Tôi
Yết Kiến Phật Sống Tây Tạng
Một
buổi sáng thứ hai, Minh Gia Đại Đức cho tôi biết rằng cuộc
viếng thăm điện Potala của chúng tôi đã được định vào
cuối tuần. Người nói:
- Chúng
ta phải tập dượt cho quen với các nghi lễ. Buổi trình diện
của con phải diễn ra một cách thật hoàn toàn.
Gần
lớp học của chúng tôi, có một ngôi đền nhỏ bỏ hoang,
trong đó có một pho tượng của đức Đạt Lai Lạt Ma, kích
thước lớn bằng một người thật. Sư phụ tôi nói:
- Lâm
Bá, con hãy nhìn ta đây. Ta sẽ chỉ dẫn cho con những gì cần
phải làm. Con bước vào, hai mắt nhìn xuống đất, như thế
này. Con đi tới chỗ này và quỳ xuống trước mặt đức
Đạt Lai Lạt Ma, khi còn cách xa Ngài độ chừng một thước
rưỡi con hãy le lưỡi (phong tục chào hỏi của người Tây
Tạng) ra để chào Ngài và cúi đầu xuống, một lần, hai
lần và ba lần. Vẫn quỳ gối và cúi đầu, con đặt chiếc
khăn lên, nhưng vẫn cúi đầu để cho Ngài có thể đặt một
khăn choàng của Ngài lên cổ của con, sau đó con đếm từ
một cho đến mười, để khỏi phạm lỗi vì vội vàng hấp
tấp, rồi con ngẩn mặt lên và đi thụt lùi cho đến chiếc
nệm đầu tiên còn bỏ trống chưa ai ngồi.
Tôi
theo dõi sự chỉ dẫn của Sư Phụ, người tỏ ra rất thông
thạo vì đã quen thuộc nghi lễ ấy từ lâu. Người lại nói:
- Bây
giờ, Ta khuyên con, trước khi đi thụt lùi lại phía sau, con
hãy liếc nhìn một cách kín đáo để tìm ra vị trí của
chiếc nệm gần nhất, và nên cẩn thận đừng để chân vướng
vào đó rồi phải nhảy nhổm lên một cái để tránh phải
té gãy cổ! Người ta dễ bị vấp ngã trong một lúc hồi
hộp kích động như thế. Bây giờ dến phiên con dượt lại...
Con hãy làm lại cho đúng.
Tôi
buớc ra ngoài và Sư Phụ tôi vỗ tay ba cái để ra hiệu cho
tôi bắt đầu. Tôi hăm hở xông tới, nhưng Sư phụ liền
chặn tôi lại.
- Lâm
Bá! Đây không phải là một cuộc chạy đua! Hãy đi tới một
cách chậm rãi ung dung hơn. Con hãy điều chỉnh bước đi bằng
cách niệm câu thần chú: Om Mani Padme Hum. Như vậy, con sẽ
bước vào một cách khoan thai như một vị tăng lữ trẻ tuổi,
thay vì sãi như ngựa đua trong vùng đồng bằng Tsang Po!
Tôi
lại bước ra lần nữa, để bắt đầu đi vào một cách "Khoan
Thai" hơn! Đến trước pho tượng, tôi quỳ xuống, tiếp tục
tiến tới trên hai đầu gối, và le lưỡi ra chào theo kiểu
Tây Tạng. Ba lần vái chào của tôi chắc hẳn là hoàn toàn
gương mẫu, vì vậy tôi lấy làm tự hào! Nhưng, rủi thay,
tôi lại quên cái khăn choàng cổ! Thành thử, tôi phải bước
ra ngoài lần thứ ba để tái diễn nghi thức này lại từ
đầu. Lần này, tôi làm đúng phép và đặt cái khăn choàng
lên hai bàn chân của pho tượng. Sau đó, tôi đi thụt lùi
đến một chiếc nệm một cách không khó khăn lắm, và ngồi
xuống nệm theo tư thế liên hoa.
Mỗi
buổi sáng, tôi phải biểu diễn lần chót trước mặt vị
Sư Trưởng. Ngài xem xong bèn nói:
- Cuộc
trình diễn của con thật hoàn hảo, đó là một cái vinh dự
lớn cho Sư Phụ con, tức Minh Gia đạo huynh của ta!
Sáng
ngày hôm sau, chúng tôi lên đường đến điện Potala. Tu viện
của chúng tôi trực thuộc điện Potala về mặt quản trị
hành chánh, tuy rằng vị trí của nó biệt lập với các dinh
thự chính của điện. Nó vừa là một nơi tu viện vừa là
trường Y Khoa. Vị Sử Trưởng của viện cũng là vị y sĩ
tuy thân của đức Đạt Lai Lạt Ma. Với chức vụ này, người
rất bận rộn vì vấn đề quan trọng không phải là chữa
bệnh cho vị Quốc Vương, mà giữ gìn cho Ngài được có sức
khỏe. Bởi vậy, vị Sử Trưởng phải chịu trách nhiệm về
mọi sự đau yếu của đức Quốc Vương dầu chỉ là thoáng
qua. Tuy vậy, người không phải muốn khám sức khỏe của
Quốc Vương lúc nào tùy ý; người phải đợi đến khi đức
Đạt Lai Lạt Ma thật sự nhuốm bệnh mới được gọi vào!
