Văn
hóa xã hội và tín ngưỡng tôn giáo là một hiện tượng
khảo sát của văn minh nhân loại. Như chúng ta đã biết, văn
hóa Việt Nam nói chung, hay các tập tục - tín ngưỡng - lễ
hội nói riêng, trải qua quá trình phát triển lịch sử của
dân tộc đã chịu nhiều ảnh hưởng của các trào lưu văn
hóa, tôn giáo vốn đã du nhập vào nước ta hòa quyện để
trở thành truyền thống dân gian của dân tộc. Dĩ nhiên, những
truyền thống dân gian nguyên thủy của các dân tộc người
bản xứ được coi là thủy tổ của dân tộc Việt dần dần
được pha trộn với các nền văn hóa khác mà phát triển,
thì chủ thể không còn là bản sắc ban đầu của nó. Đó
là một hoàn cảnh mang tính đặc thù của người Việt, vốn
dĩ thuyết minh cho phần nghiên cứu chuyên đề này là phong
tục tập quán mang ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa ở vùng
đất Nam bộ.
Một
điển hình cho hình thái này là Tập tục Sóc, Vọng, một
tập tục gắn liền với đời sống người Á Đông, và đặc
biệt là với dân tộc Việt ở miệt đồng bằng Nam bộ,
nơi mà mọi sinh hoạt, giao thông, kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng
đều ít nhiều phụ thuộc vào các con nước thủy triều trên
sông rạch.
I.
TẬP TỤC SÓC VỌNG.
a)
Nguồn gốc:
- Sóc:
là tên gọi ngày bắt đầu của một tháng (1), là trước,
mới (2), là bắt đầu, khởi đầu (3).
-
Vọng: là ngày rằm (tức ngày 15) tháng âm lịch. Vọng có
nghĩa là trông xa (1), là ngày mặt trăng mặt trời đối xứng
nhau ở hai cực (2). Người xưa cho rằng vì thế mặt trời
mặt trăng nhìn rõ nhau, thấu suốt ánh sáng nhau, soi chiếu
vào mọi tâm hồn con người trở nên sáng suốt, trong sạch,
đẩy lùi được mọi đen tối vẩn đục cái tâm vốn sáng
suốt, trong sạch từ trong bản thể. Chữ Vọng còn có nghĩa
trông mong (3), ước mong, người xưa lấy ý nghĩa này kết
hợp với ý nghĩa trước để làm ngày cầu nguyện. Người
ta tin rằng ở ngày này nhờ sự thông suốt của mặt trời,
mặt trăng mà thần thánh, ông bà, tổ tiên sẽ thông thương
với con người, sự cầu nguyện sẽ đạt tới sự cảm ứng
với các cõi khác và sự thông cảm tha thứ sẽ được đáp
lại.
b)
Y' nghĩa:
Trải
qua quá trình lịch sử và ảnh hưởng của các trào lưu tôn
giáo, ngày Sóc, Vọng được nhận thức ở mỗi nơi có khác
ít nhiều tùy theo con người, thổ nhưỡng và tín ngưỡng
chủ đạo. Nhưng việc cúng lễ ở hai ngày này giống nhau
và coi như là một lễ chung cho cả hai ngày không khác. Người
xưa coi ngày Sóc, Vọng là ngày tưởng nhớ tổ tiên, cúng
bái ông bà, là ngày nghỉ ngơi trong lao động sản xuất và
là ngày chay tịnh để sửa mình.
Theo
truyền thống của Nho, Lão giáo, ngày Sóc, Vọng là ngày "Thiên
địa mở thông", là sự thông thương của tất cả mọi chướng
ngại giữa ba cõi (Thiên, Địa, Nhân). Trời sẽ chứng giám
cho hành vi của con người, ông bà tổ tiên sẽ về cảm nhận
lòng thành của con cháu, và quỉ thần ám chướng sẽ lui khỏi
những ngày này không nhiễu hại ai.
Ngày
Sóc, Vọng còn có ý nghĩa "Cát tường" tức là ngày lành tốt
nhất trong tháng. Và ý này được chấp nhận chung cho cả
quan niệm phương Đông ở Nho - Phật - Lão, như ngày Chúa nhật
của phương Tây với Thiên Chúa giáo.
