAM THÁNH CHÚNG
"Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Ðệ tử và chúng sinh,
Ðều trọn thành Phật đạo."
(Mọi người vái rồi lui ra)
Chú thích
:
(1) Tứ Ðế :
1.) Khổ đế : nhân sinh
là khổ
2.) Tập đế : do những
nguyên nhân quá khứ, tập lại mà có.
3.) Diệt đế : cảnh giới
niết bàn an lạc.
4.) Ðạo đế : muốn giải
thoát phải tu theo Bát Chính đạo.
Trong hai đế Diệt, Ðạo
là thuộc về giải thoát luận, còn hai đế Khổ, Tập, nếu
bàn rộng ra tức là 12 nhân duyên
(2) Lục Ðộ : 1) bố thí.
2) trì giới. 3) nhẫn nhục. 4) tinh tiến. 5) thiền định. 6)
trí tuệ.
(3) (12 nhân duyên) :
1) vô minh : chỉ cho trạng
thái mê lầm không giác ngộ
2) hành : sự biến đổi
của nghiệp thức
3) thức : nghiệp thức
4) danh sắc : tức là nghiệp
thức và khí huyết cha mẹ tạo thành thân con người.
5) lục nhập : ngũ quan và
ý thức
6) xúc : sự cảm thức của
ngũ quan và thức trong khi đối cảnh.
7) thụ : sự lĩnh thụ tâm
đối cảnh
8) ái : lòng tham yêu
9) thủ : lòng chấp trước
giữ gìn
10) hữu : là Có, hoặc là
Cõi do những nhân duyên trên.
11) sinh : nhân quả về sau
trong các cõi thụ sinh.
12) lão tử : già, chết.
(4) (Tám Con Ðường Chính)
:
1) chính tri kiến. 2) chính
tư duy. 3) chính ngữ.
4) chính nghiệp. 5) chính
mệnh. 6) chính tinh tiến.
7) chính niệm. 8) chính định.
(5) Xin xem Phật Học Tinh
Hoa, một tổng hợp đạo lý của cùng dịch giả, do Viện
Ðại Học Vạn Hạnh xb. 1971, trg 214-298.
___________
Dịch
từ chữ Hán :
" Phật
Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết Giáo Giới Kinh"
(Trích
trong "Thánh Ðiển Yếu Täp")
Ðời
Diêu Tần tam tạng pháp sư CƯU MA LA THẬP phụng chiếu dịch
Sramana
TRÍ TẠNG chuyển ra Việt ngữ.
Xin đem
công đức dịch và ấn tống Kinh này hồi hướng phúc báo
:
Cầu siêu
tiến Phụ mẫu lũy kiếp, thất tổ cửu huyền, vãng sinh Tịnh
độ;
Cầu cho
qúy vị Phật tử, ân nhân và đồng bào bình an, hạnh phúc,
bồ đề tâm tăng trưởng; Nguyện Chính pháp quang minh, thế
giới hòa bình, chúng sinh an lạc.
x
X
|