Nhưng sáng ngày hôm ấy, tôi không nghĩ đến những nỗi lo
âu của vị Sử Trưởng, những mối lo âu của tôi cũng đã
quá đủ rồi.
Dưới
chân đồi, chúng tôi hướng về điện Potala, giữa một đám
đông gồm có những du khách và người mộ đạo đi hành hương.
Những người này đến từ khắp mọi nơi trong xứ Tây Tạng
để chiêm ngưỡng cung điện của đức Phật Sống, một danh
hiệu thường dùng để gọi đức Đạt Lai Lạt Ma. Dẫu cho
họ chỉ thấy Ngài trong một cái nhìn thoáng qua, họ cũng
được hài lòng mà trở về với niềm tin tưởng rằng công
lao khó nhọc của chuyến đi hành hương xa sôi này đã được
đền bù tưởng thưởng gấp trăm lần!
Nhiều
người hành hương đã đi bộ trên đương trường suốt nhiều
tháng để đến yết kiến đức Phật Sống. Trong đám đông
có lẫn lộn những nông dân, những nhà vương gia quý tộc,
những mục đồng, lái buôn và những người bệnh nan y, hy
vọng tìm thấy phép màu ở thủ đô Lhassa để chữa họ khỏi
bệnh. Họ đi chật ních các đường sá, vì tất cả đều
đi vòng quanh điện Potala, một quãng đường vòng dài đến
chín cây số. Có người bò bốn cẳng, những người khác
nằm dài sõng sượt dưới đất, lại đứng lên, để rồi
lại nằm mọp sát đất lần nữa, và lại tiếp tục như
vậy cho đến khi giáp vòng tòa cung điện của đức Phật
Sống. Những người bệnh tật bước đi khập khiễng trên
những cây nạng gỗ hoặc do bạn bè thân thuộc nâng đỡ.
Khắp nơi người ta thấy những người bán dạo rao hàng giải
khát gồm có trà pha bơ và những thức ăn đủ loại. Người
ta cũng có thể mua những bùa niệt, những linh vật hộ phù
đã được truyền phép bởi một đấng "Hóa Thân." Những
nhà tướng số đạo mạo ngồi bên đường xem số cho những
người hành hương mê tín. Những người viết thuê bán những
tờ cấp bằng chứng minh rằng thân chủ họ đã đến viếng
thủ đô Lhassa và tất cả những nơi thánh địa. Chúng tôi
đi xuyên qua đám rừng người mà không dừng bước vì đầu
óc chúng tôi chỉ nghĩ đến cuộc yết kiến đức Phật Sống.
Tư
thất của đức Đạt Lai Lạt Ma tọa lạc trên nóc điện
Potala, vì theo phong tục bổn xứ, không ai có quyền được
ở chỗ cao hơn Ngài. Một cầu thang vĩ đại xây bằng đá,
bề rộng gần bằng một đường lộ đưa đến tư dinh của
Ngài. Nhiều vị chức sắc hay quan to trong triều đình cưỡi
ngựa lên cầu thang này để khỏi phải đi bộ nhọc mệt.
Chúng tôi gặp nhiều vị cưỡi ngựa như thế trên con đường
đi lên nóc điện.
Điện
Potala là một tòa cung điện độc lập xây trên một ngọn
đồi. Đó là cơ quan đầu não để giải quyết tất cả mọi
công việc chánh trị và tôn giáo của xứ Tây Tạng. Đó là
trung tâm của quốc gia, mục tiêu của tất cả tư tưởng,
nguồn gốc của tất cả mọi hy vọng. Bên trong vòng thành
của cung điện, trong những tòa nhà của Ngân Khố Quốc Gia,
có dự trữ những khối vàng ròng, vô số những bao đựng
ngọc ngà châu báu và những bảo vật quý giá của thời đại
cổ xưa nhất. Những tòa lâu đài dinh thự đã được xây
cất đến nay không quá ba thế kỷ rưỡi, những được dựng
lên trên nền móng của một tòa cung điện cũ. Ngày xưa, một
pháo đài kiên cố ngự trị trên đỉnh núi. Ngọn núi này
xưa kia vốn là một hỏa diệm sơn, có chứa đựng trong lòng
nó một hang động khổng lồ, với những đường hầm tỏa
ra tứ phía. Một trong những đường hầm này đưa đến một
cái hồ ngầm ở dưới mặt đất. Chỉ có một số rất ít
những người được ưu đãi mới được đi đến đó, hoặc
được biết về cái hồ này.
