CHƯƠNG
BA
Ngô
Thừa Ân, hay Tây Du Ký
với
vấn đề một nền văn hóa hậu hiện đại.
I.
Nhìn chung
Tình
người, an lạc và hạnh phúc cho con người trong đời sống
hiện tại là mơ ước nghìn thu của cuộc đời. Các văn hào,
thi hào, nghệ sĩ, đạo sĩ, các nhà xã hội, văn hóa, giáo
dục tư tưởng qua các thời đại vẫn tự nhận cái sứ mệnh
nói trên niềm mơ ước rất người ấy.
Ðức
Phật Thích Ca đã dạy: “Ta ra đời vì lợi ích, an lạc của
Chư Thiên và loài Người”. Có lẽ Ngô Thừa Ân nghe được
lời dạy ấy vọng lên trên từng dòng kinh Phật nên mới
sáng tác bộ tiểu thuyết Tây Du Ký để thể hiện sứ mệnh
của một tư tưởng lớn giới thiệu một hướng văn hóa
đầy tình người, an lạc và hạnh phúc. Tác giả hâu như
đặt trọn niềm tin vào đấng Toàn Giác như một nhà đại
giải thoát và đại văn hóa của nhân loại, vừa giới thiệu
con đường thoát khổ vừa đề bạt một hướng văn hóa mới
cho nhân dân Ðông Ðộ.
Ngày
nay, xã hội đã ý thức rằng giáo dục làm nên văn hóa và
văn minh, công việc xây dựng một nền văn hóa mới là công
việc xây dựng một hệ thống giáo dục mới đòi hỏi có
sự hoàn bị về lý thuyết nhân tính (Theory of Personnality)
xác định rõ con người như thế nào là câu hỏi về nội
dung giáo dục và kỹ thuật giáo dục. Tại đây cần xây dựng
một triết lý về con Người, đề cập đến vai trò của
nhận thức, tư duy hữu ngã và vấn đề giá trị, đạo đức
của đời sống.
Về
con Người, nền văn hóa cổ Hy Lạp và La Mã chưa có tiếng
nói thuyết phục; nền văn hóa Trung Hoa cũng thế, chưa có
một cái nhìn ổn định. Ngô Thừa Ân nhận thấy cần có
cái nhìn mới ấy đang ngự trị Lôi Âm tự, vùng văn hóa
Tây Trúc. Nền văn hóa này giới thiệu con người là một
tập hợp của Năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành thức uẩn.
Sắc uẩn là phần vật lý; thọ, tưởng, hành, và thức thuộc
tâm lý. Bên trong con người Năm uẩn ấy có mặt trong nguồn
năng lực và một trí tuệ vô hạn có thể giúp con người
chuyển khát vọng hạnh phúc và chân lý thành hiện thực ngay
tại đời sống này.
Sắc
uẩn gồm có nội sắc (thân vật lý của mình) và ngoại sắc
(thân tha nhân và thế giới vật lý). Thọ uẩn gồm có nội
thọ (những cảm nhận hỷ, lạc trong thiền định) và ngoại
thọ (các cảm nhận hỷ, lạc qua các giác quan bên ngoài).
Tưởng uẩn gồm có tưởng về sắc, thanh, hương, vị, xúc
và về pháp. Hành uẩn gồm có tư duy (tác ý) về sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Thức uẩn gồm có nhã thức, tỉ, thiệt,
thân và ý thức.
Như
vậy, con người theo giáo lý nhà Phật và theo quan điểm của
nền văn hóa mới, không phải là một ngã thể độc lập
với tha nhân, gia đình, xã hội, thiên nhiên, mà gắn liền
với các hiện hữu ấy. Thế giới này, xã hội này là chính
cơ thể và tâm thức con người cần được bảo vệ tự thân
và hạnh phúc của tự thân.
Với
nhận thức Duyên khởi, Vô ngã của nền văn hóa mới, tư
duy mới (chánh tư duy) con người, gia đình, xã hội và môi
trường là một khối nhất thể, không thể tách ly: con người
là con người của gia đình, xã hội và môi sinh; môi sinh là
môi sinh của con người và xã hội.v.v... Cái nhìn mới này
sẽ đưa ra các giá trị mới, thái độ sống mới là một
nền văn hóa, giáo dục mới nhằm đem lại hòa bình, an lạc
và hạnh phúc lâu dài cho xã hội.
Hạnh
phúc không phải là của quan niệm, khái niệm, mà là của
sự sống giác tỉnh trong hòa điệu của Năm uẩn. Hạnh phúc
vì thế không phải của các ngã tưởng, ngã niệm hay của
dục vọng. hạnh phúc và con người là một, và là cái một
của tương quan Duyên khởi. Con đường sống của nền văn
hóa mới vì vậy là con đường sống của vị tha, của hòa
điệu, của sự dập tắt các ngã tưởng (với đời sống
xã hội thì chế ngự các ngã tưởng).
Ngày
nay, nền văn minh hiện đại đã mạnh mẽ nói lên rằng văn
minh vật chất càng phát triển thì cần phải tổ chức tốt
nền văn minh tinh thần. Cuộc khủng h oảng về dân số, đạo
đức và ô nhiễm môi sinh hiện tại đang đặt ra những thẻ
thách lớn. Làm sống ung thư và sida đang ám ảnh con người.
