PHẦN
I
Nội
Dung Triết Lý Kinh Hoa Nghiêm
I.. ÐỨC
PHẬT THỊ HIỆN Và NƠI GIẢNG KINH HOA NGHIÊM.
Sự ra đời
của một bậc Thánh đã là điềm lành, một tin mừng cho thiên
ha, thì sự thị hiện của đức Phật trong thế giới loài
người không chỉ là một điềm lành, một tin mừng, mà còn
là một vinh dự lớn lao cho chúng sinh cho toàn thế giới loài
người. Bởi vì đức Phật cũng là một NGƯỜI-Hommevraiment
homme-đã tu chứng giác ngộ thành Phật .Và ngày sau khi thành
đạo bên gốc Bồ Ðề, lần đầu tiên, Ðức Phật đã long
trọng tuyên bố với thế gian: "Ta là Phật đã thành. Chúng
sinh đều là Phật sẽ thành".
Ðức Phật
đã chỉ Con Ðường Sáng cho nhân loại đi theo và khai thị
cho ai nấy biết rõ mỗi người đều có những chủng tử
Phật (semences deBouđđha)
Và kẻ nào
cố gắng phát huy được cái mầm " thiện"đó hẳn nhiên (người
đó) sẽ thành Phật.
Ðiều này
đủ nói lên tầm mức quan trọng cùng khả năng trí tuệ siêu
việt của con người, hơn hẳn muôn loài.
Kinh hoa nghiêm
chép: Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện
Pháp cố:
Con người
là trên hết, vì có thể thực hiện được mọi sự tốt
lành …Do đó,đạo Phật minh định giá trị tinh thần hơn
hẳn vật chấtvà đề cao địa vị và phẩm hạnh của con
người. Nhân loại tối trọng có thể thực hiện được mọi
ý lực để đạt tới những tiến bộ cao quí nhất.Vì có
cuộc sống con người nên mọi vấn đề trong xã hội người
mới cần được đặt ra.Vũ trụ bao la mà vắng bóng con người
thì vũ trụ trở thành thê lương, hoang vắng ,điêu tàn!Thật
vậy ,có con người là có tất cả,và với ý chí tự chủ,con
người có thể thành tựu được mọi sự tốt đẹp ở đời:tự
hoán cải vận mệnh mình và có thể tạo được cả niết
bàn an lạc ở ngay hiện kiếp,chứ chẳng cần phải đi tìm
thiên đường ở bất cứ một nơi nào xa lạ …
Theo đại
sư Trí Khải (538-597) và cũng là truyền thuyết của đại
thừa Phật giáo thì, sau khi thành đạo Vô thượngbồ đề,
Ðức Phật Thích Ca liền nhập đại định "Hải ấn tam muội"giảnh
kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngàyđể hóa độ hàng thượng thừa
Bồ tát. Ðiều náy đã được ghi rõ trong kinh hoa Nghiêm: "Ví
như mặt trời mới mọc, ánh sáng chiếu soi các đỉnh núi
trước, rồi mới rải xuống những thung lũng đồng sâu. Ánh
dương quang tỏa chiếu sáng ngời,lần lượt soi từ cao đến
thấp.Ðức như Lai cũng làm như thế.Khi đã chứng ngộ chân
lý,Phật dùng trí tuệ bát nhã phóng hào quang đến các Bồ
tát trước,rồi đến hàng nhị thừa,sau mới tới hết thảy
chúng sinh"
Vì chân lý
của bộ kinh này quá cao siêu huyền diệu, bậc nhị thửa
không thể lĩnh hội được,nên Ðức như Lai phải hạ thấp
giáo lý xuống cho khế hợp với trình độ căn cơ của chúng
sinh, do đó, cũng vẫn theo đại sư Trí Khải,
Kinh điển
trong suốt một đời thuyết pháp của Ðức Thế Tôn được
chia làm 5 thời là:
*Thời Hoa
nghiêm: 21 ngày, Ðức Phật giảng về huyền nghĩa "Nhất Tâm
Chân Như, Pháp Giới Duyên Khởi", tức thuyết minh về sự
hình thành vũ trụ vạn hữu để hóa độ cho hàng thượng
thừa Bồ tát.
*Thời Lộc
uyểnL cũng gọi là thời A Hàm): 12 năm, Ðức Phật giảng
các bộ kinh A Hàm, thuyết về các pháp môn Tứ Diệu Ðế,
Thập nhị Nhân Duyên, 10 Ðộ, 37 Ðạo Phẩmđể độ cho hàng
nhị thừa: Thanh Văn, Duyên giác.
*Thời Phương
Ðẳng: 8 năm, Ðức Phật giảng các kinh Duy Ma Cật, Lăng Già,
Lăng Nghiêm, Kim Quang Minh, Thắng Man v.v.. xiển dương giáo nghĩa
Tính Không (Duy Ma Cật)Như Lai tạng (Lăng già),Diệu Chân Như
Tính(Lăng Nghiêm)để độ cho hàng đại thừa sơ cơ phát tâm
Bồ tát.
*Thời Bát
Nhã: 22 năm, Ðức Phật giảng các bộ kinh Bát Nhã và Kim Cương,
tức thuyết minh về chân lý "Không"của vạn Pháp để độ
cho hàng quyền thừa Bồ tát.
* Thời pháp
hoa và niết Bàn: 8 năm,Ðức phật giảng các bộ kinh Pháp
hoa –niết bàn ,xác định giá trị Phật tính của tất cả
chúnhg sinh vốn sẳn có và sẽ thành Phật trong tương lai,
để độ (không chỉ riêng) cho hàng thượng thừa Bồ tát
mà cũng (chung ) cho hết thảy trời, người,chúng sinh ,kể
cả hàng xiển đề(Icchantika).
Sự giác
ngộ của Ðức phật là sự việc cao thâm, huyền diệu, khó
hiểu, mà muốn khai hiển sự việc u huyền đó,tất phải
mượn đến những truyện có tính cách thần bí để đánh
thức tính hiếu kỳ tìm hiểu của người học đạo, cho nên
trong kinh có những truyện nói về Ðức Phật giảng kinh, khi
ở cõi trần, khi lại bay bỏng lên cõi trời, rồi đang thuyết
pháp ở thiên cung, đột nhiên Phật quay trở về trần thế,biến
hiện khôn lường .Bởi lẽ bộ kinh Hoa Nghiêm có mục đích
khai hiển phần giác mộ của Ðức Phật nên thể tài và nghi
thức thuyết giảng,cùng cách bố cục có nhiều điểm độc
sáng ,không giống như đa số kinh điển khác .Ở đây,công
việc chính nơi đạo tràng không do Ðức phật một mình điều
khiển,vì Phật chỉ ngồi nhập đại định trong "hải ấn
tam muội"(Sagaramudra samadhi),mà mọi hoạt động đều do các
Bồ tát và thiên thần xử lý.Duy có hội thứ 7,Ðức Phật
chính thức là hội chủ giảng kinh .Trong hội thứ 9,cả Ðức
phật lẩn hàng thiện hữu đồng lả hội chủ .Xét trong toàn
bộ kinh Hoa Nghiêm 80 quyển ,39 phẩm,chỉ có 2 phẩm:A Tăng
Kỳ(thụ),và Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Ðức (thứ 35)là
do chính Ðức Phật thuyết giảng mà thôi.