Đây
nói về lúc chúng tôi trèo lên cầu thang của điện Potala
vào một buổi sáng đẹp trời. Sau cùng chúng tôi đã lên
tới tột đỉnh cầu thang. Khi vừa thấy Sư Phụ tôi, những
sư sãi cảnh binh thân hình cao lớn lực lưỡng, có phận sự
canh gác bên ngoài bèn mở cánh cửa lớn thếp vàng. Chúng
tôi tiếp tục bước lên đến một điểm cao tột trên nóc
điện, tại đây có những lăng tẩm của những vị Đạt
Lai Lạt Ma của quá khứ, tức tiền thân của đức Đạt Lai
Lạt Ma hiện tại, và thư thất của Ngài. Một bức màn to
lớn màu nâu dệt bằng lông con yak che khuất lối vào. Bức
màn vén lên, chúng tôi bước vào một gian phòng lớn, có những
con rồng lớn bằng sứ màu xanh chầu ở phía ngoài cửa. Những
màn che trướng rũ đẹp lộng lẫy, trên đó có thêu tranh
vẽ các cảnh tượng tôn giáo và những cảnh trong chuyện
thần thoại cổ xưa bao phủ các vách tường. Trên những bàn
thấp, có bày những bảo vật và đồ cổ rất quý giá, những
pho tượng các vị thần và nữ thần trong Thần Thoại Tây
Tạng, và những đồ vật trang trí khác. Trên một cái kệ,
gần một hành lang nhỏ hẹp có màn che khuất, được đặt
quyển sách ghi danh hiệu các nhà thế gia vọng tộc trong xứ.
Tôi có ý nghĩ muốn được phép mở ra và nhìn thấy danh sách
của gia đình nhà tôi để tăng thêm lòng tự tín! Ngày hôm
ấy, ở một chốn cung điện thâm nghiêm như vậy, tôi cảm
thấy mình vô cùng nhỏ bé và vô nghĩa. Mới lên tám tuổi,
tôi đã không còn những ảo tưởng, và tôi tự hỏi không
biết những lý do nào đã khiến cho vị Nguyên Thủ quốc gia
gọi tôi và gặp Ngài. Tôi biết rằng một cuộc hội kiến
như vậy có ý kiến đặc biệt, và theo ý tôi, nó sẽ mở
màn cho một loạt những công phu học hỏi, làm việc và thử
thách.
Một
vị Lạt Ma mặc áo đỏ, có mãnh lụa yểm tâm vàng phủ lên
vai và trước ngực, bước đến đàm đạo với Minh Gia đại
đức. Sư Phụ tôi có vẻ rất quen thuộc đối với mọi người
trong điện Potala, cũng như ở bất cứ nơi nào mà tôi cùng
đi viếng chung với người. Tôi nghe vị Lạt Ma ấy nói:
- Đức
Thái Tuế rất thích thú và muốn nói chuyện riêng với y.
Sư
Phụ tôi quay lại phía tôi và nói:
- Đây
là lúc con vào trình diện, ta sẽ chỉ cửa cho con bước vô.
Con hãy lập lại những gì con đã tập dượt suốt tuần lễ
vừa rồi.
Sư
Phụ dắt tôi đến một cánh cửa và nói nhỏ bên tai tôi:
- Con
đừng e ngại gì cả... Bây giờ, con hãy vào đi.
Sau
khi vỗ vai tôi một cái để khích lệ tinh thần, Sư Phụ đứng
nhìn tôi. Tôi bước vào: ở cuối gian phòng rộng vô biên,
đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba, tức vị Phật Sống Tây
Tạng đang ngự tại đó.
Ngồi
trên một chiếc nệm bằng lụa màu vàng nghệ, Ngài mặc đồ
trang phục thông thường của các vị Lạt Ma, ngoài ra còn
cái mũ lón màu vàng có hai cánh thòng xuống tận vai. Ngài
vừa cầm một quyển sách đặt xuống bàn bên cạnh chỗ ngồi.
Đầu cúi xuống, tôi từ từ tiến tới. Khi chỉ có cách Ngài
độ hai thước, tôi quỳ xuống, le lưỡi ra vái chào Ngài
ba lần, và tiến tới trên hai đầu gối, tôi dặt trên hai
bàn chân ngài cái khăn choàng bằng lụa mà Minh Gia Đại Đức
đã cho tôi. Để đáp lễ, đức Phật Sống nghiêng về phía
tôi và đặt một khăn choàng mới của ngài trên hai cườm
tay tôi, chớ không đặt trên cổ tôi theo nghi lễ cổ truyền.
Khi đó, tôi cảm thấy trong lòng rối loạn, với ý nghĩ là
tôi phải đi thụt lùi đến chiếc nệm gần nhất, vì tôi
nhận thấy những chiếc nệm đều đặt ở rất xa chỗ tôi
đứng. Đức Đạt Lai Lạt Ma mới bắt đầu nói:
- Những
nệm đó đều quá xa để cho con phải đi thụt lùi. Con hãy
quay lại nửa vòng và lấy một chiếc đem lại gần đây để
chúng ta có thể nói chuyện với nhau.
Tôi
tuân lệnh làm y theo và trở lại trước mặt ngài với một
chiếc nệm. Ngài nói:
- Con
hãy đặt chiếc nệm trước mặt ta và ngồi xuống.