Nếu Tất cả (mọi người) đều thấy rõ sự thật của Duyên
sinh hay Năm uẩn thì sẽ ý thức rằng khổ đau, rối ren ở
chỗ này là khổ đau rối ren của chỗ kia, của toàn trái
đất, và sẽ cùng nhau mở đường đi ra khỏi cuộc khủng
hoảng cùng nhau bảo vệ trái đất như bảo vệ chính mình.
Cái thấy biết sự thật ấy đang trông cậy vào vai trò của
văn hóa giáo dục “hậu hiện đại”.
Các
xã hội nếu được xây dựng trên cơ sở Duyên sinh Vô ngã
thì chiến tranh sẽ dần dần biến mất, các tệ nạn xã hội
(cướp bóc, tham nhũng...) sẽ dần dần biết mất. Con người
nếu rõ Duyên sinh, Vô ngã thì sẽ nhận ra, qua thể nghiệm,
dục vọng là khổ đau, vị kỷ là khổ đau, si mê là khổ
đau, và sẽ tự động tách rời khỏi chúng. Tại đây con
người sẽ sung sướng nhận ra rằng: cuộc sống đang còn
nguyên ở đó tràn đầy những âm thành và màu sắc; lẽ sống
của mỗi cá nhân không phải là ham muốn; và hạnh phúc phải
là thảo mãn các ham muốn, mà là sự biết sống, biết nhìn,
biết đủ và biết rằng cuốc sống chính là mình. Mọi sự
vẫn tiếp tục trôi chảy; con người tiếp tục sống như
đang sống, nhưng sống với sự giác tỉnh nói trên.
Từ
đây, từ sự thật Duyên khởi, con người sẽ không bàn đến
hệ tư tưởng cho rằng có một đấng toàn năng tạo ra vũ
trụ, và giữ quyền thưởng phạt con Người. Từ đây, con
người trở về chính mình sống nương tựa mình và nương
tựa sự thật Duyên khởi; trở về với sự hòa điệu của
tim và óc, của cá nhân và xã hội, của thiên nhiên và con
người trở về với sự tách rời khỏi các nhân tố gây
ra khổ đau cho mình và người (như chấp ngã, dục vọng, ích
kỷ, đố kỵ.v.v...).
Ðấy
là một số ý niệm tổng quát, Ngô Thừa Ân đã nở ra một
cuộc Tây du vượt qua 81 ma nạn trước khi đặt chân tới
Lôi Âm tự, thì nền văn hóa giáo dục hậu hiện đại cũng
cần thời gian để giáo dục con người và tổ chức xã hội
theo nhận thức, tư duy mới (nhân bản và trí tuệ) để hình
thành nếp sống văn hóa mới, phải vượt qua nhiều khó khăn
trước khi nhìn thấy quả. Có nhiều việc làm mà chúng ta
sẽ lần lượt bàn đến.
II.
Sự thật của con người và cuộc đời.
Sự
thật và hạnh phúc là vấn đên lớn mà nhân loại mãi tìm
kiếm. Còn tìm kiếm có nghĩa là còn chưa thấy. Vì chưa thấy
rõ sự thật của cuộc đời nên con người tiếp tục nói
về, bàn về cuộc đời. Vì sự thật của con người là khổ
đau nên con người khát vọng tìm kiếm hạnh phúc. Tìm kiếm
hạnh phúc là vai trò của văn hóa và giáo dục.
Cách
đây 26 thế kỷ, thái tử Siddhattha (người xứ Ấn) đã tự
mình tìm kiếm lời giải đáp cho hai vấn đề lớn nói trên.
Sau một thời gian hành sâu thiền định và sáu năm hành khổ
hạnh, thái tử vẫn mịt mờ trước sự thật. Nhưng sau bốn
(hay bảy) tuần lễ thiền quán dưới cội cây bồ đề, thái
tử đã chứng ngộ sự thật Duyên khởi, thấy rõ gốc của
khổ đau và con đường dẫn đến đoạn diệt khổ đau, và
thái tử bấy giờ trở thành bậc Toàn Giác, Phật, Thế Tôn.
Sự
thật mà Ðức Phật đã chứng ngộ có thể được tóm tắt
như sau:
- “Do
cái này có mặt nên cái kia có;
Do
cái này sinh, nên cái kia sinh.
Do
cái này không có mặt, nên cái kia không có,
Do
cái này diệt, nên cái kia diệt”
- Do
vô minh mà có hành, do hành mà có thức, do thức mà có danh
sắc, do danh sắc mà có lục nhập, do lục nhập mà có xúc,
do xúc mà có thọ, do thọ mà có ái, do ái mà có thủ, do thủ
mà có hữu, do hữu mà có sinh, do sinh mà có lão tử, sầu,
bi, khổ, ưu, não. Ðây là sự tập khởi của toàn bộ khổ
uẩn”. (Tương Ưng II, bản dịch của HT Thích Minh Châu, 1982,
tr. 4)
Vô
minh là chi phần đầu của 12 nhân duyên, nhưng không phải
là nguyên nhân đầu tiên; nó cũng do duyên mà sinh. Vô minh
đã được Ðức Phật định nghĩa:
“Và
này các Tỷ kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỷ kheo, không
biết rõ về khổ, không biết rõ về khổ tập, không biết
rõ về khổ diệt, không biết rõ về khổ tập, không biết
rõ về khổ diệt, không biết rõ về con đường đưa đến
khổ diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là vô minh”. (sđd.
tr.4)
Từ
định nghĩa trên, vô minh có thể được hiểu là do không
hiểu Tứ đế, không hiểu duyên khởi, hay do chấp thủ các
ngã tướng. Giờ chúng ta thử quan sát sự vận hành của vô
minh trong mỗi cá nhân hiện tại trong nền văn hóa hiện đại.
