CHƯƠNG
HAI
Tư
tưởng Phật học và các quan niệm về nhân sinh và xã hội
của Ngô Thừa Ân biểu hiện qua Tây Du Ký
(bàn
từng hồi truyện)
Hồi
thứ 1
Hồi
1: “Gốc thiêng nẩy nở, nguồn rộng mở
Tâm
tánh tu trì, đạo sinh lớn”
I.
Tư tưởng Phật học.
- Theo
Phật giáo (cả Nam và Bắc truyền), thế giới hệ này gồm
có bốn châu thiên hạ: Nam Thiện Bộ Châu, Bắc Câu Lôi Châu,
Ðông Thắng Thần Châu và Tây Ngưu Hóa Châu. Bốn châu ấy
nằm chung quanh núi Tu-di (Sumeru) rất lớn, sừng sững giữa
đại dương. Tác giả Tây Du Ký đã mở đầu truyện giới
thiệu nơi sinh của Mỹ Hầu Vương tại núi Hoa Quả tựa như
là vị trí núi Tu-di kia, và xem là nơi “ mạch Tổ của mười
châu”. Từ ngữ Hoa Quả là từ biểu tượng quy luật vận
hành nhân quả của hiện tượng giới, thế giới sinh diệt
của nhị nguyên tính (Dualism), của sự phân biệt rõ ràng
giữa đục và trong, chủ thể và đối tượng. Ðây là quy
luật vận hành mà giáo lý Phật giáo giới thiệu. Nó thuộc
giáo lý trí tuệ, giúp con người phát triển trí tuệ.
Mỹ
Hầu Vương sinh ra từ trứng đá như đã được đề cập
ấy, bởi vì theo quy luật này thì nhân quả phải cùng loại
(đá thì phải sinh ra đá, khỉ thì sinh ra khỉ). Nói khác đi,
Mỹ Hầu Vương là biểu tượng của trí tuệ (chánh kiến
và chánh tư duy) hay Thánh tuệ uẩn trong giáo lý Phật giáo,
mà tiêu biểu là đôi mắt rực sáng làm kinh động đến Thiên
đình của Mỹ Hầu Vương. Ðây là đôi mắt thấy rõ sự
thật Vô ngã, Vô thường, Khổ và Không của hiện tượng
giới. Sự thật đó làm kinh động, đảo lộn cái thấy thường
hằng, hữu ngã của chúng sinh ở trên Trời và dưới Thế.
- Trí
tuệ Vô ngã đó sẵn có trong tâm của mỗi người, theo Ngô
Thừa Ân, mhư một giang sơn đã soạn sẵn trong động Thủy
Liêm dành cho Mỹ Hầu Vương. Sự thật Vô ngã, Vô thường,
Khổ và Không cũng thế, là sự thật của sinh diệt, nằm
ngay hiện tượng giới như động Thủy Liêm như là đang giới
thiệu bốn pháp ấn của giáo lý Phật giáo.
- Tại
sao con người không thấy được sự thật về bốn pháp ấn
ấy nơi thế giới chung quanh mình? Tại sao loài khỉ kia không
khám phá ra động Thủy Liêm vẫn thường hiện diện tại
đó, trước mắt chúng? - Hỏi tức là trả lời vậy. Chính
thác nước đổ mạnh đã che khuất khỏi cái nhìn hời hợt
của đàn khỉ, hệt như lòng tham ái, chấp thủ ngã đã che
khuất tâm con người khỏi sự thật Vô ngã, Vô thường, Khổ
và Không. Ở giáo lý Phật giáo, dòng thác đổ mạnh gọi
là dòng bộc lưu, biểu tượng cho dòng nước Ái, dòng thủ,
dòng sinh tử. Tại đây, Ngô Thừa Ân đang thật sự kiến
trúc động Thủy Liêm theo giáo lý nhà Phật.
Chỉ
có Mỹ Hầu Vương sinh ra từ đá, từ tú khí của trời đất,
mà không sinh từ dục vọng (hay từ nghiệp), mới có trí tuệ
Vô ngã phát hiện ra sự thật vô thường, khổ đau. Mỹ Hầu
Vương đã dàn dụa nước mắt, sầu não thấy lửa vô thường
đang bốc cháy chung quanh cuộc sống, lo lắng tìm lối thoát
ra khỏi khổ đau. Tất cả đàn khỉ còn lại thì vẫn nhởn
nhơ với niềm hạnh phúc nhỏ trước mắt. Thấy rõ sự thật
Vô thường là dấu hiệu của đạo tâm phát khởi, và là
dấu hiệu của sự thấy rõ con đường ra khỏi sự trói buộc
của vô thường, như một chú khỉ đã phát biểu muộn màng
rằng: “Ðại vương lo xa như thế là đạo tâm ngài đã phát
khởi rồi đấy” và đã giới thiệu với Mỹ Hầu Vương
hiện nay tại cõi đời này, ở nơi động cổ, núi Tiên có
ba đấng Phật, Tiên, Thần Thánh là thoát khỏi sinh diệt,
luân hồi (thật ra là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác và A-la-hán);
từ đó Mỹ Hầu Vương ra đi, tìm đến đại Tôn giả Tu Bồ
Ðề, một đại đệ tử của Ðức Phật, để học đạo
giải thoát của Tam thừa giáo (Bồ Tát-thừa, Duyên Giác thừa,
Thinh Văn thừa) và Nhất thừa giáo (Phật thừa). Ðây là điểm
giáo lý rất đại thừa (Phật giáo phát triển).
- Có
một nếp sống thanh đạm, rời khỏi phiền não hằng ngày,
và hiếu hạnh của một bác tiều phu ở trước cổng vào
trú xứ của Tôn giả Tu Bồ Ðề mà Mỹ Hầu Vương ca ngợi,
vui mừng khi thấy, như là dấu hiệu của quê hương giải
thoát có mặt gần kề. Chính bác tiều phu chỉ được cho
Mỹ Hầu Vương đến yết kiến bậc đạo sư. Tại đây Ngô
Thừa Ân gián tiếp giới thiệu hiếu đạo cũng là một phần
thể hiện của đạo giải thoát, tương ưng với Phật giáo.
- Sự
thật mà Mỹ Hầu Vương sẽ học từ Tôn giả Tu Bồ Ðề
và sẽ chứng ngộ là sự thật Vô ngã tướng của các pháp
(còn được gọi là Vô ngã tính hay Vô tự tính hoặc Không
tính). Sự thật ấy được hé mở từ mẫu đối thoại đầu
tiên giữa Tôn giả Tu Bồ Ðề và Mỹ Hầu Vương mang đầy
hương vị của một cảnh khai tâm của một thiền sư:
“Tôn
giả Tu Bồ Ðề hỏi:
- Tính
danh ngươi là gì”
- Con
không có tính gì cả... Nhất sinh không có tính.
- Không
phải là tính tình. Tính danh bố mẹ nhà người kìa?
(Ðây
là hỏi về bản lai diện mục)...
Thế
rồi, Tôn giả Tu Bồ Ðề cho pháp danh là Tôn Ngộ Không (đã
đề cập ở phần tổng luận).
Ðạo
giải thoát khỏi cội nguồn của mọi khổ đau mở nguồn
từ Ngộ Không này, và đạo ấy có mặt trong tâm của mỗi
người, như Tôn giả Tu Bồ Ðề thường có mặt ở “Tà
nguyệt tam tinh” động (Tà nguyệt tam tình là chữ tâm gồm
có một nét như vành trăng và ba chấm). Tác giả Tây Du Ký
đã giới thiệu đúng con đường tu tập của Phật giáo là
con đường trở về chính mình để tu tập tâm, huấn luyện
tâm và giải thoát tâm. Con đường này rất là nhân bản và
rất là hiện thực.
II.
Quan niệm của Ngô Thừa Ân về con người
-
Nếu về mặt Phật học, phái đoàn Tây du biểu thị các phần
tố tâm lý của một tâm thức đi về giải thoát khỏi sinh
tử, thì về mặt tương đối của đời sống xã hội phái
đoàn Tây du là biểu hiện sự cấu trúc của nhân tính (personality)
thể hiện sự hòa điệu giữa tim và óc, giữa tiềm thức,
siêu thức và ý thức, giữa cá nhân và xã hội.
Tại
đây, Mỹ Hầu Vương là biểu tượng của khối óc (hay lý
trí). Lý này vốn có mặt trong tâm mỗi người và có khả
năng có thể mở rộng ra vô hạn như ý nghĩa Mỹ Hầu Vương
tìm đường đi ra khỏi thế giới hữu hạn của sinh tử.
Khả năng vô hạn ấy đã được nền giáo dục hiện đại
chứng tỏ.
- Khối
óc, hay nguồn hiểu biết của con người, như đạo Nho quan
niệm (nói đúng là quan niệm của Khổng Tử) có ba dạng hiểu
biết gọi là “sinh nhi tri học nhi tri và khốn nhi tri” biểu
hiện ra khác nhau ở mỗi con người. Ở Mỹ Hầu Vương sinh
ra là đã tự biết (sinh nhi tri); rồi tìm thầy học đạo
(học nhi tri); sau đó là lên đường hành đạo, chiến thắng
ác ma (khốn nhi tri)
-
Tiếng nói của lý trí là tiếng nói của sự ngay chính, tình
đồng loại, của óc tổ chức, của sự dự phòng tốt đẹp
cho tương lai, của sự công bằng, và của sự phân biệt minh
bạch phải, trái, tốt, xấu, như sự hiểu biết của chính
cá nhân Mỹ Hầu Vương. Lý trí giữ vai trò hướng dẫn mọi
hành động của con người, như đôi mắt, hệt như Tôn Hành
Giả hướng dẫn phái đoàn Tây du. Chúng ta sẽ tiếp tục
khảo sát vai trò của lý trí trong các hồi kế tiếp, theo
quan niệm của tác giả Ngô Thừa Ân.
III.
Quan của tác giả về xã hội.
- Một
xã hội tốt đẹp, an lạc, hạnh phúc, theo tác giả phải
là một xã hội thái bình (không chiến tranh), độc lập với
các sức mạnh thống trị như xã hội khỉ ở động Thủy
Liêm.
- Xã
hội ấy cần được tổ chức tốt về an ninh kinh kinh tế,
như xã hội ở núi Hoa Quả ở trong vị thế an toàn và phong
phú thực phẩm.
- Xã
hội ấy phải được lãnh đạo bởi người có đủ tài,
đức do dân chọn lựa như Mỹ Hầu Vương, mà không phải
do tuổi tác hay dòng dõi. Quan niệm này của Ngô Thừa Ân được
viết ra từ thế kỷ thứ XVI của xã hội phong kiến Trung
Hoa quả là một quan niệm đầy dân chủ và tiến bộ. Ðây
là mô hình xã hội mà nhân dân làm chủ, bảo vệ được
quyền sống của nhân dân.
Hồi
thứ 2
Hồi
2: “Thấu lẽ bồ đề, vào chính quả
Dứt căn ma quỷ, rõ nguyên nhân”
I.
Về tư tưởng Phật học.
- Hồi
thứ hai là Hồi học đạo và hành đạo của Tôn Ngộ Không.
Tôn Ngộ Không đã học, bàn luận, và hành “Tam thừa giáo”
và “Nhất thừa giáo” suốt bảy năm liền, như Ngô Thừa
Ân giới thiệu:
“...Diễn
đủ Tam thừa giáo
Lúc
diễn thiền môn, khi giảng đạo
Ba
nhà hợp lại nghĩa thêm càng”
Trong
thời gian này Tôn Ngộ Không làm công tác của một người
xuất gia, chấp tác và thực hành văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ
để nuôi dưỡng trí tuệ giác ngộ Không tánh (Vô ngã tánh)
của các pháp. Ngô Thừa Ân đã vẽ nên thời gian tu tập này
rành rẽ hệt như một nhà Phật học chính gốc. Ðộng cơ
và nguyện vọng xuất gia của Tôn Ngộ Không là để giải
thoát hết thảy phiền não, khổ đau của sinh tử rất tương
ưng với giáo lý của Phật giáo. Ngô Thừa Ân đa dẫn dắt
Tôn Ngộ Không đi đúng tiến trình Giới, Ðịnh, Tuệ giải
thoát khiến cho người đọc Tây Du Ký không còn nghi ngờ giá
trị của bộ tiểu thuyết này mà trọng tâm là giới thiệu
con đường (hay lộ trình tu tập giải thoát của đạo Phật).
Chúng ta hãy tiếp tục theo dõi.
- Sau
bảy năm hành đạo, khi Tôn Ngộ Không hiểu rõ đường đi
chỗ đến, Tôn giả Tu Bồ Ðề dạy tiếp tục công phu thiền
chỉ và thiền quán để chế ngự thân và ý, để điều hòa
thân và điều hòa tâm. Tôn Ngộ Không thực hành công phu này
trong ba năm thì sáng tỏ tâm và tuệ. Một hôm Tôn giả hỏi
Tôn Ngộ Không:
- Người
tu đã đắc quả gì rồi?