Đối
với Phật giáo, ngày Sóc, Vọng là ngày "Trưởng tịnh" tức
là ngày trong sạch nhất. Ngày này, những tu sĩ ở chùa thường
làm lễ Bố-tát tức là kiểm điểm hành vi của mình và tụng
giới luật, còn lễ chính thức cho nhân dân và người theo
đạo Phật đó là lễ "Sám hối" nên còn được gọi là ngày
Sám hối. Ngày này mọi người tụ tập về chùa vào lúc màn
đêm vừa buông xuống để cùng các vị Tăng lễ Phật, sám
hối cầu nguyện bỏ dữ làm lành sửa đổi thân tâm.
c)
Sự du nhập:
Ngày
Sóc, Vọng có điểm xuất phát từ khi hình thành nên âm lịch
ở nước Trung Hoa Cổ đại. Trải qua bao thời đại, nước
Trung Hoa gồm thâu thiên hạ trở thành một đất nước cường
thịnh, phát triển mọi mặt về văn hóa, quân đội và Nhà
nước phong kiến. Vua quan phong kiến nước Trung Hoa vẫn tiếp
tục mộng bá quền, coi mọi dân tộc đất nước lân bang
khác là chư hầu, dùng bạo lực xâm lược để trấn áp và
bành trướng nền văn hóa của họ để cai trị, đồng hóa.
Chính
vì thế văn hóa Trung Quốc đã truyền vào Việt Nam và nhân
dân ta đã hấp thụ âm lịch cùng chấp nhận nó. Ban đầu
ảnh hưởng Lão giáo, Khổng giáo gắn rất chặt vào các ngày
lễ theo văn hóa Trung Quốc, nhưng về sau nhân dân chỉ chấp
nhận sử dụng âm lịch và biến ngày Sóc, Vọng thành ngày
cúng ông bà của dân tộc mình, rồi tiếp tục nhận ảnh
hưởng Phật giáo vào tập tục đó để đầy dần ảnh hưởng
Nho - Lão giáo ra, hình thành nên nét riêng của dân tộc trong
ngày Sóc, Vọng.
Tập
tục Sóc, Vọng theo chân những người Việt di dân khai phá
vùng đất mới mà vào Nam bộ. Chính ở đấy, đã hòa hợp
vào những con người tứ xứ và đất đai mà có những hình
thái sinh hoạt đặc thù mà người viết đang nghiên cứu cái
đặc thù ấy nơi bài này.
II.
ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO CHI PHỐI TẬP TỤC NHƯ THẾ NÀO?
a)
Ngày Trưởng tịnh:
Như
đã dẫn, ngày Sóc, Vọng còn được gọi là ngày Trưởng
tịnh, sám hối và ăn chay, ba ý nghĩa ấy xuất phát từ ảnh
hưởng của Phật giáo.
Đúng
ra, ngày Trưởng tịnh đã được Phật giáo hóa từ khi Phật
giáo Đại thừa truyền vào Trung Hoa ở phương Bắc và truyền
vào các nước theo Phật giáo Tiểu thừa ở phương Nam. Và
ở Nam bộ, là điểm hội tụ của cả hai hệ phái Phật giáo
ấy trong tập tục Sóc, Vọng, vì Phật giáo Tiểu thừa sử
dụng lịch Ấn Độ không sử dụng âm lịch Trung hoa, nhưng
ngày làm lễ Bố-tát của họ cũng được quy định bằng
ngày trăng sáng và ngày không trăng. Vì vậy, ngày Sóc, Vọng
ở Nam bộ, nơi vùng đất cũ của người Khơme còn sinh hoạt
tín ngưỡng Phật giáo Tiểu thừa, cộng với tín ngưỡng
Phật giáo Đại thừa được mang đến từ người Việt lưu
cư, đã hòa quyện nhau trở thành ngày của Phật giáo mang
đặc điểm khác biệt với Trung bộ và Bắc bộ về Sóc,
Vọng.
c)
Ngày Sám hối:
- Đêm
mồng một:
Ở
Nam bộ không có thói quen gọi là ngày Sóc, Vọng, mà người
ta thường gọi một cách quen thuộc là ngày rằm (tức ngày
Vọng - 15) và ngày mồng một (tức ngày Sóc - 30,1). Không khí
của ngày rằm, mồng một ở đây được coi là những ngày
quan trọng hơn mọi ngày trong tháng.
