THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Chánh Niệm Và Vô Niệm
Tôi có ba người bạn ở nhiều lứa tuổi khác nhau, đã không hẹn nhau mà cùng gặp. Vì có chung mẫu số là Phật tử nên buổi gặp gỡ đã không tẻ nhạt lúc ban đầu, mà sau đó lại có phần gay go khi thảo luận về chánh niệm, tà niệm và vô niệm. Anh bạn trẻ nhất, đang còn là sinh viên, từng tham dự nhiều khóa tu thiền quán ở địa phương và tu học ở Làng Mai, Pháp Quốc, cô bạn trung niên là nữ thư ký kế toán cho một công ty người bản xứ, tu học thiền Nguyên Thủy ở một thiền viện thuộc tỉnh Riverside, Nam California và đã từng qua Ngưỡng Quảng, Miến Ðiện tu thiền Minh Sát Tuệ, còn ông bạn tuổi ngũ tuần là chuyên gia về máy vi tính đang tu Tổ Sư Thiền tại một thiền đường ở Santa Ana.

Cuộc gặp gỡ lúc ban đầu chỉ là xã giao nhưng sau đó vì anh bạn trẻ và cô bạn trung niên hăng say nói về chánh niệm nên đã trở thành cuộc hội thảo về ba đường lối tu tập thiền hiện đại.

Người viết, từ xưa tới giờ chỉ được đọc một ít sách và thường hay học lóm lẫn tu ké, cũng chưa từng đi tu học ở Pháp, Miến Ðiện, Trung Quốc hay Nhật Bản nên không đủ thẩm quyền nói về ba đường lối tu thiền hiện đại của ba vị nói ở trên, chỉ giúp điều hòa cuộc thảo luận và cung cấp tư liệu cần thiết vì nhà có sẵn tủ sách Phật học.

Trước tiên, người viết đề nghị hãy định nghĩa các danh từ niệm, chánh niệm, tà niệm và vô niệm trước khi đi sâu vào các pháp môn tu tập liên quan đến đề tài.

Có thể nói cái định nghĩa dễ thông qua nhất trong bốn danh từ trên là chữ niệm vì tất cả ba vị đều đồng ý về định nghĩa chữ niệm mà người viết đưa ra như sau: Niệm có nghĩa là nhớ nghĩ, tưởng nhớ, suy nghĩ, ý thức hay tơ tưởng về cái gì hay sự việc gì đó ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, bất kể niệm đó là xấu hay tốt, là thiện hay bất thiện, hay là không xấu, không tốt, không thiện, không ác. Nói chung tất cả những điều gì khởi lên trong tâm chúng ta đều gọi là niệm, tương đương với tiếng Anh là "thought" và có thể ví chúng như là các lớp sóng trên mặt hồ nước.

Còn định nghĩa về tà niệm và chánh niệm thì có khác biệt, anh bạn trẻ và cô trung niên đồng cho rằng Tà Niệmnhững suy nghĩ, những tưởng nhớ đến những điều ác, những điều không thiện và những điều bậy bạ không chân chính.Chánh Niệm là nghĩ nhớ điều thiện, điều chân chính, không nghĩ điều ác, điều bậy bạ. Mục đích của Phật giáo là giải thoát, nên những niệm tưởng có tính cách ngăn trở tiến trình đến giải thoát, thí dụ như tham, sân và si chẳng hạn, là những niệm tưởng trong rất nhiều niệm tưởng bất thiện và ngược lại những niệm tưởng giúp cho tiến trình tu tập giải thoát, như niệm Phật, niệm Pháp, và niệm Tăng là những niệm tưởng thiện trong rất nhiều niệm tưởng thiện.

Người bạn tuổi ngũ tuần lấy lời dạy của Thiền Sư Huệ Hải, đệ tử của ngài Mã Tổ nói lên quan điểm của mình về Tà Niệm và Chánh Niệm. Theo ngài Huệ Hải thì cả niệm có lẫn niệm không đều là niệm tà. Chẳng niệm có, chẳng niệm không là niệm chánh. Niệm thiện, niệm ác, là niệm tà, cho đến niệm khổ vui, sanh diệt, thủ xả, oán thân, yêu ghét...thảy đều là niệm tà. Chẳng niệm thiện ác, chẳng niệm khổ vui... là niệm chánh.