Dưới đây
là 9 hội giảng kinh Hoa Nghiêmtại 7 địa điểm khác nhau:
* Hội thứ
nhất—diễn ra tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, do Bồ tát Phổ Hiền
là chủ hội, giảng về Y Báo và Chính Báo của Như Lai, trọn
11 quyển, 6 phẩm (1.Thế Chủ Diệu nghiêm 2. Như Lai Hiện Tướng,
3. Phổ Hiền Tam Muội, 4. Thế Giới Thành Tựu, 5. Hoa Tạng
Thế Giới, 6. Tỳ Lô Giá Na).
* Hội thứ
hai—diẽn ra tại điện Phổ Quang Minh, do Bồ tát Văn Thù
là hội chủ ,giảng về pháp môn Thập Tín, gồm 4 quyển,
6 phẩm(1.Như Lai Danh Hiệu, 2 Tứ Thánh Ðế,3 Quang Minh Giác,4
Bồ Tát Vấn Minh ,5 Tịnh Hạnh,6 Hiền Thủ)
* Hội thứ
ba—diễn ra tại cung trời Ðao Lợi, do Bồ tát Pháp Tuệlà
hội chủ, giảng về Thập Trụ, gồm 3 quyển,6 phẩm(1 Thăng
Tu Di Ðỉnh ,2 Tu Di Ðỉnh Thượng Kệ Tán ,3 Thập Trụ,4 Phạm
Hạnh ,5 Sơ Phát Tâm Công Ðức,6 Minh Pháp)
* Hội thứ
tư –diễn ra tại cung trời Dạ Ma, do Bồ tát CôngÐức Lâm
là hội chủ, giảng về Thập Hành, gồm 3 quyển, 4 phẩm (1.Thăng
Dạ Ma Thiên, 2.Dạ Ma Trung Cung Kệ Tán, 3.Thập Hạnh, 4.Thập
Vô Tận Tạng ).
* Hội thứ
năm_diễn ra tại cung trời Ðâu Suất, do Bồ tát Kim Cương
Tràng là hội chủ, giảng về Thập Hồi Hướng, gồm 12 quyển,
3 phẩm (1.Thăng Ðâu Suất Thiên, 2.Ðâu Suất Trung Cung Kệ
Tán, 3.Thập Hồi Hướng).
* Hội thứ
sáu_diễn ra tại cung trời Tha Hóa, do Bồ tát Kim Cương Tạng
là hội chủ, giảng về Thập Ðịa, gồm 6 quyển, 1 phẩm
là phẩm Thập Ðịa.
& Hội
thứ bảy_diễn ra tại điện Phổ Quang Minh, do Ðức Như Lai
là hội chủ giảng về pháp môn Ðẳng Giác_Diệu Giác,gồm
13 quyển ,11 phẩm (1.Thập Ðịnh ,2.Thập thông ,3.Thập Nhẫn,4.A
Tăng Kỳ,5.Thọ Lượng ,6.Chư Bồ Tát Trụ Xứ,7. Phật Bất
Tư Nghị Pháp, 8 .Như Lai thập thân Tướng Hải, 9. Như Lai
TùyHảo Quang Minh Công Ðức, 10. Phổ hiền Hạnh, 11. Như Lai
Xuất Hiện).
* Hội thứ
tám_tái diễn tại điện tại Phổ Quang Minh, do Bồ tát Phổ
Hiền là hội chủ, giảng về 2.000 Hạnh Môn, gồm 7 quyển
1 phẩm, là phẩm Ly Thế Gian.
* Hội thứ
chín _diễn ra tại rừng Thệ Ða, do Như Lai và thiện hữu
đều là hội chủ, giảng về Quả Pháp giới, gồm 21 quyển,
1 phẩm, là phẩm Nhập Pháp Giới.
(Trong suốt
Hội thứ 9,phẩm "Nhập Pháp Giới", nhân vật chính là đồng
tử Thiện Tài, phải vượt qua 110 thành ấp, tụ lạc, tham
học với 53 giai đoạn tu hành từ: Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hành, Thập Hồi Hướng, Thập Ðịa, và Ðẳng Giác, Diệu
Giác đến Phật Quả, nghĩa là từ khi sơ phát tâm bồ đề
cho đến lúc thành tựu quả vị Phật).
II. NGUỒN
GỐC KINH HOA NGHIÊM
Ðạo Phật
là một đạo Giác ngộ, giáo lý của đạo Phật là NHƯ THẬT.
Phần tinh hoa của giáo lý ấy được xây dựng trên hai tiêu
chuẩn :Từ Bi và Trí Tuệ, một nguồn đạo lý uyên thâm ,rất
sống và rất sáng,do đức giáo chủ thích Ca Mâu Ni thuyết
giảng,cách nay trên hai thiên niên kỷ. Nhưng kinh điển đạo
Phật phải đợi tới kỳ Kết tập thứ ÌÌI mới chính thức
được ghi chép thành văn để truyền bá trong nhân gian. Chỉ
riêng bộ kinh Hoa Nghiêm thuộc "Nhất thừa viên đốn", ý nghĩa
thân áo lại không được phổ biến. Mãi 600 năm sau,
Ðạo Phật
được tryuền vào Trung Hoa kể từ thế kỷ đầu D.L, nhưng
bộ kinh hoa nghiêm phải đợi mãi 300 năm mới chính thức du
nhập, và được dịch từ chữ Phạm sang Hán văn, trước
sau ba lần, lấy tên là: "ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT HOA NGHIÊM
KINH"
a.. Lần đầu(hay
cựu dịch)-đời Ðông Tấn (317-419DL), do ngài Phật Ðà Bạt
Ðà La (Buđđhabhadra-Giác Hiền),người bắc Thiên Trúc,qua Dương
Châu,trụ trì chùa Hưng Nghiêm dịch gồm 60 quyển,34 phẩm,36.000
bài tụng .
b..Lần thứ
hai (hay tân dịch), đời nhà Ðường (618-907), do ngài Thực
Xoa Nan Ða (Sikasananda_Hỷ Học), người nước Vu Ðiền (Kotan),
tới Ðông Ðô,trụ trì chùa Phật Thụ Ký,tái dịch bản cũ,gồm
80 quyển,39 phẩm,bổ khuyết thêm 9.000 bài tụng,thành 45.000
bài tụng.
c..Lần thứ
ba, cũng đời nhà Ðường, do ngài Bát Nha (Prajna), người
nước Kế Tân (Kaboul) tới Trường An, trụ trì chùa Sùng Phúc,
dịch tóm lược, gồm 40 quyển và dịch phần cốt yếu là
phẩm Nhập Pháp Giới, bởi thế nên gọi là sao dịch. Tuy
vậy, bản dịch này cũng được coi ngang hàng với hai bản
dịch trên. Trong ba bản dịch, bộ Bát Thập Hoa Nghiêm hoàn
bị hơn cả.
