Đời
Người Tu Sĩ Sơ Cơ
Tại
tu viện Chakpori, một "Ngày" của chúng tôi bắt đầu từ lúc
nửa đêm. Khi tiếng kèn điểm giờ tý canh ba vang dội âm
thanh đến những hành lang u tối, chúng tôi còn đang ngái ngủ,
đã phải thức dậy xếp lại nệm chiếu và dò dẫm tìm cái
áo tràng trong bóng tôi. Mặt áo xong, chúng tôi vừa bước
ra đi vừa dồn mọi đồ vật dụng vô áo tràng. Chúng tôi
bước xuống thang lầu và nện gót giầy trên cầu thang với
những tiếng động ồn ào, vì vào giờ này, chúng tôi thường
bực bội không vui. Trong phần giáo lý của chúng tôi có câu:
"Thà nghỉ ngơi với một tâm hồn an tỉnh hơn là ngồi tham
thiền tụng niệm mà ôm cơn tức giận trong lòng". Tôi thường
có một ý nghỉ bất kín: Nếu vậy tại sao người ta không
để cho chúng tôi nghỉ ngơi trong sự yên tỉnh? Sự thức
giấc vào lúc nữa đêm này làm cho tôi tức giận!
Nhưng
không ai đã đưa cho tôi một lời giải đáp thỏa đáng, thành
thử tôi phải đi cùng với mọi người vào nhà Nguyện Đường
để dự cuộc lễ cầu nguyện ban đêm. Tại đây, vô số
những ngọn đèn thắp bằng bơ chiếu ánh sáng rung rinh xuyên
qua những luồng khói hương nghi ngút bay lượng trong không
khí. Dưới ánh sáng lập lè này, và giữa những bóng người
qua lại, những pho tượng khổng lồ của các vị Thần dường
như cũng cử động và hình như cũng nghiên mình đáp lại
những tiếng thánh ca của các sư sãi.
Hàng
năm các sư sãi và thiếu niên Sơ Cơ ngồi xếp bằng trên
những tấm nệm xếp thành những hàng dài trong nhà Nguyện
Đường. Họ ngồi day mặt đối diện với một hàng và xoay
lưng vào một hàng. Họ cất tiếng hát những bản thánh ca
du dương dùng những tiết điệu đặt biệt, vì người Đông
Phương đã từng hiểu biết về những quyền năng của âm
thanh. Cũng như một âm thanh được phát ra đúng cách, có thể
làm bể một cái ly thì một bản nhạc dùng nhiều thanh điệu
ghép lại theo một tiết điệu nhất định cũng có quyền
năng siêu hình, thần bí. Trong buổi lễ, cũng có đọc kinh
Kangyur. Thật là một cảnh tượng uy hoàng mà thấy hàng trăm
sư sãi mặt áo tràng màu đỏ sẩm, với mảnh lụa yểm tâm
màu vàng che trước ngực, vừa nghiêng mình vừa hát hòa tấu
những bài thánh ca, kèm theo tiếng ngân của những cái chuông
nhỏ và tiếng trống. Những đám khói hương trầm và đèn
nhan nghi ngút luồng qua chân các pho tượng thần khổng lồ
và người ta có cảm giác rằng giữa cái ánh sáng âm u đó,
những pho tượng ấy cũng nhìn chúng tôi dường như để chứng
kiến cuộc lễ uy nghiêm.
Buổi
lễ kéo dài gần một giờ, sau đó chúng tôi trở về phòng
để ngủ lại cho đến bốn giờ sáng. Một cuộc lễ sớm
bắt đầu vào lúc bốn giờ một khắc. Đến năm giờ, chúng
tôi ăn điểm tâm với Tsampa và trà pha bơ. Dẫu cho trong khi
ăn, chúng tôi còn phải lắng nghe giọng nói đọc âm chán
phèo của vị sư sướng ngôn, và cùng lúc đó vị sư giám
thị ngồi kế bên dò xét chúng tôi với cặp mắt cú vọ.
Trong dịp này người ta đưa ra cho chúng tôi tất cả mọi
thông tri và huấn lịnh. Thí vụ như trong trường hợp có
việc cần phải đi ra thành phố Lhassa, thì trong giờ ăn điểm
tâm người ta nêu tên những sư sãi có phận sự lãnh công
việc đó, chỉ có những vị này mới được phép rời khỏi
tu viện trong một khoảng thời gian nhất định và được
phép vắng mặt trong một vài buổi lễ trong ngày.
