CHƯƠNG
MỘT
Một
Khẩu Truyền về những Lời Nguyện Quy Y và
Bồ
Đề Tâm Đại Thừa
Kính
lễ đức Quán Thế Âm !
–*
Khi bản văn này bắt đầu bằng những lời dạy về những
lời nguyện quy y và Bồ đề tâm, xin ghi nhớ trong tâm rằng
quy y, Bốn Tư Tưởng Xoay Chuyển Tâm Thức,(1) và Bồ đề
tâm là tiêu điểm chính, trục chính của những giáo lý và
thực hành. Không có chúng, thậm chí không có người Phật
tử, nói gì đến giải thoát và giác ngộ. Nhờ ba cái trên
mà chúng ta hoàn thành được mục đích của riêng chúng ta
cũng như phụng sự cho những nhu cầu của những người khác.
Trước
khi nghiên cứu bản văn này, chúng ta phải thấy sự quan trọng
của sự nuôi dưỡng một động cơ lành mạnh và có ý nghĩa
cho cả hai phần giáo lý và thực hành. Động cơ của chúng
ta phải là đạt đến giác ngộ để làm lợi lạc cho tất
cả chúng sanh. Không trau dồi một động cơ lành mạnh, việc
đọc tác phẩm này sẽ vô ích. Để đạt đến giác ngộ
trước tiên phải tập trung vào Bốn Tư Tưởng Làm Xoay Chuyển
Tâm Thức.
Thứ
nhất là đời người quý giá, như thí dụ con rùa mù trong
đại dương, một trăm năm mới trồi lên mặt nước một
lần. Chui đầu vào một vòng gỗ nổi là một điều rất
khó. Có được thân người với thì giờ rảnh rang, những
điều kiện thuận lợi để giải thoát thì rất khó.
Bây
giờ chúng ta đang có đời người khó gặp ấy, tuy nhiên cần
nhớ rằng chúng ta chỉ có nó một thời gian ngắn. Hãy dùng
thời gian đó sao cho có hiệu quả và đầy ý nghĩa nhất để
biết cái gì là thiện lành và xấu ác, có được cái trước
và tránh đi cái sau. Quan trọng nhất là một khi bạn đã có
những thệ nguyện, hãy giữ chúng. Nếu bạn làm vỡ chúng,
hãy nhận biết và sám hối và ngăn chặn không cho sự việc
xảy ra nữa. Trong thời gian sống, quan trọng là không rơi
vào những quan điểm sai lầm, những tà kiến, chúng dẫn bạn
đi ra khỏi con đường tâm linh. Nhờ theo những hướng dẫn
căn bản và rất đơn giản này, đời người chúng ta có thể
rất ý nghĩa.
Dù
bạn bị thu hút đến những giáo lý và thực hành Đại Toàn
Thiện, Dzogchen, quan trọng là tiến hành từng bước để có
chứng ngộ trong thực hành đó. Thứ nhất, hãy thiết lập
một nền tảng trong Tiểu thừa, Thừa Cá Nhân. Giữ những
giới luật cho giải thoát cá nhân, chẳng hạn năm giới. Trên
căn bản này, bấy giờ bạn có thể tiến hành Đại thừa
và trau dồi hai loại Bồ đề tâm hay tinh thần của sự thức
tỉnh, Bồ đề tâm nguyện vọng và Bồ đề tâm hạnh, mỗi
cái có những giới luật của nó. Quan trọng nhất, trong bối
cảnh thực hành Đại thừa, chớ bao giờ tách lìa hai loại
Bồ đề tâm này. Khi khai triển Bồ đề tâm và giữ những
giới nguyện, chúng ta cần chống lại khuynh hướng thâm căn
cố đế là làm việc do sự quy ngã. Chúng ta phải dấn thân
vào thực hành Pháp vì lợi lạc của những người khác.
Đại
Toàn Thiện gồm trong bối cảnh tantra Phật giáo, để có nó
người ta phải nhận một quán đảnh truyền pháp trước khi
vào thực hành. Trong các quán đảnh truyền pháp khác nhau,
cái thứ tư là quan trọng đặc biệt. Với những thực hành
của giai đoạn phát sanh và giai đoạn thành tựu như là căn
bản, hãy nhận quán đảnh truyền pháp này, chú ý đặc biệt
đến quán đảnh thứ tư và những samaya, hay những cam kết
của nó. Khi đã thấu hiểu, mỗi thực hành sơ bộ, như quy
y, thiền định Vajrasattva và guru yoga, đều chứa cả hai giai
đoạn phát triển và giai đoạn thành tựu. Chẳng hạn, nếu
bạn có một thấu hiểu đầy đủ về thực hành quy y, thì
mọi sắc tướng được thấy như những hiển xuất của trường
quy y ; và mọi âm thanh được nghe như ngữ của những đối
tượng của sự quy y. Quy y theo cách này trở thành một thực
hành mật thừa trọn vẹn. Tương tự, khi bạn đi vào thiền
định Vajrasattva, bạn sẽ thấy mọi sắc tướng là sắc tướng
của Vajrasattva và nghe mọi âm thanh là ngữ của Vajrasattva.
Điều này cũng đúng cho thực hành chuyển di tâm thức,(2)
nó gồm cả hai giai đoạn phát sanh và thành tựu. Tuy nhiên,
chuyển di có mục tiêu đặc biệt chuẩn bị cho chúng ta với
cái chết, và trong đó có sự lợi lạc đặc biệt.
Ban
và nhận một quán đảnh là rất quan trọng, thế nên rất
quan trọng cần giữ gìn thái độ thích hợp. Một số người
có vẻ như đi đến truyền pháp như chỉ làm một việc sưu
tầm, kiêu hãnh nói với bạn bè về những sở đắc gần
nhất. Thái độ này giống như ném mọi giới luật và quán
đảnh truyền pháp vào đống rác. Quả là một phung phí.
Sự
thực hành Đại Toàn Thiện rõ ràng liên hệ đến hai giai
đoạn phát sanh và thành tựu. Chúng ta hãy xem cái thấy hiểu
(kiến) của Dzogchen. Đôi khi tôi nghe người ta nói họ đã
nhận được những giáo lý về Đại Toàn Thiện và có được
thấu hiểu. Có vẻ hầu hết những người tuyên bố như vậy
rơi vào một trong hai phạm trù : (1) khi họ nghĩ họ thấu
hiểu nghĩa, họ còn bám chấp vào một đối tượng của tâm
trí, thế nên chủ thể-khách thể vẫn còn tồn tại ; và
họ còn bám chấp vào ý niệm họ đã thấu hiểu cái gì đó.
(2) Những người khác tuyên bố như vậy thực sự chỉ ở
trong một tâm thức trống trơn khi họ thiền định theo lối
bề ngoài. Nếu đó là thực hành Dzogchen chân thật, thì bấy
giờ những giai đoạn phát sanh và thành tựu và mọi giáo
lý về mười địa Bồ tát và năm con đường Bồ tát rõ
ràng là không thích hợp. Nếu thực hành Đại Toàn Thiện
chỉ cốt dừng tư tưởng và ở trong một trạng thái tâm
trí trống trơn, thì bấy giờ hai giai đoạn của thực hành
này – Cắt Đứt và Nhảy Qua – cũng không thích hợp.
Đôi
khi chúng ta cố gắng bào chữa bằng hạnh của người khác,
nói rằng họ là những siddha, những thành tựu giả, họ vượt
khỏi sự phán đoán. Nhưng chính Guru Rinpoche nói rằng khi cái
thấy của ngài bao la như không gian, thì ngài rất tỉ mỉ
về hạnh của ngài. Nếu Guru Rinpoche cảm thấy hạnh tinh ròng
là cần thiết, tại sao chúng ta xem là ngoại lệ với những
thành tựu giả có những mức độ chứng ngộ thấp hơn ?