Ngoài ra,
còn có những bộ luận , giá trị đặc biệt, giải nghĩa
lý kinh Hoa Nghiêm để soi sáng cho hậu thế, như:
1.. Hoa Nghiêm
Nhất Thừa Thập huyền Môn,1 quyển ,của ngài Ðỗ Thuận
Thuyết.
2..Hoa nghiêm
Ngũ Thập Yếu Vấn Ðáp, 2 quyển, của ngài Trí Nghiễm soạn.
3.. Hoa nghiêm
Kinh Thám Huyền Ký, 20 quyển, và Hoa nghiêm Kinh Kim Sư Tử Chương
Chú ,1 quyển ,của Ngài Pháp Tạng (Hiền Thủ )soạn ,
4..Hoa Nghiêm
Ðại Sớ Sao, 90 quyển, của ngài Trừng Quán (Thanh Lương)
soạn.
5.. Tục HoaKinh
Lược Sớ Sao Ðịnh Ký, 15 quyển, của Ngài Tuệ Uyển soạn.
6.. Hoa Nghiêm
Nguyên Nhân Luận, 1 quyển, của Ngài Tông Mật (Khuê Phong)soạn.
7.. Tân Hoa
Nghiêm Kinh Luận, 40 quyển, của trưởng giả Lý Thông Huyền
soạn,v.v…
Tại Việt
Nam, bộ kinh Hoa Nghiêm được truyền vào nước nhà, không
rõ từ thời nào, do thượng tọa Thích Trí Tịnh dịch từ
chữ Hán sang Việt văn từ năm 1965.Bản Hán văn 80 quyển được
đóng thành một bộ gồm 8 tập bằng tiến Việt.
III . NỘI
DUNG TRIẾT LÝ KINH HOA NGHIÊM.
* Về Nội
Dung:
Theo ngài
quốc sư Thanh Lương thì bộ Bát Thập Hoa Nghiêm được chia
làm 3 phần:
*. Phần Tự:
5 quyển
*Phần Chính
Tông: 55 quyển 5.
*. Phần Lưu
Thông: 19 quyển 5,gồm 4 yếu lý: Tín, Giải, Hành,Chứng và
5 chu:
*.Tín nhân
quả chu: 11 quyển 6 phẩm.
Sai biệt
nhân quả chu 41 quyển
* Giải
Bình đẳng
nhân quả chu 31 phẩm
*Hành nhân
quả chu: 7 quyển 1 phẩm
*Chứng nhân
quả chu: 21 quyển 1 phẩm.
TÍN: tin giáo
lý của Phật dẫn trong kinh là chân lý tuyệt đối.
GIẢI: giải
rõ chân lý đó.
HÀNH: dùng
phương pháp để thực hành hầu đạt tới chân lý đó.
CHỨNG: chứng
ngộ chân lý đó.
& Về
Triết Lý gồm những điểm then chốt như sau:
-
Nhất Thiết
Duy Tâm Tạo
Và
-
Nhất Tâm Chân
Như, Pháp Giới Duyên Khởi
*Từ Bản thể
Chân như của vũ trụ phát sinh các hình tướng sai biệt trong
Hiện tượng giới.
-
Từ tuyệt đối
thể vô biên ,dời sang thế giới tương đối hữu thể,để
biện minh cho cái Chân tướng vô tướngcủa vạn pháp và chân
lý tối cao,bất diệt là :mọi sự vật trên trần gian đều
do
từ "Chân Không Diệu Hữu" mà phát sinh .Từ một mảy lân
hư trần cho đến sơn hà,trăng sao và mọi sinh vật đều phải
nương tựa lẫn nhau,làm nhân làm duyên cho nhau mà biến dịch,sinh
tồn trong mối tương quan của Lý:Pháp giới trùng trùng duyên
khởi
Pháp giới duyên
khởi là tên gọi khác của Thập Nhị Nhân Duyên vẫn có từ
vô thủy đến nay, không phải đợi đến lúc Phật ra đời
rồi mới có .12 nhân duyên là giáo ly (do đó) mà Ðức Thích
Ca thành đạo .Sau khi đã hoàn thành chứng ngộ, Phật căn
cứ vào lý duyên khởi của Khổ giới mà lần lượt nói ra
sự quan hệ nhân quả giữa 12 chi, đưa ra nguồn gốc căn bản
của khổ não và Vô Minh, và những gì được gọi là Pháp
hữu vi, là sự sự, vật vật hay vạn Pháp trong thế giới
duyên sinh trùng trùng điệp điệp này.Với chân lý
"Nhân Quả"và
"Duyên Sinh", với chân lý "Bất nhị"cùng "lý, Sự và Sự Sự
Vô Ngại Pháp Giới", kinh Hoa Nghiêm đã xác nhận mọi hành
động về thân, khẩu, ý của con người, đều tạo nghiệp
quả cho mình và cho tha nhân đồng phải gánh chịu trong cái
thế liên hoàn trùng trùng điệp điệp. Một là tất cả và
tất cả là một.
Muốn hiểu
rõ các pháp duyên khởi sinh ravạn hữu như thế nào, cần
phải biết đến 4 Pháp Giới, 6 tướng và 10 Huyền Môn.
A.. TỨ
PHÁP GIỚI
Vũ trụ vạn
hữu do từ "Nhất Chân Pháp Giới"mà thành lập:
1..Ở thế
giới của Sự vật có hình tướng sai thù làSự pháp giới.
2..Ở thế
giới của Lý trí và tinh thần là Lý pháp giới.
3.. Thế
giới của Lý và của Sự dung thông với nhau, không ngăn ngại
nhau, gọi là Lý, Sự vô ngại pháp giới.