Đến
sáu giờ, chúng tôi vào lớp học, chuẩn bị cho buổi học
đầu tiên. Lời răng thứ nhì của Phật Giáo Tây Tạng dạy
rằng: "Người sẽ làm tròn bổn phận tôn giáo và người
sẽ học hỏi kinh thánh". Trong sự ngây thơ của tuổi lên
bảy, tôi không hiểu tại sao người ta phải tuân theo Lời
Răn này trong khi lời răn thứ năm: "Ngươi phải kính trọng
những bật trưởng thượng và những người thuộc dòng quý
tộc" lại không được tuyệt đối tuân theo? Thật vậy, kinh
nghiệm của tôi cho tôi thấy rằng có một cái gì hổ thẹn
mà sinh trưởng làm con nhà "Quý phái". Tôi thật sự đã là
nạn nhân của sự "Quý phái" đó. Hồi đó tôi không hiểu
rằng giai cấp của một người không phải là điều quan trọng
mà chỉ có đức hạnh mới là đáng kể.
Đến
chín giờ, chúng tôi ngưng học trong bốn mươi phút để dự
một cuộc lễ khác. Sự gián đoạn này đôi khi cũng dễ chịu
nhưng chúng tôi phải trở về lớp học vào mười giờ kém
mười lăm phút. Khi đó, một môn học khác lại bắt đầu
và kéo dài cho đến một giờ trưa. Chúng tôi vẫn chưa được
phép ăn uống gì mà phải dự một cuộc lễ trưa độ nửa
giờ trước khi dùng bữa ăn trưa. Kế tiếp là một giờ làm
công việc nhà để giúp cho chúng tôi vận động cơ thể và
để dạy chúng tôi đức tính khiêm tốn. Những công việc
dơ bẩn nhất và khó chịu nhất được giao phó cho tôi, dường
như nhiều lần hơn là tới phiên tôi phải làm.
Đến
ba giờ chiều chúng tôi tụ hợp lại để nghỉ ngơi một
tiếng đồng hồ. Trong giờ đó, sự nghỉ ngơi bị bắt buộc;
cấm không được nói chuyện hay cử động; chúng tôi phải
giữ im lặng hoàn toàn. Chúng tôi không thích sự sắp đặt
đó chút nào, vì một giờ thì ít quá để ngủ trưa và dài
quá để ngồi yên không làm gì! Sau giờ nghỉ trưa đó, đúng
bốn giờ, chúng tôi trở lại lớp học. Đến đây mới bắt
đầu giai đoạn gian lao nhất trong ngày, nó kéo dài suốt năm
tiếng đồng hồ, không một chút nào nghỉ ngơi, trong năm
tiếng đồng hồ đó chúng tôi không được phép rời khỏi
lớp học vì bất cứ một lý do nào, nếu trái lịnh, chúng
tôi sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Các vị thầy học
sử dụng những gậy to lớn một cách tự do, có vài vị tỏ
ra rất sốt sắng trong việc trừng phạt những kẻ vi phạm,
chỉ có những học trò nào không thể chịu đựng được
nữa hoặc những kẻ thật ngu xuẩn mới xin phép vắng mặt
"đi ra ngoài" vì khi họ trở về lớp, sự trừng phạt là
điều không thể tránh khỏi.
Đến
chín giờ tối, chúng tôi mới được "giải thoát" để dùng
bữa ăn cuối cùng trong ngày, cũng chỉ gồm có bấy nhiêu
món là trà bơ và Tsampa. Đôi khi, nhưng cũng rất hiếm, chúng
tôi được ăn rau, thường là những khoanh củ cải trắng
hay đậu Hòa Lan. Những thứ rau đậu này chỉ ăn sống, nhưng
cũng ăn được đối với những thiếu niên sinh bụng đói.
Có một lần, năm tôi lên tám tuổi, người ta cho chúng tôi
ăn búp măn Tây trộn dấm. Tôi rất thích ăn măn tây, vì tôi
thường được ăn món ấy hồi còn ở nhà. Vì ăn còn thèm,
tôi đã dại dột đề nghị với một bạn trẻ ngồi gần
bên để đổi cái áo tràng thứ hai của tôi lấy phần ăn
của nó. Vị sư giám thị bắt gặp quả tang chuyện này, bèn
gọi tôi ra đứng giữa phòng ăn để công khai thú tội trước
mặt mọi người. Để trừng phạt tội tham ăn của tôi, tôi
phải chịu nhịn đói, nhịn khát trong hai mươi bốn giờ,
còn cái áo tràng của tôi thì bị tịch thu; họ viện lẽ
rằng nó không có ích lợi gì cho tôi vì tôi đã muốn đổi
nó lấy một vật không cần thiết lắm!
Đến
chín giờ rưởi, chúng tôi trở về phòng. Ai cũng muốn về
mau để đi ngủ! Lúc đầu, tôi nghỉ rằng những giờ học
dài quá mức đó có thể làm hại sức khỏe tôi, và có lẽ
tôi sẽ lăn ra chết bất cứ lúc nào hoặc là tôi sẽ ngủ
luôn để không bao giờ thức dậy nữa. Cùng với những ma
mới khác, chúng tôi thường rút lui vào một góc hẻo lánh
để ngủ gà một giấc. Nhưng lần lần, tôi đã quen rất
mau với cái thời khắc biểu khắc nghiệt đó, và sau cùng,
những chuỗi ngày dài vô tận đó không còn làm cho tôi khó
chịu nữa.