Anh bạn trẻ và cô trung niên, hình như không hề biết đến cái mà vị kia nói về "niệm thiện lẫn niệm ác đều là tà niệm" nên nhất mực không đồng ý. Họ cho rằng làm gì có chuyện như vậy, trong tự điển Phật học của Hòa Thượng Minh Châu cũng không có định nghĩa như vậy. Hòa Thượng Nhất Hạnh cũng chưa từng nói như vậy. Người viết thầm nghĩ chắc có lẽ anh bạn trẻ chỉ học những điều thầy Nhất Hạnh dạy và cô trung niên chỉ học những điều Sư Kim Triệu dạy nên mới nghĩ như vậy thôi.

Cô trung niên nói về chánh niệm như là một đường lối tu tập chân chính trong Phật Giáo có thể đưa người ta ra khỏi sinh tử. "Chánh niệm chính là bước thứ bẩy trong tiến trình tám bước của Bát Chánh Ðạo, có nghĩa là ý thức được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại, ý thức được sự có mặt của những niệm tưởng và những chuyển động của cơ thể. Danh từ niệm mà tiếng Pali gọi là sati thường được đi kèm với một từ khác sampajanna có nghĩa là hiểu biết một cách r ràng. Sati-sampajanna là niệm có sự hiểu biết r ràng mọi tác động, mọi tư thế trong từng sinh hoạt của cơ thể, như khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, khi ăn, khi uống, khi nhai, người hành giả luôn luôn hay biết r ràng. Khi thiền hành, người hành thiền đi chầm chậm và luôn luôn theo d i từng cử động, tâm không được dính mắc vào bất cứ một niệm tưởng nào hay cảnh vật xấu đẹp nào xung quanh. Khi chân chấm đất, chỉ ghi nhận và hay biết là chạm đất thế thôi, không nghĩ tưởng trái đất thế này thế nọ".

Theo pháp hành chánh niệm Vipassana của Phật giáo Nguyên Thủy, cô bạn trung niên nói tiếp, "có khác với pháp hành chánh niệm của anh bạn trẻ, là khi có mùi vị, xúc chạm, đau, sướng v..v... chỉ theo d i quan sát những niệm tưởng ấy một cách khách quan, không dính mắc, và không nhận thức tốt hay xấu, thiện hay ác, sướng hay không sướng. Chỉ quan sát với sự hay biết suông mà thôi. Thí dụ khi thấy bông hồng chỉ biết đó là bông hồng, nếu nhận biết đó là bông hồng đỏ thì nhận biết nó là bông hồng đỏ, chỉ thuần túy quan sát một cách minh bạch, chính xác, nên pháp hành thiền này còn có tên là Minh Sát Tuệ, chứ không xét đoán nó đẹp hay xấu bởi vì đẹp là có niệm khen, xấu là có niệm chê, tức là vấn vương và dính mắc với những niệm tưởng ấy".