1.
Nhóm Vô minh và Hành.
Nền
văn hóa phổ biến hiện nay của nhân loại là sản phẩm của
tư duy hữu ngã. Tư duy này đặt để các ngã tính cho mọi
hiện hữu để thiết lập trật tự cho tư duy và cuộc sống.
Như vậy ở đó có mặt Vô minh và Hành. Nói khác đi, nền
văn hóa ấy đang biểu thị sự vận hành của Vô minh.
Con
người chịu ảnh hưởng của văn hóa, tư duy được định
hình bởi văn hóa, nên mặc nhiên xem tự ngã như là có thật.
Thế
là Vô minh xâm nhập và ngự trị các hành động thân, lời
và ý của con người.
2.
Nhóm Thức và Danh sắc.
Giáo
dục làm nên văn hóa. Văn hóa đã là hữu ngã thì giáo dục
cũng mang tính chất hữu ngã thì giáo dục cũng mang tính chất
hữu ngã. Giáo dục thì truyền đạt các kiến thức, rèn luyện
tư duy, nên kiến thức và tư duy ấy là hữu ngã và là Vô
minh. Thức là hữu ngã là là vô minh. Nếp sống của con người
Danh sắc hình thành nghiệp thức và mở ra dòng sống à chuyên
chở Vô minh và khổ đa.
Thế
là, cái gọi là sống của mỗi cá nhân chỉ là sự biểu
hiện của những ý niệm hữu ngã, đã đánh mất sự sống.
3,
Nhóm Lục nhập, Xúc, Thọ.
Lục
nhập, Xúc, Thọ chỉ la sự biểu hiện của Thức và Danh sắc
là hiện hành của Vô minh của nền văn hóa hữu ngã. Cái
gọi là cá nhân xúc, thọ thật sự chỉ là Vô minh xúc, thọ.
Và, vì thế gọi là “tôi khổ đau” chỉ là một vọng tưởng
ám ảnh cá nhân.
4.
Nhóm Ái, Thủ
Lòng
khát sống của cá nhân trước cuộc sống bốc cháy các khát
khao ngũ dục lạc (hay dục ái) các khát khao tồn tại (hữu
ái) và các khao khát vĩnh cửu (vô hữu ái). Khát khao ấy thúc
dục cá nhân nắm chặt đối tượng khát khao. Ðây là Chấp
thủ. Hậu quả của Chấp thủ là các cuộc xung đột, chiến
tranh, kỳ thị tôn giáo, mà da và phái tính... mở ra một cuộc
diện bất an hiện nay.
Lòng
khát ái thì dẫn đến các hiện tượng phát triển “sex”,
kinh doanh “sex”, đẩy con người chìm sâu vào các thụ hưởng
thấp kém làm rã dần nền đạo đức cá nhân, gia đình và
xã hội.
Khi
mà Tham ái và Chấp thủ phát triển mạnh, thì các tâm lý
vị tha, nhân ái, công bằng, khoan dung phải co mình lại, xã
hội lâm vào các nguy kịch của các tệ trạng, của sự tàn
phá rừng, biển và ô nhiễm môi sinh, của sự khai thác vô
độ lòng dục ái và tinh thần cạnh tranh, tách xa dần hướng
giáo dục nhân bản.
Trước
sự thật cuộc sống đang đi vào băng hoại ấy, các nhà giáo
dục cần cấp thiết mở ra các hướng giáo dục thoát khổ,
hướng giáo dục Duyên Khởi vận hành để đoạn trừ Vô
minh, như Ðức Phật đã dạy về Duyên Khởi, và đã mở đường
rằng:
“Như
vậy này các Tỷ kheo, Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức,
Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập
duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ
duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Khổ, Khổ duyên tín,
tín duyên hân hoan, hân hoan duyên hỷ, hỷ duyên khinh an, khinh
an duyên lạc, lạc duyên định, định duyên tri kiến như chân,
tri kiến như chân duyên yếm ly, yếm ly duyên ly tham, ly tham
duyên giải thoát, giải thoát duyên trí về đoạn diệt. (Tương
Ưng II, sđd, tr. 37)
Giáo
dục cần chỉ cho con người thấy rõ các nguy hiểm của nền
văn hóa có chiều hướng đang bị vận hành bởi Vô minh, bởi
những ý niệm chấp ngã, chấp “tôi” đê mở lòng tin về
một nền giáo dục duyên khởi loại bỏ Vô minh, mở hướng
vào an lạc và hạnh phúc trong hiện tại.
5.
Nhóm Hữu, Sinh, Lão tử, Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não.
Do
Vô minh, nền văn hóa hiện tại đang hiện hành với những
hiện tượng xã hội báo động. Ðây là Hữu, Sinh, Lão tử,
Sầu, Bi, Khổ, Ưu, Não, là sự sinh khởi của Vô minh và khổ
đau.
Con
đường xây dựng hạnh phúc cho đời vì vậy cần được
vận hành bởi Minh hay chánh kiến, trí tuệ. Ðấy là sự vận
hành của nhận thức Vô ngã sẽ mở ra hướng sống nhân ái,
vị tha, vì hạnh phúc an lạc của số đông, và sẽ mở ra
một nếp sống đạo đức nhân bản, hiện thực và trí tuệ
cho cá nhân, gia đình và xã hội..