4..Thế giới
của Sự và Sự, nghĩa là của hết thảy sự vật trong hiện
tượng giới đều gọi là Sự sự vô ngại pháp giới.
a. SỰ
PHÁP GIỚI
Là hình sắc
hay vật chất, gồm có vô lượng hình tướng khác nhau. Cảnh
giới này sinh diệt vô thường như ráng mây huyễn biến trên
trời cao, như sóng bọt nổi chìm ngoài biển cả, tùy nghiệp
duyên thiện, ác mà biến hiện như phù vân.
Sự pháp
giới chính là mọi hiện tượng trong trời đất, biểu dương
cho Sức sống mãnh liệt, khởi lên từ một nguồn năng lực
duy nhất là Tâm Chân như. Các pháp đều có tự thể và giới
hạn to nhỏ, rộng hẹp, ngắn dài bất đồng nên gọi là
Pháp giới. Trong khung cảnh hẹp thì pháp giới chỉ cho giới
hạn của mổi pháp, nhưng trong phạm vi rộng (no) chỉ cho
toàn thể không gian bao la . `
b. Lý Pháp
Giới
Là tâm hay
bản thể, chỉ cho phần Chân như môn của Như lai tạng. Cảnh
giới này hư linh, vẳng lặng, sáng suốt, diệu huyền, bao
trùm toàn thể vũ trụ, bất sinh, bất diệt, bất khứ, bất
lai…. có đủ 4 đức tính :Thường,Lạc, Ngã ,Tịnh.
Lý Pháp Giới
hay là Chân Nhưtuyệt đối,bình đẳng,nhất như, vô phân biệt,
là cái nguyên lý đại đồng phổ cập cho toàn thể, được
gọi là Pháp Thân, Pháp Tính, Thể Tính, Thực Tướng, hoặc
Bản Thể Chân Không của vạn pháp hay cái Bản lai diện mục
của mỗi chúng sinh .
c..Lý Sự
Vô Ngại Pháp Giới
Là thế giới
của Lý và của Sự hoàn toàn dung thông, không mâu thuẫn,
ngăn ngại nhau. Vì muôn pháp đều huyễn, không có tự tính
riêng biệt, nên mọi sự đều là Lý.Bởi Chân như. Tự tính
hay Thực thể đều tùy duyên biến hiện nên mọi Lý đều
là Sự. Lý nhờ sự mà hiển thì Sự nhờ Lý mà thành.
Trong mỗi
Lý đều có Sự, và trong mỗi Sự đều có Lý.Sự và Sắc,
Lý là Không, và Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc,
Nói Lý và Sự vô ngại là nói Tâm tức Vật,Tinh thần tức
Vật chất,hay Năng lượng tinh thần là Khối lượng vật chất:
Nói Lý và
Sự vô ngại là nói lý tức là Sự, Sự tức là Lý_Tinh thần
là Vật chấtở thể loãng, mà Vật chất là tinh thần ở
thể cô đọng lại ("L’Energie est la matiere extrêmement diluée,
et la Matière est l’Energie extrêmement condensée"). Trên mặt Bản
thể vô sai biệt thì Lý và Sự, hay Không và Sắc, Tâm và
Vật đều viên dunghòa hợp, dung thông ,dung nhiếp với nhau
để cùng tồn tại .Không thể tách rời Ly ra khỏi Sự,hay
Sự ra khỏi Lý thành hai thứ riêng biệt.Lý và Sự như Nước
với Sóng,Không khí với lân hư trần .Sóng tan thành nước,nước
nổi thành sóng, lân hư trần kết hợp thành không khí,không
khí tan ra thành long hư trần, không thể phân biệt ngoài sóng
có nước,ngoài không khí có lân hư trần,vì hai thứ đó đan
kết chằng chịt với nhau,cho nên Chân Không chẳng rời Diệu
Hữu .
Bàn về Lý,
Sự vô ngại tức Thế, Tướng và Dụng viên dung. là nói đến
Tướng là hiện tượng của thể, nương vào Bản thể mà
phát sinh. Thể và Tướng bao giờ cũng dung thông dung nhiếp
với nhau, nên công dụng của vạn hữu hóa ra vô cùng. Mỗi
pháp đều có Sự và Lý hòa hợp với nhau, tuy hai mà một,
tuy một mà hai, nhưng Sự vẫn là Sự, Lý vẫn là Lý.Cũng
như Nước tuy là Sóng, Sóng tuy là Nước, nhưng Nước vẫn
là Nước, mà Sóng vẫn là Sóng, Sóng với Nước tuy giống
nhau trên mặt Bản thể, nhưng vẫn dị biệt trên mặt Hiện
tượng.
Lý và Sự
trong mỗi pháp đã viên dung vô ngại thì Lý và Sự trong muôn
pháp cũng đều viên dung vô ngại cả. Viên dung nghĩa là bao
trùm, hòa hợp với nhau, hòa tan trong nhau như sữa với nước
để trở thành một thể duy nhất. Vô ngại tức là tự do,
tự tại, không gây mâu thuẩn, chướng ngại cho nhau, trong
cái thể tương tùy, tương sinh, tương tức, tương nhập.
Người ngộ
đạo hiểu rằng: Lý không phải chỉ hiển hiện suông như
không gian vô hình, vô tướng, mà lý cũng chính là thế giới
hiện tượng diệu hữu muôn sai ngàn khác, trưng bày ngay trước
mắt mọi người.Với những ai vốn quen sống với những cảm
giác giả dối,điên đảo mộng tưởng bề ngoài,thì Sự hoặc
Sắc chỉ là những sự việc riêng biệt,có giới hạn ngăn
ngại nhau,rời rạc khắp đó đây,nhưng dưới cặp mắt của
người đã thấu triệt triết lý Hoa Nghiêm thì những sự
vật ấy lại được an bài có trật tự nghiêm minh trong thế
giới của Lý thể bên trong khiến cho Sự chính là Lý,Lý chính
là Sự,hay Thể tức là Tướng,Tâm tức là Vật,Tự tức là
Tha …
Lý, Sự vô
ngại hay Thể, Tướng viên dung nghĩa là cái lýhuyền diệu
của vũ trụ cùng vớisự vật hữu hình trên hiện tượng
giới không phải là hai mà cũng chẳng phải là một. Thực
tại bao hàm đặc tính lưỡng diện, vừa sai biệt trên mặt
hiện tượng lại vừa đồng nhất trên mặt bản thể, cho
nên sự vật luôn luôn tương dung, tương nhiếp, tương tức,
tương nhập. Lý là Thể của Tướng, Dụng; Sự là Tướng,
Dụng của Lý.Lý tính là toàn Sự, Sự sự là toàn Lý tính.