Khi
tôi đã an tọa, Ngài mới nói:
- Ta
đã nghe nói nhiều điều lạ lùng về phần con. Con bẩm sinh
ra với năng khiếu Thần Nhãn tự nhiên, và năng khiếu ấy
đã được phát triển do một phép luyện bí mật. Ta có một
hồ sơ về tiền kiếp của con, cùng với những lời tiên
tri của các chiêm tinh gia. Cuộc đời của con sẽ khổ nhọc
lúc đầu, nhưng nó sẽ được thành công mỹ mãn. Con sẽ
đi châu du khắp nơi trên thế giới, biết được nhiều xứ
lạ mà con chưa hề nghe nói đến bao giờ. Con sẽ chứng kiến
bao nhiêu cảnh chết chóc, tàn phá với một sự bạo tàn khủng
khiếp vượt ngoài sức tưởng tượng. Con đường của con
sẽ rất dài và gian khổ, nhưng nó sẽ thành tựu tốt đẹp
như đã tiên liệu từ trước.
Tại
sao người nói với tôi những điều này, mà tôi đã thuộc
lòng từ lâu, không sót một chữ, kể từ năm tôi lên bảy?
Tôi cũng biết rằng sau khi tốt nghiệp nghành y khoa và giải
phẫu ở Tây Tạng, tôi sẽ đi tu nghiệp thêm ở Trung Hoa.
Nhưng đức Phật Sống vẫn tiếp tục nói chuyện. Ngài căn
dặn tôi nên giữ gìn, không nên biểu lộ quyền năng hay nói
về các vấn đề bản thể hoặc linh hồn, khi tôi sống ở
các nước Tây Phương. Ngài nói:
- Ta
đã từng đi qua Ấn Độ và Trung Hoa. Ở những nước ấy,
người ta có thể bàn luận về những Chân Lý trừu tượng
siêu hình, nhưng ta đã gặp nhiều người đến từ các nước
Tây Phương. Họ không có sự nhận định về các giá trị
tâm linh như chúng ta, họ chỉ biết có thương mại với bạc
vàng. Các nhà bác học của họ nói: "Các người hãy chỉ
cho chúng tôi thấy sự có thật của linh hồn. Hãy đưa nó
ra cho chúng tôi xem, để chúng tôi có thể sờ mó, cân lường
và nhìn thấy phản ứng của nó đối với chất át xít. Hãy
chỉ cho chúng tôi thấy cơ cấu tế bào của nó, cùng những
phản ứng hóa chất của nó. Chúng tôi cần một bằng chứng,
một bằng chứng cụ thể..." Họ sẽ nói với con như vậy,
mà không biết rằng với cái thái độ tiêu cực và nghi ngờ
đó, họ đã tiêu hủy tất cả mọi dịp may để có được
cái bằng chứng mà họ đòi hỏi... Thôi, chúng ta hãy uống
trà chứ...
Ngài
gõ nhẹ một cái vào cái cồng nhỏ bằng đồng, và ra lịnh
cho một vị Lạt Ma, người này liền trở lại ngay khi đó
với trà bơ và bánh kẹo nhập cảng từ bến Ấn Độ. Trong
khi chúng tôi dùng trà bánh, đức Phật Sống nói chuyện với
tôi về xứ Ấn Độ và Trung Hoa. Ngài cũng nói rằng Ngài
muốn tôi phải học ráo riết và ngài sẽ chọn những vị
đạo sư đặc biệt để huấn luyện cho tôi. Không thể tự
chủ được sự bồng bột của tuổi trẻ, tôi nói luôn:
- Bạch
Thái Tuế, chắc không ai giỏi hơn Minh Gia Đại Đức, Sư phụ
của con!
Đức
Đạt Lai Lạt Ma nhìn tôi một lúc, rôi phát tiếng cười lớn.
Có lẽ chưa có ai đã từng nói với Ngài bằng một giọng
như thế, đừng nói chi đến một đứa trẻ mới lên tám
tuổi. Sự thẳng thắn của tôi dường như làm cho Ngài thích
thú, Ngài nói:
- Như
vậy, theo ý con, Minh Gia Đại Đức là người giỏi nhất trên
đời này? Con hãy nói cho ta biết con nghĩ thế nào về Đại
Đức. Hở, con gà tre con cứng cựa!
- Vạn
bạch Thái Tuế, Ngài đã nói rằng năng khiếu Thần Nhãn của
con là một quyền năng ít có. Như vậy, con xin bẩm Ngài rằng
Minh Gia Đại Đức là người tài ba lỗi lạc nhất mà con
đã gặp!
Đức
Đạt Lai Lạt Ma vừa cười lớn vừa gõ vào cái cồng đặt
bên cạnh Ngài. Vị Lạt Ma hầu cận lúc này lại bước vào,
Ngài nói:
- Hãy
mời Minh Gia Đại Đức vào.
Minh
Gia Đại Đức bước vào và vái chào đức Phật Sống. Ngài
phán:
Hỡi
Minh Gia đạo hữu, ông hãy lấy một chiếc nệm và lại ngồi
đây. Người đệ tử trẻ của ông vừa nói chuyện với tôi
về ông đấy. Tôi hoàn toàn tán đồng sự xét đoán của
y.