Lúc
ấy đã gần sáu giờ khi người thiếu niên dẫn đường đưa
tôi đến trước cửa tư thất của Minh Gia Đại Đức. Tuy
tôi không gõ cửa, người cũng lên tiếng trước gọi tôi
vào. Phòng khách của Đại Đức rất trang nhã với những
bức tranh tuyệt đẹp, vài bức tranh được vẽ ngay trên tường
và những bức họa khác được vẽ trên những tấm màn trướng
bằng lụa. Trên những bàn nhỏ có sắp những pho tượng các
vị thần hay thần nữ bằng vàng hoặc bằng cẩm thạch. Trên
tường cũng có gắng một bánh xe luân hồi rất lớn, biểu
tượng của định luật Tuần Hoàn trong vũ trụ, ngồi theo
tư thế liên hoa trên một tấm nệm, trước một cái bàn đầy
những sách vỡ, vị Lạt Ma đang nghiên cứu kinh điển khi
tôi bước vào. Người nói:
- Lâm
Bá, con hãy ngồi đây gần bên ta, chúng ta sẽ nói chuyện
nhiều. Nhưng trước hết, đối với một thiếu niên đang
ở tuổi sắp lớn, ta cần hỏi con một câu: Con có được
ăn uống đầy đủ hay không?
- Bạch
Ngài, có.
- Sư
Trưởng có nói rằng chúng ta có thể làm việc chung với nhau.
Chúng
ta đã tìm thấy được tiền kiếp của con: Con đã tiến bộ
khá lắm. Bây giờ chúng ta muốn phát triển lại vài khả
năng và sở đắt mà con đã thu thập được trong kiếp sống
vừa qua. Chúng ta muốn rằng trong khoảng vài năm, con sẽ thu
hoạch được nhiều kiến thức hơn là một vị Lạt Ma có
thể thu thập được suốt cả một đời.
Nói
đến đây, Đại Đức bèn ngừng lại và chăm chú nhìn tôi
một lúc rất lâu, với đôi mắt sáng dường như soi thấu
mọi vật. Người lại nói:
- Mọi
người phải được tự do chọn lựa con đường của mình.
Tương lai của con sẽ rất gian lao khổ cực trong bốn mươi
năm nếu con chọn con đường tốt, nó sẽ đưa đến những
phần thưởng lớn lao trong kiếp sau. Trái lại, trên con đường
dở, con sẽ được giàu sang với đầy đủ mọi sự tiện
nghi sung sướng của cõi trần nhưng con sẽ không có được
sự tiến bộ tâm linh. Vậy con hãy tự mình quyết định lấy.
Nói
xong, người nhìn tôi chờ đợi. Tôi đáp:
- Bạch
Ngài, cha con có nói rằng nếu con thất bại và rời khỏi
tu viện, con không nên trở về nhà. Làm sao con có thể sống
cuộc đời sung sướng tiện nghi nếu con không có nhà để
trở về? Và ai sẽ chỉ dẫn cho con theo con đường tốt nếu
con chọn đường đó?
Đại
Đức mỉm cười và nói:
- Con
đã quên rồi chăng? Chúng ta đã tìm thấy lại được kiếp
trước của con.
- Nếu
con chọn con đường dở, tức con đường dể dãi tiện nghi,
con sẽ được quy định ngôi thứ trong một tu viện như một
vị Hóa Thân. Và trong vài năm, con sẽ được đưa lên chức
vị Sư Trưởng. Cha con chắc sẽ không cho đó là một sự
thất bại chứ?
Tôi
bèn hỏi tiếp:
- Bạch
Đại Đức, theo ý ngài đó có phải là một sự thất bại
không? Người đáp:
- Phải.
Với tất cả những gì mà ta biết, thì đối với ta, đó
là một sự thất bại.
- Bạch
Đại Đức, còn nếu con chọn đường tốt thì ai sẽ hướng
dẫn cho con?
- Ta
sẽ là người hướng dẫn con, nhưng con hãy tự mình quyết
định lấy, không ai có quyền ép buộc con hết cả.
Tôi
ngước mắt lên nhìn Đại Đức và tôi cảm thấy tôi yêu
mến người đối diện với tôi lúc ấy: Một người cao lớn,
với đôi mắt đen huyền, cái nhìn trong sáng, một gương mặt
cởi mở và một vầng tráng cao rộng. Phải, tôi cảm thấy
tràn đầy thiện cảm đối với người! Tuy tôi mới lên bảy,
cuộc đời tôi trước kia thật là vất vả khổ cực và tôi
đã từng gặp gỡ nhiều nhân vật: Thật sự tôi có thể
xét đoán tính chất của một người. Tôi nói:
- Bạch
sư phụ, con sẽ chọn con đường tốt và ước mong được
làm đệ tử của Ngài.