Nhân
một chuyến đi khảo sát tại Bình Đại, Bến Tre cho bài khảo
cứu này vào một tối 29 (vì là tháng thiếu), mới hơn 6 giờ
chiều, trời đã tối không thấy rõ mặt người, đêm cuối
tháng quả là một đêm trừ tịch, lại ở vùng quê chưa hề
có điện, người viết ngồi từ một quán ở đầu xóm nằm
trên con đường cái của làng, đã nhìn thấy một quang cảnh
rộn rịp khi tiếng chuông chùa bắt đầu ngân vang trong đêm
vắng. Từng nhà, từng nhà người ta đi ra với tay cầm những
con cúi (<$F Một loại bó bằng lá dừa khô, đốt lên để
cầm đi đường.>1) đưa tới đưa lui để có ánh sáng soi
đường, đồng một hướng đổ về ngôi chùa có tiếng chuông
ngân.
Thật
là một cảnh tượng sống động trong đêm với hằng loạt
đốm lửa con cúi đổ về một hướng như lễ hội rước
đèn. Nào là đàn ông, đàn bà, các cụ già và một ít các
người trẻ, đa số là nữ như tục ngữ có câu: "Đình là
của các ông, chùa là của các bà". Họ ăn mặc khá tề chỉnh
so với lúc sinh hoạt ban ngày, người nào tay cũng có bó bông,
hoặc nhang, trái cây, họ đi với tâm trạng thơ thới nhẹ
nhàng, vui vẻ nhưng trang trọng để chuẩn bị dự lễ Sám
hối nơi ngôi chùa làng mà tiếng chuông vang đang dần dần
thôi thúc.
Người
ta không đi chùa hết, những người ở lại nhà và các gia
đình không theo Phật giáo nhưng thờ ông bà bày đồ cúng
ra bàn Thiên (Loại bàn như cái khay đóng trên một cây cột
trước nhà) lên nhang đèn cúng vái trời Phật giữa đêm tối
như một chuỗi hoa đèn trông thật có ý nghĩa. Một bà lão
ở quán cho người viết biết: "Đó là tục lệ thường xuyên
của dân xứ này trong đêm rằm mồng một, ngày thường thì
không như vậy, họ chỉ thắp hương nơi bàn Thiên mà thôi,
không có sáng sủa như đêm nay.
- Đêm
trăng rằm:
Đặc
tính của đêm trăng rằm là con nước đầy. Vì thế, nét
sinh hoạt trên quê hương sông nước là một nét đặc trưng
của Nam bộ trong sinh hoạt nhân dân, nhất là đối với ngôi
chùa ở miệt này.
Một
chuyến đi khác tại Nha Mân, Đồng Tháp vào trong đêm trăng
tròn, người viết được chứng kiến ánh trăng trải đầy
trên mọi con sông rạch, lũ lượt ghe xuồng đổ về ngôi
chùa Hội Phước, ngôi chùa lớn của địa phương nằm bên
con rạch. Trước bến chùa, đã đầy chật ghe xuồng neo đậu,
tiếng chào hỏi, những bó bông vườn hay trái cây, nhang đèn
được đem đến dâng cúng lên chùa. Ngày hội trăng Rằm này
là nơi gặp gỡ tốt nhất của họ sau nửa tháng lao động.
Họ đến chùa dự lễ Sám hối xong, còn ngồi nán lại hiên
chùa hàn huyên, lớp trẻ thì dạo chơi ở vườn hay các quán
nhỏ, chỉ mở ra vào những ngày này. Sau một khoảng thời
gian độ 9 giờ đêm, bến ghe lần lượt tan khi họ ra về.