Pháp hành chánh niệm mà cô đang thực hành không có tính cách thưởng thức, không suy tưởng miên man về một đối tượng nào đó, ví dụ như khi đang ăn chỉ biết là đang ăn, đang nhai chỉ biết là đang nhai, không phân tích hay suy tưởng miếng đậu hũ hay cộng rau có liên hệ với đất trời, với bàn tay người làm nên. Cô cho biết chi tiết hơn về cách ăn chánh niệm của pháp hành thiền của cô là "khi nhìn thấy món ăn phải niệm thầm trong đầu thấy, thấy, rồi có tác ý gắp món ăn, niệm thầm là tác ý, tác ý, sau đó dẫn đến động lực gắp món ăn, niệm thầm đưa đũa lên, đưa đũa lên..v..v.. người hành thiền phải ghi nhận hết mọi diễn biến đang xảy ra trong tâm và thân, cốt để trụ tâm vào một chỗ, không để tâm nghĩ miên man chuyện này chuyện nọ, dù là chuyện thiện, chuyện tốt".
Anh bạn trẻ không đồng ý về những điều cô trung niên nói. Anh giải thích rằng "khi ăn cơm chánh niệm là chúng ta phải ăn cơm trong im lặng, để thưởng thức một cách trọn vẹn từng món ăn, mà theo như thầy tôi nói là ăn như ăn cái bánh in thời thơ ấu hay ăn như ăn trái quít một cách chậm rãi để thấy những giọt sương và mùi thơm của quít, để cảm thấy chất nước ngọt lịm chảy xuống cổ. Quả vậy, thưởng thức các món ăn ngon như vậy là một điều quý báu, mà không phải ai cũng có được. Có bao nhiêu người đang chết đói khắp nơi trên thế giới, khi ăn chúng ta phải nhớ đến họ cũng là làm phát triển hạt giống hiểu và thương trong ta. Khi ngắm bông hồng, chúng ta biết bông hồng đẹp, nhưng không dính mắc vào cái đẹp đó vì chúng ta biết được tính chất vô thường trong đó, nó nở rồi tàn, nó bây giờ thơm đẹp nhưng nó sẽ là rác, chúng ta thấy rác trong nó. Cũng vậy, khi thưởng thức một tách trà, với chánh niệm chúng ta biết tách trà ấy ngon vì việc thưởng thức cái ngon ấy sẽ không phải là cái nhân gây ra khổ đau cho mình và cho người, hay khi chúng ta uống rượu với chánh niệm, chúng ta ý thức được chất rượu sẽ làm hư gan chúng ta, có tác dụng gây khổ đau cho mọi người, cho mình, cho xã hội và cho các loài khác. Chúng ta cũng ý thức được rượu làm bằng ngũ cốc mà đáng lý ra để nuôi người, giúp người khỏi chết đói. Với việc uống rượu trong chánh niệm, chúng ta thừa nhận rằng đó là hành động không thân thiện với những người đang thiếu ăn. Uống rượu trong chánh niệm giúp chúng ta tỉnh giác, và giúp chúng ta không uống rượu nữa."

Chánh niệm, theo anh bạn trẻ quan niệm, là cái khả năng nhận thức những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, là phương tiện để tiếp xúc với sự mầu nhiệm và qúy báu của sự sống cùng là ý thức được trong mỗi chúng ta có những liên hệ mật thiết với tất cả những gì xung quanh chúng ta, ở gần cũng như ở xa.

Cô trung niên không đồng ý với lối biện minh của anh bạn trẻ và cho rằng đó không phải là lối hành thiền mà cô đang tu tập. Cô nói thêm, "mục đích của hành thiền Phật Giáo Nguyên Thủy là chú tâm vào những diễn biến đang xảy ra trong thân và tâm để các niệm dần dần biến mất tức là gom tất cả các tạp niệm vào một điểm và làm cho tâm trở nên vắng lặng, sáng tỏ, chứ không suy tưởng miên man thế này thế nọ".

Người bạn tuổi ngũ tuần đồng ý với cô trung niên về sự khác biệt giữa hai lối hành của cô và của anh bạn trẻ và cho rằng cái chánh niệm của anh bạn trẻ không thể nào gom tất cả các niệm về một điểm được vì còn dùng thức thứ sáu để phân biệt bông hồng đẹp, chén trà thơm, chất ngọt lịm của múi quít, và suy tưởng về những mối giây liên hệ giữa các sự việc, nên không những cách xa với thiền Vipassana mà còn xa nhiều hơn nữa với cái gọi là thiền vô niệm trong Phật Giáo Ðại Thừa, mà Lục Tổ Huệ Năng đã định nghĩa rằng: "Vô niệm, niệm tức chánh (chánh niệm), Hữu niệm, niệm thành tà" (tà niệm). Vậy, thiền vô niệm là gì? Anh bạn trẻ thắc mắc.

Người viết nhanh nhẩu đáp rằng nghĩa là không mà niệm như trên đã định nghĩa thì vô niệm là không niệm, không một mảy may niệm nào trong tâm.