- Ðệ
tử gần pháp tánh, đã rõ căn nguyên, còn phải đề phòng
ba tai họa nữa (nghĩa là cần tiếp tục công phu chỉ, quán
để vượt qua ba tai họa ấy), điều mà kinh nghiệm giải
thoát của Tôn Ngộ Không chưa đặt chân đến được. Do vì
thành quả tu tập của Tôn Ngộ Không ngang đây là sắp cướp
được quyền sinh diệt của tạo hóa sẽ giáng xuống ba tai
họa. Ðó là họa “sét đánh” có thể làm ngưng trệ sinh
mệnh giải thoát; họa “âm hỏa” (không phải là lửa trời,
cũng không phải là lửa của người) vì họa “bi phong”
(không phải là gió trời) rất mạnh cũng gây ảnh hưởng
khốc hại đến sự nghiệp giải thoát.
Ngôn
ngữ của Ngô Thừa Ân tại đây rất là tiểu thuyết và rất
là biểu tượng, nhưng đồng thời cũng diễn đạt các bước
đi tu tập giải thoát rất là thiện xảo.
Trong
Phật giáo, ba tai nạn đó là gì? Trở về với giáo lý truyền
thống Phật giáo, khi hành giả thông rõ pháp tánh là khi đắc
pháp nhãn thanh tịnh, bước vào dòng Thánh; bấy giờ còn lại
tập khí sinh tử phải trừ, bao gồm bảy kiết sử: dục,
sân, hữu ái, vô hữu ái, mạn, trạo cử và vô minh. Nạn
sét đánh là biểu tượng của vô minh (hay si). Vô minh ở đây
là nội dung của sự việc tâm thức bị rơi vào chấp trước
quả đắc (gọi là mạn), lúng túng không thấy lối ra (gọi
là trạo cử) mà tự mình không biết (gọi là vô minh). Sự
chấp trước này thì rất tế nhị nhưng rất quyết định
trong việc làm tắc nghẽn trí tuệ giải thoát sau cùng, tựa
như sấm sét nhanh chóng kết liễu sinh mệnh con người. Ðể
vượt qua, hành giả cần hành định sâu và thiền định sâu
và thiền quán mạnh về Vô ngã để cũng nhanh chóng như tiếng
sét cắt đứt ngay sinh mệnh của chấp trước vô minh.
Nạn
“âm hỏa” là biểu tượng cho lửa sân, kiết sử, hữu
ái và hữu ái); lửa này cũng có khả năng thiêu cháy trí
tuệ toàn giác làm héo úa thân huệ mạng.
Nạn
“bi phong” là biểu tượng của tâm lay động chao đảo của
hành giả do còn chấp pháp, do còn non định lực giải thoát
trước bi nguyện độ sinh vô lượng. Ðịnh và tuệ Vô ngã
còn hạn lượng của hành giả sẽ không thể đứng vững
được trước bi nguyện độ sinh vô hạn lượng. Bi nguyện
vô hạn lượng làm choáng ngợp hành giả, khiến hành giả
không thể hiện được Bồ Tát hạnh để chứng đắc trí
tuệ toàn giác. Chính ba tai nạn này sẽ tái hiện nhiều lần
dưới nhiều thể trạng khác nhau đối với hành giả mà các
hồi sau chúng ta sẽ có dịp tiếp tục bàn sau.
- Ðể
giúp đệ tử Tôn Ngộ Không có điều kiện thoát khỏi ba
tai nạn trên, Tôn giả Tu Bồ Ðề đã chỉ dạy sâu thêm công
phu tu tập để phát triển mạnh thiền quá Vô ngã, củng cố
thêm nhiều cho trí tuệ giải thoát, bằng pháp môn “địa
sát” gọi là 72 pháp biến hóa thần thông (thất thập nhị
huyền công) và “cân đẩu vân” hầu có đủ mọi cách làm
bật lên gốc rễ của vô minh và quyến thuộc vô minh.
Chuẩn
bị hành trang giải thoát cho Tôn Ngộ Không kỹ càng như thế
quả Ngô Thừa Ân đã nắm vững lộ trình tâm thức giải
thoát của Phật giáo, ít nhất là về mặt giáo lý.
Tại
đây, Tôn Ngộ Không hẳn đã có trí tuệ, đệ nhất ly thủ,
đệ nhất giải Không, trở về Hoa Quả sơn, Tôn Ngộ Không
đã dễ dàng dẹp Hỗn Thế Ma Vương, loạn của các ngã tưởng,
để bình định lại giang sơn trí tuệ của mình tại Thủy
Liêm động.
II.
Quan niệm về con Người
-
Ở mặt giải thoát thì Tôn Ngộ Không là biểu tượng của
trí tuệ cần được tu tập để phát triển giải thoát và
để chế ngự các cảm thọ khổ đau. Xây dựng một nhân
cách giải thoát là xây dựng Giới, Ðịnh, Tuệ và lòng đại
bi cho nhân cách xã hội gồm tri, hành và lòng nhân ái thế
nào để thành công, lợi lạc cho mình và người.
Tại
hồi hai, vai trò lý trí, được biểu trưng bằng nhân vật
Tôn Ngộ Không, là vai trò chỉ đạo mọi hành động của
con người cũng cần được huấn luyện, giáo dục. Thường
thì mẫu người giáo dục của Trung Hoa được đào tạo theo
khuôn mẫu đạo Khổng Nho và được thêm vào một ít Lão,
Trang. Ngô Thừa Ân đã rất sáng tạo và rất can đảm giới
thiệu một khuôn mẫu giáo dục theo giáo lý nhà Phật. Có
lẽ sự chọn lựa này đã đến với Ngô Thừa Ân sau khi Ngô
Thừa Ân chứng kiến sự đổ vỡ của xã hội phong kiến
Trung Hoa với đầy rẫy những bất công áp bức, chủ nghĩa
hình thức, kém nhân bản v.v... và vai trò của Nho giáo không
đáp ứng nổi nhiều yêu cầu mới của con người và lịch
sử - Như về sau Kim Dung, trong tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu
Ngạo Giang Hồ, đã xây dựng mẫu người Lệnh Hồ đại hiệp
thay thế quân tử kiếm Nhạc Bất Quần - Tây Du ký ra đời
như là tiếng nói rất trí tuệ, hiện thực và nhân bản vọng
về từ Tây Trúc. Không phải là chú ý đến sự nghiệp Tây
du thỉnh kinh của Ðường Tăng, mà là chú ý đến nhân cách
được xây dựng từ giáo lý này: một nhân cách sống vì
hạnh phúc an lạc của số đông, sống hiền thiện vì công
bằng, bình đẳng, tôn trọng sự thật, trách nhiệm cá nhân
và đặc biệt là sống tùy duyên rất là trí tuệ.
- Nhân
cách ấy cần được huấn luyện, giáo dục rất thực, mà
không phải của từ chương và hình thức - rất vững chắc
cả ba mặt hành động của thân, lời và ý, như là Tôn Ngộ
Không đã được huấn luyện văn, tư, tu trong bảy năm và
khả năng làm chủ chủ tư duy và tâm lý (thiền định) trong
ba năm trước khi vào đời để tiếp tục thực hành và học
hỏi thực tế của trường hợp.
- Triết
lý chỉ đạo cho nhân cách ấy là giáo lý Vô ngã, Vô thường,
Khổ, Không của Phật giáo (mà nói tắt là giáo lý Vô ngã).
Do thấm nhuần sự thật Vô ngã, người học viên dần dần
làm bật lên được gốc rễ chấp ngã, tham lam, sân hận,
lừa dối và các sầu bi, khổ, ưu, não; và tại đây, một
nhân cách mẫu mực xuất hiện để xây dựng an lạc, hạnh
phúc cho bản thân, gia đình và xã hội.
Triết
lý hành động của nhân cách ấy là trí tuệ Vô ngã (chánh
kiến và chánh tư duy) phân biệt chánh, tà, hư, thực, tốt,
xấu; là lòng vị tha và sức mạnh vô úy. Tất cả ấy là
con người, vì con người, cho con người hiện thực, và do
con người trách nhiệm. Ðây là mẫu nhân cách trí tuệ, nhân
bản và sinh động.
Khi
mà cá nhân có tự do tâm lý, làm chủ được tâm lý thì cá
nhân sáng suốt hơn và có nhiều sáng tạo hơn. Chính yếu
tố tâm lý sáng tạo này sẽ đóng góp lớn cho xã hội.
Chúng
ta sẽ tiếp tục bàn đến nhân cách này trong các hồi kế
tiếp.
Ngô
Thừa Ân quan niệm nhân cách giáo dục ấy tốt hơn nhân cách
xây dựng từ đạo Nho nhiều, nhưng đồng thời cũng thấy
khó khăn trong việc thực hiện trong xã hội phong kiến Trung
Hoa, bởi giáo lý Phật giáo nói lên tính bình đẳng, dân chủ,
tự chủ, độc lập sẽ lay đổ ngai vàng và quyền lợi của
ngai vàng. Ðể bảo vệ quyền lợi của phong kiến, triều
đại vua chúa (Trời) sẽ gieo rắc ngay tai họa chết người
mà được gọi là nạn “sét đánh”, nạn “âm hỏa” và
nạn “bi phong”. Vì thế Ngô Thừa Ân đã chuẩn bị khá
kỹ lưỡng cho Tôn Ngộ Không với một căn bản định, tuệ
và “thất thập nhị huyền công” để vận dụng đối phó
với các kháng lực đến từ chính quyền phong kiến và từ
phía các tà giáo trên đường thực hiện lý tưởng xây dựng
một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng và nhân bản,
và xây dựng một nếp tư duy mới về giá trị nhân sinh và
xã hội.
- Bước
đầu tiên của việc thể hiện lý tưởng mà Tôn Ngộ Không
đã được giáo dục là dẹp giặc loạn xâm lược của Hỗn
Thế Ma Vương và tiêu diệt toàn bộ thế lực xâm lược này.
Hỗn Thế Ma Vương là biểu tượng của dục vọng, ác hại
mà Tôn Ngộ Không cần loại bỏ trước khi bắt tay vào việc
giáo dục kiến thiết giang sơn Thủy Liêm động.
III.
Quan niệm về xã hội.
- Về
mặt xã hội, từ đây toàn thể đoàn khỉ đều có họ Tôn
của Tôn Ngộ Không và chịu sự lãnh đạo tổ chức của
Ngộ Không. tất cả đều bình đẳng về quyền sống trong
động Thủy lIêm, núi Hoa Quả tất cả đều đoàn kết thành
một khối ở đằng sau Tôn Ngộ Không và cùng có trách nhiệm
trong việc xây dựng và bảo vệ xã hội loài khỉ theo hướng
phát triển hưng thịnh.
- Tôn
Ngộ Không liền tổ chức chặt chẽ an ninh, quốc phòng để
bảo vệ thành quả thanh bình của xứ sở. Thành quả xã hội
ấy sẽ đến từ nền giáo dục tinh thần trách nhiệm cá
nhân, tinh thần độc lập tự cường, tinh thần Vô ngã, vị
tha, tinh thần dân chủ và nhân bản. Các tinh thần giáo dục
ấy sẽ tạo nên tình đoàn kết keo sơn của xã hội, sẽ
tạo nên những công dân tốt, loại trừ được các tệ trạng
xã hội như dối trá, cướp bóc, tà hạnh, tham nhũng, áp bức,
lười biếng, thủ lợi, sa đọa... Tại đây, xã hội loài
khỉ, hiện ra như một xã hội thí điểm mà Ngô Thừa Ân
muốn giới thiệu, và mẫu thí điểm này là dành cho xã hội
con Người, đặc biệt là xã hội Trung Hoa với nhiều thành
kiến. Hẳn nhiên Ngô Thừa Ân đã dự phòng trước các sức
mạnh đề kháng từ bên trong và bên ngoài trong việc xây dựng
xã hội mới hợp lý hợp tình hơn. Chúng ta hãy chờ xem trong
các hồi tới Ngô Thừa Ân sẽ làm gì tiếp cho xã hội mới
này?
Hồi
thứ 3
Hồi
3: “Bốn bể nghìn non đềusợ nép
Chín
u, mười loại xóa tên rồi”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Sau khi dẹp xong giặc Hỗn Thế Ma Vương, Tôn Ngộ Không tiến
hành việc tổ chức xã hội khỉ để giữ yên bờ cõi núi
Hoa Quả. Bấy giờ có bốn trưởng lão khỉ hỏi về thần
thông của Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không bảo:
“Ta
từ sau khi đắc đạo, có công luyện tập bảy mươi hai phép
địa sát và biến hóa, được phép thần thông cân đẩu vân
không gì sánh bằng; ẩn mình, tránh mình, cất mình lên, thu
hình lại, lên trời cũng có đường, xuống đất cũng có
lối, bước vào mặt trời mặt trăng không có bóng, đi vào
vàng đá không vướng mắc, nước không thể làm chìm, lửa
không thể đốt cháy, chỗ nào mà chẳng đi được”.