Lúc này trăng đã chếch bóng trên bầu trời, đối với người
dân làng đi chùa lễ Phật đêm Rằm, đây là khoảnh khắc
sung sướng nhất, không vội vã, với tâm trạng an lành, ung
dung chèo xuồng dưới ánh trăng đêm tỏa xuống mặt sông
của con nước Rằm đầy ắp, là cả một sự tươi mát thơ
mộng và nhẹ nhàng của tâm hồn họ sau khi lễ Phật, mà
không dễ gì người ở thành thị có được.
Những
hình ảnh và cuộc sống như thế lần lựa theo ngày tháng
trôi đi lập lại trên khắp xóm làng Nam bộ, nó in vào tâm
trí con người khi lớn lên, dù cho họ có ra đi phương trời
nào đi nữa, vì cuộc sinh kế, vẫn không thể phai mờ trong
ký ức về quê hương của mình, đậm nét ngôi chùa, đêm
Rằm, lễ Phật, vui chơi... Hình tượng nghệ thuật này từng
được một thi sĩ thể hiện cảm xúc:
Mỗi
tối dân quê đón gió lành,
Khắp
chùa dào dạt ánh trăng thanh,
Tiếng
chuông thức tỉnh lan xa mãi,
An
ủi dân hiền mọi mái tranh...
Trầm
đốt hương thơm bay ngạt ngào,
Thôn
trên xóm dưới dạ nao nao,
Dân
làng tắm gội lên chùa lễ,
Mười
bốn, ba mươi mỗi tối nào...
(Trích
bà thơ "Nhớ chùa" của Nguyên Không, đăng trên tạp chí Phật
giáo Việt Nam, xuất bản năm 1956, Đà Lạt.)
c)
Ngày ăn chay:
Ăn
chay, hay còn gọi là ăn lạt, phát xuất từ quan niệm từ
bi của Phật giáo Đại thừa, khuyên tối thiểu mỗi người
theo đạo Phật phải tập ăn chay mỗi tháng là hai ngày rằm
và mồng một.
Ngày
chay là một bộ mặt khác của chợ búa - điểm hội tụ sinh
hoạt sôi động nhất cho nhu cầu con người hàng ngày. Những
loại thức ăn chay được bày bán, những quán đồ chay được
mời chào và phong cách mọi người cũng khác đi khi họ ăn
chay. Một điểm nữa là bông trái được bày bán la liệt,
có thể nói ngày Sóc, Vọng là một ngày đầy màu sắc với
bông hoa rực rỡ, người làm vườn thì chở hoa ra chợ và
mỗi người đi chợ đều mang về một bó hoa trong giỏ. Nét
nghiêm túc được thể hiện nơi mọi người, việc sát sanh
tranh cãi được hầu như gác lại để dành cho cái thiện
ở mỗi người thể hiện ra.
III.
CÁC HÌNH THỨC SINH HOẠT NHÂN DÂN
a)
Sự khác biệt giữa các ngày Sóc, Vọng trong năm:
Mặc
dù năm tháng trôi qua như mặt nước hồ phẳng lặng đều
đặn như nhau, thế nhưng ở cùng ngày Sóc, Vọng trong năm
cũng có những hình thức sinh hoạt khác biệt nhất định
của nó. Trong đó ảnh hưởng Phật giáo hầu như gói gọn
tất cả mọi ngày lễ ấy. Có thể lập được biểu đồ
để so sánh các ngày lễ lớn của Sóc, Vọng như sau theo ảnh
hưởng Phật giáo:
NGÀY
SÓC
-
30 - 1 tháng Giêng (Tết âm lịch), Lễ Vía Phật Di-lặc
-
30 tháng Bảy: Lễ Vía Địa Tạng Bồ-tát.
NGÀY
VỌNG
-
Rằm tháng Giêng: Lễ Cầu phúc, cầu an, hành hương.
-
Rằm tháng Hai: Lễ Phật nhập Niết bàn.
-
Rằm tháng Tư: Lễ Phật đản.
-
Rằm tháng Bảy: Lễ Vu-lan, báo hiếu, xá tội vong nhân.