Dù
bạn có bám chấp vào một đối tượng hay trở nên trống
trơn, bạn cũng không thoát khỏi tạo tác ý niệm, thế nên
bạn không thực sự đi vào thực hành Dzogchen. Bám chấp vào
một đối tượng dẫn đến chấp hữu, còn trống trơn là
đoạn diệt chấp vô. Cùng lúc đó, còn một lỗi lầm nữa
là tiêu phí thì giờ để chú tâm vào những lỗi lầm của
những người khác thay vì chú tâm vào hiện trạng của mình,
đây là một loại đạo đức giả tâm linh.
Cả
những thực hành sơ bộ và thực hành chính thức Dzogchen đều
trọng yếu. Nếu không tu hành Bốn Tư Tưởng Xoay Chuyển Tâm
Thức, bạn vẫn sẽ bám chấp vào mọi sự, không có tâm từ
bỏ, thế thì làm sao gọi là người Phật tử ? Cũng có thể
khi bạn đã quy y và nghe một số giáo lý, bạn có thể trở
nên tự phụ và nghĩ bạn đã đi tới đáy của những giáo
lý. Thậm chí bạn có thể nghĩ về mình như một vị thầy.
Hãy nhớ cho, không dễ có thể là một vị thầy. Trước hết,
bạn phải tịnh hóa và điều phục tâm thức bạn. Chỉ lúc
ấy bạn mới có thể ở một vị trí để giúp người khác
điều phục tâm thức họ. Chẳng hạn, nếu một người mù
dắt một người khác, cả hai sẽ rủi ro. Do đó để hoàn
thành những mục tiêu của bạn và của những người khác,
quan trọng là trở lại chỗ ban đầu, trau dồi cái mà truyền
thống Thiền (Zen) gọi là “sơ tâm” – hoàn toàn tươi mới,
không biết, mở rộng với mọi sự. Hãy trở lại với Bốn
Tư Tưởng Xoay Chuyển Tâm Thức vì chúng là chìa khóa mở
ra kho tàng vĩ đại của những giáo lý Phật giáo. Để làm
quen với chúng, hãy đọc chúng. Và khi bạn đọc chúng, hãy
nghiên cứu chúng và đem chúng vào thực hành. –
Đây
là những giáo huấn thực hành và sâu xa của Quán Thế Âm.
Bên phía phải của bạn để một hình ảnh Phật, các kinh
sách về Pháp. Nếu bạn có một cái tháp, hãy để nó ở
đó, và trước mặt mọi cái này để bảy loại cúng dường,
một mạn đà la v.v...
–
Tác giả bắt đầu chỉ dạy thiết lập một bàn thờ như
một chuẩn bị trực tiếp để nhận những giới điều quy
y và tịnh hóa tâm thức. Tâm thức bình thường chúng ta đem
vào thực hành thì bất tịnh, nên cần tạo ra một môi trường
thanh tịnh và dẫn khởi một cảm giác vui tươi và thành tín.
–
Một
khi bạn đã hiểu nghĩa của quy y và Bồ đề tâm, nếu bạn
lại thỉnh cầu những lời nguyện này, chúng sẽ thực sự
khởi dậy trong bạn. Sẽ khó khăn để chúng khởi dậy chỉ
bằng đọc tụng mà không hiểu nghĩa. Trong Pháp phụ này,
những lời nguyện sẽ được ban cấp.
–
Một số người thắc mắc tại sao chỉ nguyện quy y một lần
thì không đủ. Phát những nguyện này thì giống như ăn :
chúng ta cần ăn mỗi ngày để có sức khỏe. Cũng thế, đến
khi nào chúng ta đạt được giác ngộ hoàn toàn, còn chưa
thì rất quan trọng tiếp tục phát nguyện quy y và giữ gìn
chúng. –
Về
những lời nguyện quy y, có những cái chung cho các thừa khác
nhau và có lời nguyện quy y của Đại thừa ; và bây giờ
chúng ta quan tâm đến cái sau. Ở đây đối tượng mà lời
nguyện thỉnh cầu, theo truyền thống của những giáo lý hiện
đây : Trong không gian trước mặt bạn là một tòa ngồi bằng
ngọc rộng và oai nghiêm do những con sư tử nâng đỡ. Trên
đó là một hoa sen nhiều màu trăm ngàn cánh, trên đó có một
dĩa mặt trăng. Ở trung tâm dĩa là đạo sư hàng đầu của
chính bạn, Amitabha (A Di Đà), trong y phục của một báo thân,
có các lama các dòng bao quanh.
Ở
trước ngài là bổn tôn Quán Thế Âm bao quanh bởi vô số
bổn tôn. Ở bên phải ngài là Phật Thích Ca Mâu Ni bao quanh
bởi một vô số Phật gồm ngàn vị Phật của hiện kiếp.
Đàng sau ngài là Kinh Trí Huệ Ba La Mật Một Trăm Ngàn Bài
Kệ, bao quanh bởi một vô số luận thư của thánh pháp. Bên
trái ngài là Vajrapani, bao quanh bởi một vô số Tăng già Đại
thừa và Tiểu thừa, gồm tám đứa con tâm linh Bồ tát và
tám Thanh văn tối cao. Mọi hướng chánh và hướng trung gian
đông đầy những vira(3) và dakini.(4) Ở dưới ngài là một
vô số hộ pháp, gồm Maha-kala Bốn Tay, Mahakala Sáy Tay và Draklha
Gonpo. Trên đỉnh đầu họ là Omï, ở yết hầu chữ Ahï và
ở tim chữ Humï. Từ chữ Humï ở tim họ, những tia sáng phát
ra mười phương, thỉnh mời tất cả những bậc thầy tâm
linh, những bổn tôn, những vira, dakini, và những hộ pháp
như mây vân tập. Hãy tưởng tượng các vị tan vào những
bổn tôn được quán đảnh trước mặt bạn.
Với
hai tay chắp một cây hương, đạo sư và những đệ tử thỉnh
mời các vị bằng cách tụng :
Ngài
là đấng bảo vệ cho tất cả chúng sanh không sót một ai,
bậc chinh phục thiêng liêng bất khả bại đánh tan đám quân
ma, bậc biết mọi sự đúng như chúng là. Xin ngài đến chỗ
này cùng với hội chúng tùy tùng.
Bậc
Chí Tôn, từ vô kiếp ngài đã nuôi dưỡng lòng bi với chúng
sanh, và ngài đã phát những nguyện bao la để đáp ứng những
nhu cầu cho tất cả chúng con. Bây giờ, khi thời đã đến,
xin ngài ban phát một vô số những ban phước nhiệm mầu từ
cung điện tự phát của không gian tuyệt đối của những
hiện tượng. Để giải thoát chúng sanh vô biên, xin hãy cùng
đến với hội chúng tùy tùng.
Ngài
là Vua của tất cả các Pháp, hình thái của ngài như vàng
thanh tịnh, với một sự rực rỡ sáng hơn mặt trời. Với
lòng tin của con, mong ngài nhìn đến con. An bình và bi mẫn,
điều phục và an trụ trong kiên cố thiền định, với Pháp
và trí huệ bổn nguyên của ngài thoát khỏi vướng mắc,
ngài sở hữu thần lực không thể cạn kiệt. Xin trở về,
bậc của sự bình an và thanh tịnh. Bậc thánh toàn giác, cao
tột của chúng sanh, xin hãy đến nơi chỗ cúng dường này,
được trình bày như những phản chiếu đẹp đẽ.