Lý đã tức
là Sự nên Lý không ngoài Sự, mà Sự cũng không ngoài Lý.Lý
không ngại Sự mà Sự cũng không ngại Lý.Mỗi trần không
ngại, mỗi pháp dung thông, vì thế mà đưa tới tư tưởng
Sự sự vô ngại pháp giới, là đỉnh chót vót của Triết
lýHoa Nghiêm trong đại thừa Phật giáo nói riêng.
d..Sự
Sự Vô Ngại Pháp Giới
Sự, chỉ
cho các cá thể trong vũ trụ hay mọi pháp hoặc toàn thể không
gian lẫn thời gian vô cùng tận.
Nói Sự sự
vô ngại pháp giới là nói: Thời gian dung thông với thời
gian –Không gian dung thông với không gian –Thời gian dung thông
với không gian –Tam giới, Tam thế và Mười phương dung thông
với nhau –Một dung thông với tất ca. Tất cả dung thông
với Một.
Ngày nay,
Khoa học vật lý không gian đã chứng minh được bằng thuyết
Tương đối của Albert Einstein, đặc biệt là quan niệm về
Không-Thời gian 4 chiều, nêu rõ ý nghĩa Không gian và Thời
gian, tức là xóa tẩy sạch phân cách tuyệt đối giữa vật
chất và năng lượng, giữa tinh thần và vật chất, không
còn là hai sự vật tương đối có tự thể riêng biệt nữa,
và chúng chỉ là những pháp tương đối mà thôi, vì thế
mà người ta phải dùng đến danh từ "Không –thời gian"(Espace
Temps)để gọi chung cho hai sự vật đó mới là đúng lý,vì
tính cách của chúng vốn dung thông vô ngại .
Ngày nay,
muốn đo những khoản không gian quá xa, người ta đã phải
dùng tới đơn vị "quang niên"là khoản cách chừng 900 tỷ
cây số hay 9 triệu triệu cây số, nếu tính theo tốc độ
của ánh sáng là 300.000 cây số trong một giây đồng hồ.
Như vậy, giữa không gian và thời gian không còn ngăn ngại
nhau nữa. Sự vật tùy bề ngoài trông có vẽ riêng rẽ, nhưng
bề trong lại vẫn tương tức, dung thông vô ngại. Với chân
lý này thì sự sự, vật vật trong pháp giới bao la được
quan sát trong suốt như qua một tấm pha lê, không bị che khuất,
chướng ngại gì cả. Chẳng những cái Ðồng (Thể, Tính)
ánh chiếu trong cái Dị ( Sự, Tướng) và cái Dị ánh chiếu
trong cái Ðồng,mà mỗi sự,mỗi vật ( sự,sự ) đều ánh
chiếu trong nhau,vì tấ cả Sự đều toàn một Thể,Tính và
Lý,mà Lý đã dung thông vô ngại với nhau thì tất cả sự
này sự khác cũng điều dung thông vô ngại với nhau cả.
Giáo lý Sự
sự vô ngại pháp giới chỉ có thể thấu triệt được khi
ý thức con người hoàn toàn nhập vào cảm nghĩ về sự diễn
biến vô ngã, vô thường bất tận của toàn thể vạn hữu
trong vũ trụ bao la, dàn trải ra trước mắt mọi người, mà
có trực giác tâm linh mới mở được then cửa cho ta thâm
nhập vào nơi cấm địa của thế giới mầu nhiệm u huyền
này mà thôi.
Thói thường,
người ta chỉ quen dùng trí thức suy luận để hiểu sơ qua
một việc gì, rồi sau đó mới dùng đến tâm chứng để
hiểu thấu tới ngọn nguồn của sự việc ấy, nhưng đột
nhiên ta lại thấy ngay chân lý hiễn lộ rõ ràng trong một
sát na đốn ngộ, vượt hẳn ra ngoài tầm lý luận, nghĩa
là ngoài khả năng hiểu biết thông thường của trí thức
la tập.
Ðối với
những mối tương quan giữa Lý và Sự, Không và Sắc, Tâm
và Vật trong kinh Hoa nghiêm thì ngoài ngôn ngữ, biện luận
của thế nhân để giải thích, lại còn cần phải dùng đến
phương pháp đặc biệt của trực giác bén nhại mới mong
thấu vật triệt được phần nào cái lý sâu sắc khó nói,
khó nhập đó của tâm linh. Nói cách khác, muốn hiểu rõ tư
tưởng Sự sự vô ngại pháp giới thì phải nhìn đời bằng
cặp mắt của tuệ bát nhã siêu việt mới thấy được Thể
tính của mọi sự chỉ là một mà không phải hai thì còn
gì là ngăn ngại nữa?
Ðể giải
thích một cách sơ lượt tư tưởng siêu việt về Lý, Sự
và Sự sự vô ngại pháp giớicủa kinh Hoa Nghiêm, chúng ta
hãy tưởng tượng một người đứng lên ngọn núi cao nhìn
xuống cảnh vật dưới chân mình. Núi càng cao thì sự vật
ở dưới chân núi càng nhỏbé mờ ảo, cho đến khi nào tới
được đỉnh núi chót vót thì dưới lớp mây mờ bao phủ
chân mình, ta còn nhìn thấy sự vật gì cả? Tới khi ấy thì
tất cả chỉ còn là một thể chung, hòa tan trong Chân Nhưtuyệt
đối mà thôi.
Dưới cặp
mắt của Ðức Phật và Bồ tát đã vượt qua khỏi ba cõi
( dục giới,sắc giới,và vô sắc giới ),thì hết thảy pháp
hữu vi có hình tướng sai biệt trong vũ trụ tương đối và
nhị nguyên đều như chiêm bao,ảo mộng,bóng chớp,sương mai,không
có gì là thật cả.Bồ tát đã chứng được cảnh giới bất
tư nghị giải thoát rồi thì thân tâm được tự tại,có
thể qua lại bất cứ nơi đâu,không gì chướng ngại,có thể
làm những việc khó khăn ma người thường không làm nổi,có
thể kéo dài một sát na thành muôn kiếp,lại có thể thâu
gọn muôn kiếp trong một sát na,cũnh như có thể tóm thâu
cả càn khôn nhét vào trong một hạt cải,như lời một thiền
sư Việt Nam đời Lý đã nói:
"Càn
khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt
bao hàmgiới tử trung"
Nghĩa là:
"Càn
khôn rút lại đầu lông xíu,
Nhật nguyệt
nằm trong hạt cải mòng"
Cũng như
khoa học ngày nay có thể dồn sức công phá mãnh liệt của
hàng triệu tấn thuốc nổ T N T có năng tàn phá cả một vùngkhông
gian rộng lớn vào một điểm ở đầu cái ngòi nhỏ xíu của
một trái bom hạch tâm vậy.
