Chương
20 - Ưu bà di Bất Ðộng dạy pháp :
" Tinh Tiến
Ba la mật"
Tinh Tiến
(Viriya), với nghị lực, cố gắng khắc phục mọi khó khăn,
lười biếng…, là siêng năng chuyên cần để mong đạt cho
kỳ được mục đích cuối cùng.
Có những
việc nếu xét thấy chưa yên tâm, không làm; việc trái lẽ
phải, không làm, việc gây oan nghiệt, không làm. Chỉ việc
nào xét thấy là đúng, hay, đẹp, nên làm, cần làm, phải
làm thì làm cho kỳ được.
Người tu
hạnh Bồ tát gặp thuận duyên không lấy làm đắc chí, gặp
nghịch cảnh chẳng hề nản lòng, thoát chuyển: "càng nhiều
gian lao, Bồ tát càng bền gan và can đảm quyết tâm, khó khăn,
nặng nhọc chỉ làm thoái chí kẻ yếu hèn, nhưng Bồ tát
càng gặp chướng ngại, khó khăn lại càng thêm bền gan và
cương quyết, càng hăng hái cố sức vượt qua…
"Thực ra,
không phải người tu đạo mong cầu thử thách dồn dập đến
với mình, nhưng phải chấp nhận trên đường hành đạo,
Bồ tát gặp nhiều chông gai, nên luôn luôn cần cảnh giác
và tự đặt mình vào mọi trường hợp khó khăn, để tìm
cách vượt lên trên những cam go thử thách, thì mới tiến
bước được"(BTD, trang 500)
Và dưới
đây là những tấm gương sáng về hạnh tinh tiến:
-
"Bố tát thường
Ðề vì cầu chính pháp mà quên ngày đêm, quên mưa nắng,
quên cả vũ trụ, cả thân tâm".
-
"Pháp sư Ðạo
An đem đổ chúng vào rừng khai khẩn, tự thực kỳ lực để
duy trì chính pháp trong đời loạn, trống trận đánh thấu
ngưỡng cửa mà Ngài vẫn ngồi sang định kinh A Hàm".
-
"Bồ tát Thường
Bất Khinh gặp bất cứ ai cũng chúc cho họ (sẽ) thành Phật.
Người đời cho là kẻ điên khùng, có khi còn bị chửi mắng,
bị ném gạch và bị đánh đập nữa, nhưng ngài vẫn không
lùi bước, giữ nguyên ý định.
-
"Ngài Ðạo
Sinh bị đuổi vào rừng cũng vẫn sắp đá lại thuyết pháp,
khiến đá cũng cuối đầu nghe (ngoan thạch điểm đầu).
-
"Ngài Tuệ Viễn
dám cải lại Ngụy Vũ đế và chống với những kẻ bất
lương để giữ gìn chính pháp"
-
"(và gần đây
nhất) Hòa Thượng Thích Quảng Ðức và sáu vị Tăng, Ni tự
thiêu để phản đối chính quyền nhà Ngô triệt hạ cờ Phật
giáo…
Ðó là những
vì sao chiếu soi cho hậu thế cần phải lưu tâm suy nghĩ mà
thi hành cái nhiệm vụ của mình: Hy sinh bảo vệ chính pháp;
thể hiện trọn vẹn ba đức đại hùng, đại lực, đại
từ bi…
Chương 23_
Thuyền trưởng Bà Thi La dạy pháp:
" Nhẫn Nhục
Ba La mật"
Nhẫn Nhục
(Khanti) : là đức tính chịu đựng những nghịch cảnh não
lòng và lấy những phiền muộn do người khác gây ra cho mình,
mà không tỏ vẽ khó chịu , cũng chẳng thốt ra một lời
oán trách kêu ca.
-
"Nhẫn" là kiên
nhẫn, gánh chịu vui vẻ.
-
"Nhục " là
hối nhục; bị tổn thương lòng tự ái mà vẫn không ta thán.
"Nhẫn nhục
bao gồm mọi sự chịu đựng như nóng, lạnh, đói khát, bị
đánh đập tra tấn, giam cầm, tật bệnh, đao binh, quở trách,
chê bai, mạ lỵ…gây đau khổ cho thể xác lẫn tinh thần.
Nhẫn nhục
thường phải dùng đến trong những trường hợp nghịch cảnh
đau thương, nếu vượt được thì chóng thành Phật quả.
Ngược lại, nếu trong cơn thử thách mà không lấy nhẫn nhục
để đối trị lại, để cho ngọn lửa sân hận bùng lên,
sẽ tiêu tan, tàn phá hết rừng công đức",(BTD, trang 525)
Nhẫn nhục
không có nghĩa sợ sệt, hèn nhát mà, ngược lại, là một
đức tính cao cả của bậc đại nhân: làm những việc khó
làm và nhẫn những điều khó nhẫn, kẻ tầm thường không
thể nào theo kịp hay bắt chước được.
Có hai cách
nhẫn nhục: "Nhẫn nhục vì hoàn cảnh cô đơn, vì địa vị
thấp hèn, hay vì danh, vì lợi, vì sợ thế lực uy quyền của
của người có thế đè bẹp mình dể dàng, mà bắt buộc
phải nuốt hận làm ngơ, là thứ nhẫn nhục còn ô nhiễm,
chỉ vì muốn yên thân để tránh những sự bất lợi xảy
đến cho mình. Nhưng nhẫn được với kẻ yếu hèn dưói mình
mới thật là đáng quí.
"Nhẫn nhục
không chấp tướng là thứ nhẫn nhục để tiêu trừ sân hận,
kiêu căng, tham lam, vị kỷ. Nếu có người mắng nhiếc mình,
hoặc phê bình, chỉ trích, thì hảy bình tâm tự kiểm điểm
xem mình thực có lổi hay không, nếu quả thật có lổi, ta
cầ phải sửa đổi để cải hóa lương tâm. Còn nếu không
có lổi, mình hảy bỏ qua đừng trụ tâm vào đó, những lời
vu cáo không đáng được lưu ý vì nó chẳng dính dáng gì
đến ta, do đó chẳng nên chuốc lấy ưu phiền, sân hận,
mà chỉ nên coi những lời nói, những cử chỉ khiêu khích
như gió thoảng ngoài tai". (BTD, trang 533)
Nhẫn nhục
là mầm sinh ra Giới, Ðịnh, Tuệ và là dụng cụ để nhổ
hết mọi pháp ác, là vật trang điểm tâm hồn của bậc trí
thức, là sức mạnh vô địch của người tu phạm hạnh…
Chương
24_ Trưởng giả Vô Thượng Thắng dạy Thiện Tài về
"Tứ Nhiếp
Pháp"
Trưởng giả
nói: "Tôi đã thành tựu Bồ tát đắc Nhất thiết chủng trí
và các pháp thần thông vô ngại. Do đó tôi có thể thị hiện
(vibhavana) khắp nơi trong đại thiên thế giới để thuyết
pháp độ sinh, làm cho ai nấy đều bớt dần tâm sân hận,
oán thù, phá mọi oan kết, trừ nạn chiến tranh, làm lành
lánh ác, cắt đứt phiền não, diệt tham, sân, si, khiến cho
chúng sinh xu hướng về việc Thiện mà tạo được nhân lành.
Nhưng muốn hành đạo có hiệu quả, phải đem đạo vào đời.
Lúc đầu, dùng phương tiện bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng
sự, giúp ích mọi người trong đời sống hiện tiền, sau
mới tiến dần tới sự lợi ích vĩnh viễn cho chúng sinh"
Tứ Nhiếp
Pháp gồm bốn pháp môn đối trị ở đời. Hay nói cách khác
là: 4 pháp cư xử thông thường mà người ta cần phải áp
dụng nó trong những môi trường sinh hoạt tập thể, thường
gọi là xã hội văn minh.
1..Bố Thí
(dànam)_ Sự tương trợ, cứu giúp người về mặt vật chất
cũng như tinh thần, một cách không vụ lợi.
2..Ái Ngữ
(Priyavàdita)_ Lời nói hợp lý, tức lời nói không giận hờn,
đặt điều, xu nịnh, dèm pha, mà chỉ nói những lời chân
chính, hòa ái.
3..Lợi Hành
(Arthacaryà)_Làm tất cả công việc gì hữu ích cho tự thể,
tha nhân, và cho cuộc đời…
4..Ðồng
Sự (Samànàrthatà)_ Phục dịch công vụ. Ai nấy nên đem hết
tài năng mình ra làm việc công ích để cùng xây dựng một
xã hội người văn minh, Giác Ngộ và Giải thoát.