Như
đã đề cập ở hồi hai, tại Tà Nguyệt Tam Tinh động, Tôn
Ngộ Không đã đắc pháp nhãn thấy rõ sự vật Vô ngã, do
vì sự thật của mọi hiện hữu là Vô ngã nên sự kiện
một người có thể theo ý muốn hiện ra nhiều ngã tướng
khác nhau. Tất cả hiện hữu đều Vô ngã nên đều nhiếp
nhau, không ngăn ngại, nên lửa không thể đốt cháy, nước
không thể cuốn trôi, gió không lay, đất không cản v.v...
“Lý”
của sự thật là như vậy nên “sự” của sự thật cũng
như vậy. Ở cảnh giới Tứ sắc định, hành giả có thể
có thần thánh không du hành, biến hóa tự tại. Tâm thức
có giải thoát Vô ngã cũng thế, tùy duyên mà thị hiện. Ðây
là sự thật như thật được ghi chép trong kinh điển Phật
giáo.
Về
nghĩa bóng, thì với một người ngộ Vô ngã mà không có thần
thông biến hóa, tâm thức họ cũng được tự tại trước
mọi sắc tướng như Tôn Ngộ Không tự tại ra vào các cảnh
giới mà tâm lý không ai trước, không bị vướng mắc - sẽ
thấy rõ hơn về sự thật này ở các hồi sau - Nhưng, để
tâm thức an ổn có điều kiện đi sâu hơn vào giải thoát,
người ngộ Vô ngã cũng cần tránh các sự quấy rối từ
bên ngoài, như giang sơn Thủy Liêm động cần được giữ
gìn an ninh. Ðây cũng là một sự thật của hành giả đang
còn có nhiều việc phải làm trên đường tới giải thoát
tối hậu.
- Về
sự kiện trong giấc mơ Tôn Ngộ Không xuống âm phủ đại
náo và xóa tên sinh tử của bản thân và của loài khỉ, âm
ti phải cử sứ thần lên tấu với Ngọc Hoàng xử trị mà
Ngọc Hoàng lại hòa giải với Tôn Ngộ Không, là sự kiện
hoàn toàn biểu tượng.
Thực
sự, mức độ tâm linh giải thoát của Tôn Ngộ Không bấy
giờ tự nó đã xóa sạch nhân sinh tử đi vào các cảnh giới
súc sinh, địa ngục và ngạ quỷ, theo giáo lý nhà Phật. Giải
thoát của Tôn Ngộ Không bấy giờ có phước báo còn lớn
hơn cả vua Trời, dù vua Trời có muốn hại cũng không được.
Sự kiện giải thoát ấy là một thành quả lớn đáng kể
của công phu tu tập làm kinh động các cảnh giới sinh tử
đã khiến cho triều thần các cảnh giới ấy ganh ghét, đố
kỵ khi mà tâm thức họ đang đầy ắp chấp thủ các tự
ngã.
Quả
thật Ngô Thừa Ân đã viết đầu hồi ba ngày:
“Bốn
bể nghìn non đều sợ nép
Chín
u, mười loại xóa tên rồi”
II.
Quan niệm về con người
-
Cái nhân cách giáo dục mà Ngô Thừa Ân quan niệm, đã được
biểu hiện qua Tôn Ngộ Không; sau khi được đào tạo giáo
dục từ hệ thống giáo dục Vô ngã của Tôn giả Tu Bồ Ðề
thì liền đi vào xã hội để xây dựng xã hội và con người
xã hội.
Với
trí tuệ Vô ngã, với nhận thức mọi hiện hữu đều Vô
ngã nên soi thấy mọi giá trị trong cuộc sống cũng Vô ngã,
cũng đều không có một giá trị nhất định (hay chỉ có
giá trị tương đối). Các giá trị ước lệ của xã hội
về con người và xã hội chẳng những đã không thể đứng
vững mà còn gây xáo trộn cho tâm lý con người và gây xáo
trộn xã hội. Tất cả các giá trị ước lệ ấy trở thành
trói buộc con người và xã hội, kìm hãm khả năng giải phóng
con người và xã hội. Chúng cần được nhận thức mới xét
lại, thay thế hay đập vỡ, dù giá trị ấy ở mỗi cá nhân
hay tập thể. Ðấy là những gì mà Ngô Thừa Ân đã mượn
chiếc thiết bổng nặng hơn vạn cân của Tôn Ngộ Không đập
nát loạn Hỗn Thế Ma Vương. Cần phải dọn sạch các giá
trị “hỗn thế” ấy, con Người rất Người mới có được
một không khí trong lành để sống. Từ đây, con người sống
với tâm lý tự do hơn, thoải mái hơn, có nhiều điều kiện
sáng tạo hơn và làm được nhiều việc lành, lợi ích hơn
cho bản thân, gia đình và xã hội. Ðây là ý nghĩa mà Ngô
Thừa Ân đã biểu tượng hóa thành các thần thông tự tại
đi vào nước, vào lửa, vào đất, vào không gian của Tôn
Ngộ Không.
Từ
đây, mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của chính
mình đối với bản thân, gia đình và xã hội, mà không ai
khác quyết định hay bắt ép. Giá trị của con người, và
hành động của con người là do tự giác, tự nguyện và tự
do chọn lựa của họ, mà không liên hệ gì đến việc thưởng
phạt tại Âm phủ, Long phủ hay Thiên đình. Ðây là ý nghĩa
mà Ngô Thừa Ân đã lồng vào hình ảnh của Ngô Thừa Ân
đã lồng vào hình ảnh Tôn Ngộ Không xóa sạch sổ ghi thiện
ác, sinh tử của loài khỉ (xứ sở của Tôn Ngộ Không) ở
Âm ty.
- Về
cá nhân, mỗi người được giáo dục theo tinh thần Vô ngã
sẽ luôn luôn giữ hành động của mình được dẫn dắt bởi
tâm ngay chính, nhân ái, trí tuệ và không vướng mắc, luôn
luôn kiểm soát tâm mình và giữ tâm lý ở ngoài các niệm
thị phi, đố kỵ, sầu, bi, khổ, ưu não. Khi tâm lý được
huấn luyện đến cấp độ không vướng mắc (hay ít bị vướng
mắc) vào các tâm niệm đó thì tâm lý sẽ ở vào trạng thái
tự do. Bấy giờ là thời điểm sáng suốt, sáng tạo và hạnh
phúc cá nhân. Ở mặt giải thoát tương đối mà nhìn, thì
đây là cảnh giới tâm lý tốt đẹp. Cảnh giới tâm lý tốt
đẹp này thường xuất hiện trên đôi mắt của Tôn Ngộ
Không mà chúng ta sẽ tiếp tục theo dõi.
III.
Quan niệm về xã hội
Các
nhà lãnh đạo nếu sống thể hiện tinh thần Vô ngã thì sẽ
có sức mạnh vô úy, lòng vị tha, khoan dung, thái độ phóng
khoáng, không câu nệ cố chấp, có tinh thần trách nhiệm cao...
sẽ thu hút được quần chúng đoàn kết sau lưng mình trong
mọi công tác giữ nước và dựng nước, như đàn khỉ quây
quần
chung quanh Tôn Ngộ Không vậy.
- Nếu
mọi người dân được giáo dục Vô ngã, chấp nhận sự thật
Vô ngã thì sẽ rời xa các thái độ sống chấp thủ, sẽ
dễ dàng đoàn kết thành một khối tạo nên sức mạnh lớn
lao cho dân tộc.
- Giáo
dục Vô ngã sẽ tạo nên một nền văn hóa Vô ngã. Nền văn
hóa này sẽ xóa đi các tư duy chấp thủ gây chia rẽ khối
đại đoàn kết của dân tộc. Ðây là một mục tiêu lớn
và lâu dài của một xã hội. Tinh thần Vô ngã sẽ thống
trị các dị biệt, gom tất cả về một mối phục vụ cho
cùng một mục tiêu: xứ sở.
- Khi
mà đoàn kết dân tộc được thực hiện tốt, và khi mà nhân
dân sống với thái độ không cố chấp thì mọi việc nước
sẽ được thực hiện dễ dàng, như Tôn Ngộ Không tự tại
đi vào nước, vào lửa..., đất nước sẽ hùng cường khiến
các nước lân bang không thể dòm ngó, không thể quyết định
vận mệnh của dân tộc ấy. Vấn đề xâm lăng, bảo hộ
sẽ không có đất đứng; sẽ bị xóa sạch khỏi lịch sử
như Tôn Ngộ Không xóa sổ sinh tử ở Âm ty cho loài khỉ ở
Thủy Liêm động.
Hồi
thứ 4, 5, 6 và 7
Hồi
4: “Quan phong Bật Mã lòng sao xứng
Tên
gọi Tề Thiên dạ chẳng yên”
Hồi
5: “Loạn vườn đạo Ðại Thánh trộm thuốc tốt
Về
Thiên cung cá thần bắt yêu quái”
Hồi
6: “Quân Âm đến hội hỏi nguyên do
Tiểu
thánh ra oai thu Ðại thánh”
Hồi
7: “Ðại Thánh trốn khỏi lò bát quái
Hầu
Vương bị giam núi ngũ hành”
Lược
truyện hồi 4, 5, 6 và 7
Từ
chuyện Tôn Ngộ Không xuống Long Vương lấy thiếc bổng để
thêm khí giới giữ bờ cõi Hoa Quả sơn, đại náo Long cung,
vua Trời muốn xử hòa với Tôn Ngộ Không đã không thành
thật phong chức giữ ngựa Trời, rồi Tề Thiên Ðại Thánh,
rồi giữ chức vườn đào. Các chức ấy đều là hư vị
đặt ra do sự dối trá (không thật ý của Thiên đình). Hậu
quả của sự dối trá ấy dẫn đến cuộc đại náo Thiên
đình của Tề Thiên Ðại Thánh khiến Tề Thiên Ðại Thánh
bị giam vào núi Ngũ Hành năm trăm năm.
I.
Tư tưởng Phật học
-
Như đã được đề cập ở phần Tổng luận, các hồi 4,
5, 6 và 7 là các hồi chiến cuộc xẩy ra giữa Tôn Ngộ Không
và Thiên đình. Tất cả chỉ là những hình ảnh biểu tượng
nói về Phật học và quan niệm về nhân sinh xã hội của
tác giả. Không phải mọi hình ảnh đều chuyên chở ý nghĩa
về Phật học được hiểu một cách máy móc. Chúng ta cần
để ý đến các nét chính nổi bậc nhất của bối cảnh,
rồi tìm hiểu các nét chính nổi bậc nhất của bối cảnh,
rồi tìm hiểu các nét chính ấy có mang biểu tượng nào của
Phật học?
- Ðể
phát hiện các biểu tượng ấy, chúng ta cần phân biệt rõ
ràng:
* Các
cõi Trời được đề cập đến trong Tây Du Ký này đều là
các cõi trời Dục giới. Các cõi ấy là các cõi thiện: nhờ
phước báo thiện hạnh của tiền kiếp, tùy theo phước báo
lớn nhỏ mà được làm Ngọc Hoàng, Thiên tướng, Thiên quan
hay Thiên dân. Các phước báo kia đều thuộc hữu lậu, và
các vị Trời kia cũng còn đầy ham muốn, bỉ thử, thị, phi
tương tự ở cõi Người (chỉ ở cấp độ thanh cao hơn).
Các cảnh giới thuộc trời Dục giới vẫn còn nạn chiến
tranh với A-tu-la do bởi các cuộc tranh chấp về quyền hạn,
hay đố kỵ về hạnh phúc.
* Quả
vị giải thoát của Pháp nhã (Dự Lưu, hay Thất Lai, hoặc
Tu-đà-hoàn) như ở cấp độ giải thoát của Tôn Ngộ Không
là quả vị ở ngoài các tâm đố kỵ hay tranh chấp.
- Mỹ
Hầu Vương, tánh vốn phóng khoáng, lại sống nhập thế tự
tại, muốn làm chủ mọi hành động của bản thân mà không
câu nệ sự tướng - bởi thấy tất cả đều rỗng không
tự ngã - nhưng phía chúng sinh ở cõi Trời, Người thì khác,
do vậy xẩy ra các xung đột.
- Tác
giả đã vận dụng cuộc đại náo Thiên cung và sự chiến
thắng Thiên đình của Tôn Ngộ Không để nói lên rằng tâm
thức của Tôn Ngộ Không bấy giờ đã vượt ra khỏi chấp
thủ lục đạo (Thiên, Nhơn, A-tu-la, Ðịa ngục, Ngạ quỷ,
Súc sinh). Tên gọi Tề Thiên Ðại Thánh vì thế được khoa
trương.
- Với
đôi mắt thánh thiện của Ðại Thánh, cõi Trời hiện ra cái
bản tướng lẩm cẩm của nó; tất cả chúng Trời đang ngủ
yên trong dòng nghiệp của Trời, thiếu nhân duyên để thấy
đạo, thấy Vô ngã, Vô thường của cảnh trời. Cuộc đại
náo có tác dụng đánh thức các cung viện và Thiên chúng,
giúp Thiên chúng mở sáng đôi mắt tuệ. Cuộc đại náo,
như đã đề cập ở phần Tổng luận, còn có nghĩa là đại
náo trong tâm thức của Ngộ Không và của các hành giả.