Thưa
ngài, ngài đến đây là điều tốt đẹp. Chúng con có công
đức và dịp may. Xin nhận những cúng dường của chúng con,
nhìn đến chúng con và ban cho những ân điển của ngài.
Khi
chúng con dâng cúng hoa sen tám cánh này rộng lớn như thiên
hà, với hoan hỷ và rộng lượng, xin ở lại lâu như ngài
muốn.
Nếu
bạn muốn, bạn có thể làm thêm cúng dường lễ tắm và
mạn đà la. Đây là nghi thức ngắn :
Như
chư thiên tắm ngài khi ngài vừa sanh ra, con tắm ngài với
nước thanh tịnh, thiêng liêng. Đây là một sự tắm rửa
vinh quang, tối thượng, với nước không gì bằng của lòng
bi. Với nước của những ban phước và trí huệ bổn nguyên
xin ban cho con những siddhi (thành tựu) con ao ước. Thân, ngữ,
tâm của chư Phật thì thoát khỏi những che chướng của phiền
não, nhưng để tịnh hóa những che chướng của thân, ngữ,
tâm của chúng sanh, con tắm ngài với nước thanh tịnh.
Và
:
Nền
đất được rưới nước thơm và rắc hoa, trang hoàng với
núi Tu Di, bốn châu, mặt trời và mặt trăng, tôi quán tưởng
là một cõi thanh tịnh của chư Phật. Nhờ sự cúng dường
này, nguyện tất cả chúng sanh kinh nghiệm được cõi hoàn
toàn thanh tịnh này ! Idamï ratna manïdïalakamï niryatayami.
Như
thế, hãy tưởng tượng rằng những đối tượng của sự
quy y hiện diện cụ thể trong không gian trước mặt bạn.
Thật ra các ngài thực sự hiện hữu, vì có nói, “Đối
với những ai tin Phật, Thế Tôn hiện diện trước họ”,
và “Như những phản chiếu của mặt trăng trong nước, các
ngài xuất hiện bất cứ nơi nào con nhìn.” Thế nên các
ngài hiện diện một cách hiện thực. Hơn nữa, chư Phật
và chư Bồ tát an trú trong những cõi thanh tịnh của mười
phương thấy bạn với đôi mắt trí huệ bổn nguyên của
các ngài, và các ngài chắc chắn nghe lời tán tụng của bạn.
Thế nên điều này là như nhau khi thỉnh cầu với tất cả
chư Phật.
Với
những biểu trưng của thân, ngữ, tâm giác ngộ mà bạn đặt
ra trước mắt bạn như là căn cứ của sự quán tưởng của
bạn, hãy thỉnh cầu ta làm thầy của bạn. Hãy tưởng tượng
thỉnh cầu những thệ nguyện của sự quy y Đại thừa. Những
đối tượng của sự quy y thuộc bản tánh của ba hiện thân.
Chư Phật là Phật Bảo, hãy thỉnh cầu chư vị là sự quy
y nền tảng của bạn. Pháp Bảo là những kinh điển và huệ
quán Đại thừa. Hãy thỉnh cầu cái này là chỗ quy y của
bạn về mặt con đường. Những Bồ tát ở địa thứ nhất
và trở lên là Tăng Bảo của Đại thừa. Hãy tưởng tượng
thỉnh cầu các vị là chỗ quy y của bạn và là những người
đồng hành của các bạn.
–
Ở đây Karma Chagmé Rinpoche nói với những đệ tử của ngài
thỉnh cầu ngài là vị hướng dẫn tâm linh của họ từ đó
làm những lời cầu nguyện này. Đó là một cách để tiến
hành, nhưng bạn không nhất thiết cần có một vị thầy hiện
diện để bạn nguyện quy y. Nếu ngài không có, vẫn có thể
đơn giản thiết bàn thờ với những biểu trưng của thân,
ngữ, tâm giác ngộ của Phật, và nguyện về phần bạn. Khi
bạn quán tưởng, người mà bạn quán tưởng có thể là thầy
của bạn hay Guru Rinpoche. Người mà bạn có niềm tin lớn
nhất là vị thầy ban đầu của bạn và bạn quán tưởng
người đó có bản tánh của A Di Đà.
Hơn
nữa, quy y Đại thừa là giao phó chính mình từ lúc này cho
đến Phật Quả. Đây là cấp độ của sự cam kết. –
Điều
này không phải là quy y cho riêng chúng ta. Hãy tìm kiếm sự
quy y để đem tất cả chúng sanh đến trạng thái thức tỉnh
tâm linh (giác ngộ). Đây không phải là quy y chỉ cho một
đời này, như trường hợp của Tiểu thừa, mà phải nghĩ
rằng, “Con quy y từ hôm nay cho đến khi con thành tựu giác
ngộ.” Quỳ gối xuống, hai tay chắp lại, và với mong muốn
nhất tâm thỉnh cầu những lời nguyện quy y Đại thừa, hãy
đọc theo tôi ba lần :
Tất
cả chư Phật và chư Bồ tát mười phương, xin hãy thương
tưởng đến con. Bổn sư, xin hãy thương thưởng đến con.
Từ lúc này cho đến khi con có mặt trong tinh túy của giác
ngộ, con quy y Phật, bậc tối tôn trong loài người. Con quy
y Pháp linh thánh, tự do tối tôn khỏi sự vướng mắc. Con
quy y các thánh và Tăng bất thối chuyển, cộng đồng tối
tôn. (3 lần)
Nào,
bây giờ hãy biết rằng những lời thệ nguyện Đại thừa
về quy y đã sanh khởi trong dòng tâm của các bạn, và hãy
nói, “Hoan hỷ phụng hành”, với điều này vị thầy trả
lời, “Đây là phương pháp.”
Đây
là những lợi lạc của việc nhận những thệ nguyện quy
y. Bạn được bảo vệ khỏi mọi làm hại và tổn thương
trong đời này (trừ cái gì xảy đến như là quả của những
hành động đời trước), khỏi những điềm triệu xấu và
khỏi rơi vào Tiểu thừa. Trong tương lai bạn sẽ được bảo
vệ khỏi những sợ hãi của những chỗ đến khốn khổ và
những sợ hãi của vòng sanh tử. Trang Hoàng Cho Những Kinh
nói :
Bởi
vì nó bảo vệ khỏi mọi thương tổn, khỏi những nơi đến
khốn khổ, những ác hạnh, sợ hãi và Tiểu thừa, nó là
sự quy y cao cả.
Ngay
khi nhận những thệ nguyện quy y, bạn phải đi vào những
pháp môn tương ứng. Những pháp môn này có (1) ba thực hành
tổng quát, (2) ba thực hành đặc biệt, và (3) ba thực hành
phụ thêm.
1.
Luôn luôn cố gắng cúng dường Tam Bảo, ít nhất cũng dâng
cúng mẩu thứ nhất của bữa ăn. Chớ từ bỏ Tam Bảo dù
với cái giá của đời bạn hay vì bất kỳ phần thưởng
nào ; và thường xuyên thực hành quy y bằng cách nhớ những
phẩm tính tuyệt hảo của Tam Bảo.
2.
Ba thực hành đặc biệt gồm : một khi bạn đã quy y Phật,
chớ có quy y nơi những vị thần khác. Kinh Đại Giải Thoát
nói :
Người
đã quy y chư Phật là một ưu bà tắc đích thật, và chớ
bao giờ tìm sự quy y ở những vị thần khác.
Từ
khi bạn đã quy y Pháp, chớ có làm thương tổn chúng sanh.