"…Bồ tát
không thể vui hưởng Niết bàn an lạc một mình nếu thấy
còn có chúng sinh" mà hóa thân trong sáu đường, hòa mình vào
cuộc sống trăm sai ngàn biệt để cùng làm, cùng hưởng,
cùng chung nếp sống, bìng đẳng vô phân biệt, và dùng mọi
phương tiện để diệt khổ, ban vui, khiến cho chúng sinh được
an lạc, thù thắng, trong một thế giới từ bi, khoan dung, độ
lượng".
Chương 25_
Tỳ khưu ni Sư Tử Tần Thân dạy pháp
"Trì Giới
Ba La mật"
Căn bản
của giới:
1.. Nguyện
dứt tất cả điều ác (nhiếp luận nghi giới)
2.. Nguyện
làm mọi việc lành (nhiếp thiện pháp giới)
3.. Nguyện
độ hết thảy chúng sinh (nhiều ích hữu tình giới)
Trì Giới
(sila) có nghĩa là thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Thân:
không sát, đạo, dâm. Khẩu: không nói chia rẽ, nói lời hung
ác, nói dối trá, nói thêu dệt. Ý: Không tham, sân, si. Chẳng
những thân không vi phạm mà tâm cũng không hề nghĩ, tưởng
đến những điều xấu ác đó, cho đến cả cái "biết mình
đã đoạn trừ được những điều đó"cũng không còn nữa,
tới lúc đó mới gọi là Trì giới ba la mật.
-
"Trì giới chấp
tướng là chỉ làm lấy lệ, vụ hình thức bề ngoài, chứ
thực tâm vẫn còn nhiễm ô. Ðó là lối trì giới để lấy
tiếng khen, hoặc bị miễn cưỡng, ép buộc, thiếu tự nguyện
và thành thực, như vậy chẳng có ích lợi gì cả".
-
"Trì giới chấp
tướng là giữ theo giới luật mà mình đã trụ trì, không
vì danh lợi, hiếu thắng, mà chỉ vì theo đức tính thanh tịnh
của tâm không nhiễm trược. Khi đã biết là lẽ phải thì
vui vẽ tự làm. Chẳng vì bó buộc, giữ giới một cách tự
nhiên, lúc nào cũng nghiêm trì giới luật mà không thấy mình
giữ giới nữa. Thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh , đó là
nghĩa câu : "xưng tính tác Phật sự" (làm việc Phật theo bản
tính), (BTD,trang 558-559)
Chương
26 _ Thiện nữ Ba Tu Mật Ða dạy về tâm bình đẳng
Ly
dục và vô phân biệt hay hành "Ngũ Ðình Tâm Quán"
Tức năm
pháp quán tưởng để chặn đứng vọng niệm và lìa ái dục,
đầu mối của sinh tử luân hồi.
Phương pháp
quán này phải dùng trí tuệ để phân tích, suy nghiệm và
quán sát. Ðó là :
1.. Quán
thân bất tịnh, trừ diệt tham ái.
2.. Quán
từ bi, trừ diệt sân hận.
3.. Quán
nhân duyên, trừ diệt mê hoặc, si cuồng.
4.. Quán
giới phân biệt, trừ diệt ngã chấp.
5.. Quán
sổ tức, trừ diệt loạn tâm.
Ghi chú :
- Quán giới phân biệt : phép quán này chia thân, cảnh làm
18 (6 căn, 6 trần, 6 thức).
Trong 18 giới
này không làm sao tìm thấy cái gì là cái "ta"cả. Cái ta chỉ
là một số Sắc pháp và Tâm pháp tạm thời hợp lại thành
ngũ uẩn (Skandha): sắc, thụ, tưởng, hành, thức) mà có, và
chỉ có tên gọi chứ không có thực thể.
Pháp quán
này dùng để đối trị với ngã kiến, ngã mạn, ngã ái,
ngã si, và làm cho ta thấy được tất cả pháp là vô ngã,
vô thường…
Và dưới
đây xin lược kê những chương thuộc "Pháp môn Bát Nhã":
-
Chương 27, Cư
sĩ Tỳ Sắc Chi La dạy Lý "Chân Không Diệu Hữu".
-
Chương 28, Quán
Tự Tại bồ tát dạy "Tâm Bi Vô Lượng".
-
Chương 32, Dạ
thần Bà San Bà Diễm Ðề dạy lý "Nhị Không".
-
Chương 37, Dạ
thần thủ hộ nhất thiết Thành Ðăng Trưởng Uy Lực
Dạy
về chữ "Không"
-
Chương 38, Dạ
thần Khai Phu Nhất thiết thụ Hoa dạy về "Chân
Như".
* Chương 39,
Dạ thần Ðại Nguyện Tinh Tiến Lực Cứu Hộ Nhất Thiết
Chúng Sinh
dạy " thu thúc 6 căn".
Chương 41,
Thích nữ Cù Ba dạy "Ðạo lý Nhân Duyên sinh".
* Chương
43, Thiện nữ Thiện Chủ Quang dạy về "Thực Tại Siêu Việt
Của Các
Pháp".
-
Chương 45, Ưu
bà di Hiền Thắng dạy pháp môn "Vô Tận Tam
Muội Giải
Thoát Vô Y Xứ Ðạo Tràng"( Phàm các sự
Hiểu biếtdo
lục thức đem lại, Bà đều đắc pháp thần
Thông cả).
-
Chương 47, Trưởng
giả Diệu Nguyệt dạy pháp môn "Tịnh Trí
Quang Minh" (biện
giải lẽ chân giả).
-
Chương 48, Trưởng
giả Vô Thắng Quân dạy về "Kiến Tính thành
Phật"và "Giác
Ngộ Giải thoát".
-
Chương 50, Ðồng
tử Ðức Sinh và đồng tử Hữu Ðức dạy về "Chân
Lý Tuyệt Ðối".
-
Chương 51, Bồ
tát Di Lặc giảng pháp môn "Bát Nhã và Duy
Thức" (Luận
về chữ "Tâm".
Tất cả
những chương nói về "Pháp môn Bát Nhã"trên đây đều hàm
ẩn những giáo lý cao siêu, mầu nhiệm của triết học đại
thừa Phật giáo, đã được tác giả trình bày với một bút
pháp linh hoạt, trong sáng, khúc chiết và dễ hiểu, tôi không
muốn làm mất nhiều thời giờ quí báu của các bạn bằng
cách đi sâu vào chi tiết trong mỗi chương, chỉ xin mời bạn
hãy đọc …để được thưởng thức những cái Hay, Ðẹp
về cả ý lẫn lời của mỗi chương nói trên.
Chương 29-
Bồ tát Chính Thụ ban ơn thí Chính pháp.
Bồ tát nói:
"Tôi từ thế giới Diệu Tạng ở phương Ðông, là cỏi của
Ðức Phật Phổ thắng Sinh, cách đây hằng hà sa số vi trần
thế giới mà tới. Mỗi bước chân tôi đi là trải qua vô
lượng cõi Phật, và tôi đã cúng dường vô số chư Phật
mười phương. Tôi biết rõ tâm tính của mỗi chúng sinh trong
khắp cõi mà tôi đã đi qua, và thấu rõ nguyện vọng cùng
căn tính của mỗi người, nên đã vì tất cả mà tùy thuận
thuyết pháp độ sinh theo tiếng nói, âm thanh của từng giống,
loại. Tôi cùng Bồ tát Quán Tự Tại dùng tâm bi vô lượng
để ban vui cứu khổ cho nhân loại, chúng sinh. Tôi khuyên Thiện
nam tử nên cố gắng mở rộng thêm tâm Bi …cho thực vô bờ
bến để hàng Bồ tát đạo". (BTD, trang 636)
Ðại Bi là
lòng thương yêu rộng lớn và sáng suốt, là tôn trọng sự
sống và quyền sống của hết thảy chúng sinh. Cuộc đời
vốn dĩ đã phức tạp, khổ đau, kiếp sống con người thì
ngắn ngủi và đầy bất trắc, chúng ta hãy thương yêu nhau.
Vì mỗi con người đều đáng thương và cần được phụng
sự.