Sư
Phụ ngồi xuống gần bên tôi. Đức Đạt Lai Lạt Ma lại
nói:
- Ông
đã đảm trách việc huấn luyện cho Lâm Bá. Vậy ông hãy
sắp đặt việc học của y thế nào tùy ý. Ông sẽ hỏi tôi
những văn thư ủy quyền mà ông cần dùng. Thỉnh thoảng,
tôi sẽ gặp lại Lâm Bá sau này.
Ngài
quay về phía tôi và nói:
- Con
đã chọn lựa đúng đấy. Sư Phụ con là một bạn cũ của
ta lúc thiếu thời và là một bậc danh sư về khoa Huyền Môn.
Sau
khi đã trao đổi vài lời, chúng tôi đứng dậy vái chào từ
biệt đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhìn sắc diện của người, tôi
đoán rằng trong thâm tâm, Minh Gia Ðại Ðức rất bằng lòng
về tôi và về cái ấn tượng mà tôi đã gây ra trong buổi
yết kiến vị Nguyên Thủ. Người nói:
- Chúng
ta sẽ ở lại đây vài ngày, và sẽ viếng thăm vài nơi trong
cung điện. Ở tầng dưới, có những dãy hành lang và những
gian phòng kín chưa từng có chân người bước đến kể từ
hai thế kỷ nay. Ở đó, con sẽ học hỏi được nhiều điều
về huyền sử của xứ Tây Tạng.
Một
trong những vị Lạt Ma hầu cận đức Phật Sống đến gặp
chúng tôi và cho biết rằng có hai phòng đã được dành sẵn
cho thầy trò chúng tôi trên nóc điện Potala. Nói xong, người
đưa chúng tôi đến nơi và tiếp:
- Đức
Thái Tuế có ra chỉ thị hãy để cho hai vị quý khách được
đi lại tự do và mở rộng hết các cửa cho quý vị.
Tôi
lấy làm vô cùng hứng khởi mà thấy gian phòng của tôi nhìn
thẳng xuống thủ đô Lhassa và vùng đồng bằng chung quanh.
Sư
Phụ khuyên tôi hãy nằn nghỉ giây lát. Cái thẹo do vết phỏng
ở đùi bên trái hãy còn làm cho tôi đau đớn khó chịu, và
tôi phải đi khập khễnh. Có lúc người ta đã lo sợ rằng
không khéo tôi sẽ bị phế tật suốt đời. Tôi bèn nằm
nghỉ trong một giờ, cho đến khi Sư Phụ trở lại với trà
và vài món ăn. Người nói:
- Lâm
Bá, đây là vài món quà sáng để con dùng tạm đỡ lòng.
Thức ăn ở đây rất ngon, chúng ta hãy thưởng thức tự nhiên.
Tôi
không cần sự thúc giục nào nữa để tuân lịnh Sư Phụ.
Khi chúng tôi đã ăn xong, Sư Phụ đưa tôi đến một gian phòng
ở phía bên kia nóc diện. Tôi thấy làm lạ mà thấy ở các
cửa sổ đều có lót kiếng. Tôi chưa từng nhìn thấy cửa
kiếng bao giờ.
Nhưng
chưa phải là hết. Sau khi mở các cửa sổ, Sư Phụ tôi còn
đưa cho tôi xem một cái ống bằng đồng có bao da, giống
một cái kèn không có loa. Đó là lần đầu, tôi được thấy
một cái ống dòm để nhìn xa. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đem
từ Ấn Độ về đây nhiều ống dòm dài ngắn đủ cỡ mà
Ngài rất thích dùng để ngắm nhìn phong cảnh. Cũng chính
ở điện Potala, mà lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy
hình bóng tôi phản chiếu trong một tấm gương, nhưng không
nhận ra người trong gương, một đứa trẻ nhỏ xanh xao, với
một cái thẹo lớn ở giữa trán và một cái mũi hơi lồi!
Có
lẽ người ta sẽ nghĩ rằng một xứ không có cửa kiếng,
ống dòm và gương soi như Tây Tạng chắc sẽ là một xứ
lạ lùng, nhưng thật ra dân tộc xứ này không hề mong ước
có những thứ ấy. Họ cũng không cần dùng tới các loại
xe cộ. Các loại xe dùng để phục vụ tốc lực và cái gọi
là "văn minh." Từ lâu họ đã hiểu rằng đời sống doanh
thương là một cuộc đời quá ư náo động để có thể dành
thời giờ cho việc tu dưỡng tâm linh. Từ bao nhiêu nghìn năm
về trước, người Tây Tạng đã từng khám phá những bí
quyết của các hiện tượng Thần Nhãn, thần giao cách cảm
và những hiện tương siêu hình khác. Nhiều vị Lạt Ma Tây
Tạng có thể ngồi mình trần trên tuyết lạnh và làm tan
rã băng tuyết chỉ bằng quyền năng của ý chí. Các vị ấy
cũng có thể khinh thân nhẹ bổng lên không trung, nhưng họ
không bao giờ dùng những quyền năng đó để biểu diễn trước
công chúng. Một vị danh sư Tây Tạng luôn luôn đặt các đệ
tử trước những cuộc thử thách để biết chắc rằng họ
xứng đáng được truyền thụ những bí thuật thần thông.