Dưới nhãn
quan của người đã chứng được triếy lý Hoa Nghiêm thay
vì nhìn đời bằng cặp mắt thường tình, người ngộ đạo
lại nhìnsự vật suốt qua Sắc, qua Sự, không thấy tướng
bề ngoài sai khác nhau, mà chỉ thấy cái tướng bề trong,
hay cái Thực- tướng –vô –tướng, tức là chỉ thấy cái
Lý hay cái Bản thề Chân không của mọi sự mọi vật trên
trần thế giống nhau như đúc mà thôi. Và nếu quan sát như
vậy thì thấy Lý và Sự đều viên dung vô ngại cả. Mọi
sự vật và sự việc trên trần thế đều hòa hợp với nhau,
tan biến trong nhau, tương tức vô ngại, thành một khối Nhất
Như viên dung tuyệt mỹ, đâu còn những sự đấu tranh về
quyền lợi, những sự mâu thuẩn, phân biệt, thị phi và chia
cách giống nòi, giai cấp nữa!
B LỤC
TƯỚNG
Trong pháp
giới, mỗi "pháp"đều có đủ sáu tướng: Tổng tướng, Biệt
tướng, Ðồng tướng, Dị tướng, Thành tướng và Hoại tướng.
Tổng đối
với Biệt, Ðồng đối với Vị và Thành đối với Hoại.
1.Tổng
tướng, là tướng bao quát toàn thể một vật hay một việc
gì.
2.Biệt
tướng, là tướng đặc biệt của mỗi bộ phận cấu thành
toàn thể sự vật đó. Nhiều Biệt tướng
cộng thành một Tổng tướng. Ðã có Tổng thì có Biệt, nếu
không có Biệt thì cũng không có Tổng. Trong Biệt tướng có
đặc dị tướng. Trong Dị tướngcó sai biệt tướng.
3.Ðồng
tướng, là tướng giống nhau của một số vật.Ðó cùng
là tính dung hòavới nhau không ngăn ngại chống đối nhau của
mọi vật.
4.Dị tướng,
là tướng riêng biệt của vật này, vật khác nhau. Hình tướng
của mỗi vật tuy có khác nhau, nhưng về mặt lý tính thì
không có gì sai khác cả.
Theo kinh Hoa
Nghiêm thì không có một ngăn ngại, mâu thuẩn nào giữa Ðồng
và Dị (Unité et Diversité) và giữa Dị và Dị (Diversité et
Diversité).
Dị là Sự,
và Sự có nghĩa là mọi vật, mọi việc riêng rẽ. Ðồng
là Lý hay là Nhất mà Lý là Thể của Sự và nằm trong Sự.
Tất cả
sự vật trên đời này không có thực thể đồng nhất bất
biến, mà chỉ là hiện tượng của nguyên thể hay Chân thể,
tức là Lý mà thôi.
5.Thành
tướng, là tướng thành tựu của nhiều bộ phận hợp thành
sự vật.
6.Hoại
tướng, là sự tan rã của một vật lớn thành nhiều phần
tử nhỏ.
Khi nói
đến Tổng, Ðồng, Thành là đứng về phương diện, toàn
thể viên dung, bình đẳng của Bản thể.
Khi nói đến
Biệt, Dị, Hoại là đứng về phương diện hiện tượng,
trong đó mọi sự vật đều phơi bày riêng rẽ hình tướng
khác nhau.
Vạn hữu
trong vũ trụ tựu trung đều gồm hai tính cách: Bình đẳng
và Sai biệt.
Ba tướng:
Tổng, Ðồng, Thành đều có tính cách viên dung, bình đẳng,vô
sai biệt, Còn Biệt, Dị, Hoại đều có tính cách sai biệt,
bất bình đẳng và ngăn ngại nhau. Hết thảy mọi pháp trên
thế gian này đều có đủ sáu tướng nói trên, không một
pháp nào lại không viên dung, tự tại, bởi thế nên gọi
là sáu tướng viên dung. Vạn vật đều gồm đủ cả hai nghĩa:
Sai biệt (trên mặt hiện tượng), và bình đẳng,vô sai biệt
trên mặt bản thể, không một pháp nào lại không có đủ
cả hai mặt hiện tượng và bản thể. Hai lẽ ấy không hề
lúc nào rời nhau, một ẩn ở trong, một hiện ra ngoài, bao
bọc lấy nhau, trong ngoài cùng là một vật, và trên tế thì
ngoài (hiện tượng) tức là trong (bản thể), Chân như tức
là vạn pháp,vạn pháp tức là Chân như,Lý tức Sự, Sự tức
Lý, theo tư tưởng Bất Nhị .
C. THẬP HUYÊN
MÔN.
Ngoài Lục
Tướng, các pháp còn có mười đặc tính huyền diệu được
trình bày trong tập luận của ngài đại sư Pháp Tạng, nhan
đề là;
"Chú Kim Sư
Tử chương".
Trong toàn
bộ kinh Hoa Nghiêm 80 quyển bằng hán văn, các pháp Phật dạy
được rải ra như muôn hoa đủ màu sắc, nhưng tuyệt nhiên
không có "tên" nào giống như trong bộ luận của các tổ thuộc
tông Hoa Nghiêm cả, mà phải nhờ tài khéo léo của các vị
tổ của tông này lấy ý mà đặt tên cho các pháp đó,rồi
viết thành những bộ luận để triển khai những lý sâu xa,
bí ẩn, nhiệm mầu nên tông Hoa nghiêm mới rộng truyền hậu
thế. Riêng về Thập Huyền Môn thì có một nguyên ủy như
sau:
Một buổi
nọ, hoàng hậu Vũ Tắc Thiên, nhà Ðường, ngỏ ý muốn được
nghe giảng kinh Hoa Nghiêm, một bộ kinh danh tiếng mà Hậu không
am hiểu diệu nghĩa cao siêu. Ðáp lời thỉnh cầu của Vũ
Hậu, ngài đại sư Pháp Tạng (643-712 DL), khi ấy trụ trì
tại chùa Sùng Phúc, đã đem hết lý bí ẩn của bộ kinh Hoa
Nghiêm để biên soạn thành một tập tiểu luận đệ trình
ngự lãm. Ngài đã mượn pho tượng con Sư Tử Vàng trưng bày
trong nội điện lấy làmđề tài giảng luận, được Vũ Hậu
rất phục tài, tỏ lời khen ngợi và ban tặng ngài danh hiệu
là "Hiền Thủ Ðại Sư"
Trong "Hoa
NghiêmNhất Thừa Thập Huyền Môn" do ngài hòa thượng Ðỗ
Thuận giảng, xin trình bày tóm lược như sau:
1.Ðồng
Thời Cụ Túc Tương Úng Môn
Các pháp
trong vũ trụ đều vô ngã, vô thường, dung thông vô ngại.