Chương
30- Thần Ðại Thiên dạy : "Phá Chấp Ngã và Chấp
Pháp"
( Thần Ðại
Thiên): Tôi đã thành tựu quả Bồ tát giải thoát, tên là
"Vân Võng". Nói xong, Thần liền hóa phép thần thông hiện
ra trước mắt Thiện Tài từng đống châu báu, thất bảo
cao như núi, cùng những hương hoa, y phục, dụng cụ, âm nhạc,
nhiều vô số kể. Rồi, Thần lại bảo Thiện Tài.
" Tôi đã
vì tất cả chúng sinh mà biến hóa ra những thứ này để
dạy hạnh Bồ tát. Nếu kẻ nào ham mê dăm dục, tâm thường
phóng dật, thì tôi liền hiện ngay ra những cảnh bất tịnh.
Nếu kẻ nào lòng sân hận, kiêu căng, tật đố thì tôi hiện
ra những hình tướng đáng sợ như Thiên lôi, La sát uống
máu, ăn thịt để răng đời. Nếu ai hôn trầm, lười biếng,
giải đãi, tôi sẽ hiện ra những cảnh đao binh, nước lửa,
bệnh tật, trộm cướp v.v…buộc họ phải cố gắng, tinh
tiến, siêng năng , chăm lo công việc. "Vân Võng"có nghĩa là
lưới mây . Mây tuy thưa mỏng nhưng khó thoát. Nó vây bọc
quanh mình như nghiệp quả. Người đời, không ai tránh khỏi
nghiệp, dù là nghiệp nhỏ, cho nên tôi đã dùng đủ mọi
phương tiện khiến chúng sinh phải từ bỏ hết mọi nết
hư, tật xấu, mà tinh tiến tu tập các pháp lành để trở
thành người lương thiện, xa lánh đường hiểm ác, tới nơi
vô ngại, an lành.
"Người nào
có đạo tâm trong sạch thì không còn mong cầu điều chi cả,
bởi lẽ đã rõ biết các pháp đều hư huyễn, sinh rồi diệt,
diệt rồi sinh, có gì đâu là chân thật mà mong cầu?
"Người nào
có đạo tâm đã rõ các pháp thế gian đều tương đối, trong
họa có phúc, trong phúc có họa, cho nên tâm lúc nào cũng bình
thản
ở trong cảnh
thịnh suy, họa phúc mà tâm chẳng hề giao động, luôn luôn
phẳng lăạng như tờ.
"Quan niệm
về một cái ngã thường tồn, bất biến và luôn luôn đồnh
nhất, là một quan niệm sai lầm, hoàn toàn phi lý. Chính nó
là nguyên nhân phát sinh ra những tình cảm và tư tưởng ích
kỷ, ty tiện, những tham vọng vô bờ bến, những quyến luyến
đam mê, oán thù bất tận. Chính nó là tác giả những cuộc
xô sát ác liệt giữa người và người, không giây phút nào
ngơi. Tất cả thống khổ, thương đau trên cõi trần gian này
đều bắt nguồn từ quan niệm sai lầm về ngã kiến (thấy
có ta) cấu tạo ra cả. Vậy, người tu cần phải diệt trừ
cho được cái quan niệm sai lầm đó, tức là phải phá chấp
ngã và luôn cả chấp pháp một cách triệt để, và có phá
được cả hai món chấp ấy mới mong giải thoátnổi hoàn
toàn khỏi mọi khổ đau và ác nghiệp_ Ðó là mục tiêu đầu
tiên và cuối cùng của người hành Bồ Tát Ðạo" (BTD, trang
644-646)
Trong chương
này tác giả đề cập hai phương pháp phá chấp: một của
"pháp môn Duy Thức", và một của "Không Tông Bát Nhã"với
những lý luận chính xác, đanh thép. Cuối cùng đưa đến
nhận thức: Tuy cùng nhằm mụv đích phá chấp ngã, phá chấp
pháp mà hai pháp môn Duy Thức và Bát Nhã đã áp dụng hai phương
pháp khác nhau;
"Không Tông
Bát Nhã" thì lặng nhìn Bản thể sự vật, không nói năng
gì, và phóng sẳn tầm mắt vào nơi sâu thẳm của tâm thức
im lìmđể nhận thấy rõ cái chân tính rỗng lặng của vạn
hữu".
"Pháp Tướng
Duy Thức"lại dừng chân ở phía ngoài hiện tượng mà quan
sát và phân tích tỉ mỉ từng khía cạnh mọi cảm giác của
nội tâm để rồi cùng tiến sâu phía bên trong Thể tính của
vạn vật, và cùng nhận ra ngay cái Thực Tướng Vô Tướng
của muôn pháp hóa sinh. Rốt cuộc, cả hai phái pháp Tính và
pháp Tướng đều gặp nhau ở điểm siêu tuyệt nơi Bản Thể
Chân Như, hay Chân Không của vạn pháp" (BTD, trang 692)
Chương
31 _ Thần An Trụ dạy "Pháp môn lục thông"
1.. Thiên
Nhãn Thông : mắt nhìn thấy được thật xa, trông thấu xuốt
mọi pháp, nhận rõ những vật li ti như vi trùng, v.v…
2.. Thiên
Nhĩ Thông : tai nghe rõ âm ba ngoài nghìn dặm tựa như máy thu
thanh.
3.. Thần
Túc Thông : hay Như Ý Thông , hoặc Bất Tư Nghị Lực: là những
hoạt lực tự tại vô ngại, không thể suy lường được
về khả năng. Với pháp này có thể bay bổng như chim trời,
đi trên mặt nước hay duy chuyển nhẹ nhàng nhanh chóng, tựa
như cưỡi gió lướt đi, biến hóa vô cùng mau lẹ.
4.. Túc Mệnh
Thông : là biết rõ kiếp quá khứ, vị lai, thấu suốt nghiệp
chướng của mình và của mọi người trong nhiều đời nhiều
kiếp.
5.. Tha Tâm
Thông : là biết rõ những tư tưởng thầm kín và hiểu thấu
ý muốn của mọi người, do đó dể cảm thông và đáp đúng
được mọi nguyện vọng của tha nhân.
6.. Lậu Tận
Thông : là vượt lên mọi phiền não, nghiệp chướng, sống
ngoài vòng sinh tử, luân hồi, hoàn toàn giải thoát, không
bị vướng mắc nghiệp duyên ràng buộc nữa.
"Trong sáu
phép thần thông chỉ có Lậu Tận Thông là được Ðức Phật
khuyến khích, vì đây là lối luyện cho tâm hư, nhập Niết
bàn (Nirvana) thanh tịnh, và khi đã đắc pháp này rồi, tự
nhiên thông trên đều rộng mở, không cần tu mà cũng được
.." (BTD, trang695- 696)
Chương
33_ Dạ thần Phổ Ðức Tịnh Quang dạy về "Thực Tướng của
các Pháp"
Dạ Thần
nói : "Bồ tát muốn hành đạo phải phát tâm cao dày. Khi đã
thành tâm phát nguyện vô thượng Bồ đề thì có thể thành
tựu được mười hạnh Phổ Hiền và viên mãn được thanh
tịnh tâm. Tâm thanh tịnh thì trông thấy được chư Phật.
Mắt thanh tịnh thì nhìn thấy được tướng tốt trang nghiêm
của Như Lai. Trí tuệ thanh tịnh thì biết rõ công đức rộng
lớn như biển cả của chư Phật, và thấy rõ được vô lượng
Phât Pháp quang minh khắp pháp giới, trông thấy từ mỗi lổ
chân lông của Như Lai phóng ra, và trong một niệm thấy chư
Phật xuất hiện khắp pháp giới, lại nghe hiểu âm thanh của
chư Phật chuyển pháp luân trong tam thế, biết tường tận
danh hiệu của hằng hà sa số chư Phật mười phương, lại
biết đụoc cả chư Phật dùng bất tư nghị tự tại thần
thông lực để đều phục muôn loài…Khi tâm chẳng còn khởi
vọng phân biệt, và nhìn thấy rõ chư Phật tam thế xuất
hiện ở khắp các đạo tràng, thấy Như Lai chẳng còn tùy
thuộc vào không gian và thời gian, thấy Như Lai không từ đâu
đến, không đi về đâu, không sinh cũng không diệt, không
thực cũng không hư, chẳng chân cũng chẳng vọng , chẳng hoại
cũng chẳng đổi dời, vì Thể tính là vô sinh , và Pháp thân
là bình đẳng, vì Như Lai là nguồn sống bất tận, là ánh
sáng vô biên độ khắp chúng sinh , vì tính của Như Lai thường
còn chẳng biến đổi, vì Như Lai vốn vô tướng, và Tính,
Tướng bất nhị, chính là "Chân Không Diệu Hữu".