Một kinh nói :
Một
khi con đã quy y Pháp linh thánh, hãy thoát khỏi những tư tưởng
làm hại và tổn thương.
Từ
khi bạn đã quy y Tăng, chớ có theo những người quá khích.
Một kinh nói :
Một
khi con đã quy y Tăng, chớ có đổi hướng theo những người
quá khích.
–
Quy y những người quá khích là tin vào những người từ bỏ,
phỉ báng Pháp hay người nói xấu thầy của họ. Điều này
gồm bị ảnh hưởng bởi những thái độ phân phái, thành
kiến v.v..., gồm cả những người tự cho là Phật tử. –
3.
Ba thực hành phụ thêm là : tôn kính đối với tranh tượng
của Như Lai, tiêu biểu cho Phật Bảo, thậm chí một mảnh
của tranh tượng đó ; tôn kính đối với những kinh sách
của Pháp, tiêu biểu cho Pháp Bảo, thậm chí một chữ của
những bản văn đó ; và tôn kính những y áo, vật dụng của
bậc Giác Ngộ, tiêu biểu cho Tăng Bảo, thậm chí một mảnh
y vàng.
Có
tám lợi lạc của sự quy y : (1) bạn được vào trong cộng
đồng những Phật tử ; (2) điều này trở thành một căn
cứ cho tất cả những thệ nguyện ; (3) mọi tội lỗi trước
kia của bạn được tắt dần ; (4) bạn không bị những lực
lượng ngăn ngại thuộc con người hay chẳng phải con người
gây tác hại ; (5) bạn hoàn thành mọi sự bạn dự định
; (6) dòng tâm của bạn được phú bẩm công đức lớn lao
; (7) bạn không sa xuống những trạng thái khốn khổ của
sanh tử ; (8) bạn nhanh chóng và rõ ràng thành tựu giác ngộ
viên mãn.
Đó
là nhận những lời nguyện Đại thừa về quy y.
Bây
giờ tôi bàn luận sự phát sanh nguyện vọng Đại thừa. Nói
chung, về những nguyện vọng, có những nguyện vọng Tiểu
thừa và Đại thừa. Cái thứ nhất là sự phát sanh nguyện
vọng giác ngộ vì an vui và hạnh phúc của riêng bạn, đó
là con đường phạm vi nhỏ. Có nói, “Nguyện vọng của Thanh
Văn và Duyên Giác là những chướng ngại căn bản cho sự
đạt đến giác ngộ viên mãn”, và “Không có phương tiện
thiện xảo và thiếu trí huệ, con sẽ rơi xuống cấp độ
Thanh Văn.” Các vị đạt đến những trạng thái giác ngộ
tương đương với con đường của các vị, nhưng các vị
không thể thành tựu giác ngộ tối hậu. Thế nên cần phải
nỗ lực phát sanh nguyện vọng Đại thừa.
Về
sự phát sanh nguyện vọng Đại thừa, có những phân chia theo
tinh túy của nó, những đặc tính của nó, những nhân và
duyên của nó và những cấp độ của nó. Thứ nhất có sự
phân chia giữa Bồ đề tâm tương đối và Bồ đề tâm tối
hậu. Kinh Nói Về Làm Sáng Tỏ Ý Định nói :
Có
hai loại Bồ đề tâm : Bồ đề tâm tối hậu và Bồ đề
tâm tương đối.
Đặc
tính của Bồ đề tâm tương đối là một sự tỉnh giác
tập trung vào việc hoàn thành giác ngộ vì lợi lạc của
những người khác. Trang Hoàng Cho Chứng Ngộ Cao Hơn nói :
Nguyện
vọng được phát sanh nhắm đến giác ngộ đích thực và
viên mãn vì lợi lạc của những người khác.
Nhiều
nhân và duyên được dạy, nhưng tóm tắt chúng là : niềm
tin vào chư Phật và các con Phật (Bồ tát), một tâm bi mẫn,
và được chăm sóc bởi một thiện tri thức (người bạn
tâm linh). Có nói :
Rễ
của nó được khẳng định là lòng bi, nó kéo theo tư tưởng
thường trực làm lợi lạc.
Kinh
Sự Thu Hút Của Viên Ngọc Sao Băng nói :
Do
có niềm tin vào Bậc Điều Ngự và Pháp của Bậc Điều Ngự,
niềm tin vào cách sống của các Bồ tát, và niềm tin vào
giác ngộ tối thượng, tâm của những người cao cả sanh
khởi.
Có
hai mươi hai phân chia, từ Bồ đề tâm như đại địa đến
Bồ đề tâm như mây. Như Trang Hoàng Cho Chứng Ngộ Cao Hơn
nói :
Đất,
vàng, mặt trăng... Có hai mươi hai loại.
Có
ba loại Bồ đề tâm liên tiếp, tự mình cảm kích, mến phục,
Bồ đề tâm quyết định phi thường và thanh tịnh, và Bồ
đề tâm của sự trưởng thành, chúng loại trừ những che
ám. Trang Hoàng Cho Những Kinh nói :
Ba
cấp độ của phát Bồ đề tâm được xác định : cảm kích
mến phục, quyết định phi thường và thanh tịnh, và trưởng
thành. Chúng loại trừ những che ám.
Trong
hai mươi hai phân chia được bàn luận trong Trang Hoàng Cho Chứng
Ngộ Cao Hơn, cái giống như đại địa, giống như vàng, và
giống như mặt trăng là những trạng thái của người sơ
cơ chúng ta. Trang Hoàng Cho Chứng Ngộ Cao Hơn nói rằng ba loại
Bồ đề tâm được đề cập ở trên sanh ra từ sự cảm
kích mến phục, và chúng xảy ra ở giai đoạn của những
người sơ học.
Cái
tốt nhất là Bồ đề tâm giống như người chăn cừu, với
nó người ta quyết định không tự mình đạt đến giác ngộ
cho đến khi tất cả chúng sanh được đưa vào trạng thái
ấy. Cái này giống như Bồ đề tâm của Quán Thế Âm, và
nó khó làm. Bồ đề tâm như người lái tàu thủy là bậc
trung, với nó người ta quyết định đạt đến giác ngộ
cùng với tất cả những chúng sanh khác. Cái kém là Bồ đề
tâm như đức vua. Hãy xem, “Bởi vì tất cả chúng sanh không
ngoại trừ ai đã từng là cha là mẹ của tôi, tôi phải đáp
ứng những nhu cầu của họ, nhưng bây giờ tôi không thể.
Bởi thế, tôi quyết định trước tiên tự mình đạt đến
giác ngộ, rồi không cần nỗ lực, tôi sẽ phụng sự những
nhu cầu của tất cả chúng sanh nhờ những hoạt động giác
ngộ, tự phát và không nỗ lực cho đến khi sanh tử trống
rỗng.” Điều này quan trọng.
Bằng
cách trau dồi Bồ đề tâm tương đối theo cách này, khi cấp
độ thứ nhất của Bồ tát (sơ địa) được đạt đến,
Bồ đề tâm tối hậu sanh khởi. Và có nói rằng trong những
truyền thống Đại Ấn và Đại Toàn Thiện sự chứng ngộ
thoát khỏi tạo tác ý niệm là Bồ đề tâm tối hậu. Có
Bồ đề tâm nguyện vọng và Bồ đề tâm dám đi đến giác
ngộ. Một cách để trau dồi mỗi Bồ đề tâm này được
trình bày nói rộng trong dòng phát sanh từ Maitreya qua đến
Acarya (A xà lê : một vị thầy đã thành tựu) Asanga. Để
làm được điều đó, người ta phải có những loại thệ
nguyện giải thoát thuộc về cá nhân, và những nguyện Bồ
tát không sanh khởi nếu không có một thiện tri thức biết
tạng kinh Bồ tát. Nghi thức để nhận những giới luật của
Bồ đề tâm nguyện vọng và Bồ đề tâm dám đi đến giác
ngộ cả hai đồng thời được trình bày trong dòng từ Manjushri
(Văn Thù) qua Nagarjuna (Long Thọ) đến Santideva (Thánh Thiên).