Suốt
hơn bốn mươi năm giáo hóa, Ðức Phật chỉ nói khổ và con
đường diệt khổ cho đủ mọi căn cơ xuất gia và tại gia,
vì thế toàn tạng Kinh, Luật, Luận của Phật giáo cũng chỉ
kiết tập về những lời dạy tập chú về việc trình bày
khổ và con đường diệt khổ và nói đến nếp sống, nếp
nghĩ thế nào để đạt hạnh phúc trong hiện tại và trong
tương lai.
Giáo
lý của Phật đã giới thiệu rất nhiều nếp sống phù hợp
với mọi căn cơ ở đời đi đến hạnh phúc, nên đạo Phật
cần được giới thiệu, phổ biến rộng rãi cho đời, trong
thế giới học đường. Ðây là một nội dung mà các hệ
thống văn hóa, giáo dục hiện đại đang tìm kiếm.
III.
Một nền giáo dục Duyên khởi.
Hơn
ba phần tư nhân loại hiện nay không biết đến đạo Phật,
hay không nghiên cứu đạo Phật. Số còn lại có sống với,
có tìm hiểu, có nghiên cứu hay quan sát sinh hoạt của Phật
giáo.
Các
nhà xã hội học, các nhà văn hóa, tư tưởng hay giáo dục
hiện đại vẫn chưa có nhân duyên tìm hiểu cặn kẽ, sâu
xa giáo lý Phật giáo. Với những vị có nghiên cứu sâu thì
chỉ nghiên cứu đạo Phật như như một hệ thống tư tưởng
triết lý. Với những vị này chỉ thiếu điều kiện thực
hành nên cũng khó nhận ra chân giá trị của đạo Phật. Hầu
hết cứ đinh ninh rằng Phật giáo là một tôn giáo, vì thế
Phật giáo chỉ dành cho lãnh vực tín ngưỡng, mà xa lạ với
các nếp sống con người khát vọng tạo dựng hạnh phúc trần
gian. Hoặc giả đinh ninh rằng Phật giáo cứ nói mãi về khổ
đau thì là tiếng nói bi quan; hay Phật giáo chủ trương ly
dục là một chủ trương không thiết thực, xa lạ với con
người.v.v... Thật là đầy ngộ nhận! Làm sao người ta có
thể tin rằng Phật giáo có thể giới thiệu với đời một
đường hướng giáo dục rất thiết thực, nhân bản và trí
tuệ?!
Vào
thế kỷ XVI, Ngô Thừa Ân, qua tiểu thuyết Tây Du Ký, tin tưởng
rằng Phật giáo sẽ giúp cải thiện đường hướng văn hóa,
giáo dục của xã hội Trung Hoa, ông đã viết những suy nghĩ
của ông thành bộ tiểu thuyết Tây Du Ký bất hủ, nhưng những
tâm sự, suy nghĩ, hoài bão của ông vẫn được gói kín trong
100 hồi truyện cho đến ngày nay. Những tư duy phát hiện giá
trị đạo Phật đầy trân quý của ông chỉ để giúp đời
giải trí sau các ngày giờ làm việc mệt mõi, bởi vì đấy
là tiểu thuyết, mà không phải là giáo dục, tư duy và tâm
lý. Kinh Phật thì chỉ để dành cho tu sĩ Phật giáo và để
tôn quý, bởi vì đó là tôn giáo mà không phải là văn hóa
giáo dục. Thật là đáng tiếc!
Giáo
dục có hai mục tiêu chính:
1.
Giáo dục con người tự thân hiểu mình và biết hướng dẫn
đời mình đi đến hạnh phúc ngay trong hiện tại.
2.
Giáo dục con người xã hội hiểu biết xã hội mình đang
sống và đáp ứng các yêu cầu của xã hội và lịch sử
với các mục tiêu tức thời và lâu dài.
Về
mục tiêu thứ nhất của giáo dục, thì đạo Phật đáp ứng
trọn vẹn, nếu không nói là rất lý tưởng. Về mục tiêu
thứ hai của giáo dục là giảng dạy cung cấp cho học viên,
sinh viên các kiến thức chuyên môn để xây dựng và phát
triển xã hội. Trong mục tiêu này, xã hội và lịch sử còn
yêu cầu học đường dạy một tinh thần đòan kết dân tộc
kéo sơn thể hiện ngay trong h ọc đường và ngoài xã hội.
Về yêu cầu này, học đường cần có một triết lý giáo
dục như thế nào vừa nhân bản vừa dân tộc, vừa có thể
vượt qua các dị biệt. Hẳn là giáo lý Duyên khởi, Vô ngã
đáp ứng yêu cầu này. Duyên khởi là sự thật của vạn
hữu, nên không thuộc riêng của ai hay của dân tộc nào, vì
vậy nó là của moi người. Vì Vô ngã nên khi một người
chấp nhận Duyên khởi, Vô ngã thì dễ dàng hòa hợp với
các ngã, với các tư duy tín ngưỡng hữu ngã; do vậy dễ
dàng đến với mọi người, dễ dàng hòa hợp đoàn kết.
Vì có nhạn thức Vô ngã nên có thái độ sống vô chấp,
không bảo thủ, khoan dung, nên cũng dễ dàng đoàn kết, thống
nhất với mọi người, mọi khuynh hướng vì đại nghĩa xã
hội, dân tộc.