"Còn ở trong
vòng điên đảo mê mờ thì chưa rõ được cảnh Viên Giác
của chư Phật, vì thế mà người tu cần phải gạn lọc tâm
hồn sao cho cái tâm vọng động si mê của mình được thanh
tịnh, hầu cho ánh sáng nhiệm mầu của Chân Tâm được tỏ
bày vi diệu.." (BTD , trang 705- 706)
Chương
34 –35 -Dạ thần Hỷ mục Quan Sát Chúng Sinh và Dạ thần
Phổ Cứu Chúng Sinh Diệu Ðức dạy "37 đạo Phẩm"
Ðạo đế
là con đường dẩn chúng sinh đến quả vị giải thoát, ra
khỏi tam giới sinh tử, luân hồi. Pháp môn dẩn tới chổ
cứu cánh giải thoát có nhiều vô kể, trong đó phải nói
đến 37 đạo phẩm. Phàm người tu đạo Bồ tát ai cũng phải
hành trì 37 đạo phẩm, mới mong đạt tớ chỗ rốt ráo Bồ
đề.
I. Tứ Niệm
Xứ:
-
Không sạch
cho là sạch ( Quán thân bất tịnh).
-
Không vui cho
là vui (Quán thụ thị khổ).
-
Vô thường
cho là thường (Quán tâm cho là thường ).
-
Vô ngã cho là
ngã (Quán pháp vô ngã).
II. Tứ Chính
Cần:
-
Việc ác đã
làm, quyết không làm nữa (Dĩ sinh ác pháp linh đoạn).
-
Việc ác chưa
làm, quyết không bao giờ làm (Vị sinh ác pháp linh bất sinh).
-
Việc thiện
đã làm, thì quyết tâm làm thêm nhiều nữa (Dĩ sinh thiện
pháp linh tăng trưởng).
-
Việc thiện
chưa làm, quyết làm cho kỳ được (Vị sinh thiện linh sinh).
III. Tứ Như
Ý Túc hay Tứ Thần Túc:
-
Do quyết tâm
tu hành cho định tuệ ngang nhau mà đắc thần thông (Dục như
ý túc).
-
Tinh tiến tu
hành cho đắc định tuệ ngang nhau mà đắc thần thông (Tinh
tiến như ý túc).
-
Do tu chính định
mà đắc thầ thông (Ðịnh như ý túc).
-
Do chính quán
mà đắc thần thông (Quán như ý túc).
IV. Ngũ Căn:
-
Lòng tin sâu
sắc ở Tam Bảo, ở pháp Tứ Diệu Ðế (Tín Căn).
-
Siêng năng tu
hành theo chính đạo (Tinh tiến căn).
-
Luôn nhớ nghĩ
đến chính pháp ( Niệm căn)
-
Giữ tâm không
tán loạn (Ðịnh căn).
-
Tâm trí sáng
suốt, phân biệt rõ chính tà (Tuệ căn).
V. Ngũ Lực:
-
Có đức tin
chân chính (Tín lực).
-
Quyết tiến
bước trên đường tu đạo (Tinh tiến lực).
-
Sức suy tưởng
sâu rộng (Niệm lực).
-
Ðịnh lực
kiên cố (Ðịnh lực).
-
Thần trí sáng
láng( Tuệ lực).
VI. Thất Giác
Chi, còn gọi là "Thất Bồ đề phận".
-
Thường xuyên
ở trong sinh không quán, tạo cho định tuệ được thăng bằng
(Niệm giác chi).
-
Dùng trí tuệ
vô lậu để quán chiếu sự vật, không sai lầm (Trạch Pháp
giác chi).
-
Dũng mãnh trừ
diệt các tư hoặc, thực hành chính pháp (Tinh Tiến giác chi).
-
Vui mừng được
giải thoát và tùy hỷ tất cả việc thiện (Hỷ giáic chi).
-
Những cảm
khoái an lạc, vui tươi là do sự diệt trừ kiếnn hoăc (Khinh
an giác chi).
-
Dùng pháp không
sinh quán đối trị các tư hoặc làm cho tâm không tán loạn
(Ðịnh giác chi).
-
Dùng sinh không
quán đối trị phóng xả tất cả pháp thế gian, không lưu
giữ một bóng dáng gì trong tâm, tạo cho tâm hồn luôn luôn
thanh tịnh sáng suốt (Hành Xả giác chi).
VII. Bát
Chính Ðạo:
-
Sự thấy biết
đúng như thật bốn Thánh Ðế, hay nói cách khác: sự nhận
thức các hệ thống giữa vũ trụ và các luận lý siêu hình
chi phối vạn vật (Chính Tri Kiến).
-
Tư tưởng chính
đáng, không tham, không giận, những tư tưởng từ bi (Chính
Tư Duy)
-
Lời nói chân
chính, không thô lỗ, đặt điều, xu nịnh, dèm pha (Chính
Ngữ).
-
Ðời sống
trong sạch, không sát sanh, trộm cắp, tà dâm (Chính Mệnh)
-
Hành động
đúng theo lẽ phải, phù hợp với chân ly, tránh làm thiệt
hại phiền não cho kẻ khác (Chính Nghiệp).
-
Chăm chỉ làm
những việc thiện, tránh những hành động, tư tưởng, ngôn
ngữ tà ác, tu luyện thân tâm cho mỗi ngày thêm tốt đẹp
(Chính Tinh Tiến)
-
Suy xét và
tưởng nhớ những việc hay, lành, gột bỏ mọi ý nghĩ xấu
để giữ cho ba nghiệp (thân, khẩu, ý) luôn luôn trong sạch
(Chính Niệm)
-
Chuyên chú tâm
trívề mọi điều lành. Tâm có định thì trí mới sáng suốt,
và một khi đi vào hành động ít bị sai lầm đến nổi gây
ra những khổ đau, phiền não cho mình và cho kẻ khác (Chính
Ðịnh).
*. Chính Ngữ-
Chính nghiệp- chính tinh tiến- chính mệnh thuộc về Giới
(Sila)
*. Chính niệm-
chính định- thuộc về Ðịnh (Samàdhi)
*. Chính tri
kiến- cfhính tư duy thuộc về Tuệ (Prajna).
Chương
36 – Thần Tịnh Tĩnh Âm Hải dạy: "Pháp môn Trung Ðạo"
Và dưới
đây tác giả bàn về thuyết Trung Ðạo của Phật giáo đã
áp dụng một Biện chứng pháp kỳ thú xây dựng trên Tam luận:
Chấp nhận
– Phủ nhận- Chấp nhận…
" Cứu cáng
của biện chứng pháp này có thể là một chấp nhận hay một
phủ nhận, nhưng đây lại là cái "chấp nhận của chấp nhận"
hoặc cái "phủ nhận của phủ nhận", vượt hẳn ra ngoài
giới hạn của biện chứng, và chỉ có thể thực hiện được
nhờ vào diệu dụng của tâm linh mà thôi.
Trong kinh
Kim Cương có câu:
Nhất thiết
pháp giả, tức thị nhất thiết pháp, thị cố danh nhất thiết
pháp.
"Cái gì gọi
là hết thảy pháp, tức không phải là hết thảy pháp, đấy
chỉ là cái tên để gọi các pháp (sự vật). Ta thấy Phật
nói: "có", rồi lại phá luôn "có", và lập ngay cái "không",
và trong khi cái "có" và cái "không" đang giằng co nhau, thì
Phật lại đưa ngay một nhát gươm thượng thừa để, chặt
đứt cả Có lẫn Không, cắt đôi dòng suy tưởng để đi
ngay vào cái Thực Tướng Không Tướng nên cũng gọi là hết
thảy pháp.
"Nói pháp
mà nói như thế mới thật là "Không có pháp nào để mà nói
cả". Cũng trong tinh thần nói trong im lặng ấy, Phật đã mở
pháp Tiểu thừa dạy lý Vô Ngã cho những đệ tử quen chấp
cái "tôi"là thực có. Thực hành Pháp Vô Ngã, hàng tiểu thừa
tiêu diệt được cái "tôi"và cầu mong được giải thoát.
Tuy nhiên, vì người đời chấp Hữu Ngã nên Phật mới dạy
Vô Ngã, nhằm tạo đòn đối nghịch, nhưng nếu còn đối
nghịch là còn chân lý tương đối có hai chiều, chưa phải
là lẽ Ðạo.