Trong truyền thống này những thệ nguyện có thể sanh khởi
trong bất kỳ ai, thế nên đó cũng là truyền thống hiện
thời của chúng ta.
–
Theo dòng từ Maitreya qua Asanga, người ta phải có ít nhất
một trong những lời thệ nguyện giải thoát cá nhân, đó
là, ít nhất một thệ nguyện của ưu bà tắc hay của giới
xuất gia trước khi có những thệ nguyện Bồ tát. Nhưng theo
dòng từ Manjushri qua Nagarjuna đến Santideva, bạn có thể đồng
thời nhận cả hai thệ nguyện Bồ đề tâm nguyện vọng và
Bồ đề tâm dám đi đến giác ngộ, mà không có mặt một
vị thầy và không cần có những giới luật cho giải thoát
cá nhân trước đó. –
Cần
thiết tích tập công đức để làm nền tảng cho Bồ đề
tâm. Trong quá khứ nhiều Bồ tát giàu có đã cúng dường
mười triệu ngôi chùa và ngọc như ý, rồi phát tâm Bồ đề
; những người không giàu có thì cúng dường y phục và đèn
rơm, rồi phát tâm Bồ đề. Những người không có chút tài
sản nào phát tâm Bồ đề chỉ bằng chắp tay.
–
Dù bạn không nhà và không có gì để cúng dường, bạn luôn
luôn có thân, ngữ, tâm để cúng dường cho những đối tượng
của sự quy y khi bạn nhận thệ nguyện Bồ tát. –
Những
cách chính để tích tập công đức là sùng mộ bảy phần.
(1) Hãy tưởng tượng biến thân thể bạn ra nhiều như số
nguyên tử của trái đất và lễ lạy với mỗi thân đó.
(2) Dùng những đồ cúng dường bạn bày ra ở đây như căn
cứ cho sự quán tưởng của bạn, hãy tưởng tượng chúng
có bản tánh là những thân thể, những tài sản, những thiện
căn của bạn trong hình dạng những đồ cúng dường như mây
của Phổ Hiền, đầy khắp vũ trụ. Hãy cúng dường chúng
cho tất cả chư Phật mười phương. (3) Trong sự hiện diện
của các ngài, hãy phát lời sám hối tất cả tội lỗi và
sa rớt của bạn đã mắc từ vô thủy sanh tử cho đến nay.
(4) Thiền định về tùy hỷ tất cả thiện căn công đức
mà các thánh và người bình thường đã thực hiện. (5) Với
những vị đã đạt đến giác ngộ trong những cõi khác và
những vị không dạy Pháp, thỉnh cầu chư vị chuyển Pháp
Luân. (6) Với tất cả những vị sắp đi vào niết bàn, thỉnh
chư vị không nhập niết bàn. (7) Hồi hướng công đức như
vậy để thành tựu giác ngộ vì lợi lạc của tất cả chúng
sanh.
Nếu
bạn muốn, ở điểm này thầy và những học trò có thể
tụng một cầu nguyện ngắn, nhưng nếu không thì cũng không
cần thiết.
Bây
giờ tụng theo tôi ba lần : “Bất cứ đức hạnh nhỏ nào
tôi đã tích tập do lễ lạy, cúng dường, sám hối, tùy hỷ,
cầu khẩn và thỉnh cầu, tôi hồi hướng cho sự giác ngộ
viên mãn của tất cả mọi người.”
Rồi
theo nghi thức chuẩn bị của Bồ đề tâm, đây là thực hành
chính. “Đã nhận Tam Bảo Đại thừa làm chỗ quy y, các Bồ
tát quá khứ khai triển Bồ đề tâm nguyện vọng và Bồ đề
tâm dám đi đến giác ngộ. Cũng thế, bởi vì mọi chúng sanh
đã từng là cha mẹ từ ái của tôi, tôi cũng phát nguyện
đạt đến giác ngộ vì lợi lạc cho họ.” Với tư tưởng
đó, hãy đọc ba lần theo tôi : “Tất cả chư Phật và chư
Bồ tát ở trong mười phương, xin nhìn đến con. Bổn sư,
xin nhìn đến con. Từ giây phút này cho đến khi con đạt đến
tinh túy của giác ngộ, con quy y chư Phật, và con quy y Pháp
và thánh chúng Bồ tát. Như chư Như Lai thời quá khứ đã
khai triển Bồ đề tâm và dần dần đi vào những thực hành
của chư Bồ tát, cũng thế, để phụng sự chúng sanh con khai
triển Bồ đề tâm, và con dần dần đi vào những thực hành.”
Hãy biết rằng bằng cách đọc tụng ba lần như thế, những
thệ nguyện của Bồ đề tâm sanh khởi trong bạn, rồi nói,
“Hoan hỷ phụng hành.”
Công
việc kết thúc là hoan hỷ nơi chính mình. “Đã đạt được
thân người, có ý nghĩa là tôi đã không chết trước lúc
này. Do có được những thệ nguyện Bồ đề tâm hôm nay –
như một chất thuốc hóa sắt thành vàng – tôi đã sanh ra
trong gia đình của chư Phật, và tôi trở thành một đứa
con của chư Phật.” Với tư tưởng này, hãy đọc theo tôi
ba lần : “Bây giờ đời con đang sai quả. Đời làm người
đạt được tốt đẹp. Hôm nay con được sanh ra trong gia đình
của chư Phật, và con trở thành một đứa con của chư Phật.”
Nếu
người ta nói thêm những thực hành phối hợp với việc nhận
những thệ nguyện này, thì có nhiều để nói, nhưng ngắn
gọn là : hãy tôn kính những vị hướng dẫn tâm linh Đại
thừa, tránh bốn hành vi xấu, ráng sức với bốn hành vi tốt,
và trong tâm chớ bỏ rơi chúng sanh. Nói ngắn, sự thực hành
Bồ đề tâm nguyện vọng là quyết định đạt đến giác
ngộ vì chúng sanh. Với tư tưởng này, hãy đọc theo tôi :
“Bây giờ bằng mọi phương tiện con sẽ đi vào những hành
vi phù hợp với gia đình này, và con sẽ không làm dơ nhiễm
gia đình cao cả, không tỳ vết này.”
–
Bốn hành vi xấu là : nói dối hay dối gạt thầy ; làm nản
lòng những người khác trong thực hành đức hạnh của họ
; do giận mà nói lời thô nặng với một người tu hạnh Bồ
tát ; và làm cho chúng sanh lầm đường do từ một động cơ
khác với quyết định vị tha phi thường là dẫn dắt những
người khác khỏi khổ. Bốn hành vi tốt cần theo là : không
nói dối thậm chí trong khi nói giỡn ; làm những người khác
thấm nhuần sự vui thích trong thực hành của họ và hướng
dẫn họ tiến lên trên con đường Đại thừa ; nhìn tất
cả chúng sanh như chư Phật ; thành thực đối xử với tất
cả chúng sanh từ lòng vị tha. –
Điều
này là hoan hỷ nơi những người khác : “Hôm nay, trong sự
hiện diện của tất cả chư Phật, tôi đã hứa phụng sự
và đem đến hạnh phúc cho tất cả chúng sanh cho đến khi
tất cả các người được đưa đến trạng thái giác ngộ.