Người bạn ngũ tuần cười trả lời: "Ông bạn ơi, không phải vậy đâu! " Vô Niệm, chẳng phải là có niệm, cũng chẳng phải là không niệm vì với Không vẫn còn nằm trong vòng tương đối nhị biên, mà nó vượt ngoài sự diễn tả theo ngôn ngữ thông thường hữu và vô. Theo Lục Tổ Huệ Năng, "vô niệm là biết hết, thấy hết tất cả các pháp, nhưng tâm không dấy niệm, không nhiễm ô, không dính mắc". Niệm đến cứ đến, niệm đi cứ đi, cứ để chúng tự nhiên đến và đi. Nếu khởi lên niệm thấy biết về chúng thì tâm bị ô nhiễm ngay bởi chính niệm khởi này. Vì thế, nếu một pháp hành thiền nào còn khởi niệm, móng niệm, dấy niệm hay dùng niệm để theo d i, ngăn trừ hay tiêu diệt niệm đều không đúng với tinh thần vô niệm của Lục Tổ Huệ Năng. Chư Tổ thường lưu ý chúng ta là "Tâm thượng sanh tâm" hay "Tuyết thượng gia sương" là vậy.

Sau khi nhấp một ngụm trà, ông bạn nói tiếp: "Cái niệm thấy, niệm biết mọi diễn biến sinh hoạt của tâm thức và thân thể con người như là biết mình đang ăn, đang nhai, đang đi, đang ngồi, đang thở, đang nhớ tưởng, đang thấy các niệm, ..v..v...cũng chỉ là vọng niệm thôi, cũng là từ sau khi "vô minh duyên hành", không thể nào cho là cái biết chân thật hay là cái biết tỉnh thức, hoặc là cái tánh giác được. Có thể đây chỉ là pháp phương tiện của Phật và chư Tổ nhằm giúp cho hành giả dễ an trụ tâm vào một điểm."

Cái cốt l i của pháp hành Vô Niệm là không dấy niệm cũng như không diệt niệm, cho nên Lục Tổ Huệ Năng đã lập vô niệm làm tông, vô tướng làm thể và vô trụ làm gốc. Ngài nói: "Thế nào là vô niệm? Là thấy r tất cả cảnh mà tâm niệm không dính mắc, không vì cảnh mà sanh tâm. Sáu thức ứng dụng nơi sáu căn mà không nhiễm trước với sáu trần, tới lui tự do, thông dụng vô ngại tức là Bát Nhã Tam Muội, tự tại giải thoát."

Tâm phẳng lặng như mặt nước hồ thu không gợn sóng, từng ảnh hiện bóng chim nhạn bay trên trời nhưng nước không hề lưu bóng. Ðó mới là tâm vô niệm.

Mọi người chăm chú nghe người bạn tuổi ngũ tuần giải thích về vô niệm một cách thích thú. Anh cho biết đấy chính là yếu chỉ của pháp môn anh đang tu học, anh không dùng niệm biết, như phương pháp của một số pháp môn thiền khác, để Biết niệm hay Ly niệm hoặc là Diệt niệm mà dùng cái Nghi Tìnhđể buông bỏ những cái biết cùng cái không biết. Anh mô tả cái Nghi nơi câu thoại đầu "Niệm Phật là ai" của anh đang hành, như là một cái gì mông lung, không phải là niệm, cũng không phải là không niệm, không phải là nghi vấn thường tình, mà là một nỗi nghi có thể tạm ví như là người đánh mất cái chìa khóa, trong đầu cứ vẩn vơ, tơ tưởng kiếm tìm cái chìa khóa hay cứ như là không biết r mình đã tắt bếp gas khi ra khỏi nhà chưa?

Thấy anh bạn trẻ và cô trung niên ngồi im lặng không góp ý kiến về vô niệm và nghi tình, nên anh nói thêm về pháp môn anh đang thực hành. Anh cho biết có rất nhiều câu thoại đầu, nhưng anh chọn câu "Niệm Phật là ai" vì đã lâu anh thường niệm Phật với ý tưởng có một hình bóng Phật ngoài tâm, nay anh muốn quay nhìn lại tự tánh, tìm hình bóng Phật ngay nơi mình. Anh nói: "Theo Hòa Thượng Hư Vân, thì "Niệm Phật là ai" chỉ là câu thoại. Câu thoại đó khi chưa nói ra mới là thoại đầu, vậy thoại đầu là khoảnh khắc chưa hình thành r ràng cái ý. Cái khoảnh khắc niệm chưa sinh này gọi là bất sinh bất diệt. Tham, hay còn gọi là khán thoại đầu điều kiện tiên quyết là phải khởi nghi tình. Nghi tình là cột trụ của của tham thoại đầu. Sao gọi là nghi tình?