"Trung Ðạo,
không có nghĩa là nơi trung giangiữa "có" và "không" mà có
ý nghĩa vượt ra ngoài vòng sai biệt. Ngoài sự so đo. Ðó
là con đường người ta từ Mê tới Ngộ, từ phàm tới thánh,
thoát khỏi mọi tà kiến chấp trước.
"Không có
cái "Có"mà cũng không có cái "Không". Cả hai thuộc về trường
hợp "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt". Chân lý của
Ðạo không ở vào biên giới nào cả, và bất cứ quan niệm
tương đối nào cũng có cái lý Trung Ðạo nằm ở trong.
"Trong kinh
A Hàm có nhiều đoạn nói rằng: "Nhờ lý duyên khởi mà ta
xa lánh được nhị biên, thoát khỏi thường, đoạn, hữu,
vô, nhất, dị, và có năng lực phá chấp triệt để đưa
từ thế tục đế đến Thắng nghĩa đế.
"Biện chứng
pháp lấy tên là " Bát Bất Trung Ðạo"là con đường giữa
bác bỏ tám cái chống đối nhau: sinh- diệt- thường- đoạn-
nhất- dị- lai- khứ, vì đó chỉ là những quan niệm, thì
không thể nói là có hay không, hay vừa có vừa không, hay chẳng
có chẳng không. Những gì tương đối đều là giả có, không
chân thật.
" Khi tâm
con người còn bị vọng tưởng mê hoặc, thấy mọi sự quanh
mình đều có thực thì còn bị mê lầm. Chẳng những mọi
hiện tượng, mọi sắc tướng đều trống rỗng, đều là
KHÔNG, bởi vì chúng tuỳ nhân duyên sinh mà chẳng có thực
thể, thậm chí đến cái tuyệt đối, chính nó cũng là "Không"vì
nó ở ngoài trí nhận định và khái niệm của con người.
Nó là bất khả tư nghị, không thể nói lên lời hay bày tỏ
bằng văn tự được.
" Nói tuyệt
đối là "Không"thì làm sao đạt được cái "Không"ấy? Chạy
theo cái "Không" này phải chăng chúng ta sẽ rơi vào hư vô
trống rỗng ?- Không. Nếu vạn vật đều là giả có, đều
là "Không" theo ý nghĩa trống rỗng, thì cái "tuyệt đối Không"của
Trung Ðạo lại hết sức chân thật và chẳng trống rỗng
chút nào cả, bởi vì nó hàm chứa cả vạn hữu bên trong.
Thực khó lấy trí phàm của ta mà phán đoán, dò xét và nhận
thức được cfái tuyệt đối mầu nhiệm này, và phải dùng
trí Bát Nhãlà cái trực giác siêu phàmbén nhạy để chứng
nhận cái "Không"ấy mới biết rõ nó như thế nào. Trực giác
ấy chỉ đến với ta trong lúc tịch tĩnh của tâm hồn. Khi
ta biết từ bỏ mọi lý luận và lý trí so sánh nhị nguyên
để diễn đạt tư tưởng. Trong cái thực chứng ấy, mọi
đối đãi đều tiêu tan, không còn Ngã, Pháp, Khách, Chủ gì
nữa.
"Muốn tìm
cái chân lý tuyệt đối ấy phải bới tìm nơi đáy lòng mình,
cũng như muốn thấy Bồ Ðề, Niết bàn phải đi sâu vào tận
cùng tâm khảm, dùng phương pháp "hồi quang phản chiếu"mà
thu gọn không – thời gian vào một điểm "đương xứ" để
cho dĩ vãng và tương laivô tận gặp được nhau trong một
khoảnh khắc hiện tiền.
"Nói vạn
pháp là "không"là muốn nói vạn pháp không chân thật, không
thực có bền bỉ, và từng sát na sinh diệt. Tuy vậy, mọi
vật lại từ cái thể "không" ấy mà ra cả. Sắc trần tuy
không phải là biểu hiện của sự thật tuyệt đối, nhưng
nó vẫn hàm chứa một sự thật tương đối, ước lệ. Vậy,
cái chân thật, cái tuyệt đối vốn ở trong cái sắc trần
tương đối. Nhưng ở vào một mức độ nào đó thôi, mức
độ phù hợp với hoàn cảnh của thế gian.
"Sóng không
phải là nước mà chỉ là biểu tượng của nước, nhưng
sóng vẫn có nước là gốc ở bên trong. Vì nhận rõ lẽ này
mà người tu chứng đạo, dù đã nắm được cái lý tuyệt
đối, mà vẫn không lìa bỏ thế giới sắc tướng bên ngoài
của những sự thật tương đối. Sau khi đắc Bồ đề rồi,
các vị Bồ tát lại hồi nhập thế giới Sa bà, trở về
chung sống với thế gian ô trược, có thế mới độ được
chúng sinh đương bị trầm luân trong sinh tử.
"Nếu đứng
trên mặt hiện tượng mà xét, thì sự sống chỉ là những
dòng sinh hoạt… biến động, hòa hợp và liên tục. Mọi
sự vật hỗ tương ảnh hưởng, quan hệ mật thiết với nhau
trùng trùng điệp điệp trong không gian và thời gian vô tận
vô biên. Bởi luôn luôn sinh diệt, nên sự vật chẳng phải
là những thực thể thường còn, và cũng vì sự lưu chuyển
tiếp nối nhau không dứt, cho nên sự sống bất tận không
bao giờ diệt mất.
"Phật giáo
không hề xác nhận có một tự ngã hằng hữu và cũng hề
chấp nhận sự diệt vong. Không diệt mất; cùng không còn
mãi, mọi sinh hoạt của hiện tượng giới chỉ là một đại
dương liên tục (Rien ne se perd, rien ne se crée). Nhận thức
được sự biến động liên tục đó là đi vào con đường
nhận thức Trung Ðạo về mặt hiện tướng. (BTD, trang754).
Chương
40- Thần Diệu Ðức Viên mãn dạy Thiện Tài về những Quả
vị tu chứng được trong đạo Phật.
Muốn được
những quả vi đó phải có những đại nguyện:
-
Nguyện cúng
dường chư Phật mười phương.
-
Nguyện phát
tâm đại Bồ đề.
-
Nguyện siêng
năng tu tập và quán tưởng các pháp của Phật.
-
Nguyện dùng
tâm thanh tịnh chiếu soi tam thế.
-
Nguyện phát
tâm bình đẳng vô phân biệt.
-
Nguyện sinh
vào nhà Như Lai.
-
Nguyện có đầy
đủ Phật lực quang minh chính đại.
-
Nguyện thấu
hiểu tường tận các pháp môn.
-
Nguyện hiện
ra thân tướng trang nghiêm khắp pháp giới.
-
Nguyện được
sống trong cõi Phật. (chép theo kinh).
Khi đã lập
nguyện như vậy rồi phải phát tâm Bồ đề, khởi lòng đại
bi, cứu giúp muôn loài, đem tâm càu nhất thiết trí, dùng
Tâm từ vô lượng độ tận chúng sinh, lấy tâm Bi, dũng mãnh
tế độ muôn loài…
Những quả
tu chứng được minh giải trong các phẩm của kinh Hoa Nghiêm:
-
Thập Tín: …………………………….6
phẩm, từ 7 tới 12
Thập
Trụ:……………………………………………1 phẩm,-15
Thập Hành:
……………………………………..1 phẩm,-22
-
Thập Hồi Hướng………………………………..1
phẩm,-25
-
Thập Ðịa:
……………………………………………..1 phẩm,-26
-
Ðẳng giác,
Diệu Giác:…………11 phẩm,-27 đến 37
Nghĩa là hành
giả phải trải qua ba vô lượng (A tăng kỳ) kiếp tu hành,
và lần lượt đi hết các chặng trênn đường đạo, từ
thấp đến cao, từ gần tới xa, qua đủ 53 cấp bậc, từ
Tam hiền đến thập thành, học đủ các môn từ dể đến
khó, đi từ tướng ra tính, lại từ tính trở về tướng,
không trụ nơi Niết bàn an vui thanh tịnh, mà lại tự nguyện
"hòa quang đồng trần", lăn lộn trong đường trần để độ
tận chúng sinh cương cường ương ngạnh…
Chương
46- Trưởng giả kiên Cố Giải Thoát dạy pháp môn "Bất Nhị"
Trưởng giả
nói: "Trong lý siêu việt tuyệt đối hay Thắng Nghĩa Ðế thì
các pháp trên thế gian này đều bình đẳng, không khác nhau
trên mặt Bản Thể Chân Như Tuyệt Ðối. Và chỉ khán nhau
trên mặt hình tướng tương đối bề ngoài mà thôi. Do đó,
phiền não tức Bồ đề, chúng sinh tức Phật, Sự tức Lý,
Vật tức Tâm, và Hiện tượng tức Bản thể…Tất cả chỉ
lả Một, không Hai".
Và dưới
đây là lời bàn của tác giả về pháp môn "Bất Nhị"
-
Theo Kiến Giải
của Phái Thiền Tông
Thuyết "Chân
Không Diệu Hữu" hay Trung Ðạo của Bồ tát Long Thụ trong
pháp môn Bát Nhã là cái nhân đưa tới thuyết "Bất Nhị pháp
môn" của Tổ Tuệ Năng trong phái Thiền Tông Ðốn Ngộ Trung
Hoa. Tổ Tuệ Năng cho rằng "Phiền não tức Bồ đề" và khẳng
định rằng : sinh hoạt hiện thế là thực hiện cảnh quan
Cực Lạc, thế giới lý tưởng ở ngay chốn trần gian đầy
khổ lụy này. Ðó cũng là thuyết "chúng sinh tức Phật"hay
"tức thân thành Phật".
Khi nói "Phiền
não tức Bồ đề" không có nghĩa là để mặc cho tấm thân
ươn hèn trôi dạt vật vờ, như con thuyền không lái trong
biển khổ mênh mông, phó thác cho con tạo mặc sức xoay vần,
đầy đưa mình trên làn sóng để đạt tới những bến bờ
vô định, rồi một ngày kia, chẳng chóng thì chầy, cuối
cùng vẫn cứ được hưởng an vui hạnh phúc. Nói như thế
nên phải hiểu theo ý nghĩa là phải can đảm nhìn nhận sự
khổ đau, cắn răng chịu đựng, đừng kêu la khóc than vô
ích, mà phải đương đầu giải quyết các vấn đề khổ
đau trên đường đời một cách kiên gan, không lẩn tránh,
tìm mọi cách khắc phục gian khổ và chính ở chổ kiếm cách
giải thoát cho mình và cho mọi người. "Chán nản cuộc đời,
tìm đến cửa Phật" để được an thân, điều đó không
hẳn….đáng trách, nhưng hoài bão cao cả của đức Phật
khi ngài xuất gia cầu đạo không phải chỉ hướng đến mục
đích tầm thường và hẹp hòi như vậy. Sống cuộc đời
xuất gia không để trốn tránh đau khổ mà là để chiến
thắng đau khổ. Muốn chiến thắng đau khổ, phải can đảm
đương đầu với khổ đau không chút sợ hãi, bởi vì xưa
nay không ai sợ địch mà lại chiến thắng được địch bao
giờ. Cũng vì thế mà cuộc đời trở nên có giá trị và
đầy ý nghĩa thanh cao đệp đẽ, vì đau khổ chính là cái
nhân tạo nên sự an lạc và giải thoát cho tâm hồn. Cũng
như đóa sen thơm ngát và tinh khiết, thoát thai từ chốn bùn
tanh hôi, lý tưởng đẹp đẽ nhất là phải giải trừ đau
khổ cho mọi người, mọi loài, giải phóng tất cả nhân loại
ra khỏi tình trạng bi thảm đau thương trong đó họ đang dở
sống dở chết. Chính ở trong nghịch cảnh mà chiến thắng
được tâm vọng động, làm chủ được tham, sân, si mới
là cuộc chiến thắng vinh quang nhất không gì sánh bằng.
" Tổ Tuệ
Năng khuyên ta nên từ bỏ tất cả để được tất cả, đó
là lời chỉ đạo sáng suốt để đi đến chân lý tuyệt
đối.
*. Trên phương
diện nhất nguyên thì Niết bàn do sinh tử mà có, cũng như
Thị do Phi sinh ra, Ác do Thiện mà thành vậy. Sinh tử và Niết
bàn chẳng qua chỉ là những lẽ đối đãi với nhau, và cả
dai chỉ là một.
*. Trên phương
diện hiện tượng và hình thức nhị nguyên tương đối thì
có cặp mâu thuẫn sinh tử, Niết bàn, luân hồi, giải thoát.
Nhưng trên bình diện Bản thể, bìng đẳng tuyệt đối, vô
sai biệt thì không thể phân ra làm hai thứ riêng biệt được
. Bậc tu hành đạt đạo và giác ngộ rồi không còn tham sinh
úy tử, vào Niết bàn không thấy lưu luyến, đắm say mà ở
cõi trần hoàn tục lụy cũng chẳng thấy đau khổ, chán ghét,
thản nhiên sống, thời theo xử thuận, ở cảnh nào thì vui
với cảnh đó, vui với những gì mình hiện có, vì vậy mà
không ham muốn trụ ở Niết bàn, cũng chẳng chán cảnh trần
gian.
Người đã
hiểu rõ lý thế gian, tà kiến và chính kiến thì chẳng còn
chấp việc lìa nhiễm theo tịnh, bỏ tà qui chính, mà phải
tìm cách tháo gỡ cả hai cực đoan thường và đoạn, để
thân tâm được rỗng lặng, và chân tâm không gián đoạn,
tự nhiên sẽ được kiên tính thành Phật.
b. Theo lối
kiến giải của Phái Duy thức
"Sự vật
chung quanh mà ta nhận thấy được, là do tính biến kế sở
chấp và tính ý tha khởi gây ra, Duy Thức gọi đó là đới
chấn cảnh, tức là cảnh chân thật của Bản thể (còn gọi
là Tính cảnh). Kèm theo một chút phân biệt so sánh chủ quan,
do thức thứ 6 (ý thức) đem đến.
" Nếu ta
không tri giác, không khởi vọng niệm thì cảnh Ðới Chất
đó cũng tan biến ngay,
"Sự chứng
ngộ lý nhất thừa có nghĩa là sự diệt trừ mọi vọng tưởng
(vikalpa) cho rằng mình với người, chủ và khách, năng và
sở, tâm và vật, kiến phần và tướng phần, Bồ đề và
phiền não, Bản thể và hiện tượng…. nghĩa là tất cả
những gì đối đãi nhau là hai thực thể riêng biệt hẳn,
mà không biết rằng chúng chỉ là một, cùng chung một Bản
thể Chân Như. Khi đã nhận chân được lẽ nhất thừa vô
thượng đó, hay là đạt tới Lý- Sự và Sự sự vô ngại
pháp giới của kinh Hoa Nghiêm thì sẽ cỡi bỏ được mọi
ngã chấp, không còn khổ đau, sinh tử luân hồi nữa, và như
vậy đã liễu ngộ được lý Bất Nhị pháp môn.
"Chúng ta
có ngờ đâu rằng những cảm giác do giác quan đem đến cho
chúng ta thường hay sai lạc. Tỷ dụ: hai dây dọi không phải
hai đường thẳng song song mà chính là hai đường xéo góc,
vì chúng cùng châu vào tâm điểm của địa cầu. Cũng như
sự chuyển động, đâu có đi theo đường thẳng, bởi ta không
tính đến việc trái đất quay và xoay quanh mặt trời, ngoài
ra lại còn chưa xét tới sự xê dịch của toàn thể thái
dương hệ nữa. Một viên đạn hay một chiếc phi cơđã bay
theo đường xoáy ốc chứ không phải đường thẳng.
" Một thoi
sắt theo mắt thường, tưởng là dầy đặc, nhưng kỳ thực,
chiếu qua quang tuyến X lại thấy nó xốp như một miếng bánh;
và đường ở lưỡi dao cạo, ta tưởng là thẳng , nhưng thực
ra, soi kính hiển vi, lại thấy mấp mô như một lưỡi cưa
lồi lõm. Cũnh như một viên đá sỏi, thực ra được cấu
tạo bởi hàng triệu triệu vũ trụ tí hon, không dính với
nhau và luôn luôn chuyển dịch vô cùng mau lẹ, chứ không bất
động như ta tưởng đâu.
‘Theo các
bộ luận của Duy thức học (Vijinadvada) bà về Chân Như thì
ta nhìn một sự vật gì thì không bao giờ ta đạt tới Bản
thể chân thật của sự vật đó cả, mà chỉ nhận được
cái ảnh tượng mờ ảo phảng phất giống như vật ấy do
giác quan thu lượm được mà thôi.