Bởi đó, những quyền năng siêu nhiên không bao giờ được
biểu diễn một cách hời hợt, vô trách nhiệm, mà chỉ được
truyền dạy trong vòng bí mật cho những đệ tử thật xứng
đáng. Những quyền năng đó không có gì là nhiệm mầu, mà
chỉ là kết quả của việc áp dụng một vài định luật
thiên nhiên.
Ở
Tây Tạng, có người cần phải sống lẫn lộn với người
đời để tự trau dồi và tự tu luyện bản thân, có người
lại càng từ bỏ cuộc đời thế gian để sống ẩn dật
trong âm thầm. Những người này tìm đến những tu viện hẻo
lánh trên non cao núi thẳm, tại đây họ ở trong một xà lim
hay gian phòng nhỏ hẹp, với những vách tường bằng đá đôi
khi dầy đến hai thước, để ngăn chận cho mọi tiếng đông
cho khỏi lọt vào từ bên ngoài. Khi người tu sĩ đã quyết
định nhập thất ở nơi đó, người ta mới khóa chặt cửa
vào, và y sẽ sống trơ trọi một nình trong gian phòng bằng
đá ấy, không ánh sáng, không bàn ghế, không có gì cả. Mỗi
ngày một lần, y được cung cấp đồ vật thực do một cái
lỗ trống kín đáo, xuyên qua đó không hề có ánh sáng hay
tiếng động nào lọt vào. Tới kỳ nhập thất kéo dài trong
ba năm ba tháng và ba ngày, trong khi đó y sẽ thiền định về
ý nghĩa của cuộc đời và bản thân của con người. Thể
xác của y không được rời khỏi phòng bất cứ vì lý do
nào. Một tháng trước khi chấm dứt cuộc nhập thất, nóc
phòng của y được soi một lỗ nhỏ để lọt vào một tia
ánh sáng lờ mờ. Kế đó lỗ nhỏ ấy sẽ được nới rộng
lần lần để cho đôi mắt người tu sĩ tập quen trở lại
với ánh sáng mặt trời, chứ nếu không, y sẽ bị mù lòa
khi y bước ra khỏi phòng.
Có
nhiều trường hợp rất thường xảy ra, là sau vài tuần sống
trở lại cuộc đời thế tục, các tu sĩ ấy lại quay trở
về nơi nhập thất của họ và ở luôn ở đó cho đến mãn
đời.
Một
cuộc đời như thế không phải là khô khan hay vô ích như
người ta có thể tưởng. Còn người là một linh hồn, có
tiềm năng sinh hoạt ở một cõi giới khác hơn cõi trần.
Một khi đã giải thoát khỏi sự trói buộc của thể xác,
y có thể đi châu du khắp nơi trong vũ trụ càng khôn và giúp
đời bằng sức mạnh tư tưởng của mình. Ở Tây Tạng, người
ta biết rằng tư tưởng là những âm ba rung động của tinh
lực. Vật chất chỉ là tinh lực đông đặc lại. Một tư
tưởng, nếu biết điều khiển đúng cách và kết tinh lại,
có thể làm di chuyển một đồ vật. Nếu biết điều khiển
nó theo phương pháp thần giao cách cảm, người ta có thể
làm cho một người khác ở cách xa cảm nhận được ý nghĩ
của mình và hành động một cách thích nghi theo ý mình muốn.
Việc học Đạo của tôi không cần có sự nhập thất dài
hạn trong một gian phòng u tối. Nó được thực hiện theo
một phương pháp đặc biệt, nhằm thực hiện một mục tiêu
nhất định, theo lịnh dạy khẩn thiết của đức Đạt Lai
Lạt Ma. Chương trình học Đạo của tôi gồm những vấn đề
thuộc về khoa Huyền Môn mà tôi không tiện nêu ra trong một
quyển sách dành cho đại chúng. Tôi chỉ có thể nói rằng
tôi được thụ huấn về nhiều vấn đề mà phần đông các
tu sĩ không thể học cho hết được trong thời gian suốt cả
một đời người. Cuộc viếng thăm điện Potala của tôi có
liên hệ đến phần đầu của sự huấn luyện nói trên.
Những
kho vật dụng của điện Potala chứa đầy những pho tượng
rất quý giá, những kinh sách cổ và những tranh vẽ trên tường
trình bày những đề tài tôn giáo. Trãi qua nhiều thế kỷ,
những tặng phẩm quý giá từ các nơi trên thế giới được
gửi đến điện Potala để cống hiến cho các vị Đạt Lai
Lạt Ma trong quá khứ. Hầu hết những phẩm vật này đều
chất trong những phòng đặc biệt, tại đây tôi đã trải
qua nhiều giờ nhìn các đồ phẩm vật ấy một cách thích
thú bằng nhãn quang thần thông để biết thâm ý của những
người tặng quà. Đó là một tài liệu xác đáng để biết
những tư tưởng thầm kín của người đời. Khi tôi xác định
những ấn tượng mà một phẩm vật đã gây ra cho tôi, Sư
Phụ tôi lật một quyển sách và thuật cho tôi nghe lịch sử
từ thuở sơ khai của nó cho đến bây giờ. Tôi lấy làm hứng
khởi mà nghe Sư Phụ khen tặng tôi:
- Khá
khen cho con, Lâm Bá, con đã có những tiến bộ hiển nhiên,
không thể chối cãi.
Trước
khi rời khỏi điện Potala, chúng tôi xuống thám hiểm một
trong những đường hầm. Người ta cho tôi biết rằng còn
những con đường hầm khác sẽ được chỉ cho tôi sau này.
Mỗi người cầm một ngọn đuốc, chúng tôi rón rén cẩn
thận bước xuống một cầu thang dài vô tận, đưa xuống
những ngõ ngách giao thông mà hai bên vách đều bằng đá.
Tôi được biết rằng những đường hầm này sở dĩ có là
do bởi một cơn địa chấn và núi hỏa diệm sơn gây nên
từ nhiều ngàn năm nay. Trên vách, tôi nhìn thấy những hình
kỷ nà rất lạ lùng và những hình vẽ các hoạt cảnh mà
tôi không nhận ra là hình gì. Tôi nôn nao muốn đến xem cái
hồ ở dưới lòng đất, mà tôi nghe nói rằng vị trí của
nó nằm ở chỗ cuối cùng của một hang nghách và cái hồ
ấy rộng đến nhiều cây số vuông. Sau cùng, chúng tôi đi
đến một đường hầm, lúc đầu còn nhỏ hẹp, nhưng nó
trở nên rộng lớn dần, cho đến khi những vòm cao của nó
chìm hẳn trong bóng tối, ngoài tầm ánh sáng của các ngọn
đuốc.
Đi
độ chừng một trăm thước, chúng tôi đã đến bờ hồ,
nước đọng và đen như mực, đến nỗi người ta có cảm
giác rằng đó không phải là hồ nuớc mà là một cái lỗ
không đáy đen ngòm. Không một gợn sóng nhỏ hay một vết
nhăn trên mặt hồ, cũng không một tiếng động làm gián đoạn
cái im lặng chết người. Ánh sáng các ngọn đuốc chiếu
lóng lánh trên tảng đá đen ngòm ở dưới chân chúng tôi.
Một cái gì chiếu sáng trên vách đá. Tôi bước lại gần
nhìn xem thì thấy vách đá có chứa đựng một mạch vàng
lớn từ năm đến bảy thước bề dài. Ngày xưa, nhiệt độ
cao đã làm chảy mạch vàng này, vàng đã tan rã ra như chất
sáp lỏng của một ngọn đèn bạch lạp, rồi sau đó đã
trở nên nguội dần và đông đặc lại.
Minh
Gia Đại Đức phá tan sự im lặng:
- Cái
hồ này thông ra đến con sông Tsang Po, cách đây sáu mươi
cây số. Cách đây đã lâu, một nhóm sư sãi mạo hiểm kết
bè, đốt đuốc và chèo ra khơi. Họ trèo ra xa đến hàng bao
nhiêu cây số trên mặt hồ hoàn toàn xa lạ, không định hướng,
và sau cùng họ đến một chỗ mà mặt hồ nới rộng ra, đến
nỗi không còn nhìn thấy vòm đá ở trên đầu và vách đá
ở hai bên nữa. Họ vẫn tiếp tục chèo mà không biết phải
theo hướng nào...
Tôi
vừa nghe vừa hình dung cảnh tượng lúc ấy, dường như tôi
cũng đang ngồi trên bè với các sư sãi. Sư Phụ nói tiếp:
- Họ
đã đi lạc mà không thể nào tìm ra phương hướng được
nữa. Thình lình, chiếc bè lật nghiêng, đuốc của họ bị
một ngọn gió thổi tắt, và họ chới với giữa cảnh tối
đen như mực. Họ bám víu lấy chiếc bè, xoay vòng trên mặt
hồ giữa đêm tối, bàng hoàng kinh sợ và đã bắt đầu có
người nhuốm bịnh. Chiếc bè bị gió cuốn đi mau đến nỗi
những ngọn sóng nhỏ tràn lên bè và làm cho họ bị ngâm
nước lạnh thấu xương. Mỗi lúc bè càng trôi mau hơn, dường
như có một bàn tay vô hình lôi cuốn họ đi vào chỗ chết.
Cuộc phiêu lưu đó đã kéo dài bao lâu, họ cũng không biết
vì họ đã mất cả ý niệm về thời gian. Không có một ánh
sáng nào chung quanh, bóng tối dày đặc và đen kịt dường
như chưa hề có bao giờ trên mặt đất. Chiếc bè tre bị
sóng dập gió vùi, những ngọn gió mạnh như vũ bão thổi
rít lên từng chập, bè lật nghiêng, họ bị lật nhào và
chìm dưới đáy nước. Vài người chỉ có đủ thời giờ
để hít một hơi thở còn những người khác thở không kịp
thì bị chìm xuống. Những người sống sót trôi dạt bềnh
bồng cho đến khi họ nhìn thấy một ánh sáng xanh lợt, mờ
mờ và mỗi lúc càng tỏ rạng. Sau cùng, họ trôi dạt vào
bờ dưới ánh nắng mặt trời.
Hai
vị sư sãi đã tấp vào bờ, thân hình đầy những vết máu
và vết bầm dập, ngất ngư như người hấp hối. Ba người
khác đã biệt mất tăm hơi, không để lại dấu tích. Suốt
nhiều giờ, họ nằm sõng sượt trên mặt đất, trước nanh
vuốt của Tử Thần giữa sự sống và cái chết. Sau cùng,
một người hồi tỉnh lại và mở mắt nhìn quanh. Điều mà
y nhìn thấy làm cho y xúc động muốn xỉu. Đằng xa, nhô lên
ngọn đồi của điện Potala, chung quanh có những con yak đang
ăn cỏ trên những cánh đồng xanh tươi. Ý nghĩ đầu tiên
đến với họ là: Chắc có lẽ họ đã chết và họ đang
ở trên một cõi trời Tây Tạng. Ngay khi đó họ nghe có tiếng
chân người bước đến gần: đó là một kẻ mục đồng
đang cúi xuống nhìn họ. Người mục đồng này vừa vớt
lên mảng tre tàn của chiếc bè mà y nhìn thấy trôi lênh đênh
trên sông Tsang Po. Khi y được nghe câu chuyện kể lại và
biết rằng họ là các sư sãi, người mục đồng bèn đi đến
điện Potala để báo động và tìm những chiếc cáng để
khiêng họ về. Kể từ khi đó, ít có người mạo hiểm đi
trên hồ, nhưng người ta biết rằng có những hòn đảo nhỏ
ở trong đó, mà đã được một lần thám hiểm. Điều mà
người ta tìm thấy trên hòn đảo đó, con sẽ được biết
vào lúc nhập môn.
Tôi
nghe nói vậy, liền mong ước được thả bè đi trên hồ ngay
lập tức!
Sư
Phụ nhìn tôi và cười:
- Thật
vậy, đó là một kinh nghiệm lý thú, nhưng cần gì phải nhọc
sức đi đến nơi khi người ta có thể đi thám hiểm nơi đó
dễ dàng bằng cách "xuất vía?" Con có thể thực hiện điều
đó, Lâm Bá, và trong vài năm con có thể cùng ta đi thám hiểm
cái hồ ấy rồi góp phần hiểu biết của con vào phần kiến
thức mà chúng ta đã có về vấn đề này. Nhưng bây giờ
thì, con hỡi, con còn phải học hỏi rất nhiều.
Ánh
lửa trên ngọn đuốc của chúng tôi sắp tắt, và tôi tưởng
rằng chúng tôi chắc sẽ phải đi mò trong đêm tối như những
người mù. Lúc sắp trở về, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã
quá vô tâm đến nỗi không đem theo thêm vài ngọn đuốc để
thắp nối. Ngay lúc đó, Minh Gia Đại Đức thò tay vào một
lỗ trống ẩn dấu trên vách đá, lấy ra những ngọn đuốc
mới rồi thắp nối theo những cây đuốc đã tàn. Người
nói:
- Chúng
ta có dự trữ sẵn đuốc ở đây, vì thật khó mà tìm thấy
đường về trong bóng tối. Bây giờ, chúng ta lên đường!
Chúng
tôi đi lần mò một cách vất vả khó nhọc theo những đường
hầm lên dốc, thỉnh thoảng ngừng lại để thở và nhìn
những tranh vẽ trên vách. Tôi không hiểu ý nghĩa những hình
vẽ này là như thế nào. Trái lại, Sư Phụ tôi rõ ràng là
đã rất thành thạo về những hình ảnh đó và người đi
lại trong các đường hầm tối đen này một cách quen thuộc
như ở nhà. Tôi linh cảm ở chỗ này hẳn là có điều gì
bí mật và định thối lui lại để tìm cách khám phá ra cái
cửa bí mật của con đường hầm này, nhưng giọng nói của
Sư Phụ gián đoạn dòng tư tưởng của tôi:
- Lâm
Bá, con lẩm bẩm như một ông già! Chỉ còn vài nấc thang
nữa, là chúng ta sẽ thấy lại ánh sáng mặt trời. Khi lên
tới nóc điện, ta sẽ chỉ cho con thấy chỗ mà các sư sãi
ngày xưa đã ngoi lên mặt đất sau cuộc thám hiểm của họ.
Khi
chúng tôi lên tới nóc điện Potala, Sư Phụ làm theo lời hứa,
và tôi đã muốn phóng lên lưng ngựa phi nước đại trên
sáu chục cây số để nhìn xem chỗ ấy tận mắt. Nhưng Sư
Phụ tôi nói rằng không có gì khác hơn là cảnh vật mà tôi
đã nhìn thấy trong ống dòm. Lối thoát lên mặt đất của
cái hố này vốn nằm dưới mực nước rất sâu và không
có gì để ghi dấu cho biết nó nằm chỗ nào, trừ ra một
chòm cây được trồng ở phía trên do lịnh truyền của đức
Đạt Lai Lạt Ma trong kiếp trước.