Giác
linh Thầy tôn kính,
Giờ phút
Thầy an nhiên xả báo thân, thì bên này hơn nữa đêm. Một
Phật tử của Thầy ở miền Đông nước Mỹ, giọng đầm
đìa nước mắt, khấp báo cho tôi tin Thầy đã từ biệt,
lệ tiếc thương như tràn ngập, khắp đó khấp đây. Rồi
Tuệ Sỹ, một hậu tấn, kẻ đồng tâm dễ thương của Thầy,
mà tôi thường ví như một hạt kim cương hiếm hoi lẫn trong
đá sỏi của Phật Giáo Việt Nam ngày nay, trong nổi cô quạnh
bao la vừa sau một mất mát lớn lao đã ai tín cho tôi bằng
lá thư không niêm mà tôi biết mỗi chữ cũng trĩu nặng nổi
lòng.
Thầy đã
sống một cuộc đời xứng đáng, phẩm cách vằng vặc như
trăng rằm, chân tình rạt rào như sóng biển, để nay trong
cuộc giã biệt này ai mà không tiếc, không thương, không tôn
kính Thầy với hằng sa cảm xúc. "Thầy ra đi rất nhẹ nhàng"
Đó phải chăng là cách sống trọn một đời dài của Thầy.
Thầy nằm như đang ngủ, với gương mặt từ hòa, an nhiên.
Đó phải chăng cũng là tất cả những gì có thực nơi Thầy
mà chúng tôi hằng gặp gỡ.
Trong lặng
lẽ, Thầy là gốc trầm thơm nơi núi sâu, là chiếc cột âm
thầm chống đỡ ngôi nhà Việt Phật giữa ngữa nghiêng, là
hơi thở hy vọng của một thế trận rã rời. Thầy sống
như thế và cũng đã ra đi như thế.
Tuổi già,
hạt lệ khô tưởng là khó chảy thành một giòng đau trước
nổi niềm bao la thương cảm. Mà không, đôi mắt đã không
từng dửng dưng với đời cũ đã rạt rào lệ xót trước
niềm đau mới này. Một chia biệt rất bình thường nhưng
rất đổi đột ngột, ngậm ngùi. Từ lúc biết rằng Thầy
đã thực sự ra đi, tôi hay nhìn vào khoảng không bên ngoài
cửa sổ, như lụt lội một dấu vết quen và tôi đã khóc,
khóc Thầy bằng hai con mắt tin cậy từ lâu của tôi, về
một sự vắng bóng đã mang theo rất nhiều kỳ vọng.
Nơi Thầy
Chí cao- Nguyện lớn và Hùng tâm vẫn bằng lòng trú ngụ trong
một thân xác khiêm tốn, nơi một đời sống hàng ngày đạm
bạc, nơi một trái tim lúc nào cũng vui nghĩ tới người và
mãi miết tìm hội cơ phụng sự. Việt Nam, trong "thời đại"
của nữa cuối thế kỷ hai mươi, nếu có diễm phúc thấm
nhuần chút nào "chất Phật" thì đó là một phần công lao
đóng góp của Thầy, một người lúc nào cũng tha thiết "đem
Phật về ngụ giữa đời" Thầy tình nguyện làm thân thuyền
để chở Đạo và Đời, mời mọc ân cần những tâm hồn
đời cảm rung theo lối đạo, khiến cho khu vườn thế gian
một dạo thơm lừng hương Pháp. Làm báo, viết văn, soạn
sách.cũng là để chở cái lý tưởng phụng sự nhân thế
bằng con đường Phật, đem hạt giống "Tinh Hoa Phật học"
gieo trồng trên miếng đất phàm lụy cho con người dài thêm
tay hái! Thầy là ngọn đèn Pháp còn đầy dầu giữa đêm
đông của Đạo, là ánh đuốc hùng tâm giữa bóng tối của
Đời. Vắng Thầy rồi,
Đạo Pháp
và Quê Hương có còn một hy vọng đổi thay? Chữ nghĩa tôi
hôm nay được nói ra về Thầy, nhiều khi cũng trở thành trống
rỗng, không đủ biểu trưng cho ý nghĩa của Một Cuộc Đời.
Thầy ơi,
từ lâu, trong âm thầm tôi vẫn đợi một buổi trùng phùng
với Thầy nơi quê cũ để mà tâm sự cho nỗi nhớ niềm mong.
"Năm mươi năm ấy là bao nhiêu tình?" Từ một chỗ ngồi chung
dưới gốc nhãn trên sân chùa Báo Quốc, tới những ngày Saigon
thanh bạch dấn thân vào việc Đạo, đến những năm tháng
lo toan cho tính mệnh Phật pháp và Quê hương qua tuyên ngôn
"hóa giải"..Có phải lần cuối tôi với Thầy còn đi được
với nhau là trên những chiếc xích-lô máy qua lại giữa một
Saigon đã mất tên với những bao gạo nặng tình đi thăm những
văn nghệ sỹ thân hữu đang lạc lõng giữa cuộc đổi đời!
Bây giờ, Thầy đã đi trước, rồi thì nỗi đợi của tôi
chỉ còn là niềm hờn tủi.
Ở nơi xa,
tôi cúi đầu xin vọng bái Giác Linh Thầy một tâm thức hoàn
toàn tự do và giải thoát đã có lúc mượn tướng để vào
đời, hành Bồ tát hạnh, và nay an nhiên trở về tịnh địa.
Kính tiễn
biệt Thầy!
Thích Mãn
Giác.