Thới gian, không gian, động lực, sự sống v.v…cùng một
lúc đồng thời tồn tại, tương tức, tương nhập, tương
sinh, tương diệt, không có pháp nào có tự tướng riêng biệt,
độc lập cả. Trong khi nêu lên một pháp gì, đồng thời
có đủ ngay các pháp khác trong đó,Muôn pháp đều ảnh hưởng
lẫn nhau theo thế giây chuyền trùng trùng điệp điệp.
Trong thời
gian đồng thời có không gian, có động lực và có sinh hoạt
sống chết, có nhân quả, nghiệp báo v.v..Nếu quả đất ngừng
quay, hay mặt trời không chiếu sáng nữa thì lập tức không
còn không gian và thời gian vì con người đã căn cứ vào sự
xoay vần của địa cầu chung quanh mặt trời mà làm ra lịch,
tạo ra đồng hồ để đo thời gian. Nếu không còn ngày đêm
thì không còn sự Sống và không gian sẽ trở thành một bãi
hoang lạnh điêu tàn…
Kinh Hoa
Nghiêm ghi: "Hết thảy mọi pháp như một biển lớn vô tận,
cùng chung một đạo tràng. Mỗi pháp ví như một giọt nước
biển, có đủ mùi vị của nước trong trùng dương bát ngát
do muôn sông ngòi to nhỏ đổ vào".
2..Nhân
Ðà La Võng Cảnh Giới Môn.
Nhân đà
la là phiên âm chữ Indra tức lấy Phạm Cung La Võng của Cung
Trời Ðế Thích làm ví dụ. Vì trên cõi trời này có một
tấm lưới rộng lớn, trong đó mỗi mắt lưới được gắn
nhiều hạt minh châu. Mỗi viên ngọc sáng ngời tỏa chiếu
ánh thật xa, hạt nọ phản ánh sang hạt kia lấp lánh thành
một cảnh sắc huy hoàng tráng lệ. Ðây là hình ảnh nói lên
ý nghĩa mọi vật trong vũ trụ đều liên quan mật thiết với
nhau. Mỗi động tác của từng cá nhân gây ảnh hưởng đến
các cá nhân khác trong cộng đồng xã hội đều phải gánh
chịu. Không một lời nói, một việc làm nào lại chẳng gây
ảnh hưởng dây chuyền ít nhiều đến phần tử khác. Một
cái vẩy tay hay một tiếng động nhỏ cũng có thể phát sinh
ra luồng điện lực làm rung chuyển cả bầu khí quyển lan
tới các vì tinh tú rất xa trong không gian vô tận.
Giáo lý Hoa
Nghiêm cho rằng: Vũ trụ chẳng khác nào một sân khấu khổng
lồ trong đó có vô số những sức mạnh chằng chịt, và vô
số những phần tử trùng trùng điệp điệp tác động hỗ
tương tạo thành một bức tranh muôn màu hòa hợp.
3..Bí Mật
Ẩn Hiển Câu Thành môn
Các pháp
thâu nhiếp lẩn nhau, trong Ẩn có Hiển, trong Hiển có Ẩn.
Trong lý tương tức, tương nhập của các pháp, có pháp ở
trong, có pháp ở ngoài, nhưng trong ngoài cùng một thể Tính.
Sức mạnh bề ngoài của một sự vật tàng ẩn một mầm
yếu đuối bên trong.
Tám vạn
bốn nghìn pháp môn do Phật dạy, có pháp nặng về phần tướng,
có pháp nặng về phần tính, nhưng tính, tướng bất nhị,
các pháp đều cùng chung một mục đích, giải thoát con người
khỏi vòng luân hồi đau khổ.
Câu nói "Tâm
là Phật, Phật là Tâm" hàm ý nghĩa: Ẩn và Hiển đều thành.
Dụ như ánh sáng của trăng, nơi này nhìn như trăng khuyết
mà nơi khác lại thấy trăng tròn trịa, viên mãn…
Những hình
thức tụng kinh, niệm Phật, lễ bái, cúng dường, xây chùa,
dựng tháp, bố thí, in kinh, thực hiện hạnh đầu đà…tức
là những sự tướng bề ngoài, kết quả sẽ đưa tới việc
đắc pháp nọ, pháp kia, hay được sinh về các cõi tịnh độ.
Phật pháp không ly thế gian tướng, và niết bàn không ở
đâu xa, nó vẫn tàng ẩn ngay trong nếp sống hiện tiền, ngay
trong tâm thức của mỗi người trong thế gian này.
4..Vi Tế
Tương dung An Lập Môn
Một pháp
có thể dung chứa bao gồm nhiều pháp khác, gọi là tương
dung: Một và nhiều lẫn lộn nhau, gọi là an lập. Một vật
nhỏ nhiệm gọi là vi tế. Vũ trụ cực đại được cấu
bởi những lân -hư – trần hay nguyên tử cực tiểu. Toàn
khối cực vi là Chân Không của vạn pháp. Thực tướng của
các pháp là vô tướng. Chân thể của nó là vô thể. Cái
cực đại và cái cực tiểu dung thông vô ngại bên nhau.
5.Thập
Thế Cách Pháp Dị Thành Môn
Trong giấc
mơ mà ta thấy được những việc quá khứ, hiện tại và
vị lai đều xuất hiện. Cùng một lúc con người đùa dỡn
với chính mình trong những khoản không gian và thời gian khác
nhau. Con người ở kiếp này chịu ảnh hưởng của kiếp trước
và nhiều kiếp trước nữa, không những chịu ảnh hưởng
của hoàn cảnh trên mặt đấtmà còn phải chịu ảnh hưởng
của vũ trụ không gian. "Vạn vật đồng nhất thể". Những
vũ trụ tuyến do các tinh cầu phát ra cực mạnh và lan đến
ta, đã ảnh hưởng đến sức khỏe của ta nhiều hay ít. Trong
vũ trụ, mọi sự kiện đều tương đối và giả danh cả.
Trong lý vô ngã, vô thường, không gì ngắn bằng một đời
người, và không gì dài hơn một vài phút ngóng đợi người
thân. Thi sĩ Tản Ðà, trong một giây phút nhập thần, ông
đã viết những câu thơ bất hủ :
"Người
đời thử ngẫm mà hay,
Trăm năm
là ngắn, một ngày dài ghê!
Còn ai,
ai tỉnh hay mê?
Những
ai thiên cổ đi về những đâu!.."