Tỷ dụ (
như khi nói): bông hồng này tươi thắm và thơm ngát quá, đó
là ta đã kết hợp cảm giác màu hồng tươi và mùi hương
thơm của bông hoa do thị giác và khứu giác đem lại, chứ
thực ra ta không trực tiếp được với Bản thể của bông
hồng. Duy thức tông dạy ta phải cố gắng tìm đến một
thế giới thực là căn bản của thế giới đới chất này.
Ðạt tới thế giới thực (tính cảnh) tức là thoát khỏi
sự ràng buộc của ngoại giới. Như vậy, ngoài thế giới
chủ quan của ý thức, Duy thức xác nhận còn có một thế
giới khách quan tồn tại, và đó là thế giới Tính cảnh.
Tuy nhiên, thế giới tính cảnh đó cũng không phải làthần
ngã như Bà la môn giáo.
"Ðạt tới
Bản chất của sự vật, tức là quan niệm xa lìa hẳn cuộc
sống hàng ngày bằng cảm giác, tri giác, tư duy hạn hẹp,
tức được giải thoát hay thể nhập Niết bàn.
"Nhưng cao
hơn bậc nữa, Phật giáo đại thừa lại cho rằng: Thế giới
bản chất tồn tại ngoài ý thức đó, chỉ là cảnh sở biến
của một tâm thức khác gọi là A lại gia thức (Alayavijnànam),
và cần phải vận dụng a lại gia thức làm cho nó loại trừ
được biến tướng của nó thì mới đạt đến giải thoát
thực sự.
" Phái Duy
Thức cho rằng: A lại gia thức (tạng thức hay xứ của sinh
tử, luân hồi) bản tính vốn thanh tịnh và vô phân biệt,
chỉ vì bị ô nhiễm bởi vô minh, tà kiến nên mới sinh ra
phân biệt có ngã và ngã sở, chủ thể và đối tượng, kiến
phần và tướng phần, người nhận thức và vật bị nhận
thức ….Chủ thể là Mạt na thức thứ bảy chấp ngã (Adànavijnànam)
mà đối tượng là thế giới ngoại cảnh, hay ngã sở…
" Do đó,
lập trường của nhà Duy thức học là: Từ trạng thái vô
minh, tham ái, che lấp tính linh minh của Chân như thanh tịnh,mục
đích cứu cánh của những công phu tu tập là trở về với
trạng thái thanh tịnh Niết bàn nguyên thủy của mình, hay
trở về với Bình đẳng tính trí và Ðại viên kinh trí, ở
đó không còn ta và người, ngã và ngã sở nữa.
"Sự chứng
ngộ chỉ có nghĩa là trở về nguồn gốc tức Tâm Chân như
hai cái thức đại đồng, ngoài ra, thế giới hiện tượng
chỉ là hư giả do thức biến mà thôi. Chủ tử (bijà) của
hết thảy sự vật trong thế gian và xuất thế gian đều chứa
đựng trong Tạng thức ấy, vì nó là cỗi rễ của vạn pháp,
cho nên A lại gia thức có cả chủng tử ô nhiễm lẫn thanh
tịnh hóa thức A lại gia, diệt trừ mọi chủng tử hữu lậu
ở đó để Tạng thức trở nên vô cấu,
" Vượt lên
trên sự lý phân ly giữa hiện tượng và Bản thể, tìm được
sự dung hợp giữa đối tượng và chủ thể, chúng ta đi vào
con đường bất Nhị pháp môn". (BTD ,trang 913- 933)
Chương
49- Bà la môn Tối Thắng Tĩnh dạy về "Tự Nghiệp,
Cộng Nghiệp"và
" Chuyển Nghiệp thành Nguyện".
"Phàm đã
gieo nhân nào tất phải hái quả ấy, không chút sai lầm, vì
thế mà tôi không lo phải chịu những hậu quả do nghiệp
báo đã gây ra, mà chỉ sợ thân, khẩu, ý gieo lầm những
quả báo xấu xa chua chát. Tôi ước mong rằng chúng sinh đều
hiểu thấu luật nhân quả để vượt lên luật nhân quả,
tạo những nghiệp lành, tránh những nghiệp dữ, sửa đổi
cộng nghiệp mỗi ngày một thêm nhẹ bớt, và cố gắng cải
biến cõi Sa bà này thành một thế giới Cực Lạc an vui".
Và dưới
đây là ý kiến của chúng sinh – dù thiện hay ác- đều tạo
nghiệp cả. Chỉ có hàng động của chư Phật và Bồ tát
mới không tạo nghiệp mà thôi.
‘ Gây nghiệp
ở kiếp này thì thụ quả ở kiếp sau hay ở ngay kiếp này.
Quả ấy lại trở thành nhân để tạo thành nghiệp khác nữa.
Nhân cách (co người)do chính con người tạo lấy, và nghiệp
quả do mình gây ra lúc nào cũng ở trên con đường "trở thành",
vì nó luôn luôn thay đổi, do ảnh hưởng của những hành
động thiện hay ác của mình. "Nha36t thiết duy tâm tạo" Chính
điều trở thành người tốt hay xấu là sự thưởng phạt
công minh do tự mình gây ra.
"Nếu một
kẻ đã nhúng tay vào máu, giết hại mạng sống khác hay đồng
loại, thì hình phạt không phải chỉ bị kết án tù tội
bởi xã hội, chưa hẳn là bị Thượng đế nào đó trừng
trị, bị đọa xuống hỏa ngục, hay bắt phải lầm than khổ
sở, nhưng chính quả đó đã làm cho kẻ giết người trở
thành một tên sát nhân. Những hành động dù là tự ý hay
bị xúi giục, kể từ lúc hoàn thành đều là hành động
"giết", nếu không có gì, hoặc hành vi thiện hoặc cứu cánh
thiện xoay đổi nhân cách hắn.
" Một nhân
cách tốt hay xấu, sẽ kèm theo những hành vi thiện hay ác
và, dĩ nhiên, hưởng quả ngon ngọt hay cay đắng tùy theo….
nhân cách làm một cái gì sống động, biến đổi luôn luôn,
khó nguyên một trạng thái. Bản chất của cây xoài không
phải là quả xoài, mà chính là cây xoài đó. Bản chất của
con bướm chẳng phải là con nhộng nằm trong kén, mà chính
là con bướm đã thoát xác và trưởng thành. Sự sống của
cây xoài, cũng như mầm sống của con bướm được chứa đựng
trong con nhộng . Cũnh như thế, bản ngã của con người hiện
tại- chúng ta nhận lầm cái bản ngãđầy tội lỗi vọng
động hiện thời trong kiếp của ta là thật có, thực ra,
cái "bản lai diện mục"từ vô thủy, hay cái bản ngã của
ta trong tương lai, toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, toàn giác
mới đích thực là của ta. Vì vô minh che lấp ta mới có những
quan niệm sai lầm, khác nào cái vỏ kén dầy đặc bên ngoài
đã làm cho con nhộng không nhìn thấy cảnh huy hoàng, xán lạn
mà con bướm được nhìn ngắm trong bầu trời xuân ấm áp,
cùng với hoa thơm gió mát…. Muốn cho con bướm được thoát
thai thì con nhộng lại phải lột xác và lìa bỏ cái vỏ bên
ngoài của mình, đặng bướm ra khỏi cái vỏ giam hãm đen
tối, hưởng ánh xuân quang tươi đẹp nơi cảnh vườn hoa
thơm cỏ lạ. Khi còn là chúng sinh, phải nô lệ theo nghiệp,
bị nghiệp lôi cuốn, nhờ Phật chỉ rõ cho biết thế nào
là "chân", "vọng" để chuyển nghiệp thành nguyện lớn, rồi
tùy hoàn cảnh mà tiến tu qua các cảnh giới, tiến lên quả
vị Phật.
"Chuyển nghiệp
thành nguyện"là một nghệ thuật của người hành đạo Bồ
tát (hành giả). Hành giả chủ động (tự tại) đối
với hoàn cảnh, không chịu bị hoàn cảnh chi phối làm nô
lệ cho xác thân vật chất, mà phải vương lên, nhất là trong
nghịch cảnh lại là bước thử thách tốt.
*. Tự nghiệp
hay biệt nghiệp (nghiệp riêng mỗi cá nhân).