Ngoài
hai đóng góp quan trọng trên, Duyên khởi là tòan bộ giáo
lý Duyên khởi và toàn bộ giáo lý Giới, Ðịnh, Tuệ của
Phật giáo có thể có rất nhiều đóng góp rất hữu ích khac
snhau cho giáo dục như giáo dục tinh thần tự tri, tự giác
tự trách nhiệm, độc lập, tùy duyên, tự trọng, tinh thần
phê phán, tinh thần thiết thực hiện tại, nhân bản, thiền
định và sáng tạo, tinh thần khích lệ.v.v...
Về
triết lý giáo dục, giáo lý Duyên khởi và Ngũ uẩn có thể
giúp học đường xây dựng một lý thuyết về nhân tính ổn
định và giá trị. Hai giáo lý này có thể là cơ sở để
hình thành nhận thức luận và giá trị luận sáng giá.
Về
tâm lý, đạo Phật là con đường đoạn diệt phiền não,
lo âu, vốn là vai trò chính của ngành tâm lý giáo dục hiện
đại.
Với
một số ưu điểm tiêu biểu vừa đề cập, chúng ta có thể
đi đến kết luận rằng văn hóa Phật giáo có nhiều điểm
thể hiện các giá trị nhân bản phù hợp với các chuẩn
mực đạo đức và văn hóa mà chúng ta đang xây dựng.
Kinh
nghiệm lịch sử Việt Nam dưới triều đại Lý, Trần (từ
thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIV) cho thấy văn hóa Phật
giáo làm chủ đạo cho văn hóa Việt Nam thời bấy giờ và
đã tạo nên một sức mạnh dân tộc phi thường; Bắc thắng
Tống, Nam bình Chiêm dưới triều Lý; ba lần đại phá quân
Nguyên Mông dưới đời Trần, đạo quân xâm lược rất hùng
mạnh dã đánh bại Trung Hoa và nhiều nước Châu Âu đương
thời.
Trong
thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, bên cạnh sự
phát triển khoa học, tinh thần giáo lý từ bi và thiền định
Phật giáo đã đóng góp rất nhiều cho sự hùng mạnh của
nước Nhật Bản.
Vẫn
còn rất nhiều bài học hữu ích, giá trị cần thiết cho
con người và cho lịch sử dân tộc rút ra từ pt, chúng ta
cần công phu nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp giáo dục
văn hóa nước nhà.
IV.
Triết lý Giáo dục
Một
đường hướng giáo dục, ngoài lý thuyết về nhân tính, còn
có triết lý giáo dục của nó để từ đó hình thành một
mẫu người giáo dục và nội dung giáo dục.
Có
ba vấn đề chủ yếu hình thành một đường hướng triết
lý nói chung và triết lý giáo dục nói riêng đó là vấn đề
bản thể, vấn đề nhận thức và vấn đề giá trị cần
được bàn đến đối với giáo lý Phật giáo.
1.
Vấn đề bản thể (ontology)
Hệ
tư tưởng Âu, Mỹ chịu ảnh hưởng của tư duy nhị nguyên
(tư duy ngã tính) đã nêu ra vấn đề bản thể khi đi tìm
hiểu sự thật của con người và cuộc đời. Ðặt ra vấn
đề bản thể là đặt vấn đề nguồn gốc của sự vật,
hay vấn đề bản chất, hoặc bản tính của sự vật, hoặc
vấn đề nguồn gốc hay nguyên nhân đầu tiên.
Sự
vật được tìm hiểu ở đây trở thành đối tượng của
tìm hiểu mà chr thể tìm hiểu của nó là tư duy của con người
hoạt động qua các giác quan giới hạn sự ghi nhận của các
giác quan về các hiện hữu vốn giới hạn, khó phản ảnh
được sự thật của các hiện hữu. Tư duy thì hoạt động
qua nguồn tin tức mà các giác quan cung cấp, cộng thêm vói
khả năng phối kiểm tổng hợp đầy ngã tính. Thế nên, dưới
cái nhìn trí tuệ như thật của Phật giáo, sự thật của
các hiện hữu không có mặt trong các câu hỏi và trong các
câu trả lời của hệ thống (cơ cấu) tư duy ấy. Nói khác
đi, qua sự thật Duyên khởi đã được Ðức Phật chứng
ngộ dưói cội bồ đề, thì vấn đề bản thể, bản chất
hay nguồn gốc theo nghĩa “ontology” ấy không phù hợp với
giáo lý nhà Phật. Nó thuộc tư duy nhị nguyên, mà không phải
của thực tai. Phật giáo phủ nhận các câu hỏi về bản
thể, bản chất, nguồn gốc hay nguyên nhân đầu tiên ấy.
Câu hỏi đã đi xa khỏi thực tại, thì câu trả lời cho câu
hỏi đó càng đi xa hơn khỏi thực tại.
Vì
phủ nhận nguyên nhân đầu tiên của các hiện hữu, nên giáo
lý Duyên khởi phủ nhận các quan điểm cho rằng có đấng
sáng tạo vũ trụ, dấng Thượng đế hay Phạm thiên tạo ra
loài người.
Vì
là Duyên khởi, Vô ngã, nên giáo lý Phật giáo không chấp
nhận, không chủ trương duy tâm, không chủ trương duy vật,
duy linh.v.v... Vũ trụ và con người là do duyên sinh. Tâm, Vật,
Linh.v.v... là do duyên sinh.
Với
Phật giáo, vũ trụ và vạn hữu đang là,là duyên sinh:
“Do
cái này có mặt, nên cái kia có.
Do
cái này sinh, nên cái kia sinh”.