- Tôn
Ngộ Không là biểu tượng của trí tuệ Vô ngã, là thuộc
thế giới của thực tướng vô tướng, nên các ngã tướng
lửa, nước, gió, đất, không gian, thức đều không hại được.
Vì thế, đao chém không dứt (đứt đầu rồi lại liền),
lò bát quái (lò hữu vi) đốt không cháy. Nhưng khi đối diện
với Ba La Mật toàn giác của Ðức Phật thì trí tuệ của
Tôn Ngộ Không trở thành trí tuệ cỏn con bị thu phục. Tại
đây, Ðức Phật dạy cho Tôn Ngộ Không rõ trí tuệ của Tôn
Ngộ Không chưa hoàn toàn thoát ly sự trói buộc của Năm uẩn
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) qua sự kiện Tôn Ngộ Không
không nhảy ra khỏi bàn tay Như Lai, và qua sự kiện bị Ngũ
Hành sơn chụp phủ 500 năm, như Tôn Ngộ Không đang vướng
mắc vào tánh tháo động của tâm, tuệ, vướng mắc vào ngã
mạn, tự kiêu, hiếu thắng và vô minh (bị vướng mắc mà
tự mình không biết).
II.
Quan niệm về con người
-
Mở ra cuộc đại náo thiên cung là tác giả muốn phơi bày
một sự thật rằng:
* Cái
tổ chức trật tự của Thiên cung là sản phẩm của trí hữu
ngã (trí của sinh, diệt, mộng ảo). Trí hữu ngã ban cho các
hiện hữu một ngã tướng, ngã tính để dễ suy luận, nói
năng, truyền đạt, để phân biệt rõ ràng giữa hiện hữu
này và hiện hữu khác; đó là tính thiết lập trật tự cho
các hiện hữu; chính ý niệm trật tự đã tạo dra xã hội
có vua, tôi, quan, dân..., và chính ý niệm ngã đã đặt để
việc làm vua suốt đời và làm vua theo dòng họ - quan dân
cũng thế - như ngạn ngữ nhân gian đã nói: “Con vua thì lại
làm vua...”. Mọi giá trị đặt ra của xã hội hữu ngã là
sản phẩm của tư duy hữu ngã, là những gì mộng ảo, không
thật, bởi vì tư duy thì khác với thực tại. Một xã hội
mà sống trong thế giới giá trị mộng mị như thế làm sao
có thể sống có hồn nhân bản? Chính các giá trị hữu ngã
ấy đã tạo ra cuộc “hỗn thế” mà con người cần phải
xây dựng, tổ chức lại theo giá trị Vô ngã và nhân bản.
- Chính
vì giá trị ước lệ của hữu ngã đang chế ngự cõi Trời
và cõi Người - đây quả là thế lực của đại tà - không
đặt để con người tài đức thật đúng vị trí xã hội
của nó mà sinh ra đại loạn. Ðể thức tỉnh vua Trời”,
hay “Như Lai bảo Ngọc Hoàng nhường ngôi cho lão Tôn thì
loạn đại náo sẽ yên”.
Như
thế, mở ra cuộc đại náo Thiên cung làm kinh động cả Trời,
Người, là Ngô Thừa Ân muốn giới thiệu một giá trị nhận
thức mới: giá trị của Vô ngã, muốn giáo dục con người
nhận thức rõ giá trị này. khi mọi người đều nhận thức
ấy và sẽ tạo nên một xã hội vắng bóng hết thảy các
bất công, áp bức, tham quyền cố vị, tham nhũng, khủng bố,
sa đọa... Ở đó, con người sẽ sống đúng giá trị của
con người, không còn đánh mất mình nữa (không còn hiện
tượng tha hóa).
Như
thế, mở ra cuộc đại náo Thiên cung làm kinh động cả Trời,
Người, là Ngô Thừa Ân muốn giới thiệu một giá trị nhận
thức mới: giá trị của Vô ngã, muốn giáo dục con người
nhận thức rõ giá trị này. khi mọi người đều nhận thức
như vậy thì sẽ hành động xây dựng bản thân, gia đình
và xã hội theo nhận thức ấy và sẽ tạo nên một xã hội
vắng bóng hết thảy các bất công, áp bức, tham quyền cố
vị, tham nhũng, khủng bố, sa đọa... Ở đó, con người sẽ
sống đúng giá trị của con người, không còn đánh mất mình
nữa (không còn hiện tượng tha hóa).
III.
Quan niệm về xã hội
- Mở
ra cuộc “đại náo” là tác giả đã quá rõ ràng muốn nói
rằng: Cơ chế tổ chức xã hội phong kiến là không hợp lý,
đã lỗi thời, cần tổ chức một cơ chế xã hội mới thể
hiện dân chủ, công bằng và nhân bản.
- Tác
giả cũng ý thức rõ rằng cuộc cải cách xã hội ấy khó
thực hiện, bởi nó xáo trộn xã hội cũ, điều mà thói quen
của cuộc sống khó hưởng ứng, và bởi vì đụng chạm quá
mạnh đến giai cấp lãnh đạo và quyền lợi của họ và
của quần chúng “ăn theo”. Vì ý thức như vậy nên tác
giả đã để Tôn giả Tu Bồ Ðề báo trước cho Tôn Ngộ
Không cẩn thận đề phòng ba tai nạn lớn mà Trời sẽ giáng
xuống, và đã để Tôn Ngộ Không làm cuộc “đánh thức”
mà không phải cách mạng. Tác giả muốn làm một cuộc thay
đổi về văn hóa và giáo dục trước, thực hiện ôn hòa
hơn. Nói rõ là tác giả sau khi lường trước tính sau thì
chỉ muốn có một cải tổ với quy mô khá lớn để giáo
dục cho quần chúng giác ngộ dần và cấp lãnh đạo ý thức
được về những đổi thay cần thiết: một xã hội mới
tổ chức dưới một giá trị mới và trật tự mới (nếu
cần nói như thế), chứ không phải là vô trật tự. Những
lý do vì sao sẽ được nói rõ vào các hồi tiếp, chúng ta
sẽ tìm hiểu.
Hồi
thứ 8
I.
Tư tưởng Phật học
-
Sau khi hàng phục Tôn Ngộ Không và giữ Tôn Ngộ Không tại
Ngũ Hành Sơn (có chú ếm và có thần giữ an toàn cho Tôn Ngộ
Không), Ðức Phật trở về Lôi Âm tự. Vừa đặt chân về
Lôi Âm tự, Ðức Phật liền dạy:
“Ta đem: Cặp mắt nhìn xa,
Nhìn
khắp Tam giới
Cỗi
rễ tính xưa,
Thấy
đều tịch diệt
Hình
thể hư không
Chẳng
còn gì hết
Hàng
phục khỉ già
Không
mấy ai biết
Sống
chết rành rành
Ðấy
là pháp tướng”.
Thế
rồi, Ðức Phật liền truyền mở hội Vu Lan ở xứ Phật
và tính việc truyền bá ba Tạng kinh Phật đến Nam Thiệm
Bộ Châu (từ Tây Trúc đến Ðông Ðộ - Trung Hoa).
- Như
đã bàn ở phần Tổng luận, Tôn Ngộ Không có tuệ Vô ngã
nhưng vì Giới và Ðịnh chưa tu tập vững nên còn bị trói
buộc bởi Năm uẩn (hình ảnh Ngũ Hành sơn chụp phủ lên
người 500 năm). Còn bị trói buộc bởi Năm uẩn là còn bị
trói buộc bởi các pháp hữu vi, chưa thật sự đi ra khỏi
sinh tử, luân hồi. Sự kiện Tôn Ngộ Không không thể nhảy
ra khỏi bàn tay của Ðức Phật là bài học Ðức Phật dạy
tiếp cho Tôn Ngộ Không rằng cần nhiếp tâm tu mạnh hơn nữa,
cần hành trì Giới uẩn, Ðịnh uẩn và Tuệ uẩn sâu xa hơn
nữa. Ðây là công phu mới tiếp tục công phu mà Tôn giả
Tu Bồ Ðề đã dạy tại núi Linh Ðài Phương Thốn ở động
Tà Nguyệt Tam Tinh. Công phu này sẽ bắt đầu tu tập từ khi
Ðường Tăng lên đường tỉnh kinh, điều mà Ðức Phật đang
sắp đặt tại hội Vu Lan bồn tại Lôi Âm tự.
- Tại
Thiên cung thì thường có hội Bàn Ðào để hưởng lạc và
để tăng tuổi thọ cho một số cấp lãnh đạo cao tại đó.
Sau vụ “đại náo” thì Ngọc Hoàng bày hội “Yên Trời”.
Tại Phật xứ thì tương phản, bày hội “Vu Lan”, còn được
gọi là hội “Hiếu Hạnh”, để báo đáp ân phụ mẫu,
sư trưởng. Cuộc thỉnh kinh về Ðông độ mà Ðức Phật
sẽ sắp đặt được mở đầu bằng hội “Hiếu Hạnh”
này.
- Ðức
Phật hẳn đã dự tính phái đoàn đi Tây Trúc thỉnh kinh từ
khi có vụ đại náo Thiên cung và từ khi hàng phục Tôn Ngộ
Không. Phật sự thỉnh kinh chính là con đường công phu giải
thoát đi đến trí tuệ Ba La Mật của Tôn Ngộ Không mà Ðức
Phật bày vẽ; giáo dục, dẫn dắt Tôn Ngộ Không vượt qua
ba tai nạn khốc liệt (sét đánh, âm hỏa và bi phong) mà Tôn
giả Tu Bồ Ðề đã báo trước.
- Ðức
Phật đã chuẩn bị sẵn năm bửu bối để Bồ Tát Quán Thế
Âm trao cho Ðường Tăng sau này: một áo cà sa, một tích trượng
và ba chiếc vòng (trong đó có một vòng để khống chế tính
cứng đầu, loạn động của Tôn Ngộ Không). Cà sa và tích
trượng là hành trang giải thoát của một tu sĩ Phật giáo
(chỉ thiếu bình bát). Y cà sa là biểu tượng cho phạm hạnh
nên có thể giúp hành giả thoát khỏi luân hồi; tích trượng
thường được người xưa dùng để chế ngự thú dữ, rắn
rít và các kẻ cướp đường; ở đây tích trượng của Phật
tự nó khắc chế các ác vật, ác thú.
Bồ
Tát Quán Thế Âm là vị Bồ Tát đã đắc trí tuệ Ba La Mật
và có đại bi nguyện độ sinh (đệ tử của Bồ Tát là Huệ
Ngạn đã là ở bên bờ của trí tuệ giải thoát rồi) được
Ðức Phật giao phó sứ mệnh theo dõi phái đoàn thỉnh kinh.
Ðây là biểu tượng của đích trí tuệ mà các hành giả
nhắm đến.
- Bốn
đệ tử mà Bồ Tát Quán Thế Âm thu nạp để phò Ðường
Tăng thỉnh kinh là: Tôn Ngộ Không, Tiểu Long Mã, Sa Ngộ Tịnh,
và Trư Ngộ Năng (xem Tổng luận)
II.
Quan niệm về con Người
Ðức
Phật biết rõ tâm tư của Tôn Ngộ Không, Ngài đến Thiên
cung hàng phục Tôn Ngộ Không theo lời thỉnh cầu của Ngọc
Hoàng, nhưng thực sự là đến cứu Tôn Ngộ Không và giữ
yên Tôn Ngộ Không tại một chỗ bình yên như là tạm thời
an trí để chờ đến thời điểm tốt hầu tiếp tục hành
Phật sự. Hẳn chúng ta còn nhớ lại Tôn giả Tu Bồ Ðề,
vị đại đệ tử của Ðức Phật, đã giáo dục Tôn Ngộ
Không thành người có trí tuệ chân chính để phục vụ đạo
và đời và đã cho hạ sơn trở về Nam Thiệm Bộ Châu. Ðây
không phải là việc làm tình cờ, mà đã có chủ ý của Phật.
Phương Chi, núi nơi trú xứ của Tôn giả Tu Bồ Ðề có tên
gọi là Linh Ðài Phương Thốn (có nghĩa là một tấc đất
của Linh Sơn, Lôi Âm tự), phải chăng đây là phân viện giáo
dục các Bồ Tát để độ sinh? Ðây là phân viện truyền
trao lý tưởng giáo dục độ sinh?
- Giai
đoạn đại náo Thiên cung của Tôn Ngộ Không chỉ là giai
đoạn đầu của việc truyền bá con đường văn hóa giáo
dục Vô ngã (hay Từ bi và trí tuệ Vô ngã), chỉ để gây
một tiếng vang đánh thức cuộc đời. Bấy giờ chưa phải
là thời điểm cho Tôn Ngộ Không thay thế Ngọc Hoàng. Dù
Tôn Ngộ Không không dễ gì truyền bá được liền, và xã
hội Thiên cung không hẳn sẽ được yên ổn hơn, mà có thể
sẽ có chiến tranh kéo dài để tranh lại ngai vàng đã mất
khi Thiên chúng chưa nhận ra lý tưởng cải thiện xã hội
tốt đẹp của Tôn Ngộ Không.
Lại
nữa, khi thu phục Tôn Ngộ Không tại Ngũ Hành Sơn, Bồ Tát
Quán Thế Âm đã dạy: “Nói ra một điều thiện thời ngoài
nghìn dặm sẽ ứng theo; nói ra một điều bất thiện thì
ngoài nghìn dặm sẽ chống lại”. Ðiều này Bồ Tát cố
ý nhắc nhở cho Tôn Ngộ Không biết rằng Tôn Ngộ Không đã
có lý tưởng tốt đẹp lo gì thiên hạ không nghe theo. Tôn
Ngộ Không cần phải biết trầm tỉnh ẩn nhẫn mà hành động.
Phải tri thời và phải tri pháp. Người xưa đã nói: trồng
cây thì cần 10 năm; trồng người thì phải 100 năm, Tôn Ngộ
Không làm văn hóa còn phải cần một khoảng thời gian để
kết nạp những người cùng chí hướng xiển dương con đường
văn hóa giáo dục mới, thời gian để đối phó với các kháng
lực đầy nguy hiểm. Tưởng chúng ta cần biết rằng sau lưng
Tôn Ngộ Không chỉ có đám khỉ nhỏ chưa đủ sức để bảo
vệ Hoa Quả sơn, sau đó nếu có lực lượng quần chúng hậu
thuẫn nhiều thêm thì lực lượng này không thể một lòng
một dạ và có quyết tâm như Tôn Ngộ Không, mà: hoặc là
bất nhất, dễ bỏ cuộc như Trư Bát Giới; hoặc là tình
cảm mềm lòng như Ðường Tăng; hoặc trung thành và có quyết
tâm nhưng thiếu dũng lược như Sa Ngộ Tịnh, thì rất khó
mà cải tổ nhanh chóng được xã hội trước kháng lực có
mặt khắp trong ngõ ngách xã hội như con “bạch tuộc”.
- Vấn
đề con người luôn luôn liên hệ chặt chẽ với vấn đề
trí tuệ (trình độ văn hóa), với vấn đề chánh kiến (các
quan điểm chủ trương), vấn đề tâm lý tình cảm, và vấn
đề giá trị của con người và xã hội sẽ mở ra một hướng
văn hóa, giáo dục mới. Chấp nhận con đường mới ấy không
phải chỉ có sự chấp nhận của tư duy mà đủ, mà cần
có ý chí, tình cảm và tâm lý chấp nhận nữa. Con đường
văn hóa giáo dục này vì thế đòi hỏi cần có thời gian
lâu dài để chuẩn bị con người. Tại đây chưa nói đến
cơ chế tổ chức xã hội cũ, guồng máy Nhà nước phong kiến
cũ rất cũ kỹ và rất cồng kềnh. Con đường văn hóa giáo
dục ấy cũng cần có thời gian để cuộc đời trắc nghiệm
giá trị. Ðó là các lý do mà Ðức Phật đã chuyển Tôn Ngộ
Không qua một hướng hành động khác có tính khoa học hơn
và thuyết phục hơn. Thời điểm Tôn Ngộ Không an nghỉ ở
Ngũ Hành Sơn là mốc điểm thời gian chuyển hướng, mà không
phải là đầu hàng. Ðó là thời gian cần thiết để Tôn
Ngộ Không kiểm điểm công tác và định hướng công tác.
III.
Quan niệm về xã hội.
- Xã
hội và con người cá thể quyện chặt vào nhau như một thực
thể. Hai hiện hữu ấy có tác động ảnh hưởng qua lại:
khi xã hội văn hóa thay đổi thì cá thể thay đổi theo; ngược
lại, khi nhận thức, tư duy của con người thay đổi thì xã
hội cũng dần dần thay đổi thời gian. Cả hai đều có tính
chất Vô ngã hay bất định, có thể được thay đổi tùy
theo các điều kiện sống, môi trường sống. Ý thức như
vậy, tác giả Ngô Thừa Ân đã chọn lựa thay đổi nhận
thức con người thì bị ràng buộc chặt chẽ với tổ chức
của xã hội, nhất là xã hội ấy là một xã hội phong kiến
lâu đời. Các giá trị phong kiến đã ăn sâu vào tiềm thức
con người và cơ cấu xã hội. Bất cứ một thay đổi nào
về giá trị thuộc xã hội phong kiến đều vấp phải một
kháng lực có quyền uy rất lớn của vua, tôi, triều thần
và quần chúng dưới trướng triều đình. Ðối mặt với
sức mạnh này, tất cả sức mạnh này, tất cả sức mạnh
của các cá nhân và của các nhóm quần chúng nhỏ đều phải
tan vỡ.
- Lại
nữa, xã hội phong kiến đã nuôi dưỡng các lực lượng tà
phái rất mạnh, tồn tại dựa vào các khuyết điểm của
phong kiến; các lực lượng này cũng không muốn thay đổi
xã hội phong kiến; bởi vì sự thay đổi ấy đe dọa đến
sự tồn tại và phát triển của các thế lực ấy. Các lực
lượng này trở thành vật cản đáng kể dưới bước đi
của Tôn Ngộ Không.
Tôn
Ngộ Không và nhóm chính phải của Tôn Ngộ Không, phải thường
xuyên lưỡng đầu thọ địch. Ðấy là chưa nói đến việc
có những sức cản nằm trong nhóm quần chúng của Tôn Ngộ
Không như vừa đề cập ở mục II, hồi 8 này.
Thực
hiện con đường lý tưởng về văn hóa, giáo dục Vô ngã,
vì thế Tôn Ngộ Không cần, rất cần, đến sự soi sáng của
trí tuệ toàn giác và lòng đại bi bủa ra của trí tuệ toàn
giác (biểu tượng bằng sự dẫn dắt của Ðức Phật và
Bồ Tát Quán Thế Âm). Nhìn lại lịch sử Việt Nam dưới
thời Lý, Trần, chúng ta có thể có một khái niệm về sự
chuẩn bị cho công việc thực hiện lý tưởng trên. Vạn Hạnh
thiền sư, Khánh Vân thiền sư, và cả Khuông Việt, Pháp Thuận
thiền sư đã dốc bao nhiêu tâm lực để tìm ra Lý Công Uẩn
và mở dần con đường cho Lý Công Uẩn lên ngôi báu.
Nhân
tâm cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến việc thay
đổi chế độ xã hội, có thể tạo điều kiện thuận lợi,
mà cũng có thể bất thuận lợi. Vì thế con đường sống
vị tha, đầy tình người và trí tuệ, cần được mở đầu
bằng hiếu đạo, điều mà Ðức Phật đã quan tâm mở ra
hội “Vu Lan Bồn” khi chuẩn bị lập thành phái đoàn Tây
du.
Chúng
ta sẽ dần dần thấy rõ những gì mà Tôn Ngộ Không cần
phải vượt qua vào các hồi kế tiếp.
Hồi
thứ 9, 10, 11 và 12
Hồi
9: “Trần Quang Nhị nhậm chức gặp nạn,
Sư
Giang Lưu trả thù báo ơn”
Hồi
10: “Lão Long Vương vụng tính phạm pháp thiên đình.
Ngụy
thừa tướng gửi thư nhờ âm phủ”
Hồi
11: “Qua địa phủ Tái Tôn về dương
Dâng
quả bí Lưu Toàn được vợ”
Hồi
12: “Vua Ðường lòng thành kính mở đại hội
Quan
Âm hiển Thánh hóa Kim thuyền”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Về con đường đến trí tuệ Ba La Mật, theo Phật giáo phát
triển (Ðại thừa), hành giả sau khi ngộ pháp tánh (còn gọi
là minh tâm, kiến tánh) cần phát tâm cầu Phật quả và hành
sâu giải thoát (Giới, Ðịnh, Tuệ) và tâm đại bi cứu độ
chúng sinh thì công đức giải thoát mới sớm thành tựu viên
mãn.
Bốn
hồi này là phần Bồ Tát Quán Thế Âm sắp đặt cho nhân
vật Ðường Huyền Trang xuất hiện với lòng đại bi phát
đại tâm đi Tây Trúc thỉnh kinh để cứu độ Nam Thiệm Bộ
Châu. Ðây là nhân vật biểu hiện tâm nguyện Bồ Tát cầu
giải thoát Vô thượng Bồ đề. Việc thỉnh được Tam Tạng
kinh từ Lôi Âm tự về đến Tràng An (Trung Hoa) là biêu tượng
cho mục tiêu đắc trí tuệ giải thoát Ba La Mật vậy. Về
nhân vật Ðường Tăng đã được đề cập trong phần Tổng
luận, ở đây chỉ bàn thêm một ít điểm.
- Ðường
Tăng, nhân vật được Bồ Tát Quán Thế Âm chọn (Tây Du Ký)
ủy thác trách nhiệm thỉnh kinh là tiêu biểu cho quyết tâm
giải thoát và độ sinh của mỗi hành giả. Ðường Tăng tự
thân thấy rõ cảnh đời vô thường, khổ đau và ác trược
(chứng kiến các oan khổ đến với tự thân, gia đình và
xã hội) nên phát khởi đại bi tâm độ sinh. Ðây là điểm
giáo lý rất truyền thống của Phật giáo. Chỉ có những
tâm thức nào thấy rõ ba pháp ấn, hay bốn pháp ấn là thấy
đạo; chỉ những ai thấy đạo mới phát tâm cầu đạo. Sự
kiện phát khởi đại bi tâm chỉ thực sự xẩy đến với
điều kiện tâm thức như thế, nghĩa là đại bi tâm phát
khởi từ trí tuệ giải thoát. Không có sự kiện phát khởi
đại bi tâm ngoài trí tuệ. Vì thế hình ảnh Ðường Tăng
gắn liền với Tôn Ngộ Không trên suốt cuộc hành trình Tây
du. Lúc nào hai hình ảnh ấy, hai tâm thức ấy tách rời khỏi
nhau thì tà pháp xã hội (ma nạn đến)... Ðây là đạo.
- Qua
việc giới thiệu thân thế Ðường Tăng, bốn hồi truyện
này (hồi 9-12) còn giới thiệu một số điểm khác về giáo
lý Phật giáo như:
a/
Trạng nguyên Quang Nhị đã phóng sinh con cá vốn được mua
để dâng mẹ, và được mẹ khen ngợi. Tại đây tác giả
giới thiệu các giá trị tu tập giải thoát: hiếu hạnh là
tốt, như tu tập bố thí thì tốt hơn, phước đức nhiều
hơn. Phóng sinh cũng thế. Tương tự, công đức trì giới sẽ
nhiều hơn nữa; hành thiền định công đức sẽ hơn trì giới;
tu tập trí tuệ là tốt hơn cả.
b/
Tác giả nhân đây giới thiệu giáo lý nhân quả Phật giáo
rất phân minh: Quang Nhị phóng sinh cá nên về sau (vốn là
con cá được phóng sinh) Long Vương cứu Quang Nhị khỏi chết
sau khi bị Lưu Hồng ám hại để đoạt vợ và chức Tri phủ.
c/
Việc Ðường Thế Dân du Ðịa phủ chứng kiến sự thật
nhân quả: ác nhân thì ác báo, thiện nhân thì thiện báo.
Tác giả đã tóm tắt khái quát rằng: “Người làm thiện
thì sinh Tiên; người tận trung thì sinh và đường quý; người
hiếu hạnh thì sinh vào đường phúc; người công bằng thì
sinh vào kiếp Người; người tích đức thì sinh vào đường
giàu có; người độc ác thì sinh vào đường quỷ”. Giáo
lý này hướng dẫn người đời sống ngay thẳng, công bằng
và thiện lương đem lại an vui cho bản thân, gia đình và xã
hội.
- Chiếc
áo Cà sa Phật Tổ ban cho Ðường Tăng (Bồ Tát Quán Thế Âm
trao) là biểu tượng lý tưởng giải thoát khổ cho tự thân
và giúp cho mọi chúng sinh thoát khỏi hết thảy các khổ ách
trong sinh tử. Lý tưởng này là sự nghiệp cao đẹp nên được
dệt bằng tơ quý (tiên tơ), bởi bàn tay quý (tiên nga dệt),
và được trang trí bằng các hạt trân châu: hạt ngọc “ma
ni” là biểu tượng cho hạnh sống thanh bạch, trong sáng,
không tỳ vết; hạt “tị trần châu” là biểu tượng cho
sống xa lìa hết thảy các trần cấu (các cấu uế của tâm);
hạt “định phong châu” là biểu tượng cho hạnh sống nhiếp
tịnh tâm thức thoát ly khỏi các ảnh hưởng khen, chê, thị
phi, được, mất, danh vọng, lợi dưỡng (bát phong); hạt “dạ
minh châu” là biểu tượng cho trí tuệ. Chiếc áo mà Bồ
Tát Quán Thế Âm tặng không cho Ðường Tăng là biểu tượng
cho công phu hành giải thoát được chứa đựng trong Tam Tạng
kinh điển Phật giáo.
II.
Quan niệm về con người
-
Cho đến hồi thứ 21 này, Ngô Thừa Ân đã phác họa đủ
đề cương của một nội dung giáo dục con người tốt phục
vụ cho xã hội của nền văn hóa giáo dục Vô ngã. Ðề cương
ấy bao gồm nhiều điểm:
1-
Giáo dục con người sống phải có mục tiêu, lý tưởng hướng
thượng. Lý tưởng đó phục vụ cho an lạc, hạnh phúc của
bản thân, tập thể, xã hội, và được biểu tượng qua nhân
vật Ðường Tăng.
2-
Giáo dục con người có khả năng nhận thức, phân biệt rõ
phải, trái, thiện, ác, tốt, xấu, đúng, sai, hư, thật (được
biểu trưng qua nhân vật Tôn Ngộ Không).
3-
Giáo dục con người biết hướng thiện, sống đạo đức,
biết khép mình vào khuôn phép, kỷ luật tự giác (được
biểu tượng qua Trư Bát Giới).
4-
Gióa dục tâm lý con người, giáo dục ý chí và quyết tâm
theo đuổi con đường lý tưởng của mình (biểu tượng qua
nhân vật Sa Ngộ Tịnh).
5-
Giáo dục đầy tình người (nhân hiếu, trung, tình, nghĩa),
biểu tượng qua nhân vật Tiểu Long Mã.
6-
Giáo dục con người thấy rõ tính độc đoán, uy quyền, hưởng
thụ, bất công (tệ trạng tại Thiên cung) của những người
có quyền thế, thấy rõ sự thật khổ đâu ở Âm phủ và
cuộc “hỗn thế” ở trần gian để xây dựng một xã hội
công bằng, nhân ái, an lạc và hạnh phúc.
- Xây
dựng một nhân cách toàn diện qua các mặt:
1.
Lý trí và hành động (Tôn Ngộ Không).
2.
Về tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ (vai trò Ðường Tăng).
3.
Về thể lực, bản năng, dục vọng (vai trò Bát Giới).
4.
Ý chí kiên định, tâm tư ổn định (vai trò Sa Ngộ Tịnh).
5.
Về tương giao xã hội (vai trò Tiểu Long Mã).
Ðó
là nội dung giáo dục về trí dục, đức dục, tâm lý và
tình cảm, lao động (hành động), và giáo dục một khả năng
thực hiện sự hòa điệu các mối tương giao của cuộc sống
(Phái đoàn...).
- Nền
giáo dục con người toàn diện ấy được xây dựng trên cơ
sở sự thật Vô ngã tính của vạn hữu, và trên căn bản
niềm tin rằng tâm thức có khả năng chuyển hóa không cùng.
III.
Quan niệm về xã hội
-
Tác giả lần lượt nêu lên những lý do của một xã hội
cần được thay đổi. Sự kiện Trần Quang Nhị, rể của
quan thừa tướng Ngụy Trưng đi nhậm chức bị kẻ ác giết
chết, chiếm vợ và chiếm cả chức vị Tri phủ kéo dài mười
tám năm mà triều đình cũng không hay, chứng tỏ xã hội Trung
Hoa bấy giờ tổ chức không hợp lý, không thể bảo đảm
an ninh xã hội cho dân chúng, đưa xã hội vào cảnh hỗn loạn,
nhân dân không có quyền làm chủ xã hội và cuộc sống.
- Sự
kiện Long Vương không tôn trọng mệnh lệnh của Thiên đình,
tự do hành xử theo tư ý là sự kiện không thượng tôn pháp
luật.
- Sự
kiện Lý thị vợ Lưu Toàn, phải tự vẫn khi làm việc thiện
là hậu quả của các quan niệm đạo đức luân lý lỗi thời
của xã hội Trung Hoa.
- Sự
kiện Ðức Phật ủy thác Bồ Tát Quán Thế Âm phật sự thỉnh
Tam tạng kinh Phật đến Ðông Ðộ để cứu vớt quần chúng
nói lên quá rõ ràng nhân tâm ở đây đã hoạn nạn, đạo
đức đã suy đồi.
- Tại
giới quan lại, chính trường thì vì danh lợi đã đẩy đưa
một số người có tài giúp nước như Lý Ðịnh, Trương Tiêu
đến chỗ chán nản rút lui về sống an phận bằng nghề đốn
củi, bắt cá, tiêu dao ở vùng non xanh nước biếc.
- Trước
cảnh một xã hội, dù không có chiến tranh, đạo đức đi
dần vào băng hoại, Ngô Thừa Ân muốn đánh thức nhân dân
tỉnh dậy để cùng nhau sửa soạn cho một xã hội dân chủ,
công bằng và nhân ái. Xã hội mới sẽ bắt đầu từ ngày
Ðường Tăng nhận tấm áo cà sa và chiếc tích trượng từ
tay Bồ Tát Quán Thế Âm để Tây du. Cần có một cơn gió
lớn đưa hương Vô ngã, trí tuệ và từ bi từ Tây Trúc về
xã hội Trung Hoa đương thời.
Ðây
là hoài bão của Ngô Thừa Ân về việc xây dựng một xã
hội con người rất người và tốt đẹp qua tiểu thuyết
Tây Du Ký.
- Công
cuộc cải tổ văn hóa, giáo dục mà Tôn Ngộ Không khởi xướng
cần được tiến hành nhiều bước hợp lý. Bước đầu tiên
là giáo dục, tuyên truyền ý thức nơi quần chúng nhân đân
về những hư hỏng của xã hội cũ, và chứng tỏ các ưu
thế của nền văn hóa mới. Cánh đổi mới cần có một lực
lượng hậu thuẩn mạnh mẽ để có thể đứng vững trước
nhiều sức mạnh phản kháng đến từ nhiều phía, đại để
có ba sức mạnh phản kháng chính.
- Sức
mạnh “sấm sét” của triều đình, quan lại phong kiến và
các nhóm ăn theo.
- Sức
mạnh “âm hỏa” là sức mạnh tâm lý phản kháng, phản
tuyên truyền tác động vào quần chúng và vào phái canh tân.
- Sức
mạnh “bi phong” là sức mạnh gây ra sự thiếu lòng tin,
nhu nhược, tình cảm thiếu sáng suốt của quần chúng và
của phái canh tân.
Ðây
là bước chuẩn bị cần thiết để xây dựng một nền văn
hóa giáo dục mới kia. Từ đây, Tôn Ngộ Không còn phải giác
tỉnh để đối đầu trong từng bước đi cải tổ của mình,
mở đầu từ hồi thứ 13, nếu không thì sẽ bị tan xác trước
“sấm sét”, bị thiêu cháy trong “âm hỏa”, hay bị tan
rã trước “bi phong”.
Hồi
thứ 13 và 14
Hồi
13: “Sa hang cọp Kim tinh cứu thoát
Núi
Long Hoa Bá Khâm mời sư”
Hồi
14: “Vượn già theo chính
Sáu
giặc mất tăm”
I.
Tư tưởng Phật học
Sau
khi phát tâm cầu giải thoát và phát đại nguyện độ sinh,
hành giả bắt đầu hạ thủ công phu giải thoát. Giải thoát
không thể đạt được bằng chỉ một tấm lòng mong muốn
giải thoát. Tấm lòng hay khát vọng giải thoát chỉ là sự
nhắc nhở đến mục đích giải thoát cần phải đến, tự
nó chưa có khả năng hình thành một bước đi giải thoát
nào. Vì thế Ðường Tăng vừa mới lên đường đã sa vào
ngay hang cọp, chúa tể sơn lâm ấy là biểu tượng của tham,
sân, si ở nội tâm và ở ngoại cảnh đang thời sung mãn;
chúng dễ dàng “thịt” mất chí nguyện giải thoát độ
sinh của hành giả. Giai đoạn này nếu không nhờ tha lực
của Kim Tinh cứu mạng thì lý tưởng Tây du đã không còn.
- Trước
khi lên đường, Ðường Tăng đã ý thức việc tu dưỡng Tâm,
nên “lẳng lặng chỉ tay vào bụng mấy lượt” để nói
với Tăng chúng tiễn chân rằng: “Tâm sinh thì ma nghiệp sinh,
tâm diệt thì ma nghiệp diệt”. Vậy khi ma chướng khởi (ma
nạn sinh) thì bấy giờ hành giả và chí nguyện giải thoát
chính là ma chướng, hay bị khống chế bởi ma chướng. Ma
chướng đó là tà niệm, vọng niệm.
Ðối
với vọng niệm, lòng khát vọng giải thoát không có đôi
mắt để nhìn thấy và cũng không có khả năng để nhưng
tiếp phục. Nếu thiếu trí tuệ thì hành giả không thể tu
tập giải thoát qua hai công phu chính yếu sau đây:
- Nhận
ra đâu là chánh niệm để duy trì và phát triển; chánh niệm
nào chưa sinh thì khiến sinh khởi, chánh niệm nào đã sinh
thì duy trì và phát triển.
- Nhận
ra đâu là tà niệm; tà niệm đã sinh thì cần được tìm
cách đoạn diệt, tà niệm chưa sinh thì không để nó sinh
khởi.
Ma
nạn “hang cọp “này là nạn cảnh giác Ðường Tăng phải
tu tập có chánh kiến và chánh tư duy (hay trí tuệ) trước,
rồi vận dụng trí tuệ này dẫn đầu các công phu tu tập
khác.
Ðây
mới là chánh đạo. Do vậy, vào hồi 14 Ðường Tăng cần
thu nhận Tôn Ngộ Không phò tá như một vai trò trí tuệ trên
cuộc hành trình Tây du.
- Chính
nhờ trí tuệ (vai trò Tôn Ngộ Không) nhận ra bạn, thù và
có khả năng rất lớn có khả năng đốt cháy, đánh tan các
vọng niệm khởi lên do tác động từ trong lẫn ngoài, như
Tôn Ngộ Không đã diệt đám giặc cỏ lục tặc ở hồi 14
này, đám giặc thường gây hỗn loạn tâm thức và cuộc đời.
II.
Quan niệm về con người
-
Ðể xây dựng một xã hội tốt đẹp đúng nghĩa nhất cần
có người tốt. Con người tốt là con người được phát
triển, giáo dục toàn diện, có khả năng nhận định tốt,
xấu, phải, trái, hư, thật và có khả năng để hành xử
các việc cá nhân, gia đình và xã hội.
- Con
người cần được hiểu một cách thực tế rằng không phải
là được sinh ra như một tờ giấy trắng, mà là có đủ
một mầm tâm lý tốt, xấu lẫn lộn. Các tâm lý xấu như
tham, sân, si, ganh ghét, đố kỵ, kiêu căng, ngã mạn, phóng
túng có mặt mạnh hơn là các tâm lý tốt. Ðiều kiện sống
ở xã hội phong kiến (và xã hội nói chung) kích động các
tâm lý xấu nhiều hơn là các tâm lý tốt. Do vậy, yêu cầu
đầu tiên của giáo dục là cần giáo dục con người có một
hiểu biết, tư duy phân biệt rõ, tốt, xấu, thực, hư v.v...
và có khả năng chỉ đạo tốt các hành vi của con người
như Ðường Tăng cần đến sự có mặt của Tôn Ngộ Không
trong phải đoàn Tây du.
- Tư
duy đúng và hiểu biết đúng cần được giáo dục tế nhị,
cần được khéo léo tiếp thu, cần có sự luyện tập nhiều
về căn và tư để thắng vượt các thành kiến, định kiến
của văn hóa, truyền thống và các tập quán tình cảm, tư
duy cũ. Các tập quán này trói buộc con người rất mạnh như
biểu tượng Ngũ Hành sơn giam hãm Tôn Ngộ Không dài đến
500 năm. Phá bỏ được các ràng buộc này con người mới
có được cái hiểu biết và tư duy sáng tạo và giá trị
áp dụng vào đời sống cá nhân và xã hội.
III.
Quan niệm về xã hội
-
Bước cải tổ xã hội đầu tiên nếu không được lý trí
tính toán kỹ thì khó vượt qua được rào cản lớn của
các lực lượng chủ đạo của đường văn hóa, xã hội và
thể chế cũ (được biểu trưng bằng: mãnh thú sơn lâm hãm
hại Ðường Tăng), lực lượng cải tổ sẽ bị tổn hại
nặng, có thể bị lâm nguy.
-
Lý tưởng cải tổ xã hội không được đánh giá đúng ở
mặt thuần lý thuyết mà được dánh giá vào thử thách trong
thực tế xã hội để làm sáng tỏ giá trị của nó như là
Tôn Ngộ Không đứng dậy khỏi Ngũ Hành sơn, lên đường
thực hiện và mang thêm một tên gọi mới là Tôn Hành Giả
(hành giả = người thực hiện, hành động)
- Lý
tưởng thực hiện cần được hoạt động uyển chuyển, không
quá cứng rắn, không quá nôn nóng, vội vàng, như cần phải
có cái thắng “khẩn cô nhi” trên đầu Tôn Hành Giả.
- Ðấy
là những gì mà chúng ta có thể hình dung về các quan niệm
hành động để cải tổ xã hội của Ngô Thừa Ân.
Hồi
thứ 15, 16 và 17
Hồi
15: “Núi Rắn Cuốn, mọi thần ngầm giúp
Khe
Ưng Sầu, ý mã thắng cương”
Hồi
16: “Viện Quan Âm sư lừa bảo bối
Núi
Hắc Phong quái trộm cà sa”
Hồi
17: “Tôn Hành Giả đại náo Hắc Phong
Quan
Thế Âm thu phục con yêu quái”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Tại hồi 15, khi mà công phu tu tập được trí tuệ Vô ngã
soi sáng thì công phu ấy đún nghĩa là công phu giải thoát.
Bấy giờ tâm sẽ khởi lên nhiều niệm lành, giải thoát.
Ðây là ý nghĩa của hình ảnh biểu tượng các thiện thần
tụ họp tại núi Rắn Cuốn để giúp đỡ Ðường Tăng.
- Ở
hồi 14, sau khi Tôn Ngộ Không hàng phục lục tặc - giặc cỏ
quấy rối tâm thức - thì tâm thức trở nên an tịnh, vắng
lặng. Bấy giờ sơn thần ở Lạc Già sơn, vâng mệnh Bồ
Tát Quán Thế Âm trao yên cương để thắng Tiểu Long mã -
mà Ngô Thừa Ân gọi là “ý mã thắng cương” - Ðây là
hình ảnh biểu tượng khi tâm thức đã được chế ngự,
không còn vọng ngoại (hướng ra sáu trần), đã quay về giải
thoát (hướng nội) như Tiểu Long mã đã từ bỏ long cung và
từ bỏ tâm ngỗ ngịch để theo phò Ðường Tăng.
Khi
tâm thức lắng đọng như bấy giờ thì sáu trần được soi
tỏ bản tướng, không còn tác loạn tâm ý được nữa, sầu
muộn sẽ ra đi, vĩnh viễn từ giả tâm ý. Vì thế không nước
tâm trong suốt thì các loài chim không thể bay qua, vĩnh viễn
bay xa. Con suối bấy giờ được Ngô Thừa Ân gọi là “Khe
Ưng Sầu”.
- Ở
cấp độ tâm thức này, hành giả không còn bị lòng dục
các trần đốt cháy, nên tại Viện Quan Âm (hồi 16) lửa tham
dục các trần chỉ đốt cháy sư trú trì trộm áo cà sa quý
của Ðường Tăng, mà không thiêu Ðường Tăng và các sư sãi
còn lại.
- Tại
đây, con ma gấu ở núi Hắc Phong, bạn của sư trú trì Quan
Âm Viện, cũng tham lam đánh cắp chiếc cà sa, nhưng hai người
ấy có tác ý khác nhau ở hai hoàn cảnh khác nhau, nên gặt
hái hậu quả khác nhau. Sư trú trì là kẻ xuất gia sống ở
nhà chùa đã hơn 200 năm mà còn lòng tham ấy thì quả là tâm
tu quá xấu; với tâm tu ấy thì chỉ cần một lòng tham áo
cà-sa là đã đủ để đốt cháy tâm giải thoát. Sư trú trì
bị thiêu cháy là thế.
Ma
Gấu ở núi Hắc Phong là loài yêu tinh mà thích giao du với
nhà chùa là chứng tỏ có một tâm thức hướng thượng. Ma
Gấu trộm áo cà-sa và định mở hội cà-sa cũng là hành động
với tâm thức hướng về đạo, nhưng hướng về đạo ở
cấp độ tâm lý thích nhà chùa và những pháp khí thuộc nhà
chùa. Xét kỹ tâm thức này là đang đi lên. Do đó, Bồ Tát
Quán Thế Âm không cho hại ma Gấu. Lần đầu gặp ma Gấu,
Bồ Tát đã phát biểu “Nghiệt súc chiếm cứ sơn động
này cũng có chút duyên đạo”, rồi sau đó Bồ Tát đã quy
y cho ma Gấu và thu về cho giữ núi Lạc Già ở Nam Hải.
- Khi
Bồ Tát Quán Thế Âm biến hóa ra yêu tinh Lăng Hư (bạn của
ma Gấu) thì Tôn Ngộ Không liền nói: “Ðẹp quá! Ðẹp quá!
Thế Bồ Tát là yêu tinh hay yêu tinh là Bồ Tát?” - Bồ Tát
Quán Thế Âm dạy: “Ngộ Không, Bồ Tát, yêu tinh đều là
ý niệm, nếu bàn cho đến gốc, đều là không có”. Lời
dạy này giúp Tôn Ngộ Không tỉnh lòng thêm. Tại đây Ngô
Thừa Ân đã diễn đạt một tư tưởng khác của Bát Nhã
rằng:
- Tướng
thật của Bồ Tát là Vô ngã; tướng thật của yêu tinh cũng
là Vô ngã. Vì thế, với tâm thức giác ngộ thật tướng
thì yêu tinh và Bồ Tát không khác biệt, đều đồng thể
Vô ngã (Bồ Tát = yêu tinh = Vô ngã). Nhưng với tâm thức còn
vướng mắc tập khí chấp ngã, thì tướng Bồ Tát khác với
tướng yêu tinh. Tôn Ngộ Không tuy lòng đã giác tỉnh Vô ngã
từ lâu, nhưng tập khí chấp thủ tướng vẫn còn, nên tâm
thức thỉnh thoảng ngỡ ngàng vướng ngại các ngã tướng.
Do sự vướng ngại ấy mà Tôn Ngộ Không còn vướng mắc
các ma nạn.
Nói
tóm, ngã tướng là của ý niệm, của ngã tưởng; nó là hư
vọng, mà không phải là thực tại.
Tại
đây, Ngô Thừa Ân muốn giới thiệu với đời rằng: Bồ
Tát hàng phục yêu Gấu là đánh chết cái tính “yêu” trong
con Gấu, chứ không phải giết chết con gấu. Con Gấu tự
nó không mang một ngã tính yêu mà bay Bồ Tát gì cả.
II.
Quan niệm về con người
-
Ngô Thừa Ân mong muốn con người quay trở về chính mình để
tu tập tâm và giải thoát tâm, như Tôn Ngộ Không tu tập ở
Tà Nguyệt Tam Tịnh động - Mọi giá trị thực là ở tâm
thức con người. Khi trí tuệ Vô ngã đã xuất hiện thì tâm
thức sẽ dần dần sáng tỏ. Các thiện tâm và giải thoát
tâm sẽ sinh khởi. Giáo dục nhân bản là giáo dục giúp con
người quay trở về chính minh, chính nguồn sáng bên trong mình.
Mọi thứ may mắn, an lạc, tự do, hạnh phúc đều có mặt
ở đó, như phái đoàn Tây du có mặt Tôn Ngộ Không. đây
là ý nghĩa được biểu tượng bởi hình ảnh các thiện thần
đến giúp Ðường Tăng ở núi Rắn Cuốn. Ðây cũng là ý
nghĩa mà ngạn ngữ Pháp nói: “Hãy tự giúp mình rồi trời
sẽ giúp mình” (Aide-toi, Le ciel t’aidra).
- Vấn
đề không phải là buộc người khác làm các điều thiện,
mà là giúp người khác nhận thức rõ về điều thiện và
giá trị của điều thiện. Khi đã có nhận thức đúng thì
tự khắc con người hành động đúng. Tương tự như khi Khe
Ưng Sầu trong suốt, thì các loài chim không còn hiện đến.
Cũng thế, khi tâm đã lắng, thì các trần không còn xâm nhập
quấy phá. Khi một người đã thấy rõ con đường văn hóa
Vô ngã, thì các quan niệm về văn hóa hữu ngã sẽ không còn
khả năng thuyết phục.
- Về
điều thiện ác, con đường văn hóa giáo dục mới cần nói
rõ về giá trị của các hành động, việc làm, yếu tố quyết
định giá trị của hành động là ở tâm tác động trên
hành động có thể có nhiều giá trị khác nhau và chịu các
hậu quả khác nhau, điển hình như ma Gấu và sư trú trì Quan
Âm Viện đều đánh cắp tấm cà-sa quý mà một người thì
bị đốt cháy thân phạm hạnh và thân huệ mạng, người
kia thì phát khởi huệ mạng, huệ tâm.
- Theo
tinh thần giáo dục Vô ngã và nhân bản thì con người là
vô tự tính và hành động là vô tự tính, bởi cả hai đều
do các duyên tập hợp mà sinh. Không thật sự có con người
xấu. Cả đến hành động, không thật sự có hành động
xấu, mà chỉ có các ý niệm xấu tác động trên hành động.
vì thế giáo dục mới đặt trọng tâm ở công phu chuyển
đổi các ý niệm, chế ngự các ý niệm (gọi là tu tâm),
dù hành giả vẫn quan tâm đến các biểu hiện của hành động
và hậu quả của hành động. khi ý niệm xấu được chế
ngự, thì các hành động xấu sẽ dần dần biến mất. Ðiều
này được Ngô Thừa Ân diễn đạt qua hình ảnh ma Gấu được
Bồ Tát Quán Thế Âm và Tôn Ngộ Không chế ngự và thu nhận
về cảnh giới xuất gia giải thoát ở Nam Hải.
Tại
đây, người chủ xướng văn hóa, giáo dục Vô ngã và nhân
bản, Tôn Ngộ Không, cần nhận thức rõ sứ mệnh của mình
là chuyển hóa tâm thức con người, tiêu diệt các sai lầm,
mà không phải tiêu diệt những con người sai lầm (hồi 16,
17).
Dù
vậy, người làm giáo dục không được xao lãng đến vai trò
tác động của ngoại giới trên tâm thức con người; giáo
dục cần vạch rõ khía cạnh nguy hiểm của ngoại giới có
thể gieo rắc tai hại đến con người.
Hồi
15, 16, và 17 quả là các hồi đề cập đến đạo đức của
Phật giáo, vấn đề giá trị của các hành vi, hành động,
và vấn đề đánh giá các giá trị của các hành vi, hành
động.
III.
Quan niệm về xã hội
-
Trở lại vấn đề đã được đề cập, căn bản của việc
cải tạo xã hội là vấn đề cải tạo con người, và căn
bản của vấn đề cải tạo con người và vấn đề cải
tạo nhận thức con người. Khi mà đa số quần chúng đã giác
ngộ con đường sống với những giá trị mới thì hẳn nhiên
khung sườn xã hội mới sẽ phải hình thành. Khi đã là Khe
Ưng Sầu trong suốt, thì chim chóc đến sẽ lâm nạn. Do vì
nguy hiểm ấy, chim sẽ không còn đến. Cũng thế, khi tâm thức
con người đã sáng giá trị của nền văn hóa giáo dục mới,
thì các giá trị lỗi thời sẽ ra đi. Ngô Thừa Ân đưa ra
hình ảnh Khe Ưng Sâu là xác định sự thật mà người làm
công tác cải tổ văn hóa giáo dục phải chọn lựa, rằng:
Văn hóa, giáo dục cần được cải tổ trước, cơ chế xã
hội cải tổ sau. Công tác văn hóa giáo dục bao giờ cũng
cần thời gian lâu dài. Với xã hội phong kiến Trung Hoa vào
thế kỷ 16, khó có một chọn lựa nào khác tốt đẹp hơn.
- Cần
tạo điều kiện thuận lợi cho nền văn hóa mới phát triển,
các điều kiện sống có ảnh hưởng đến việc khơi dậy
các nhận thức mới - tương tự như chiếc áo cà-sa quý khơi
dậy lòng tham nơi sư trú trì Quan âm Viện - như hạnh của
Bồ Tát Quán Thế Âm thường cứu khổ người đời trước
khi nói Pháp cứu khổ. Phương thứcnày sẽ hỗ trợ sự nghiệp
giáo dục thuyết phục quần chúng quay về với các giá trị
mới.
Hồi
18 và 19
Hồi
18: “Chùa Quan âm, Ðường Tăng thoát nạn
”Nhà
Cao Lão, Ðại Thánh trừ ma”
Hồi
19: “Ðộng Vân Sạn, Ngộ Không thu Bát Giới
”Núi
Phù Ðồ, Tam Tạng nhận chân kinh”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Bước đầu tiên chế ngự tâm là chế ngự lục căn (hồi
15). Công phu chế ngự này cần được thực hành lâu dài để
nhiếp phục cái động của thân và khẩu như đã được đề
cập ở phần Tổng luận. Ở hồi 18 và 19, việc thu phục
Trư Bát Giới làm đệ tử xuất gia là ý nghĩa của việc
hành trì giới luật và chế ngự dục ái, chế ngự các tánh
buông lung, lười biếng để thiết lập cơ sở tâm lý vững
chắc cho sự thành tựu tâm giải thoát (đại định) và tuệ
giải thoát (đại tuệ).
- Ở
nguyên bản Tây Du Ký, và ở bản dịch việt ngữ ấn hành
năm 1982, nhà xuất bản Văn học Hà Nội, ghi đủ toàn văn
bài Bát Nhã Tâm Kinh. Bài tâm kinh này là trái tim của trí
tuệ toàn giác mà thiền sư Ô Sào đã trao cho Ðường Tăng
để giữ an lòng trên suốt cuộc viễn trình Tây phương. Ðiểm
tinh yếu của bản kinh này là: trên cơ sở tâm thức an trú
đại định (hay tâm giải thoát) và tâm nguyện độ sinh rộng
lớn, hành giả hành sâu thiền quán Vô ngã, thấy rõ hết
thảy vạn hữu là rỗng không tự ngã mà vượt qua hết thảy
mọi khổ đau trần thế.
Do
vì hành giả an trú vào chánh niệm, chánh tưởng Vô ngã mà
tâm thức không vướng ngại bất cứ gì; do vì tâm không vướng
ngại, hành giả rời xa các thứ sợ hãi, rời xa các tưởng
sai lầm và các tình cảm sai lầm; do vì rời xa các ngã tưởng,
các điên đảo tưởng, hành giả chøng đắc được sự giải
thoát hoàn toàn mọi khổ đau. Trên cơ sở thành tựu này,
hành giả tự tại ra vào khổ đau để cứu độ đời.
- Dưới
con mắt của trí tuệ Vô ngã, các ngã tướng trần gian là
hư huyễn, mộng mị, tạm bợ. Ngô Thừa Ân vì thế gọi cõi
đời là “phù đồ” (tương tự như phù thế, phù vân) II.
Quan niệm về con người
- Một
đường hướng giáo dục con người tốt thì không lúc nào
rời khỏi mục tiêu đem lại an lạc, hạnh phúc cho con người.
Cảm nhận an lạc, hạnh phúc là phần việc của tâm thức
mỗi người. Vì thế, công phu huấn luyện tâm lý là công
phu chính, bên cạnh công phu mở mang hiểu biết đúng đắn,
mở mang trí tuệ. Con đường giáo dục đích thực và nhân
bản không phải là con đường lý thuyết, mà là con đường
sống. Con đường đó chỉ rõ rằng con người cần trở về
chính mình và làm chủ chính mình ở ba lãnh vực thân, khẩu,
ý. Hồi 19 và 20 thì giới thiệu đến phần giáo dục làm
chủ các hành động của thân và khẩu, ý. Hồi 19 và 20 thì
giới thiệu đến phần giáo dục làm chủ các hành động
của thân và khẩu (lời nói), giải thoát (đã được đề
cập ở phần Tổng luận).
III.
Quan niệm về xã hội
-
Một trong những điều kiện cho quần chúng sống với nền
văn hóa nhân bản và Vô ngã là tạo với nền văn hóa nhân
bản và Vô ngã là tạo nên nếp sống đạo đức cá nhân
và đạo đức xã hội. Cá nhân và tập thể cần phải giữ
gìn và tôn trọng một số khuôn phép kỷ luật nào đó của
xã hội do xã hội đặt ra phù hợp với văn hóa Vô ngã. Nếp
sống văn hóa xã hội này được biểu tượng hóa qua nhân
vật Trư Bát Giới.
- Về
mặt tâm lý quần chúng thuộc hàng ngũ đổi mới được phân
ra nhiều thành phần: có thành phần mang dạng tâm lý của
Ðường Tăng, có thành phần mang mẫu tâm lý của Tôn Hành
Giả, có thành phần thì tâm lý thiếu ổn định dễ trở
lui về nếp sống vói các tập tính cũ, như Trư Bát Giới
nhiều lần đòi hỏi lại nhà Cao Lão... Xã hội cần tổ chức
thành một nếp văn hóa mới, thiết thực và tích cực. Vai
trò tích cực trong việc hình thành nếp sống hóa mới, thiết
thực và tích cực. Vai trò tích cực trong việc hình thành
nếp trong việc hình thành nếp văn hóa mới là vai trò giáo
dục thể hiện qua nhiều phương tiện truyền thống. Giáo
dục mở hướng đi tới vào thế giới giá trị mới, xa dần
các giá trị cũ, như Tôn Ngộ Không kiểm soát, kiềm chế
Trư Ngộ Năng vậy.
Hồi
thứ 20, 21 và 22
Hồi
20: “Núi Hoàng Phong, Ðường Tăng gặp nạn
Ðón
giữa núi, Bát giới lập công”
Hồi
21: “Hộ pháp làm nhà lưu Ðại Thánh
Tu
Di Linh Cát bắt Phong Ma”
Hồi
22: “Bát Giới đánh ở sông Lưu Sa
Mộc
Xoa vâng lệnh bắt Ngộ Tịnh”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Hành giả tu tập giải thoát nếu chỉ hành trì giới thì khó
nhiếp phục được cái động và cái vọng tâm. Tâm động
chưa bị hàng phục thì khó đi vào tuệ giải thoát. Công phu
tu tập giới là công phu chuẩn bị căn bản giải thoát để
tu tập định. Công phu tu tập giới là công phu chuẩn bị
căn bản giải thoát để tu tập định. Công phu đến hồi
20 hành giả hẳn là vượt qua ma nạn Hoàng Phong. Ma nạn này
là do pháp hữu vi “tam muội thần phong” chắn lối. Tôn
Ngộ Không và Trư Ngộ Năng còn non định lực nên bị gió
định khắc chế làm tổn hại đến đôi mắt tuệ của Ngộ
Không. Phải nhờ đến định lực vững như núi Tu-di (gọi
là Tiểu tu-di) của Bồ Tát Linh Cát mới đối trị được
quái Hoàng Phong (hồi 20). Sau nạn này, hành giả (phái đoàn
Tây du) phải chuyên tâm hành thiền định. Ðây là ý nghĩa
phái đoàn Tây du kết nạp thêm Sa Ngộ Tịnh (như đã đề
cập ở Tổng luận, hồi 22).
- Phương
pháp tu của Phật giáo để chế ngự tâm, điều phục tâm
là phương pháp khắc chế. Ngô Thừa Ân giới thiệu phương
pháp tu ấy qua các phương cách phái đoàn Tây du chiến tháng
các yêu quái. Với “tam muội thần phong” gió độc và mạnh,
thì người ta dùng “định phong đan” để trừ. Với đối
tượng động thì dùng tĩnh để chế; với đối tượng tĩnh,
thì dùng động (của tuệ) để khắc.
II.
Quan niệm về con người
-
Mức độ cao hơn về giáo dục con người là mức độ “huấn
luyện tâm lý”, hay thực hành thiền định. Giáo dục có
mục đích đem lại cho con người sự ổn định tâm lý và
cảm nhận an lạc, hạnh phúc. Giáo dục thiền định vì thế
là yêu cầu của học đường, của gia đình và xã hội.
-
Trạng thái tâm lý ổn định là trạng thái tự do và sáng
tạo, loại bỏ các tâm lý mệt mõi, chán nản, lười biếng
và lo âu, và có khả năng nâng cao hiệu năng làm việc, học
hỏi hay giảng dạy. Ðây là vai trò chính của ngành Tâm lý
giáo dục hiện đại.
III.
Quan niệm về xã hội
-
Hoàng Phong quái là loại quái vật sinh sống ở cảnh giới
Vô ngã, nhưng do tu luyện chưa hết tà khí, chưa an trú vào
Giới uẩn, Ðịnh uẩn, nên gặp duyên thì tà niệm phát tán
gây nên tai họa lớn về “tam muội thần phong”. Ðây là
hình ảnh biểu tượng về hậu quả của sự cải tổ văn
hóa giáo dục thiếu triệt để và nghiêm túc, và là biểu
tượng về hậu quả tai hại của sự áp dụng sai lạc do
không thấu triệt chân giá trị của nền văn hóa, giáo dục
Vô ngã.
- Ðể
tránh hậu quả trên, lực lượng cải tổ xã hội cần được
giáo dục kỹ nội dung của văn hóa Vô ngã và sự trung thành
quyết tâm thể hiện nên văn hóa này, một nền văn hóa của
tinh thần “tùy duyên nhi bất biến”. Ðấy là ý nghĩa của
hai khí giới mà Như Lai trao cho Linh cát Bồ Tát để hàng phục
quái Hoàng Phong gồm có:
- “Ðịnh
phong đơn” biểu trưng của tinh thần bất biến.
- “Phi
long trượng” (con rồng vàng chín móng) biểu tượng cho tinh
thần tùy duyên, vận dụng uyển chuyển và sinh động.
Nếu
tinh thần Văn hóa Vô ngã được hiểu một cách khẳng định
như văn hóa hữu ngã, thì Vô ngã biến thành ngã vô (tà pháp),
và hậu quả của nền văn hóa này sẽ gây nên cảnh “hỗn
thế” không khác gì với nền văn hóa hữu ngã của xã hội
cũ. Nền văn hóa mới này không đối lập với bất cứ một
nền văn hóa nào khác cả, vì thế nó có thể cùng tồn tại
bên cạnh nền văn hóa cũ. Giá trị đích thực của nền văn
hóa này là ở cái tâm hành động được điều động bởi
tâm lý vị tha, nhân ái và bởi trí tuệ không chấp thủ,
không tham ái, sân hận. Giá trị của cuộc sống là ở chữ
Tâm, như những gì mà Tôn Ngộ Không đã được giáo dục
ở lò luyện tâm (Tà Nguyệt Tam Tinh động). vì giá trị nằm
ở cái tâm, nên cái tâm con người cần được làm chủ trước,
cải thiện trước.
Hồi
thứ 23
Hồi
23:
“Tam
Tạng không quên gốc
”Bốn
thánh thử lòng thiền”
I.
Tư tưởng Phật học
-
Công phu giải thoát càng vào sâu càng đòi hỏi hành giả phát
triển sâu Giới, Ðịnh, Tuệ; càng vào sâu, các tâm lý trói
buộc càng tinh tế. Hành giả càng tinh tấn, nỗ lực và giác
tỉnh liên tục mới phát triển được định và tuệ giải
thoát. Ðiều kiện đòi hỏi trước tiên và ít nhất là: hành
giả phải dứt trừ dục ái, vì vậy bốn vị Bồ Tát (Lê
Sơn, Quán Âm, Phổ Hiền và Văn Thù) - Lê Sơn biểu tượng
của đại nguyện; Phổ Hiền biểu tượng của đại định
và đại hạnh; Quán Thế Âm biểu tượng của đại bi và
đại trí; Văn Thù là biểu tượng đỉnh cao của trí tuệ
giải thoát - thị hiện ra trắc nghiệm phái đoàn Tây du và
hỗ trợ cho phái đoàn trước khi đi vào một giai đoạn mới.
Qua cuộc trắc nghiệm này, Trư Bát Giới bộc lộ rõ lòng
trần (dục ái) chưa sạch, cần được cảnh giác tu tập nhiều
hơn.
II.
Quan niệm về con người
-
Tâm lý tham dục thường che mờ tâm trí con người, đưa đẩy
con người vào các sai lầm, đánh mất lý tưởng nhân sinh
và xã hội cao thượng. Ðây là điểm tâm lý cần được
giáo dục, huấn luyện kỹ để tránh các rối loạn cho cá
nhân, gia đình và xã hội. người mà nặng lòng tham, nhất
là tham sắc, thì có khuynh hướng sống vị kỷ, gây tổn hai
tha nhân, dễ đánh mất nhân cách tốt đẹp của con người
và dễ rơi vào phiền não, khổ đau lâu dài.
III.
Quan niệm về xã hội
-
Do từ tư duy hữu ngã mà chấp thủ ngã tướng sinh và lòng
khởi lên tham lam, sân hận, ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ...
Chính xác tâm lý xấu này sẽ bộc hiện ra các hành động
hại mình, hại người.
- Ðể
chế ngự tư duy ấy và các tâm lý xấu ấy, con người cần
phải thường huấn luyện Văn, Tư, Tu về Vô ngã, vị tha.
Ðây là hệ văn hóa giáo dục thực tiễn và thực nghiệm.
Xã hội phải có những con người này trước thì công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước mới thành công tốt đẹp.
Ngô
Thừa Ân đã chọn lựa con đường văn hóa này, khảo sát
các hồi tiếp chúng ta sẽ rõ.
Hồi
thứ 24, 25 và 26
Hồi
24 : “Núi Vạn Thọ, Ðại Tiên lưu bạn cũ
Quán
Ngũ Trang, Hành Giả trộm nhân sâm”
Hồi
25: “Trấn Nguyên Tử đuổi bắt người lấy kinh
Tôn
Hành Giả làm nhộn Ngũ Trang quán”
Hồi
26: “Nơi Tam Ðảo, Ngộ Không tìm thuốc
Nước
Cam Lồ, Bồ Tát chữa cây”
I.
Tư tưởng Phật học
Tư
tưởng Phật học ở ba hồi này đã được bàn ở phần Tổng
luận.
II.
Quan niệm về con người
Tư
tưởng Nho học vẫn là tư tưởng chủ