Thế nên các bổn tôn trong bầu trời và tất cả chúng sanh
các người có tri giác siêu giác quan, hãy vui thích !” Với
tư tưởng này, hãy lập lại : “Hôm nay, trong sự hiện diện
của tất cả những Bậc Bảo Vệ, con thỉnh mời chúng sanh
kinh nghiệm niềm vui cho đến khi họ đạt đến trạng thái
của chư Như Lai. Thế nên, chư thiên và chư a tu la, hãy vui
thích.”
Bây
giờ hãy lập lại lời cầu nguyện này : “Nguyện Bồ đề
tâm quý báu sanh khởi trong những ai chưa sanh khởi. Nguyện
chúng con không lìa rời Bồ đề tâm, nguyện chúng con đi vào
cách sống Bồ tát, nguyện chúng con được chư Phật chăm
sóc, và chúng con cũng được thoát khỏi những hành động
của Ma. Nguyện những ý định của chư Bồ tát phụng sự
chúng sanh được thành tựu. Nguyện chúng sanh nhận được
những gì các Bậc Bảo Vệ muốn giúp đỡ. Nguyện chúng sanh
có được hạnh phúc. Nguyện những cõi khốn khổ luôn luôn
trống rỗng. Bất cứ nơi nào chư Bồ tát ở, nguyện những
cầu nguyện của chư vị được thành.”
Nhờ
những phương tiện này mà nhận được những thệ nguyện
Bồ đề tâm. Đây là sự tu hành : “Không bỏ rơi chúng sanh,
ghi nhớ trong tâm những lợi lạc của Bồ đề tâm, tích tập
hai kho trí huệ và công đức, trau dồi mãi Bồ đề tâm, theo
bốn hành động tốt và tránh bốn hành động xấu – năm
cái này là sự tu hành Bồ đề tâm nguyện vọng.”
Tu
hành Bồ đề tâm dám đi đến giác ngộ chủ yếu gồm ba
sự tu hành, và chúng được bao gồm trong Sáu Ba La Mật. Thế
nên nếu người ta xem những cái đó là những thệ nguyện
của mình, thì chúng là : “Bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định và trí huệ – sáu cái này bao gồm
sự tu hành Bồ đề tâm dám đi đến giác ngộ.”
Theo
truyền thống Duy Thức có bốn hành động xem như thất bại
và bốn mươi bốn lỗi phụ. Theo truyền thống Trung Quán,
đối với những người khả năng bén nhạy có mười tám
thệ nguyện cho vua, các đại thần v.v... Đối với những
người bậc trung có bốn thệ nguyện, và đối với những
người khả năng chậm lụt, có một thệ nguyện. Kinh Lời
Khuyên Cho Một Vị Vua nói :
Đại
Vương, ngài có nhiều hoạt động và công việc, ngài không
thể ở mọi lúc và trong mọi cách thực hành các ba la mật
bố thí cho đến trí huệ. Bởi thế, Đại Vương, dù ngài
đang đi, đứng, nằm, ngồi, thức dậy hay ăn, hãy thường
trực mang trong tâm và trau dồi nguyện vọng, lòng tin, mong
mỏi và khao khát đối với giác ngộ viên mãn. Hãy tùy hỷ
những công đức của những người khác. Làm như vậy, hãy
cúng dường tất cả chư Phật, chư Bồ tát, chư Thanh Văn
và chư Bích Chi Phật. Làm như vậy, hãy đối xử với tất
cả chúng sanh cùng một cách. Rồi, để cho tất cả chúng
sanh được đầy đủ trong tất cả những phẩm tính của
Phật, mỗi ngày hãy hồi hướng những điều trên cho giác
ngộ tối thượng.
Đại
Vương, nếu ngài làm điều đó, ngài cũng trị vì vương quốc
của ngài, và những bổn phận làm vua sẽ không hư kém. Những
tích tập hướng đến giác ngộ cũng sẽ được hoàn hảo.
Bởi
thế, quan trọng cho các bạn là được giáo dục để thực
hành những tu hành của Bồ tát này. Người không được giáo
dục sẽ thấy chúng khó hiểu, và đó là lý do căn bản tại
sao các geshe đi đến các đại học tu viện ở trung và tây
Tây Tạng dành cuộc đời họ để nghiên cứu Trung Quán và
Trí Huệ Ba La Mật. Những đề tài đó khó hiểu, và sự giải
thích về chúng thì rất tỉ mỉ. Tuy nhiên, thế không có nghĩa
là bạn lìa bỏ chúng, vì đây là gốc của Pháp Đại thừa.
Không có cái đó, bất kể thực hành của bạn có tốt bao
nhiêu, bạn cũng rơi vào con đường Thanh Văn và Bích Chi của
Tiểu thừa. Không có cái đó, thì như thể bạn cày đất
mà không gieo giống, bạn sẽ không có kết quả giác ngộ.
–
“Geshe” nghĩa đen là “thiện tri thức”, nhưng nó cũng
là một học vị tốt nghiệp của giáo dục Phật giáo Tây
Tạng. Có nhiều người được giáo dục rất cao trong cả
bốn phái Nyingma, Kagyu, Geluk và Sakya. Chiến lược của mỗi
phái là trước hết tìm ra một người hướng dẫn tâm linh.
Những người đi vào sự tu hành chính thức ở tu viện thường
để vài năm để tranh luận. Nhiều người trong các bạn đã
xem những phim về những buổi tranh luận này : vỗ tay, nhảy
quanh và la lớn để phê bình hay bảo vệ. Việc ấy dùng để
có được một cái hiểu về Sáu Ba La Mật. Trước hết nghiên
cứu và rồi tranh luận từng điểm, một cái hiểu thông suốt
và phê phán sẽ có được.
Sự
tu học lý thuyết, ý niệm này được sự thực hành nhất
tâm đi theo. Trước có một cái hiểu ý niệm và rồi áp dụng
nó vào thực hành.
Đã
nhiều thế kỷ, trong truyền thống Tây Tạng, có hai loại
cơ sở về Pháp. Một là những trường tu viện, nơi có sự
nghiên cứu lý thuyết và những buổi tranh luận – hai cái
đầu tiên của ba giai đoạn nghe, suy nghĩ và thiền định.
Cái kia là những trung tâm thiền định, xưa được dựng lên
cho những người đã xong phần tu học lý thuyết và sẵn sàng
đi vào thực hành nhất tâm. Hiện giờ Phật giáo Tây Tạng
ở Ấn Độ hay Tây Phương cũng làm như vậy, và do đó Pháp
vẫn nở hoa hưng thịnh. –
Nếu
những lợi lạc của việc này mà có hình tướng, thì cả
bầu trời không thể chứa nổi chúng. Thậm chí bạn ngồi
không làm gì cả, công đức của bạn tiếp tục tăng trưởng.
Bởi vì bạn đã trở thành con của chư Phật, bạn trở thành
đối tượng để tôn kính cho trời và người. Kinh Những
Câu Hỏi Của Suradatta nói :
Nếu
công đức của Bồ đề tâm có hình tướng, nó sẽ lấp đầy
tất cả không gian, và vượt ra khỏi đó.
Một
Hướng dẫn Vào Bồ Tát Hạnh nói :
Khi
Bồ đề tâm sanh khởi, chỉ trong một khoảnh khắc một kẻ
hư hỏng bị trói chặt vào trong tù ngục của vòng sanh tử
được gọi là con trai của Bậc Thiện Thệ và trở nên xứng
đáng tôn kính trong những thế giới của trời và người.
Từ
lúc đó, một dòng suối công đức bất tuyệt, rộng lớn
như bầu trời, thường trực sanh khởi dù người ta đang ngủ
hay đang xao lãng.
Sự
tu hành điều này cô đọng thành một điểm : Hãy xem, “Bất
cứ đức hạnh nào tôi làm, dù lớn hay nhỏ, tôi không làm
cho riêng một mình tôi mà vì lợi lạc của tất cả chúng
sanh. Và trong tương lai, để phụng sự tất cả chúng sanh,
tôi sẽ trở thành một vị Phật. Để giác ngộ nhanh chóng
và không có những rắc rối và chướng ngại, nhờ những
thiện căn hoàn thành hôm nay, khi tôi đi khỏi cuộc đời này
nguyện tôi được sanh ra trong cõi tịnh độ Cực Lạc (Sukhavati).”
Nếu bạn biết, hãy tụng Cầu Nguyện Cực Lạc và hồi hướng
v.v... Dù bạn không biết, mỗi đêm hãy nói, “Nguyện con
được sanh trong Cực Lạc.” Mọi thực hành đều bao gồm
trong đó.
Ngược
lại, nếu bạn làm đức hạnh chỉ cho lợi lạc của riêng
bạn thì điều này không phù hợp với những thệ nguyện
Bồ đề tâm, nên là một lỗi lớn. Như có nói :
Trên
một lời hứa như vậy, nếu tôi không đưa nó vào hành động,
thì hóa ra tôi lừa gạt chúng sanh, tôi sẽ có số phận thế
nào ?
Hơn
nữa, sự khai triển Bồ đề tâm là quan trọng để sanh trong
Cực Lạc. Kinh Sự Vinh Quang Của A Di Đà, Kinh Sự Vinh Quang
Của Cực Lạc... nói rằng nhờ khai triển Bồ đề tâm và
cầu nguyện khẩn cầu, người ta sẽ được sanh trong cõi
tịnh độ ấy ; nhưng những kinh ấy không nói rằng người
ta sẽ được sanh vào đó mà không có cầu nguyện. Trọng
tâm của sự thiền định này duy chỉ là thiền định của
từ bi, “gởi cho và nhận lấy”.
–
Sự thực hành “gởi cho và nhận lấy”, được gọi là
“tonglen”, bao gồm sự trau dồi Bốn Tâm Vô lượng : từ,
bi, hỷ, xả. –
Do
nhận những thệ nguyện quy y và Bồ đề tâm theo cách này,
sự thực hành quy y và Bồ đề tâm sẽ luôn luôn được đầy
đủ, và mọi thực hành những giai đoạn phát sanh và thành
tựu và mọi tụng chú sẽ giống như những cái tháp dựng
đứng trên một nền tảng vững chắc ; chúng sẽ dẫn bạn
tiến xa thêm trên con đường. Không có cái này, chúng chỉ
bảo vệ cho bạn khỏi những nguy hiểm, nhưng chúng không dẫn
bạn trên con đường đến giác ngộ ; thế nên cái này là
quan trọng.
–
Không có quy y và Bồ đề tâm, bạn có thể thực hiện những
nghi thức hay đề nghị những người khác thực hiện những
nghi thức, những trì chú... để đối trị những chướng
ngại khác nhau. Thật ra, điều đó có thể giúp bạn, nhưng
những thực hành mật thừa ấy không dẫn đến giác ngộ.
Chúng chỉ đối trị vài vấn nạn tạm thời. Vì lý do đó,
quy y và Bồ đề tâm là cốt yếu. –
Đến
đây kết thúc những giáo lý về những thệ nguyện quy y và
Bồ đề tâm.
CHƯƠNG
HAI
Những
Câu Chuyện
về
những Hành Động và Hậu Quả của chúng
Kính
lễ đức Quán Thế Âm !
Đây
là những giáo huấn thực hành sâu xa của Quán Thế Âm về
những hành động làm nhân và những kết quả của chúng là
một phương pháp để từ bỏ những khổ đau của những trạng
thái khốn khổ của hiện hữu. Trong những câu chuyện này,
tôi sẽ đưa ra những giải thích ngắn gọn về những đoạn
trong kinh, vì chúng có thể dễ dàng hiểu đối với người
thường.
Ngày
xưa trong thành phố Khamgya có một thương gia giàu có, mỗi
năm ông giết nhiều gia súc để làm những lễ cúng. Khi ông
sắp chết, trong chúc thư ông ông bảo con ông hãy nên làm
như vậy và con ông vẫn làm như vậy hàng năm. Vào một dịp,
khi một con bò bị dẫn đến lò mổ thịt, nó rống một tiếng
lớn. Một vị A La Hán chứng kiến điều này với một vẻ
buồn rầu và ngạc nhiên. Có người hỏi, “Đó là sao ?”,
và vị A La Hán bình thản trả lời, “Con bò bị đem đi mổ
thịt trước kia là người thương gia giàu có, mỗi năm đã
giết nhiều gia súc để cúng tế và ý muốn cuối cùng của
ông là việc làm ấy cần tiếp tục. Ông tái sanh làm một
con bò của gia đình mình. Bây giờ là lần thứ bảy ông bị
giết như vậy.”
Vị
tăng nói với con vật, “Việc này chính là điều mà ông
đã tự khởi xướng. Cúng tế là điều ông đã tự thực
hiện, vì đó mà giết nhiều gia súc. Thế nên tiếng rống
nặng nề của ông đâu có làm được gì ?” Đã giết nhiều
con bò, ông sanh ra làm bò của gia đình ông và bị giết trở
đi trở lại.
Những
hậu quả của một hành động có thể chín trong những đời
sau. Chẳng hạn, ngày xưa, khi người ta sống rất lâu năm,
có một người con của một thuyền trưởng tên là Yajna lên
đường tìm châu báu. Tuy nhiên mẹ anh phản đối và không
muốn để anh đi. Đá vào đầu bà, anh ra đi. Sợ rằng không
thể tránh những rắc rối từ hành vi của mình, anh nhận
tám giới điều của người tại gia, và ra khơi với năm trăm
người đồng hành. Nhưng họ bị đắm tàu và những người
khác đều chết. Con của vị thuyền trưởng bám vào một
trái cầu bằng đồng và trôi dạt trên biển. Cuối cùng anh
đến một thành phố, như một nơi ở của các vị trời,
với một bức vách bằng vàng, ở đó anh được bốn thiên
nữ săn sóc. Nơi đây anh kinh nghiệm hạnh phúc và vui thích
trong nhiều trăm và nhiều ngàn năm.
Sau
đó, anh bỏ đi, và trong một thành phố có một bức vách
bằng bạc anh được tám thiên nữ chăm sóc và kinh nghiệm
hạnh phúc trong hàng trăm và hàng ngàn năm. Rồi anh lại ra
đi, và trong một thành phố có một bức vách đá da trời
anh được mười sáu thiên nữ chăm sóc và anh kinh nghiệm
hạnh phúc và vui thích hàng trăm và hàng ngàn năm. Anh lại
ra đi, và trong một thành phố với một bức vách bằng pha
lê anh được ba mươi hai thiên nữ chăm sóc và kinh nghiệm
hạnh phúc và vui thích nhiều trăm nhiều ngàn năm. Sau khi rời
khỏi đó, anh đến một khu rừng cây có gai với một bức
vách sắt. Ở đây anh thấy một người đàn ông, đầu ông
này bị rạch đứt bởi một bánh xe gắn những thanh gươm
quay tròn. Người này hỏi anh, “Đây là một địa ngục nhỏ.