Tôi
nói thêm với một giọng băn khoăn:
- Nhưng
chắc là con sẽ không thích làm việc nhiều!
Đại
Đức cất tiếng cười lớn, một giọng cười cởi mở, nó
sưởi ấm lòng tôi và nói:
- Lâm
Bá, ở đời không ai là người thích làm việc nhiều, nhưng
ít có người thành thật nhìn nhận điều ấy.
Đại
Đức nhìn vào các giấy tờ trên bàn và nói:
- Một
phép luyện bí mật sẽ cần thiết để giúp cho con mở được
năng khiếu Thần Nhãn. Sau đó, chúng ta sẽ sử dụng khoa thôi
miên để hối thúc sự học hỏi của con cho mau có kết quả.
Chúng ta sẽ giúp cho con tiến rất xa trên các lãnh vực y khoa
và Huyền Môn.
Tôi
cảm thấy e ngại trước một chương trình bề bộn như thế:
Nó hứa hẹn một sự làm việc ráo riết không ngừng và khó
nhọc dường nào! Nhất là sau khi tôi đã trải qua bao nhiêu
sự học vấn khắc khổ trong bảy năm qua, không hề có dư
thời giờ cho các môn giải trí... và chơi diều!
Vị
Lạt Ma dường như đọc được tư tưởng của tôi. Người
nói:
- Thực
vậy, con hỡi. Sau này con sẽ có thời gian để chơi diều
nhưng đó sẽ là những con diều thật lớn và có thể chở
người ngồi bên trong. Còn hiện giờ, ta cần thiết lập một
thời khắc biểu hợp lý đến mức tối đa.
Sư
phụ tôi lại cúi xuống mớ giấy tờ trên bàn:
- Xem
nào, từ chín giờ sáng đến một giờ trưa, có được chăng?
Phải đấy, ta hãy bắt đầu như vậy. Con hãy đến đây mỗi
buổi sáng đúng chín giờ thay vì dự buổi lễ sáng và ta
sẽ thảo luận về những vấn đề quan trọng. Buổi học
đầu tiên sẽ là sáng mai. Con có muốn nhắn gì với cha mẹ
con không? Hôm nay ta sẽ đến viếng song thân của con, con hãy
đưa cho ta mớ tóc củ của con hôm trước!
Điều
đó làm tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Khi một thiếu niên được
nhận vào tu viện, người ta xuống tóc cho y và gởi cái bím
tóc dài vừa cắt xong cho cha mẹ y qua sự trung gian của một
thiếu niên Sơ Cơ để chứng minh rằng con của họ đã được
thâu nhận. Trong trường hợp này thì chính Minh Gia Đại Đức
đích thân đem cái bím tóc của tôi về nhà! Điều này có
nghĩa là từ nay Đại Đức sẽ hoàn toàn đảm trách cuộc
đời tôi và tôi sẽ trở nên đứa "con tâm linh" của người.
Minh
Gia Đại Đức là một nhân vật rất quan trọng, một người
có một trí thông minh hiếm có và được nổi tiếng khắp
nơi ở xứ Tây Tạng. Tôi tin chắc rằng dưới sự dìu dắt
của một vị sư như Ngài, tôi không thể nào thất bại.
Sáng
ngày hôm ấy, khi trở về lớp học, tôi làm một người học
trò rất lãng trí. Tôi để tư tưởng vẫn vơ đâu đâu, và
bởi đó vị giáo sư lại có dịp thỏa mản cái khuynh hướng
sử dụng gậy một cách thẳng tay!
Tôi
nhận thấy các giáo sư đã tỏ ra nghiêm khắc một cách quá
đáng. Nhưng để tự an ủi, tôi nghỉ rằng dầu sao tôi đến
đây là để học. Đó là lý do vì sao tôi đầu thai trở lại,
tuy rằng hồi đó tôi không được biết rõ tôi cần phải
học lại những gì.
Ở
Tây Tạng, người ta tin tưởng rất mạnh nơi sự luân hồi.
Họ tin rằng một người đã đạt tới một trình độ tâm
kinh nào đó, có thể chọn lựa sống trên một cõi giới khác,
hoặc trở lại thế gian để học hỏi thêm hay để giúp đỡ
kẻ khác. Có khi một nhà hiền giả đã hỏi phải thực hiện
một sứ mạng nhất định trong đời mình nhưng lại qua đời
trước khi hoàn thành sứ mạng. Trong trường hợp đó, người
ta tin rằng nhà hiền giả có thể tái sinh trở lại thế gian
để hoàn tất công việc đã bỏ dở trong kiếp trước, dưới
điều kiện là công việc ấy sẽ hữu ích cho nhân loại.
Không
mấy ai có thể nhờ người khác truy ra những tiền kiếp của
mình, việc ấy đòi hỏi một vài ấn chứng, tổn phí nhiều
tiền bạc và mất nhiều thì giờ. Những người nào cũng
như trường hợp của tôi có những ấn chứng đó được
gọi là những vị "Hóa Thân" (người đã tiến hóa cao, tình
nguyện đào thai trở lại cõi trần ngay sau khi chết, để
thực hiện một sứ mạng tâm linh cao cả). Những vị này
hồi còn trẻ được dạy dỗ theo một kỹ luật vô cùng khắc
khổ, giống như trường hợp của tôi, nhưng về sau đến
lúc trưởng thành họ được sự kính trọng của tất cả
mọi người. Về phần tôi, người ta sẽ dành cho tôi một
sự huấn luyện đặc biệt nhằm tăng cường những kiến
thức của tôi về khoa Huyền Môn. Để làm gì? Hồi đó, tôi
chưa được biết rõ lý do.
Những
cú roi giáng xuống như mưa làm tôi giật mình, và đưa tôi
trở về thực tế.
- Thằng
ngốc! Đồ gàn! Những ý nghỉ đen tối nào đã lọt vào trong
cái sọ dày đặt của mi? May cho mi vì đã đến giờ dự lễ
nếu không, chắc là mi còn bị ăn đòn!
Kèm
theo lời mắn mỏ ấy, vị giáo sư thịnh nộ đá vào đít
tôi một đá nên thân và bước nhanh ra khỏi lớp học. Một
bạn đồng môn của tôi nói:
- Bạn
đừng quên rằng trưa nay là tới phiên chúng ta phải làm công
tác dưới bếp, tôi hy vọng chúng ta có thể vô bao đầy món
Tsampa.
Công
tác làm bếp rất cực nhọc, vì những vị sư giám thị đối
xử với chúng tôi như những kẻ nô lệ. Không có vấn đề
nghỉ ngơi sau hai giờ công tác nặng nhọc đó. Làm bếp xong,
chúng tôi phải trở lại lớp học ngay. Đôi khi người ta
giữ chúng tôi ở lại bếp quá lâu nên chúng tôi đến lớp
học trễ giờ. Khi chúng tôi đến nơi thì vị giáo sư nổi
trận lôi đình phân phát cho chúng tôi một loạt những cú
roi, gậy như mưa, không để cho chúng tôi có chút mảy may
cơ hội để biện hộ cho sự trễ giờ đó!
Công
tác đầu tiên của tôi trong nhà bếp suýt nữa cũng là công
tác cuối cùng. Theo những hành lang lót đá, chúng tôi đi đến
nhà bếp... không chút hứng khởi trong lòng. Một sư sãi nét
mặt rất cáu kỉnh đứng đợi chúng tôi ở ngoài cửa. Khi
vừa thấy chúng tôi đến, y kêu to:
- Mau
lên, thật là một lũ lười biếng và vô dụng. Mười đứa
đầu tiên hãy vô nấu các nồi "xúp de"!
Tôi
lọt nhằm số mười, tôi bèn đi cùng với những thiếu sinh
khác xuống bếp do một cầu thang nhỏ. Dưới nhà bếp nóng
kinh khủng. Trước mặt chúng tôi, những bếp lò phát ra những
tia lửa đỏ. Nhiên liệu đốt lò là phân con Yak phơi khô
và ép thành từng bánh tròn, được chất lên từng đống
lớn gần bên các chảo đụn. Vị sư sãi chỉ huy việc nấu
bếp quát lớn:
- Hãy
vác xuổng lên và xúc phân khô đổ vô lò!
Tôi
chỉ là một đứa trẻ mới lên bảy tuổi lẫn lộn trong
đám thiếu sinh mà đứa trẻ nhất cũng không dưới tuổi
mười bảy. Tôi chỉ vừa đủ sức giơ cái xuổng lên toan
xúc phân cho vào lò thì tôi vô ý thế nào làm lật cái chảo
nước đang sôi lên hai bàn chân của vị sư sãi. Y thét lên
trong cơn thịnh nộ, nắm lấy cổ họng tôi xoay một vòng...
và loạng choạng té ngã. Tôi nhảy ra phía sau, nhưng tôi cảm
thấy đau nhói kinh khủng và ngửi thấy mùi da thịt cháy khét.
Tôi đã té ngã trên một cây sắt đầu nướng đỏ từ trong
bếp lò văng ra. Thét lên vì đau đớn, tôi ngã lăn giữa những
tro than cháy âm ỉ. Phần trên đùi bên trái của tôi, gần
chổ xương háng bị cháy đến tận xương, chổ da thịt bị
phỏng ấy đã để lại cho tôi một vết thẹo trắng, mà
hiện nay còn làm cho tôi khó chịu. Chính vết sẹo ấy về
sau đã làm cho người Nhật nhìn ra được tôi.
Một
cơn náo loạn đã diễn ra sau đó. Những sư sãi khác từ khắp
nơi vội vàng chạy đến. Người ta mau mau đỡ tôi đứng
dậy giữa đám tro tàn. Tôi bị những vết phỏng khắp thân
mình nhưng nặng nhất là vết thương ở bắp đùi. Người
ta mau cõng tôi lên những tầng lầu trên, ở đó, một vị
Lạt Ma y sĩ cố gắng chữa trị vết phỏng. Thỏi sắt nướng
đó là một vật dơ bẩn và để dính lại trong vết thương
những mạt cưa sắt rĩ sét. Vị y sĩ phải moi trong vết thương
để lấy ra những miếng sắt vụn này, cho đến khi vết phỏng
được rữa sạch trơn. Kế đó, y sĩ rắt thuốc lên vết
thương và băng bó cẩn thận. Còn những vết phỏng nhẹ ở
khắp thân mình thì y sĩ thoa lên một chất thuốc nước làm
bằng chất dược thảo nó làm cho tôi bớt đau rất nhiều.
Sự đau đớn, nhứt nhói vẫn âm ĩ và tôi tưởng chắc là
sẽ không còn sử dụng chân trái của tôi được nữa.
Khi
đã băng bó xong, vị Lạt Ma y sĩ gọi một sư sãi khiêng tôi
vào một gian phòng bên cạnh và đặt tôi nằm trên nệm. Một
vị sư già bước vào ngồi dưới đất ở bên cạnh giường
tôi và bắt đầu đọc kinh cầu nguyện. Tôi thầm nghỉ: "Thật
là tốt đẹp thay mà cầu nguyện ơn trên che chở cho tôi sau
khi tôi vừa bị một tai nạn!" Sau cái kinh nghiệm bản thân
về sự đau đớn cực hình này, tôi quyết định sẽ sống
một cuộc đời đức hạnh. Tôi nhớ đến một bức tranh
vẽ cảnh địa ngục, trong đó một quỷ sứ hành hình một
nạn nhân bằng cách lấy dùi sắt nhọn nướng đỏ đốt
thân hình y ở gần chổ mà tôi bị phỏng.
Có
lẽ người ta sẽ nghỉ rằng trái với đều mà họ vẫn tưởng
các sư sãi là những kẻ ác ôn. Nhưng sư sãi là gì? Ở xứ
Tây Tạng, danh từ đó áp dụng cho mọi người phái nam sống
trong một tu viện Lạt Ma Giáo, dẫu cho họ không phải là
người tu. Hầu như bất cứ người nào cũng có thể trở
nên sư sãi. Một trẻ thiếu nhi thường được gởi vào một
tu viện để trở nên "Sư sãi" mà nó không cần được hỏi
ý kiến. Đôi khi, đó là một người trưởng thành đã chán
công việc đi chăn cừu và muốn có một máy nhà ấm cúng
để tránh sương tuyết khi tiết trời lạnh lẽo có lúc sụt
xuống đến bốn mươi độ không, khi đó, y xin làm sư sãi
trong tu viện. Không phải vì lý tưởng tôn giáo mà vì y muốn
tự đảm bảo lấy ít nhiều tiện nghi vật chất. Các tu viện
dùng những "sư sãi" này như những người lao công để làm
những công tác xây cất, cày bừa hay quét dọn. Ở những
nơi khác thì những người này được gọi là nô bộc hay
bằng một danh từ tương tự. Phần nhiều những người này
đã sống một cuộc đời rất khổ nhọc: Sống ở những
vùng cao nguyên từ ba ngàn đến bảy ngàn thước bề cao, không
phải là một cuộc đời dễ chịu. Đối với người Tây
Tạng, thì một "Sư sãi" chỉ có nghĩa là một người như
mọi người thường. Họ dùng danh từ Trappa để chỉ những
người tu sĩ.
Những
vị Lạt Ma (Lama) là những bậc cao tăng, thuộc một cấp đẳng
cao. Đó là những bậc đạo sư, hay tôn sư. Thí dụ như Lạt
Ma Minh Gia Đại Đức sẽ là vị tôn sư của tôi, và tôi sẽ
là đệ tử của người. Kế đó, ở cấp đẳng cao hơn nữa
là những vị sư trưởng. Không phải tất cả những vị này
đều đảm trách việc trông coi một tu viện; nhiều vị nắm
giữ những chức vụ cao trong chính phủ hoặc đi ta bà từ
tu viện này đến tu viện khác. Ðôi khi một vị Lạt Ma lại
ở cấp đẳng cao hơn vị sư trưởng.
Những
người được côi như là những vị "Hóa Thân" (người ta
đã chứng minh rằng đó là trường hợp của tôi) có thể
được chỉ định làm chức sư trưởng vào năm mười bốn
tuổi, sau khi đã vượt qua một cuộc thi rất khó khăn. Những
vị này thường là nghiêm khắc nhưng không hung dữ và không
bao giờ bất công.
Một
thí dụ khác về sư sãi là trường hợp các sư sãi cảnh
binh. Nhiệm vụ duy nhất của họ là duy trì trật tự, họ
không có phận sự gì trong việc tế tự, lễ bái ở các đề
chùa, họ chỉ cần có mặt để xem mọi việc có xảy ra đúng
theo quy tắc luật lệ không. Họ thường rất hung tợn cũng
như phần nhiều các sư sãi nô bộc như đã nói ở trên (nhưng
không vì thế mà họ làm giảm uy tín của các tu viện). Người
ta không thể lên án một vị giám mục vì ông ta có một tên
làm vườn thô lỗ! Cũng như người ta không trông mong người
làm vườn ấy sẽ trở nên một ông thánh chỉ vì y làm tôi
tớ cho một vị giám mục!
Đây
trở lại vấn đề tôi bị phỏng lửa khi đi làm công tác
dưới bép. Hiệu lực của chất thuốc vừa tan dần, tôi hồi
tỉnh lại và cảm thấy như mình bị lột da. Trong cơn mê
sản tôi tưởng tượng dường như một ngọn đuốt đang cháy
được đặt vào một cái lỗ trống trong bắp đùi bên trái
của tôi.
Thời
giờ trôi qua. Tôi lắng nghe những tiếng động trong tu viện:
Vài loại âm thanh đã quen thuộc đối với tôi, nhưng có nhiều
loại khác mà tôi không nhận ra là những tiếng động gì.
Toàn thân tôi bị rung chuyển vì những cơn đau điếng dữ
dội. Tôi nằm sấp trên bụng nhưng những vết phỏng cũng
lan rộng đến phía trước của thân mình tôi. Tôi nghe một
tiếng động nhẹ: Có người đến ngồi gần bên tôi. Một
giọng đầy thiện cảm và nhân từ của Minh Gia Đại Đức
nói thì thầm bên tai tôi:
- Con
hỡi, chắc là con bị đau lắm. Thôi hãy ngủ đi.
Vài
ngón tay nhẹ nhàng lướt trên lưng tôi dọc theo xương sống,
nhẹ lướt thêm nữa và thêm nữa. Thế rồi... tôi mê man
ngủ thiếp đi.
Một
vầng mặt trời êm ấm chiếu rạng ngời trước mặt tôi.
Tôi thức dậy và chớp mặt liên hồi. Tư tưởng đầu tiên
đến với tôi khi tôi vừa chợt tỉnh là hình như có người
đá tôi vài đá vì tôi đã ngủ quá lâu. Tôi định nhảy
xuống giường để hối hả đi dự buổi lễ sáng nhưng tôi
bèn té ngữa ra sau, khắp mình mẩy đâu nhứt như rần. Thì
ra đó là cơn mê sảng... Chân trái tôi đau quá.
Một
giọng dịu hiền ưu ái nói với tôi:
- Lâm
Bá, con hãy nằm yên. Hôm nay con có thể nghỉ.
Tôi
quay đầu nhìn lại lấy làm vô cùng ngạc nhiên mà thấy rằng
tôi đang nằm trong phòng của Minh Gia Đại Đức, còn Sư Phụ
thì ngồi gần bên tôi. Người nhận thấy sự ngạc nhiên
của tôi và mỉm cười:
- Tại
sao con ngạc nhiên? Phải chăng là một việc thường tình mà
hai người bạn ở gần bên nhau khi một người bị đau ốm?
Tôi
đáp bằng một giọng rã rời mệt mõi:
- Nhưng
sư phụ là một vị Lạt Ma cao cả, còn con chỉ là một đứa
trẻ nhỏ.
- Lâm
Bá chúng ta đã cùng nhau đi một đoạn đường rất dài trong
những kiếp trước. Hiện giờ con chưa nhớ lại được điều
đó nhưng ta nhớ rõ, vì chúng ta đã sống rất gần bên nhau
trong những kiếp vừa qua. Còn bây giờ con cần phải nghỉ
ngơi để lấy lại sức. Chúng ta sẽ điều trị bắp chân
con cho mau lành, con đừng lo gì cả!
Tôi
liên tưởng đến cái bánh xe luân hồi sinh tử và nghỉ đến
những điều răng trong kinh thánh của xứ tôi: "Người tâm
hồn quảng đại sẽ được sống một cuộc đời giàu sang
không bao giờ dứt, còn kẻ hèn ích kỷ sẽ không bao giờ
được sự ưu ái, từ tâm. Người có quyền thế hãy sống
một cách quảng đại với những kẻ khác đến nhờ vả mình.