Như hỏi "Niệm Phật là ai". Ai cũng biết rằng chính mình đang niệm, nhưng dùng miệng niệm hay tâm niệm? Nếu dùng miệng niệm, vậy sao khi ngủ, miệng vẫn đó mà sao không biết niệm; còn nếu dùng tâm niệm thì lúc chết làm sao tâm niệm. Do câu hỏi đó bèn khởi nghi nơi chữ Ai, rồi thắc mắc, truy cứu đến tận cùng cái nghi này, xem cái câu niệm Phật đó từ chỗ nào tới? Bất cứ giây phút nào cũng quán chiếu cái nghi này, như thuyền trôi mãi trên mặt nước, đừng dấy niệm khác".

Hòa Thượng Hư Vân cũng nói thêm "Chiếu cố thoại đầu không có nghĩa là dùng mắt mà quán hay dùng tai mà nghe. Nếu dùng mắt để quán hay dùng tai để nghe thì đã là theo tiếng đuổi hình, bị vật xoay chuyển, là thuận lưu, còn nếu duy nhất một niệm nơi khoảnh khắc chưa sinh niệm, tức niệm bất sinh bất diệt, không chạy theo thanh sắc mới gọi là nghịch lưu, là chiếu cố thoại đầu."

Người bạn tuổi ngũ tuần định nói thêm nhưng thấy không một ai có lời bàn nên chuyển hướng hỏi ý kiến người viết về ba quan điểm cùng với ba đường lối tu tập thiền đã trình bầy trên.

Người viết ngần ngại, một phần vì chưa từng đi tham học, phần nữa vì e ngại nói ra là kẹt vào cái bẫy của ngôn ngữ. Tuy nhiên, không nói cũng kẹt, nên đành phải nói ra, nhưng xin người đọc đừng xem những lời nói này là đúng hay là sai.

Ðạo Phật là con đường giác ngộ giải thoát, Giải thoát cái gì? giải thoát khỏi cái vòng xích mười hai nhân duyên cuốn trôi miên viễn từ vô lượng kiếp, khởi đầu từ "nhất niệm vô minh". Cho nên chỉ một niệm mong manh dấy lên, là đã tiếp nối cho tiến trình trôi lăn trong sinh tử, trở ngại cho con đường giải thoát rồi.

Vì chúng sinh có đến tám vạn bốn nghìn tâm khác nhau, nên cũng có đến tám vạn bốn nghìn pháp môn tu tập và do đó không thể cho rằng pháp môn này dễ, pháp môn khác khó. Trong tiến trình tu tập không có dễ khó hay cao thấp mà chỉ có sự thích hợp với từng căn cơ chúng sinh. Ba đường lối tu tập thiền do ba người bạn quý của chúng ta trình bầy nêu trên cũng thế.

Nói tới tám vạn bốn nghìn pháp môn thì quả là nhiều nhưng tất cả không ngoài tiến trình thanh tịnh tâm, đi từ đa niệm đến thiểu niệm và từ thiểu niệm về nhất niệm rồi từ từ đạt đến vô niệm, và cuối cùng liễu niệm. Tất cả chỉ là thanh tịnh hóa cái tâm không thanh tịnh, cái tâm chứa đầy vọng tưởng, qua tiến trình từ nhiều đến ít và từ ít đến không thế thôi.

Phật thương xót chúng sinh mê muội ".. trong trí bồ đề mà không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc.." mới dậy cho chúng sinh tu hành để chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó bằng tám vạn bốn nghìn pháp môn như trì giới, tham thiền, niệm Phật, trì chú, v..v.. mục tiêu đều để giảm bớt sự hoành hành của con vượn tâm, con ngựa ý, giảm bớt những thói quen chấp trước, phân biệt, yêu ghét, từ từ đi tới định tâm.

Khi tâm đã "định" thì trí huệ bát nhã mới có dịp hiển lộ, mới được hưởng mùi vị cam lồ của Phật Pháp.

Tâm Diệu 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx