Tất Cả
Đều Là Lẽ Đương Nhiên
Dùng
lửa dừng lửa, đổ nước nóng để ngưng sôi đều chẳng
phải là hành vi đương nhiên. Từ – bi – hỉ – xả mới
là sự tu hành đương nhiên nhất, tài sản quý báu nhất của
đời người .
Nhiều
năm trước, một nhà viết tạp chí đến tôi mượn ba trăm
vạn nguyên, tôi không có cách gì đáp ứng. Ông ta liền viết
bài huỷ báng tôi, hàng đệ tử tức cành hông, một số chủ
trương dùng bút để tranh luận, một số yêu cầu tố ra toà.
Lúc đó tôi đang hoằng pháp ở Đài Bắc, nhân đây đến
chùa Phổ Môn nhóm chúng thường trụ, bảo mọi người:
—
Người khác đối với chúng ta cung kính tôn trọng, không phải
là chuyện đương nhiên, chúng ta phải dũng mãnh vươn lên
để báo đáp. Còn khi chúng ta bị đả kích bị thương tổn,
thì phải nhận rằng đây là lẽ đương nhiên. Vì cha mẹ
nuôi nấng ta, thầy tổ giáo dục ta, xã hội thành tựu ta,
quốc gia bảo bọc ta, bình thường chúng ta có nhiều nhân
duyên tốt như thế, nói tương đối, một chút nghịch cảnh
trắc trở bất ngờ như vậy đến, chính là để khảo nghiệm
khí độ của chúng ta, có thể làm phong phú nội lực của
chúng ta. Vì sự phá hoại làm thương tổn chán ngắt này là
cái không đánh đổ được một cá nhân. Làm một người
chân chính, cần phải ngăn cho được bát phong từ bốn mặt
thổi đến, coi tất cả ngang ngược đều là lẽ đương nhiên…
Nói
một hồi, thấy sự tức giận của đại chúng đã dịu xuống,
tôi cũng thừa cơ hội, tùy duyên lập khoá trình »Tư tưởng
của tông môn«, chỉ là đâu ai biết từ chẳng đương nhiên
đến đương nhiên, tôi đã trải qua ít nhiều lịch trình
tu chứng, mới có niềm tin và thể ngộ kiên cố như thế.
Năm
tôi mười hai tuổi, sau khi xuất gia ở Thê Hà Sơn Tự, là
một thanh chúng nhỏ tuổi nhất trong chùa, da mặt lại rất
mỏng. Lúc mới bắt đầu, lên lớp nghe chẳng hiểu, xuống
lớp cũng không thích hỏi han. Đã không thể ra ngoài, lại
không thể qua lại với người khác, thơ nhà viết được
rồi, không có tiền mua tem, thật không dễ chịu nổi đến
học kì kết thúc. Học viện cho nghỉ, mắt nhìn đồng học
vác hành lí trở về nhà, tôi cũng theo bọn họ đến Đại
Hùng Bảo Điện lễ Phật báo nghỉ, ngay lúc định bước
ra cửa chánh điện, thầy tôi là Thượng nhân Chí Khai hét
bắt tôi đứng lại, mắng rằng:
—
Đứng lại! Về nhà nào?
Tôi
chỉ đành chịu dừng tình cảm nhớ nhung quê nhà của một
đứa bé mới lìa gia đình, cấm túc đóng cửa. Có lúc trong
lòng rất khổ, nhưng nghĩ đi nghĩ lại: Không ai bắt ta xuất
gia, chính tự ta tình nguyện, do đó cũng bèn xem là »đương
nhiên« mà tiếp nhận. Đã là lẽ đương nhiên, vì sao lại
cảm thấy khổ?
Từ
khi học xong ở viện Luật Học Thê Hà rồi, tôi lại đến
Tiêu Sơn, Kim Sơn, Thiên Ninh… những danh sơn cổ sát để
tham học. Nền giáo dục lúc đó không những là chuyên chế
đóng kín, mà còn có thể nói không tình, không lí. Thường
thường quét đất xong, lão sư không hài lòng, bắt quét nữa.
Kiểm tra lại, thấy vài chiếc lá rụng, »không được« lại
phải quét một lần nữa. Ăn cơm no rồi, vị sư kiểm soát
đi qua, bắt anh ăn một chén nữa, anh phải phình bụng mà
nuốt, nếu không thì một cái tát tai sẽ giáng xuống ngay,
hoàn toàn không có được một lời tử tế. Bạn học nói
người nọ cố ý tìm tôi để quấy rối, tôi lại biết được
đây chính là giáo dục. Ông thầy chịu dạy, mình mới có
cơ hội trưởng thành. Có trưởng thành mới có tương lai.
Do đó, đối với tất cả gậy hét, cho đến oan khuất, tôi
đều nghĩ »đương nhiên mà thôi« để tiếp nhận trọn vẹn.
Cảnh thuận nghịch hễ gặp đều có thể đương nhiên tiếp
nhận, sự sáng tối trong trời đất đều không giống nhau.
Lúc
mười lăm tuổi thọ giới, lại chịu đủ thứ khổ, vừa
đến giới trường, giới sư trước hết tìm giới tử để
hỏi han tra xét. Giới sư thứ nhất hỏi tôi:
—
Người nào muốn anh đến thọ giới ?
—
Thầy con muốn con đến.
—
Chẳng lẽ thầy anh không kêu anh đi thọ giới, thì anh sẽ
không đến ư?
Nói
xong, cành dương liễu quất như mưa lên đầu. Đến giới
sư thứ hai, ông lại hỏi y như thế, vì đã có kinh nghiệm
lần thứ nhất, nên tôi đáp:
—
Tự chính mình con muốn đến.
Đâu
ngờ »phạch… phạch… phạch« trên đầu lại một trận
khổ sở:
—
Đồ đáng ghét! Thầy không kêu mi đến, mi lại dám to gan
tự mình chạy đến à!
Giới
sư thứ ba cũng lại hỏi vấn đề trước. Lần này kinh nghiệm
phong phú, do đó cung cung kính kính trả lời:
—
Dạ tự con phát tâm đến, Sư phụ cũng kêu con đến.
Tự
cho là đáp án này phải rất viên mãn, kết quả, »Ngươi
là đồ xảo trá!«. Đương nhiên nhận chẳng ít một trận
đánh bừa.
Mang
đầu óc đang nổ đom đóm, đến vị sư cuối cùng ngồi ở
trước mặt, tôi không đợi Ngài hỏi, trực tiếp đưa đầu
ra, thưa:
—
Lão sư từ bi, Thầy muốn đánh cứ đánh!
Thời
kì thọ giới, quỳ nghe khai thị, bị mắng, bị trách là sự
huấn luyện »đương nhiên«, thậm chí đến cả cầu tiêu
cũng bị hạn chế, một người nhịn không nổi, giữa đường
chuồn mất, cũng có số người một mặt oán trách càu nhàu,
một mặt thọ hết giới kì. Nhưng tôi nhận rằng những điều
này đều là đại từ đại bi của lão sư, do đó đem lòng
cảm ơn, »nghĩ đương nhiên thôi« mà qua được năm mươi
hai ngày khó quên.
Năm
mười chín tuổi, tôi đến học tại Phật Học Viện Tiêu
Sơn. Nhớ được một vị giáo thọ từng có ý thúc đẩy
tôi vào Học Viện Giáo Dục Quốc Lập để học, tôi cao hứng
quá chừng về thưa lại với thầy, lại bị một trận trách
mắng:
—
Hỗn láo! Giáo dục Phật giáo không chịu học, lại đòi ra
ngoài nhận giáo dục xã hội cái gì?
Về
sau, tuy thầy tôi đưa một sư đệ khác đến trường này
học, nhưng trong lòng tôi không có một chút bất bình, chỉ
biết rằng »đây là lẽ đương nhiên!«
Qua
mấy năm về sau, sư đệ rời khỏi Phật Giáo, tôi mới thầm
thầm thể hội sự kì vọng ân cần tha thiết của thầy tôi
đối với mình. Nhân đây lại đem tất cả mài luyện trong
quá trình học tập xem là »lẽ đương nhiên«. Có cảm nhận
»đương nhiên« là rất nhiều tốt đẹp vậy!
Lúc
đó, Viện trưởng viện Phật Học Tiêu Sơn là Hoà thượng
Tuyết Phiền. Trong khoá học, thầy chưa hề nói với tôi một
câu, lúc nhìn đến tôi cũng đều là hai con mắt sáng quắt
như đuốc hướng về tôi mà nhìn, có người nói: Lão ấy
đang trừng tôi, tôi lại biết được Ngài không phải là
người có ác ý; ngay cho như thế, tôi cũng nhận rằng đây
là »lẽ đương nhiên«.
Tại
giai đoạn học tập, tự mình chẳng biết gì, thì có tư cách
gì yêu cầu thầy phải đối xử tốt với chúng ta? Hoặc
cho nhân vì tôi đối với thầy cung kính nhất như, về sau
thầy nói: Trong bao nhiêu học sinh ở đây, người mà Thầy
khen ngợi nhất lại là tôi. Tôi tự biết mình không tài giỏi
gì, ngoài lúc được yêu quý vừa mừng vừa lo ra, tôi cặn
kẽ nhớ lại chuyện trước, rất may mắn cho chính mình lúc
ban đầu, có thể »nghĩa đương nhiên rồi« ở trong giáo
dục vô tình vô lí mà trưởng thành mạnh mẽ.
Hơn
mười năm sau, tôi mời pháp sư Chân Hoa viết bài »Tham học
tỏa đàm«[1] cho báo Giác Thế, trong văn đối với đạo tràng
tham học biểu lộ rất nhiều ý kiến bất mãn, kì thực những
con người, sự việc, nơi chốn này tôi đã trải qua hết
rồi, chỉ là lúc ấy đều biết rằng »đây là lẽ đương
nhiên«, do đó chưa hề biết nó không tốt, cũng khiến tôi
ở trong chỗ biết được »đương nhiên« mà cảm thấy không
có gì bất bình, vì chuyện đó là giáo dục mà!
Mười
năm trường tham học, chớp mắt đã qua, về sau, tôi cũng
làm công tác dạy học, từ giảng dạy Phật học đến dạy
về Quốc văn, từ dạy người xướng tụng đến chỉ đạo
viết văn…, trong đó tôi từ lần này đến lần khác, trong
sự ngang bướng của học sinh mà rèn luyện tánh nhẫn nại
và từ bi của mình. »Nghĩ đương nhiên là vậy« điều hoà
phương thức dạy học và tâm thái giảng bài của mình, để
mong khế lí khế cơ, như nay có thể nói là cưỡi xe nhẹ
đi đường quen. Từng có người hỏi tôi về tâm đắc sau
nhiều năm dạy học, tôi biết rằng học sinh cố nhiên là
phải tiếp nhận, ông thầy cũng ắt phải cải tiến, hai bên
đều cần thung dung nhẫn nhận chỗ hay của nhau trong lúc dạy
và học, nếu như có thể từ »chẳng cho là đúng« lúc ban
đầu, đến »tất cả nghĩ đương nhiên như thế« cuối cùng.
Đây chính là một loại tiến bộ, chính là một loại thành
công.
Thầm
cảm thấy làm việc gì nếu cứ tự cho mình có lí, thì chẳng
dễ trưởng thành. Ở quá khứ, có ông thầy ân cần dạy
bảo tôi, như nay đệ tử, tín đồ cũng có lúc không tiếc
lời »chỉ giáo«. Đối với việc này, tôi đều »nghĩ đương
nhiên vậy« để thừa nhận, vì »Ta yêu tôn nghiêm (Thầy),
nhưng ta yêu chân lí hơn«. Trước chân lí, không có thứ tự
lớn nhỏ, cũng không có phân chia tôn ti.
Thẳng
đến hiện tại, tôi lại là một mực đem »tất cả đều
là lẽ đương nhiên« ra để tự khích lệ mình, giáo dục
đồ chúng. Trong số đệ tử từng có người hỏi tôi:
—
Thầy dạy chúng con nên »nghĩ đương nhiên vậy« để phục
vụ chân lí. Cái gì là chân lí? Là tri thức khoa học kỹ
thuật hiện đại? Hay là mười hai phần giáo trong kinh điển?
Tôi
biết rằng điều này đều đúng, nhưng cũng đều chẳng đúng.
Vì chân lí không nhờ cầu bên ngoài, tại trong tự tánh vốn
tự đầy đủ, cái trọng yếu nhất là ắt phải hiểu được
sự tôn trọng và bao dung, nếu không thì ngay cho đọc khắp
ngàn kinh muôn luận, học chứa đầy năm xe, cũng chẳng qua
là người nghèo đếm của báu cho người, tự dối dối người,
một mai cảnh giới xảy đến lại là bị ngũ dục trần lao
chướng ngại mê hoặc như thường, có lúc thậm chí trở
thành lầm lớn cũng chẳng tự biết. Tất cả »đương nhiên«
đó chính là có thể tâm cảnh nhất như, vật ngã đều quên.
Lúc
còn bé, gia cảnh thập phần khốn khó, mấy người cậu của
tôi tuy so ra giàu có nhưng cũng không có tâm ra sức tương
trợ, tôi một mực biết đây là »lẽ đương nhiên«. Sau
này tôi đến Nhân Văn Hội Tuỵ ở Tiêu Sơn học, họ mấy
lần nhờ tôi mua dùm bảng vẽ chữ, nhưng lại không hề đưa
tiền, tôi lúc đó nghèo rớt mồng tơi, nhưng lại nhịn ăn
bớt mặc, đem tiền cúng dường Phật sự từng chút từng
chút dành dụm ra, y lời mua dùm. Cứ thế về sau mẹ tôi biết
được đau lòng vì tôi không thôi, tôi lại nhận rằng cho
người phương tiện, cho người lợi dụng đều là »lẽ đương
nhiên«.
Biệt
ly quê hương bốn mươi năm sau, tôi mới liên lạc được
với người nhà. Thân thích lúc ấy đều gởi thơ đòi tôi
gởi Mĩ kim cho họ xây nhà, tiếp theo lại bao nhiêu lần đòi
tôi những vật dụng điện khí, mẹ tôi lấy tất cả, muốn
tôi không cần phải bận tâm, mà tôi trước sau vẫn cho rằng,
cho người là biểu thị sự giàu có của mình, là việc »đương
nhiên«. Do đó, mỗi lần về Đại Lục, tôi không những mua
đồ tặng bạn bè chí thân, ngay dù vị lão sư, bạn đồng
tham, học sinh, người làng ít quan hệ với mình, tôi đều
giúp đỡ biếu tặng.
Xuất
gia học Phật, một lòng một dạ độ chúng lợi sanh, không
nghĩ đến khoác cà-sa vào sự càng nhiều, rời Phật Học
Viện Tiêu Sơn rồi gia nhập hạnh đàn (杏壇) lại vô cớ
bị bên này cho là đặc nhiệm của bên kia, lại bên
kia cho là gián điệp của bên này, luôn luôn bị đến sưu
tra gạn hỏi, có một lần lại chẳng hiểu làm sao bắt ngồi
tù, xém một tí bỏ mạng.
Năm
1949 đến Đài Loan, phút chốc lại bị giam cầm lâu đến
hai mươi ba ngày, nạn lớn mà không chết, tuy còn sống sót
lại vẫn bị liệt vào sổ đen, Tôi biết được lúc
đó sanh nhằm đời loạn, một chút oan uổng uỷ khúc này
đều là »lẽ đương nhiên«, nhân đây hoàn toàn có thể
tâm bình khí hoà. Chỉ có trong lòng cầu nguyện: Mong đời
loạn lạc bất công bất bình này sớm có ngày qua đi. Tôi
biết đây cũng là ý nguyện »đương nhiên« của mình.
Năm
1981, trước lúc quan hệ hai bên chưa được sáng sủa lắm,
tôi ở tiệm cơm lớn Thái Bình Dương tại Nhật Bản, cùng
mẹ già gặp lại lần đầu sau bốn mươi năm xa cách, bao
nhiêu tình cảm biệt ly trong một sát-na đều trào lên tim,
tôi đột nhiên cảm nhận rằng trên thế gian người với
người, cho đến giữa nước này với nước khác, ân ân oán
oán, tốt tốt xấu xấu, đều không phải là cái đối lập
mà là cộng nghiệp của mọi người tạo thành, nếu như muốn
cho thế giới được hoà bình an lạc vĩnh cửu, ắt cần phải
dưới nguyên tắc hỗ tương bình đẳng, bao dung sự khác mình,
mới có thể đạt thành, thậm chí quốc gia muốn làm được
dân chủ tự do chân chính, cũng phải là ở dưới tiền đề
người trong nước kia đây tôn trọng lẫn nhau, chiếu cố
cả tình lẫn lí mới có thể thành công.
Sự
buồn vui ly hợp do thời cuộc tạo thành, cố nhiên phải chịu,
xem tình người ấm lạnh của thế gian lại đủ để khám
phá tất cả. Lúc mới đến Đài Loan, y phục lam lũ, đói
không no bụng, đã không người cho ở, cũng không người tán
thưởng. Dù cho người khác gây cho tôi nhiều bất tiện, khiến
tôi khó kham đến cùng cực, nhưng tôi đều xem nó là »lẽ
đương nhiên«, vì họ với tôi chẳng phải thân, chẳng phải
quen biết, không có lí do để họ để ý đến mình. Đó,
tôi xưa nay cũng không hề ghi hận trong lòng. Một niệm »đương
nhiên« tăng tiến công đức, kì thực đây cũng là việc tu
hành trong sinh hoạt.
Năm
1952, hội Phật Giáo Trung Quốc tại Đài Loan họp lại. Lần
đầu cử hành bầu cử, lúc ấy tôi hai mươi sáu tuổi, được
tuyển làm Thường vụ lí sự, vì tôi cho rằng mình trẻ tuổi,
chẳng đủ tư cách, được chọn không cho là »đương nhiên«,
do đó tôi thẳng thắn quyết định từ chối, không dè lại
đắc tội với hệ phái ở đây. Về sau tôi cứ chẳng gặp
thuận lợi hoài.
Năm
1965, Hội nghị Phật giáo thế giới phục vụ xã hội cử
hành tại Việt Nam, tôi lại được kể là một trong những
người được mời khai hội, theo đó lại tiếp đến hội
Phật Giáo Trung Quốc ra thông tri mời hội nghị trong nước,
tôi ngàn dặm xa xôi ngồi xe đêm từ Cao Hùng đến Đài Bắc,
một lão pháp sư trông thấy tôi, lại nói:
—
Nếu như ông đi thì tôi không đi.
Tôi
chỉ biết đáp lại:
—
Lão pháp sư, đương nhiên là Ngài đi.
Ngay
lúc tôi xoay mình ra khỏi nghị trường, Ủy viên lập pháp
là tiên sinh Mạc Đạm Vân chận ngang cửa hỏi:
—
Thầy lại trở về như thế ư?
Tôi
đáp:
—
Kì thực, đây là "lẽ đương nhiên".
Nói
xong, tôi lập tức trở về Nam. Lúc đến Cao Hùng, đã là
lúc muôn nhà lên đèn, đêm khuya vắng vẻ.
Đương
nhiên! Đương nhiên! Đương nhiên cần có lực lượng gánh
vác!
Năm
1978, Phật giáo đồ thế giới hữu nghị lần thứ 12, hội
tại Đông Kinh, lúc mới họp, Nhật Bản tính bãi bỏ tư cách
dự hội của đoàn Đại biểu Trung Hoa Dân Quốc, Hội Phật
Giáo Trung Quốc xưa nay bài trừ cơ hội làm đại biểu đến
dự của tôi, lần này là suy cử tôi dẫn phái đoàn đến
Hội Phật Giáo Nhật Bản kháng nghị. Nhớ được lúc đó
có mấy vị pháp sư Tịnh Tâm, Thánh Ấn và cư sĩ Ông Già
Đông, Từ Huệ thì đi theo phụ trách phiên dịch. Sau một
lần trò chuyện, bằng hữu Phật Giáo Hội Nhật Bản
cuối cùng tiếp nhận ý kiến của tôi, vẫn mời đại biểu
Phật Giáo Hội Trung Quốc đến dự. Tôi hoan hoan hỉ hỉ,
không thẹn với sứ mạng, trở về Đài Bắc, không dè Phật
Giáo Hội Trung Quốc đã cử một số pháp sư khác đi dự
khai hội. Công lao khó nhọc của chúng tôi hoàn toàn không
nói đến. Nhớ lúc ấy, pháp sư Thánh Ấn bực tức gọi điện
thoại nói:
—
Chúng ta ở tiền phương gian khổ đấu tranh, bọn họ lại
ở hậu phương ngồi hưởng thành công!
Tôi
an ủi ông:
—
Đi dự khai hội kì thực rất cay đắng, không đi tốt nhất…
Năm
1980, Đại hội Hội viên hội Phật giáo đồ hữu nghị lần
thứ 13, cử hành tại Chiêng Mai, Thái Lan. Pháp sư Thiền Định
đại biểu Pháp quốc kiến nghị lên Tổng hội thế giới
hội Phật giáo đồ hữu nghị thế giới, mời tôi với danh
hiệu khách quý đến dự, nhưng lúc tôi xin xuất cảnh thì
vì pháp sư Tịnh Lương ở hội Phật Giáo Trung Quốc đem công
văn xếp lại không chuyển báo Bộ Nội Chính, nên đành chết
trong trứng nước không đi được.