6. Chư
tạng Thuần Tạp Cụ Ðức Môn
Chân lý này
nói ý nghĩa Thuần và Tạp, Chủ và Khách, Tâm và Vật, Tính
và Tướng, Lý và Sự, Chất lượng và năng lượng, Vật chất
và Tinh thần, hay Bản thể và Hiện tướng …đều dung thông
vô ngại, khiến cho cái nọ trở thành cái kia, cái kia trở
thành cái nọ, không còn mâu thuẩn với nhau, do đó mà mọi
sự xích mích đều có thể giải tỏa, mọi bất đồng đều
có thể tiêu tan, không còn phân biệt Ngã và Phi ngã, không
còn cái ta nào hơn cái ta của toàn thể sự vật chung quanh
mà ta ý thức được. Mỗi chúng sinh là một phần tử của
toàn thể. Mỗi chúng sinh đều có phật tính, điểm linh quang
của toàn khối Chân Như. Vậy, chúng sinh này với chúng sinh
khác chỉ là một, không khác. Xã hội với cá nhân đều liên
quan mật thiết với nhau, không thể hy sinh cá nhâncho đoàn
thể, cũng không thể hy sinh đoàn thể cho cá nhân. Hai bên
đều là Chu, là Bạn cho nhau để cùng sinh tồn, biến dịch..
7.Nhất
Ða Tương dung Bất Ðồng Môn
Hết thảy
vạn pháp dù "một"hay "nhiều"cũng đều dung thông với nhau
cả. Ðặt một ngọn đèn ở giữa mười tấm gương bao quanh
nó, ta thấy xuất hiện trong mỗi tấm gương ánh sáng của
vô số ngọn đèn, ngọn nọ ngọn kia chiếu lẫn nhau. Mối
tương quan, tương dung, tương tức, tương nhập chằng chịt
giữa vật nọ vật kia nói lên ý nghĩa: Một là hình ảnh
của tất cả. Tất cả là hình ảnh của Một cái cực tiêu
là hình ảnh của cái cực đại thu hẹp lại.
8.Chư Pháp
tương Tức Tự Tại môn
Một là tất
cả. Tất cả là một. Trong pháp giới, về mặt hình tướng
thì vạn hữu sai biệt không đồng đều, nhưng về mặt thể
tính thì mọi vật đều bình đẳng như nhau. Vật lớn, vật
nhỏ thể chất giống nhau, vì tất cả đều là hợp tướng
của điện tử hay nguyên tử. Lớn nhỏ, rộng hẹp chỉ là
những danh từ tương đối, vì không có vật nào tuyệt đối
lớnhoặc tuyệt đối nhỏ. Ðối với Phật thì đại thiên
thế giới tưc 1.000.000.000 thế giới như Thái dương hệ của
chúng ta cũng chẳng lớn gì, vì trong vũ trụ bao lavô cùng
tận, nó chỉ là một hạt cát nhỏ trong những đống cát
của sông Hằng, như khoa Thiên văn học ngày nayđã từng chứng
minh. Vì thế mà Ðức Phật đã dạy: "Trên đầu sợi lông
hiện ra mười phương quốc độ, ngồi trong hạt bụi mà chuyển
đại pháp luân". Ý Phật muốn nói đến lý bình đẳng, tuyệt
đối, vô sai biệt giữa các pháptrên trần thế. Sự sai biệt
giữa lớn và nho không còn nữa nếu ta từ bỏ được
lối nhìn sự vật ở bên ngoài, chỉ hướng tầm mắt nhìn
vào bản thể bên trong mà quan sát sẽ thấy rõ sự sự vật
vật trong khắp pháp giới đều viên dung, bình đẳng, tự
tại, vô ngại.
9.Duy Tâm
Hồi Chuyển Thiện Thành Môn
Mọi sự
vật hiện hữu trong cuộc đời đều bắt nguồn từ "Như
lai tạng tính thanh tịnh chân tâm"mà kiến tạo nên.
Tâm làm chủ tất cả. Cho nên trong kinh nói: Tâm tạo chư Như
lai, nhược bằng nghịch chuyển "tức thị sinh tử"; mà thuận
chuyển thì "sinh tử thị niết bàn". Chân Tâm (Phật tính)
vốn không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không nhơ,
không sạch. Bản thể của Chân Tâm là trong sángtròn đầy,
chu biến khắp pháp giới bao la. Tâm là chủ động tất cả.
Do Tâm mới
có Lý và Sự. Do Tâm mới có vạn hữu sinh thành và biến
dịch. Vậy Tâm là chính yếu. Ðây là lập trường căn bản
của bộ kinh Hoa Nghiêm chủ trương "Nhất thiết duy tâm tạo".
Pháp môn "Duy Tâm thối chuyển thiện thành" cũng có ý nghĩa:
các pháp đều tương tức vô ngại hay Tâm tức Cảnh, Cảnh
tức Tâm, khi Cảnh tịch thì Cảnh là Tâm, khi Tâm chiếu thì
Tâm là Cảnh. Tịch và Chiếu chỉ là hai mặt của một đồng
tiền.
10.Thác
Sự Hiển Pháp Sinh Giải Môn
Nhờ quan
sát hiện tượng giới mà ta nhận thấy rõ chân lý "Vạn vật
đồng nhất thể" và vì vạn pháp đều vô ngã, vô thường,
duyên sinh nên các pháp đều không có ranh giới nhất định
và gây chướng ngại cho nhau (mà) còn dung thông dung nhiếp
lẫn nhau để tạo nên vũ trụ có trật tự nhịp nhàng, theo
chiều hướng tiến bộ về nẻo chân, thiện, mỹ, tự tại
giải thoát.
Ðứng về
mặt bản thể thì, vũ trụ là một khối duy nhất, viên mãn,
bất biến, tự tại vô ngại, bình đẳng và bất khả phân.
Nhưng trên bình diện Hiện tượng thì sự sự, vật vật lại
có những bộ mặtsai thù phân biệt. Tuy nhiên, Bản thể và
hiện tượng chỉ là hai bộ mặt của một thực tại tuyệt
đối được mệnh danh là TÂM hay CHÂN NHƯ
Vạn hữu,
trăm sai ngàn biệt, đều do từ một nguồn Tâm (chữ Tâm viết
hoa) này mà sinh khởi và ở đó thì không gian và thời gian
đều dung thông làm một, và sự Sống tràn lan bất tận vô
thủy vô chung.
Ðứng về
mặt hiện tượng thì vạn hữu trong vũ trụ đều làm nhân
làm duyên đắp đổi lẫn cho nhau, trùng trùng duyên khởi và
ảnh hưởng lẫn nhau để cùng tồn tại hay hủy diệt. Những
"thế giới chủng", "thế giới hải", nói trong kinh Hoa nghiêm,
chính là quan niệm về thiên hà (Galaxie) và siêu Thiên văn
học ngày nay đã công nhận vậy.