-
Rằm tháng Mười: Lễ Cúng rằm.
Trong
đó:
-
12 ngày Sóc
-
2 Đại lễ.
-
10 lễ bình thường.
-
12 ngày Vọng
-
5 Đại lễ.
-
7 Lễ bình thường.
b)
Những quan niệm khác nhau về ngày Sóc, Vọng:
Cái
gì đã đi vào truyền thống dân gian thì đều mang trong tự
bản thân nó tính chất hòa nhập xã hội và phản ảnh xã
hội của địa phương chấp nhận nó. Bên cạnh đó, là quan
niệm của các tầng lớp nhân dân trong mối quan hệ tập tục
này về hình thức sinh hoạt và tâm lý. Đi sâu vào khảo sát,
ta thấy các quan niệm của họ về ngày Sóc, Vọng như sau:
1.
Đối với người tín ngưỡng dân gian:
Tín
ngưỡng dân gian ở đây thể hiện ở đình và miếu. Một
bộ phận nhân dân trong ngày Sóc, Vọng sẽ đến đình hay
miếu của làng mình để đốt nhang, chưng dọn quả phẩm
cúng Sóc, Vọng. Thực ra ngày Sóc, Vọng chỉ là ngày lễ bình
thường mở cửa cho mọi người đến viếng và lễ như thường
lệ mà thôi, chứ không phải là có lễ gì đặc thù trong
những ngày này. Bởi đó là ngày nghỉ ngơi của nhân dân
với quan niệm hướng về đạo lý truyền thống.
+ Đình
là biểu tượng của làng, quan niệm về ngày Sóc, Vọng mang
ảnh hưởng Nho giáo, mặc dù các Thần làng được thờ là
các vị công thần thời phong kiến Việt Nam có công ở làng
hoặc là anh hùng dân tộc. Sinh hoạt chủ yếu là tế lễ
định kỳ với Lễ Sinh dâng cúng, và họp mặt hội đình
để bàn việc làng nước, trùng tu, tương tế v.v... Đối
tượng chính của đình là các bô lão chức sắc của làng
và nam giới, họ đến đình để được phân công các công
việc và thực hiện như một bổn phận đối với nghĩa vụ
công cộng của địa phương mình.
+ Miếu,
hay còn gọi là miễu, là nơi tín ngưỡng dân gian thờ Bà,
gồm các vị thánh dân gian như: Năm Bà Ngũ Hành, Bà Thiên
Hậu, Bà Chúa Xứ, Bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu), Bà Mẹ Sanh,
Mẹ Độ, Thánh Anh, Kim Huệ v.v... Và đặc biệt là bất cứ
miếu nào cũng đều có thờ Quan Thế Âm Bồ-tát, mà dân gian
gọi là Phật Bà. Ngày Sóc vọng ở miếu có phần rộn rã
hơn đình, qui tụ một bộn phận nam phụ lão ấu mà đa số
là phụ nữ. Sinh hoạt của họ trong những ngày này là cúng
rằm và lễ cầu an, tụng kinh Phổ Môn, kinh của Phật giáo.
Sau đó là họp hội miếu bàn việc tương tế phước thiện
giúp đỡ những hoàn cảnh tang tế khó khăn của người trong
Hội.
2.
Đối với người theo đạo Phật:
Phật
giáo đối với nhân dân Nam bộ có mối gắn bó lâu đời
trên mảnh đất này, hóa quyện với đạo Phật của người
Khơme vốn có tự lâu đời. Tuy nhiên người Khơme sử dụng
lịch Ấn Độ trong sinh hoạt, so với ngày Sóc, Vọng của
người Việt với ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa, về hình
thức sinh hoạt có khác nhau nhưng quan niệm như nhau.
3.
Đối với người không theo tín ngưỡng:
Ngày
Sóc, Vọng đối với họ như là ngày nghỉ ngơi trong lao động,
nhưng có khác là họ vẫn coi như hai ngày truyền thống đạo
lý, ngày lành nhất để sắm sửa cúng kiến ông bà tổ tiên.