“Do
cái này không có mặt, nên cái kia không có,
Do
cái này diệt, nên cái kia diệt”.
Vì
do duyên mà sinh nên mọi hiện hữu dù là ý niệm như lông
rùa, sừng thỏ, hay thái dương hệ, đều rỗng không tự ngã
và được gọi là Vô ngã, Vô Tánh hay Không Tánh.
Nhưng,
vũ trụ, vạn hữu đến vơi mỗi người thì không còn như
chúng hiện hữu, đã bị méo mó đi nhiều do sự can thiệp
của các giác quan con người, tư duy tình cảm và các định
kiến khác. Chỉ khi nào loại ra khỏi cái nhìn của con người
các nhân tố can thiệp ấy thì vũ trụ vạn hữu mới xuất
hiện như thật, như chúng đang là.
Cái
thấy biết ngã tính của con người như vậy là sai lầm (sai
với thực tại) và được giáo lý nhà Phật gọi là điên
đảo kiến.
Cái
tâm của con người hoạt động, tác ý trên các ngã tướng
là không thật và được gọi là điên đảo tâm.
Cái
niệm tưởng của con người là ngã tính và niệm tưởng về
các ngã tướng gọi là ngã tưởng nó sai lầm và được gọi
là diên đảo tưởng.
Thói
quen tình cảm của con người sống với các ngã tưởng, ngã
tướng, sống với các dục niệm khiến trở ngại chánh kiến,
chánh niệm nên được gọi là điên đảo tình.
Phật
giáo vơi vai trò giáo dục chỉ rõ cho người đời thấy rõ
bốn thứ điên đảo ấy và tu tập tâm để thoát ly chúng.
Khi bốn thứ điên đảo ấy được nhiếp tịnh, thì vũ trụ
và con người chân thật xuất hiện. Vấn đề giáo dục ở
đây không phải giới thiệu vũ trụ và con người chân thật
là gì, mà là giới thiệu những gì đang ngăn che tâm con người
và huấn luyện tâm để làm sụp đổ các ngăn che ấy. Khi
các ngăn che sụp đổ, thì các thật tướng xuất hiện. Con
người sống đúng nghĩa là sống với thực tại, sống với
sự thật ở ngoài các ngăn che.
2.
Vấn đề nhận thức (Epistemology)
Tư
duy con người hoạt động dựa vào các tin tức được cung
cấp từ các giáo quan tại, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý căn,
dựa vào kinh nghiệm của giác quan và dựa vào kinh nghiệm
tư duy gán cho sự vật. Ngã tính ấy là hệ quả của ba nguyên
lý căn bản làm nền tảng để tư duy có thể hoạt động.
ba nguyên lý đó là:
a/
Nguyên lý đồng nhất: Một vật được gọi là A thì mãi
là A như thế thì tư duy mới làm việc được.
b/
Nguyên lý cấm mâu thuẫn: Một vật được gọi là A hoặc
được gọi là B, chứ không thể khi thì A khi thì B. Ổn định
tên gọi như vậy thì tư duy mới có thể vận động.
c/
Nguyên lý triệt tam: Một vật có thể được gọi là A hay
B, chứ không thể vừa là A vừa là B. Có vậy tư duy mới
có thể hoạt động. Ba nguyên lý trên hàm ý rằng (hay giả
định rằng) mọi hiện hữu đều phải có tên gọi riêng
và có ngã tính bất biến. Thế là yêu cầu để tư duy có
thể hoạt động là gán cho mỗi hiện hữu một ngã tính.
Vậy nên tư duy này được gọi là tư duy hữu ngã, tư duy
ngã tính hay tư duy nhị nguyên (chủ thể nhìn và đối tượng
nhìn đều có ngã tính độc lập). Trong khi đó, thực tại
thì trôi chảy liên tục, bạn không thể đặt chân hai lần
trên một dòng nước. Như thế hoạt động tư duy của con
người thì khác với thực tại. Ðây là điểm đầu nguồn
quyết định thân phận con người, luôn luôn đặt con người
ngoài thực tại, mâu thuẫn với thực tại để làm dấy sinh
vô số khổ đau, phiền não, tham, sân, si dục vọng và các
phiên não đều dấy khởi từ tư duy hữu ngã ấy.
Các
căn thì được cấu tạo có điều kiện, khả năng đón nhận
sự vật rất hạn chế, đã cung cấp tin tức cho tư duy rất
giới hạn, có khi sai lạc hẳn. Ðây là một điểm khác nói
lên giới hạn và sai lầm của tư duy.
Nhận
thức, hiểu biết của con người là đến tư duy và giác quan
giới hạn ấy, nên dẫn con người đến các thấy biết hạn
hẹp, sai lầm, che mờ sự thật, sự thật của vạn hữu thực
tại. Giáo dục có vai trò chỉ cho con người thấy cái giới
hạn của nhận thức, và vạch mở con đường giúp con người
thấy sự thật và thấy hạnh phúc tại trần gian.
Phật
giáo rất tuyệt với trong việc đảm nhận vai trò giáo dục
này. Ðức Phật dạy có năm cấp độ thấy biết thực tại:
a/
Tưởng tri (Sannàjànati: khả năng phân biệt các sự vật hiện
hữu, khả năng kinh nghiệm, ghi nhớ và hồi tưởng.
b/
Thức tri (Vinnàjànati): khả năng ghi nhận sự hiện diện của
các pháp qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn.
c/
Tư duy (Mannàjànati): khả năng nối kết, phân tích tổng hợp,
phối kiểm và suy luận lên các dữ kiện, tin tức do các giác
quan cung cấp.
d/
Thắng tri (Abhijànati): là cái thấy biết sự vật trực tiếp
bằng sự quán sát của tâm thức trong thiền định (không
có mặt tư duy). Cái thấy biết của thắng tri tương tự như
trực giác triết học của phương Tây. Tại đây, con người
thấy sự vật như sự vật đang trôi chảy.