*. Cộng nghiệp
hay nghiệp chung của tập thể ( một hay nhiều gia đình, một
hay nhiều quốc gia xã hội ). Mội người phải gánh chịu
nghiệp riêng cộng với nghiệp chung. Khoa học ngày nay xác
nhận: chỉ một cử động nhỏ của cá nhân cũng đủ phát
sinh những luồng điện ba động …dội vào khắp vũ trụ,
và từ năng lực chuyển thành ánh sáng điện lực hay nhiệt
lượng do ta gây ra và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của
những ba động từ khắp nơi trong vũ trụ phóng ra, ta và vủ
trụ có ảnh hưởng hỗ tương.
Kinh Hoa Nghiêm
có câu: "Một vị Phật phát ra một ý nghĩ thì chư Phật mười
phương đều hưởng ứng. Vũ trụ có ảnh hưởng dây chuyền
lẫn nhau, biến ra tướng này tướng khác trong "Lý sự vô
ngại"trùng trùng duyên khởi".
" Trong một
cộng đồng dân tộc, khi mọi người đều có ý thức xây
dựng một cộng nghiệp chung ngày thêm tốt lành, thì tự nghiệp
của mỗi người tuy khác nhau nhưng vẫn có ảnh hưởng tốt
lành hơn do cộng nghiệp chung".(BTD,trang 999- 1006)
Chương
52- Ðồng Tử Thiện Tài được gặp lại Bồ tát Văn Thù
Sư Lợi.
Sau khi được
Ðức Di Lạc (Maitreya) dạy cho pháp môn Bát Nhã và Duy Thức,
Thiện Tài cất bước lên đường, vượt qua 110 thành nữa
mới đến được nước Phổ Môn, vào xứ Tô Ma Na để mong
sớm được gặp vị minh sư là Ngài Văn Thù Sư Lợi. Quá
nửa đời người bôn ba học đạo, nhưng sở đắc mà chàng
thu lượm được không ngoài một chữ "Không" rỗng lặng!
Thời gian,
theo thế nhân, là luôn luôn xê dịch, đổi thay…nhưng với
Thiện Tài thì vả làvô nghĩa vì, khi đã giác ngộ, chàng
thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, gió vẫn thổi và
nước vẫn chảy, trăng vẫn cứ sáng, bởi lẽ chân tính bản
lai của muôn vật là như thế (Pháp nhĩ như thị).
"…Từ xa
xa trông thấy bóng Bồ tát Văn Thù Sư Lợi tận cuối chân
trời, Thiện Tài rảo bước như bay về phía Thầy, mong chóng
quì gối ôm lấy chân Sư Phụ cho rõ lòng thiết tha mong nhớ;
đồng thời ngài Văn Thù Sư Lợi, thoạt nhìn thấy hình bóng
người đệ tử yêu quí của mình ở tận mù khơi, lòng cũng
rộn lên niền vui mừng khôn xiết. Ngài liền dơ tay qua khỏi
110 do tuần, rồi đặt nhẹ lên đầu Thiện tài, đợi đến
khi chàng vừa tới, chưa kịp làm lễ bái yết, Ngài đã cất
tiếng khen: "Tốt lắm! Tốt lắm! Kế đó Ngài lại diễn nói
cho người đệ tử thân yêu được nghe vô số pháp lành vi
diệu, vô biên tế Ðà la ni, vô lượng đại nguyện, vô biên
đại trí tuệ quang minh, và thần thông tam muội sao không kể
xiết, khiến cho Thiện Tài nhập vào đạo tràng Phổ Hiền
hạnh. Nhờ thế mà chàng thực sự viên mãn được tâm đại
bi, trừ được mọi vi tế vô minh, chướng ngại…Thiện Tài
định thần, đắm chìm trong tư duy, quán tưởng, trong lúc
bồ tát Văn Thù Sư Lợi dùng thần thông ẩn hình, biến dạng
lúc nào cũng không hay…" (BTD,trang1119)
Chương
53- Bài học do Bồ tát Phổ hiền dạy "Phương Pháp
Hành Bồ
Tát Ðạo".
Do lòng khát
ngưỡng công đức hạnh nguyện của đức Phổ Hiền (Samantabhadra),
và nhờ sự gia hộ của Như lai, Thiện Tài dùng tuệ nhãn
quán chiếu khắp pháp giới bao la, nhập vào Tri kiến Phật,
ước mong được nghe lời dạy bảo cùng được nhìn thấy
hình tướng của Bồ tát Phổ Hiền. Và do thiện căn của
Thiện Tài nhất tâm cầu nguyện nên đức Phổ Hiền đã hiện
ra thân tướng trang nghiêm cùng với vgô số Bồ Tát vây quanh…
Thiện Tài
chiêm ngưỡng thân tướng của Bồ tát tỏa ánh hào quang sáng
ngời soi tỏa khắp mười phương pháp giới, phát ra vô lượng
hạnh nguyện Ba la mật thanh tịnh. Bồ tát xoa đầu Thiện
Tài nói:
" Người
có thấy thần lực của ta chăng? Thuở quá khứ, trong nhiều
vi trần số kiếp, ta đã thực hành Bồ Tát Ðạo để thanh
tịnh tâm Bồ đề và kính thờ vô lượng chư Phật. Ta ở
trong vô số kiếp mà chưa từng có một niệm nhỏ chẳng theo
lời giáo huấn của Như Lai. Ta chẳng bao giờ có tâm sân hận
và trụ vào ngã và ngã sở, không một sát na nào rời bỏ
Bồ đề. Ta chỉ an trụ tâm trong đại bồ đề vô thượng
và dùng tâm đại bi cứu giúp chúng sinh, trang nghiêm cõi Phật.
Trong nội tâm và ở ngoài cảnh giới đều xả hết, cho đến
cả mạng sống của ta cũng không hề tiếc rẻ. Nếu nói những
việc ta đã làm thì vô cùng tận. Ðại dương bát ngát còn
có thể cạn khô, chứ những hạnh nguyện của ta bình đẳng,
thanh tịnh, tùy thuận chúng sinh mà ứng hiện khắp nơi, làm
cho ai nấy đều được an vui, hết khổ. Chúng sinh nào được
nghe danh hiệu của ta, tưởng nhớ, hoặc mộng thấy ta, đều
được chứng Bồ đề tâm bất thoái.
‘ Muốn
kiên cố tâm bồ đề và tăng trưởng tâm đại bi, phải năng
quan sát chúng sinh đau khổ, không chổ tựa nương, và hay làm
những việc ác, như loài bướm tự thiêu thân lao mình vào
lửa đỏ, lăn lộn trong biển luân hồi không lối thoát, lại
chẳng ưa thích các pháp lành ….
" Thiện Tài
tiếp thu được tất cả hạnh nguyện rộng lớn của đức
Phổ Hiền, cuối cùng, chàng cũng được như Bồ tát Phổ
hiền, cũng có những hạnh nguyện, những thần thông, những
biện tài ngôn ngữ vô ngại cùng trí tuệ và tâm đại bi
cao cả rộng lớn" (BTD, trang 1121)
" Thiện Tài
đã học đủ hết các môn, và pháp nào cũng đều đưa đến
Pháp Vương Thành cả.
" 84.000 pháp
môn của Phật dạy, tuy chia ra nhiều bộ phái, tính tướng
và lý sự khác nhau, dị biệt ở phần tiểu tiết, nhưng pháp
nào cũng chỉ nhằm vào một mục tiêu: cứu khổ chúng sinh,
đưa tới giác ngộ, giải thoát cho mình và cho muôn loài."
(BTD
,trang1122)
Ðạo Phật
là đạo Như Thật, "chuộng sự thực hành, không ưa lý thuyết
suông, rườm rà, trừu tượng, chỉ để thỏa mãn óc tò mò
của lý trí mà thôi. Ðạo Phật vụ ở chỗ "thân chứng"
tức thực nghiệm bản thân, và coi nhẹ những sự hiểu biết
qua sách vở, kinh điển, vì HỌC mà không HÀNH thì không thể
nào tới được bờ bến Giác, đạt tớ Chân lý…
Và để thực
thi "BỒ TÁT ÐẠO, hay Con Ðường Lý Tưởng" được viên mãn,
chúng ta hãy nhất tâm phát nguyện:
*.. Chúng
sinh chưa được cứu độ, nguyện xin được cứu độ (Khổ
đế)
*..Chúng sinh
chưa được giải thoát, nguyện xin được giải thoát (Tập
đế)
*..Chúng sinh
chưa được giác ngộ, nguyện xin được giác ngộ (Ðạo đế)
*..Chúng sinh
chưa được Niết bàn, nguyện xin được Niết bàn (Diệt đế).