Y hãy nhìn xa để thấy con đường dài của sự luân hồi
sinh tử. Sự giàu sang luân chuyển như những bánh xe, nay nó
thuộc về người này, mai nó thuộc về người khác. Kẻ hành
khất ở kiếp này có thể trở nên một vị vương hầu ở
kiếp sau, còn vị vương giả ngày nay có thể trở nên kẻ
ăn mày trong một tương lai xa gần".
Khi
đó tôi hiểu một cách chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa,
mặc dầu trong cơn đau đớn thể xác và mặc dầu tuổi tôi
còn nhỏ, rằng Minh Gia Đại Đức, sư phụ tôi là một tâm
đức và tôi có thể tin tưởng lời giáo huấn của người.
Rõ ràng là sư phụ tôi biết rõ rất nhiều điều về tôi,
nhiều hơn rất xa những gì mà tôi có thể biết được. Tôi
rất nóng lòng muốn làm việc chung với người và tôi quyết
định rằng tôi sẽ là một người đệ tử gương mẫu. Tôi
cảm thấy một cách rõ ràng rằng giữa chúng tôi có một
sự đồng thanh đồng khí rất chặt chẽ và tôi lấy làm
cảm kích sự xoay vần của định mệnh nó đã đặt tôi dưới
sự hướng dẫn dìu dắt của người.
Tôi
quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ. Những tắm nệm của tôi
đang nằm được đặt trên một cái bàn để cho tôi có thể
nhìn thấy bên ngoài. Cảnh vật rất là hùng tráng. Đằng
xa, ở bên ngoài những nóc nhà chen chút nhau phía dưới cửa
sổ của tôi, thành phố Lhassa vươn mình dưới ánh nắng mặt
trời, với những ngôi nhà nhỏ sơn màu lợt xinh xắn. Trong
thung lũng, con sông Kỳ Giang uốn khúc giữa những cánh đồng
xanh tươi nhất thế giới. Những dãy núi xa tít chân trời
ửng màu đỏ sậm với những đỉnh núi đội tuuết trắng
phau. Trên những ngọn núi gần hơn, những vết màu vàng lóng
lánh chen chút nhau trên sườn núi, đó là nóc của những tu
viện. Bên tay trái, điện Potala nhô lên cao như một ngọn
núi biệt lập.
Về
phía tay mặt, một cụm rừng nhỏ trong đó rải rác những
đền chùa và trường học. Đó là địa phận của vị Thiên
Giám Quan, một nhân vật quan trọng mà vai trò duy nhất trong
đời là tạo nên một nhịp cầu giao cảm giữa cõi trần
gian vật chất và cõi giới vô hình, và tiên tri điều họa
phúc của quốc gia. Dưới mắt tôi, trên sân mặt tiền, những
sư sãi thuộc các cấp đi qua lại không ngớt. Vài vị trong
số đó, những người sư sãi lao công, mặc áo màu nâu sậm.
Một nhóm thiếu sinh của tu viện ở xa mặt áo trắng. Những
sư sãi cao cấp cũng có mặt ở đó, đều mặt áo màu đỏ
sậm, với manh yểm tâm bằng lụa vàng, chỉ rằng họ thuộc
thành phần viên chức tối cao của chính phủ. Một vài vị
cưỡi ngựa hay cưỡi lừa. Những người thường dân thì
cưỡi ngựa đủ màu còn các sư sãi bắt buộc phải cưỡi
trắng. Tất cả những cảnh tượng đó là cho tôi quên cả
hiện tại. Điều làm cho tôi quan tâm hơn hết là làm sao cho
chống bình phục để có thể sử dụng hai chân của mình.
Ba
ngày sau, người ta cho rằng tốt hơn tôi nên ngồi dậy và
thử đi đứng xem sao. Chân trái tôi còn cứng đơ và làm cho
tôi rất đau đớn. Chỗ vết phỏng đã sưng lên và có mủ
vì những mảnh sắt vụn rĩ sét mà người ta không thể gắp
ra được. Vì tôi không thể đi đứng một mình, người ta
làm cho tôi một cây nạn gỗ để tôi dùng mà đi một chân,
tôi đi nhún nhẩy cũng như con chim bị thương. Toàn thân tôi
vẫn còn những vết phỏng và những chỗ phồng da ở chân
trái tôi làm cho tôi đau đớn nhiều hơn các chỗ khác. Tôi
không thể ngồi được mà phải nằm nghiêng bên mặt hoặc
nằm sấp, tôi không thể dự các buổi lễ cầu nguyện hay
đi đến lớp học nên Minh Gia Đại Đức, Sư Phụ tôi dạy
tôi học tại tư thất từ sáng đến chiều. Người tuyên
bố hài lòng về những kiến thức mà tôi thu thập được
trong thời "niên thiếu" của tôi, người nói:
- Có
nhiều điều trong những kiến thức đó chỉ là những kỷ
niệm mà con đã mang theo từ những kiếp trước.