đ/
Liễu tri (Parijanàti): Tiếp nối cái thấy biết của thắng
tri cho đến khi thật nhuần nhuyễn, khi mà tâm tham, sân, si
đều rụng đổ hết, thì cái thấy biết bấy giờ gọi là
liễu tri. Liễu tri mới là cái thấy biết sau cùng, như thật,
như chân mọi hiện hữu.
Ba
cấp độ thấy biết đầu là thuộc nhận thức, tri thức
và các tri kiến của con người và của thế giới học đường
cũ. Học đường ngày nay, hay nền văn hóa “hậu hiện đại”
cần giáo dục con người đi vào hiểu biết thắng tri và liễu
tri, và thực hiện thắng tri, liễu tri. Sự thật và hạnh
phúc chân thật có mặt trong thắng tri và liễu tri này.
Học
đường cũng cần vạch rõ: mỗi loại tri thức đem lại cho
con người một loại hiểu biết và được vận dụng vào
một lãnh vực xã hội tương ứng. Tất cả đều cần thiết
nếu con người không chấp thủ chúng.
3.
Vấn đề giá trị, đạo đức.( Axiology)
Nói
đến giá trị là nói đến sự đánh giá. Chủ thể của sự
đánh giá là nhận thức, tư duy của con người. Như được
trình bày ở mục nhận thức trên, nhận thức và tư duy đã
là giới hạn và sai lầm nên các giá trị, vấn đề thiện,
ác, đạo đức do tư duy ngã tính đặt để cần được xét
lại. Giá trị của một hành động là do nhiều nhân duyên
kết hợp mà thành gồm sự chủ tâm tác ý, ý chí thực hiện,
tình cảm thực hiện và cả kết quả của hành động. nếu
chỉ căn cứ vào cái tướng biểu hiện ở bên ngoài mà đánh
giá thì rất thiếu sót, dễ sai lầm. Ví dụ như một bà mẹ
diễn đạt sự rất âu yếm người con trẻ mà nghiến răng
nói rằng: “ta ghét mầy quá!” (như nói với tấm lòng rất
đỗi là âu yếm). Nếu căn cứ vào cái tướng và lời diễn
đạt kia thì quả khó thấy được giá trị của hành động
ấy (ở đây sự âu yếm là động cơ của hành động). Hai
người cùng làm một việc giống nhau mà giá trị lại khác
nhau. Ví như hai người cùng giúp đỡ một người nghèo một
số tiền bằng nhau, nhưng một người giúp vì tình thương,
một người giúp vì có ý đồ lợi dụng; như vậy một người
là thiện lương, người kia là không thiện lương.
Cùng
một con người làm cùng một hành động ở hai hoàn cảnh
hay thời điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau. Chẳng hạn
ăn cơm đúng bữa là tốt, ăn cơm lúc khỏe là bình thường,
mà ăn cơm lúc đau thương hàn thì có thể dẫn đến cái chết.v.v...
Do
đó, không thể có một bảng liệt kê giá trị ấn định
sẵn các giá trị của các hành động con người. Người ta
cũng không dễ dàng phê phán đúng hành động của những người
khác khi không lên hành động của người đó. Vì thế, giá
trị nhân bản là mỗi người tự biết mình, đánh giá mình,
và rất cẩn trọng khi đánh giá việc làm của những người
khác. Giá trị nhân bản là hành động nhằm đem lại an lạc
hạnh phúc cho số đông trong hiện tại và tương lai vì chính
con người, mà không phải vì nhân danh một quyền lực hay
một đấng thần linh nào khác. Tiêu chuẩn giá trị phải là
con người và hạnh phúc của con người. Giá trị chính là
đạo đức, và đạo đức chính là hạnh phúc. Ở đâu có
đạo đức, ở đó có mặt hạnh phúc; ở đâu có hạnh phúc
ở đó có mặt đạo đức. Vì thế, đạo đức và hạnh phúc
còn đồng nghĩa với vị tha và từ bi (hay lòng nhân ái); và
đi xa hơn, đạo đức và hạnh phúc ocn đồng nghĩa với sự
chế ngự chấp thủ bản ngã, với sự chế ngự dục vọng;
càng ít dục vọng càng hạnh phúc nhiều. Ðây là loại giá
trị của thực tại đòi hỏi con người thực nghiệm để
nhận chân giá trị mà không phải là loại giá trị sản phẩm
của tư duy tỉnh.
Vấn
đề giá trị của nhận thức, vấn dề tư duy và đánh giá
các giá trị, hay vấn đề giá trị nói chung, đã được ntga
đưa vào nhiều hồi truyện Tây Du Ký và đã được người
viết bàn đến nhiều. Hẳn đây là một vấn đề ách yếu
của nội dung của nền giáo dục nhân bản và trí tuệ.
Những
công thức giá trị mang vẽ ước lệ, hình thức của các
nền văn hóa cũ của nhân loại đã gây ra nhiều bi kịch trong
cuộc sống mà nhiều văn hào, thì hào nhân bản thế giới
đã nỗ lực tháo gỡ (nhưng thiếu tính toàn diện không như
Ngô Thừa Ân) như câu chuyện Le Cid (Pháp), các tiểu thuyết
kiếm hiệp của Kim Dung, và rất nhiều phim ảnh hiện đại.
Phải
chăng đã đến lúc các nhà văn hóa, giáo dục nhân bản cần
hình thành một nền giáo dục “hậu hiện đại” đem lại
nhiều tình người, trí tuệ và hạnh phúc hơn cho nhân loại?
V.
Mẫu người giáo dục của nền giáo dục mới “hậu hiện
đại”
Khi
nhà giáo dục thấy rõ quy luật sinh diệt của các hữu, thấy
rõ duyên khởi trong tất cả hiện hữu, thấy rõ con người
ngũ uẩn của tương quan mật thiết với gia đình, tập thể,
xã hội và môi sinh, thấy rõ các hiện tượng xã hội hiện
hữu tương duyên với nhau, thấy rõ vai trò của tư duy, dục
vọng đối với con người và hạnh phúc của con người, thì
nhà giáo dục sẽ hình dung ra được một nội dung giáo dục
con người như thế nào.
Một
nền giáo dục hiện thực và nhân bản phải là một nền
giáo dục tạo ra một môi trường và một nội dung giáo dục
thế nào để mọi người tiếp thu đêu có điều kiện phát
triển kiến thức, tình cảm và trí tuệ tốt nhất nhằm đáp
ứng hai yêu cầu chính: cá nhân và xã hội.
Dòng
sống là trôi chảy. Con người cũng phát triển không ngừng
về tâm thức.
Bên
cạnh nội dung giáo dục con người cá nhân như thế, học
đường còn hoạch định nội dung giáo dục con người xã
hội để đáp ứng các yêu cầu của xã hội và lịch sử.
Phần này cần được điều hợp với phần giáo dục ở trên
thế nào để thể hiện tinh thần giáo dục rằng: “cá nhân
là cá nhân của xã hội, và xã hội là xã hội của cá nhân”.
Về
văn hóa truyền thống của dân tộc cũng là một vấn đề
quan trọng mà nhà giáo dục nhân bản và hiện đại cần quan
tâm xét đến.
Giáo
dục của một xứ sở cần đáp ứng các yêu cầu lịch sử
của xứ sở ấy (yêu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc
phòng...) Cần bảo vệ văn hóa truyền thống và đề cao truyền
thống. Nhưng văn hóa truyền thống cũng chỉ là sản phẩm
của con người nhằm phục vụ hạnh phúc của cvon người
xứ sở, nên không thể đặt con người sau văn hóa truyền
thống, mà cần xét định những gì của văn hóa truyền thống
tốt đẹp và phù hợp với hướng phát triển của lịch sử
thì bảo trì và phát huy, những gì thuộc văn hóa truyền thống
mà không còn phù hợp với hướng phát triển của con người
và lịch sử thì thay đổi. Ðây cũng là một đặc điểm
của nền giáo dục nhân bản và hiện đại.
Có
một yêu cầu giáo dục khác, vừa thuộc yêu cầu của các
nhân vừa thuộc yêu cầu xã hội, đó là yêu cầu tín ngưỡng.
Con người có quyền tự do chọn lựa thức ăn và màu áo cho
mình thì cũng có quyền chọn lựa tín ngưỡng như là màu
áo của tình cảm, tâm hồn. Xã hội và học đường cần
đáp ứng tốt yêu cầu tín ngưỡng này. nhưng các tín ngưỡng
dị biệt dễ dàng tách rời các cá nhân xa nhau, đây là vấn
đề của xã hội: làm thế nào để các cá nhân có tín ngưỡng
dị biệt có thể gần gũi nhau và cảm thông nhau thì yêu cầu
giáo dục về đoàn kết dân tộc mới thực hiện được.
Học đường hiện đại hay “hậu hiền đại:, vì thế cần
có một triết lý giáo dục chung vượt lên trên (hay vượt
ra ngoài) các dị biệt ấy để có thể thống nhất các dị
biệt. Ngô Thừa Ân, tại Ngũ Trang Quán dã mở ra một b ữa
tiệc nhân sâm để Phật giáo (Bồ Tát Quán Thế Âm và phái
đoàn Tây du) và Lão trang, Nho giáo (các thiên tiên, địa tiên)
thân mật, đề huề; và để Tôn Ngộ Không cùng vị chủ
nhân Ngũ Trang Quán kết nghĩa huynh đệ, sau một hồi tranh
chấp xung đột. Ðây cũng là một vấn đề lớn của giáo
dục. Tất cả đang gặp gỡ nhau, ở địa bàn con người rất
người, hạnh phúc con người và cuộc đời (hay môi sinh và
xứ sở). Phải chăng đây là cơ sở gặp gỡ của giáo dục
để thể hiện mục tiêu giáo dục cảm thông, thương yêu
và đoàn kết?
Tất
cả đang trông chờ vào vai trò giáo dục ở học đường,
tập thể, gia đình và xã hội. Tất cả đang trông chờ vào
các phương tiện truyền thông: đài, sách và báo cí, văn nghệ,
hội họa... chuẩn bị cho con người của thời đại một
nhận thức mới thiết thực, nhân bản và trí tuệ trước
hết.
Viết
xong ngày 18 tháng 9 năm 1991
Thiền
Viện Vạn Hạnh
Tỷ
kheo Thích Chơn Thiện