Quan niệm của họ là ngày cúng ông bà, là bổn phận chữ
hiếu đối với người quá cố và giáo dục con cái theo truyền
thống đạo lý đặc thù của dân Nam bộ: Hiếu và Nghĩa.
Mọi hành động bất thiện, những nghề nghiệp thấp kém
đều hạn chế hoạt động trong ngày Sóc, Vọng, như là nghề:
mổ heo, bán rượu, cờ bạc v.v...
IV.
GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG ĐẠO LYÙ DÂN TỘC:
a)
Nói truyền thống, tức là nói đến mặt lịch sử của tập
tục. Trải qua bao đời, ngày Sóc, Vọng đã trở thành tập
tục của người Việt Nam trong bối cảnh cụ thể đất nước
- và riêng ở Nam bộ. Đặc biệt là gắn vào sự phát triển
kinh tế nông nghiệp lúa nước - một nền nông nghiệp tùy
thuộc vào con nước tự nhiên được tính toán bằng âm lịch
một cách chính xác theo điều kiện sinh thái của miền Nam.
Từ đó, văn hóa được dựa vào bối cảnh nông nghiệp ấy
mà phát triển phù hợp với đất nước con người, được
qui định bởi xã hội ấy.
Một
ví dụ để chứng minh: Trong ngày Sóc, Vọng, là ngày con nước
đầy ở mức cao nhất không có ròng sát, thì công việc đồng
áng hầu như phải gác lại toàn bộ, không có thể cày cấy
gieo trồng, chỉ có thể ngh ngơi bơi xuồng đi lại thăm hỏi
nhau hay dự hội hè đình đám vui chơi, hoặc dự lễ nơi chùa
chiền yên tĩnh...
b)
Nói về đạo đức, tức là nói đến tính xã hội của tập
tục. Đối với xã hội Nam bộ, ngày Sóc, Vọng là dấu ấn
đậm nhất trong mọi sinh hoạt của họ, một ngày lành tốt
để làm việc thiện, để răn mình đừng làm điều xấu
trong công việc, hành vi ngôn ngữ và tư tưởng. Ở thành phố,
chúng ta có thể không thấy được ảnh hưởng tư tưởng
của những ngày này, vì xã hội công nghiệp chú trọng đến
dương lịch, Chúa nhật và ngày nghỉ lễ là ngày vui chơi.
Nhưng ở xã hội nông nghiệp thì ngày âm lịch chi phối tất
cả, và ngày nghỉ là ngày Sóc, Vọng với một ý nghĩa đạo
đức thanh thản tâm hồn chứ không phải vui chơi.
Đối
với người dân Nam bộ ở miền quê, thì ngày Sóc, Vọng luôn
ở trong tâm khảm họ suốt những ngày ấy. Khảo cứu qua
tâm lý các tầng lớp ta thấy:
+ Đối
với người già, đây là ngày nhắc nhở con cháu cúng ông
bà, làm lành lánh dữ, và họ đi đến chùa chiền đình miếu
để gặp gỡ nhau như hình thức câu lạc bộ bây giờ.
+ Đối
với người trung niên, lao động chính của gia đình, đây
là ngày nghỉ ngơi sau mọi vất vả lao động, để sống với
gia đình, hoặc chè chén bàn luận nhân tình thế sự, kinh
nghiệm lao động.
+ Đối
với tầng lớp thanh thiếu niên, đây là ngày được phép
đến chùa để "công quả", một hình thức của việc từ
thiện xã hội, học tập đạo đức làm người và được
gặp gỡ trao đổi tình cảm vui chơi với nhau.
+ Đối
với trẻ con, các em coi đây là những ngày thiêng liêng, có
thể nhận được sự tha thứ mọi lỗi lầm của mình nơi
người lớn đến đình chùa, và được hưởng những phần
bánh trái sau khi cúng bái.
Đời
này tiếp nối đời khác sống trong tinh thần đạo đức như
thế, tính xã hội được định hình qua ngày Sóc vọng ăn
vào nếp nghĩ của con người từ khi tấm bé cho đến trưởng
thành tựa như một bức tranh đậm nét thực và ảo khắc
vào tâm trí họ hình ảnh quê hương thân yêu.