Những
chuyện chịu thiệt thòi như thế có thể nói không phải một
mà thôi, tôi toàn xem là nghịch tăng thượng duyên »lẽ đương
nhiên« mà ngoài ra lúc hoằng pháp gặp những gian nan trắc
trở lại không thể kể xiết, tôi cũng đều biết là thực
tướng Ta-bà »lẽ đương nhiên«, do đó tôi không nhân đó
mà hận đời chán tục, oán trời trách người, ngược lại
lấy đây làm gương, rộng kết duyên lành, dựng lập cơ hội
trước. Như nay, hội Phật giáo đồ hữu nghị thế giới,
chẳng những từng trước sau tại chùa Tây Lai Mĩ Quốc và
Phật Quang Sơn Đài Loan triệu tập Đại hội Hội viên lần
thứ 16 và 18 mà lại còn tôn tôi làm Hội trưởng Danh dự.
Năm gần đây, sự nghiệp Phật Quang ở Hội Phật Quang Quốc
Tế khắp năm châu cũng đầy đủ nhân duyên, »đương nhiên«
thành tựu. Do đó, đem tất cả xem là »lẽ đương nhiên«
đều chẳng phải là sợ việc rút lui mà là ắt phải trước
tiên nhận ra cùng thế gian này, hiểu rõ cách điều chỉnh
hoàn cảnh về sau, theo ngay đó gánh vác, tự mình cải tạo
làm nên, chỉ cần có thể vững trăm nhẫn này, phấn đấu
vươn lên, nhất định có thể siêu vượt phàm trần, được
như ý muốn!
Đồ
chúng thường hỏi tôi:
—
Người đó xấu như vậy, Thầy vì sao lại muốn giúp hắn?
Vì
tôi xưa nay biết rằng rộng rãi để đối với mình, nghiêm
khắc để đãi người không phải là lẽ đương nhiên. Trung
hậu tha thứ mới là lẽ đương nhiên, chỉ cần người này
đối với người khác có một chút chút tốt, ngay cho đối
với tôi tình nghĩa bạc bẽo, tôi cũng nghĩ thành tựu cho
hắn. Tôi nhớ lúc nhỏ, có một người tên là Giải Nhân
Bảo ở gần nhà, từng hãm hại cha tôi phải ở tù, về sau
một độ thất nghiệp, sanh hoạt sa sút, mẹ tôi lại chẳng
nhớ hiềm cũ, khuyên tôi xin Ân sư kiếm việc cho anh ta, lúc
đó trong lòng tôi không cho là đúng, nhưng vì mẹ sai không
dám cãi, phải vâng lời mà làm. Đài Loan Quang Phục Hội thắng
lợi, Tưởng Công (Tưởng Giới Thạch) dùng đức báo oán,
khiến người Nhật Bản thoát khỏi khổ mất nước diệt
chủng. Tôi mới dần dần cảm nhận lấy lửa dẹp lửa, đổ
nước nóng để ngừng sôi đều không phải là hành vi đương
nhiên, từ bi hỉ xả mới là sự tu hành »lẽ đương nhiên«
nhất, là tài sản quý báu nhất của người đời.
Cổ
Huấn có nói: »Hủ chi ẩu chi, xuân hạ sở dĩ sanh dục dã,
sương chi tuyết chi, thu đông sở dĩ thành thục dã«[2] (Nhờ
tươi
nhờ tốt, xuân hạ do đó nuôi sống vậy, nhờ tuyết nhờ
sương, thu đông do đó mà chín muồi vậy). Trong biển người
chìm nổi, chịu khổ chịu nạn, oan uổng uỷ khúc đều là
»lẽ đương nhiên«, chỉ có kiên trì niềm tin, chúng ta mới
có thể tùy cảnh ngộ mà an, tùy duyên sinh hoạt, tùy hỉ
mà làm, tùy tâm mà ở, vì chính mình kiếm ra đường khai
thông. Trên thế gian này, làm cho người hoan hỉ, cho người
có lòng tin cũng đều là »lẽ đương nhiên«, chỉ có ôm
chặt quyết tâm này, chúng ta mới có thể chẳng kể được
mất, chẳng quản nhục vinh, hết sức ở mình làm chỗ đáng
làm, tất cả đều »đương nhiên« vậy.
[1]參學鎖談
[2]
姁之嫗之,春夏所以生育也,霜之雪之,秋冬所以成熟也.