Anh đã làm điều gì khiến phải đến đây ?” Khi anh kể
cho ông nghe câu chuyện của mình, có vẻ cả hai người đã
có cùng một cách cư xử. Kinh nghiệm hạnh phúc và vui thích
trên đường đi đến địa ngục này là nhờ sự giữ tám
điều giới của người tại gia, trong khi bị chém trên đầu
bởi những cây gươm là một hình phạt vì đá vào đầu bà
mẹ. “Khi vừa nghe tiếng của bạn, tội lỗi tôi đã hết.
Bạn đến giường tôi và hãy nghe theo”, ông nói, rồi qua
đời. Bấy giờ con vị thuyền trưởng sợ hãi, và anh thiền
định về từ bi với sự quán tưởng “cho và nhận”. Anh
lễ bái cha và mẹ anh và cầu nguyện rằng suốt những đời
kiếp anh sẽ luôn luôn thờ phụng cha mẹ. Mẹ anh cũng thực
hiện những việc đức hạnh và hồi hướng chúng cho con.
Một kết quả là anh ở lại địa ngục nhỏ này ít hơn sáu
mười năm một tí, với bánh xe quay ở đúng trên đầu. Rồi
anh qua đời, và dù bánh xe không chạm đến đầu anh, thỉnh
thoảng anh vẫn đau đầu. Có nói rằng người con thuyền trưởng
này về sau chính là Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni.
Như
thế, tôn kính Tam Bảo, cha mẹ, và những vị thầy là rất
quan trọng. Đức Phật có nói, “Không khác gì giữa cách
các con đối xử với ta và cách các con đối xử với cha
mẹ, những sư trưởng và những vị thầy của các con. Những
hậu quả của cách cư xử của các con không giảm sút trong
đời này hay những đời sau.”
Nếu
bạn dâng tặng một món gì và sau đó hối tiếc, thậm chí
bạn tái sanh ở nơi giàu có, về sau bạn sẽ trở nên nghèo.
Ngày xưa có một chàng trai trẻ tên là Drakpa dâng cúng một
con bê cho Phật Lokpa Detsen và Tăng của ngài, rồi về sau tiếc
nuối đã làm như vậy. Trong tất cả các kiếp sau đó ban
đầu anh giàu và về sau trở nên nghèo.
Cuối
cùng anh sanh ở Rajagrha (thành Vương Xá), và ngay khi vừa sanh
ra, mẹ anh chết. Người ta nói anh sanh nhằm một ngôi sao xấu,
và anh bị đem đi bỏ với những xác chết trong nghĩa địa.
Như một kết quả của việc cúng dường con bê, sữa chảy
ra từ vú của một xác chết và anh không chết. Về sau, anh
xuất gia với Phật Thích Ca và đạt đến giải thoát.
Dù
đời người ta có hết, nghiệp của người ta thì không. Dù
người ta có đi từ một đời này qua một đời khác trong
sáu cõi sanh tử, người ta được sanh trở lại nơi người
ta đã sống trước kia. Ở Sravasti có một chủ gia đình nghèo
chết đi với sự bám luyến vào gia đình của mình. Ông tái
sanh làm một con trùng trên cái bướu của một con bò đực
thuộc về gia đình đó, và ngay khi mới sanh ra, một con quạ
ăn nó. Ông tái sanh và lại bị ăn như vậy đến bảy lần.
Khi
đi khất thực ở Magadha, Maudgalyayana (Mục Kiền Liên) đến
một người chủ nhà bồng một đứa trẻ trong lòng, đang
ăn một con cá, và vứt phần còn lại cho một con chó cái
màu đen. “Tôi không có đồ gì để cho ngài”, ông nói.
Con cá là cha của người chủ nhà trong đời trước. Do làm
một người đánh cá, cha ông tái sanh nhiều lần làm cá và
bị giết để ăn. Con chó cái là mẹ ông, bà đã không có
hành động bố thí nào cũng không giữ giới luật. Bám vào
sự giàu có và dòng dõi gia đình, bà chết với sự bám luyến
và sanh lại nhiều lần như là con chó giữ nhà cho gia đình
đó. Con bà trước kia là kẻ thù của bà, kẻ đã giết cha
mình vì binh vợ. Do sự bám luyến vào người đàn bà này,
anh ta sanh ra trong bụng người đàn bà này. Đó là câu chuyện
do Maudgalyayana kể, làm rõ ràng vòng sanh tử không có tự tánh
như thế nào.
Ngày
xưa có một quan tòa trong triều của một vị vua, làm chứng
cho những vay mượn trong vùng đó. Đứa con (của em trai của
quan tòa) mượn một số tiền lớn, và đem cho vợ của quan
tòa một của hối lộ để khỏi trả số tiền đã mượn.
Bà vợ quan tòa thuyết phục viên chức này chấp nhận điều
đó. Hai người trong cuộc gặp quan tòa, và ông nói dối, khiến
người kia mất số tiền đã cho mượn. Kết quả, quan tòa
trước hết sanh trong địa ngục, rồi năm trăm đời sanh làm
một người to lớn vụng về, không có mắt, tai hay các giác
quan khác.
Ngày
xưa, ba mươi hai người ăn trộm một con bò và đem nó đến
nhà một người đàn bà già. Con bò biết nó sắp bị giết,
nó cầu rằng, “Các người sẽ bị giết !” Con bò bị làm
thịt, và cùng với người đàn bà già, những người đó
ăn nó. Về sau, người đàn bà già mua hương, trộn với bơ,
và cùng với ba mươi hai người đồng bọn thoa lên một cái
tháp. Họ cầu nguyện rằng trong mọi lần tái sanh họ sẽ
sanh ra như mẹ và những đứa con, có tuổi thọ, địa vị
cao và giàu có. Đức hạnh và tội lỗi chín một cách riêng
rẽ. Trong mọi đời của họ, họ được sanh như đã cầu
nguyện, nhưng cả năm trăm lần họ đều bị bò giết cùng
một lúc.
Một
thời ở Sravasti có một vị vua tên là Prasenajit có một đại
thần tên là Kuranga. Người con trai út của thừa tướng có
một người vợ tên là Anuradha, một người đàn bà thông
minh cũng được sự chiếu cố của vua. Bà sanh ra ba mươi
hai cái trứng nở thành ba mươi hai con trai khỏe mạnh và can
đảm. Một đại thần khác xảo quyệt tung tin những người
con trai đó sắp ám sát vua, thế nên vua gởi đến một số
người mạnh mẽ giết hết tất cả họ cùng một lúc. Anuradha
xuất gia làm ni với đức Phật. Nhà vua là hậu thân của
con bò, người mẹ là người đàn bà già xưa, và ba mươi
hai đứa con là những người trộm bò. Đó là những hậu
quả của việc giết một con bò.
Ngày
xưa có một người giàu có không có con trai, nên ông lấy
một người vợ thứ hai, bà này sanh cho ông một con trai. Bà
vợ đầu đâm đứa bé và giết nó. Bà chối đã sát hại
nó, và thề một lời giả dối. Một dịp nọ bà cúng dường
cho một Bích Chi Phật, và khi thấy ngài bay trên trời, bà
tỏ ra tôn kính và sùng mộ. Bà cầu nguyện, “Con mong ước
được như ngài !”
Đã
giết đứa trẻ, bà tái sanh trong những trạng thái khốn khổ
và kinh nghiệm khổ đau khủng khiếp. Về sau, bà sanh làm một
người đàn bà đẹp ở Sravasti, lấy chồng và có hai con trai.
Chồng bà bị rắn độc cắn chết, một đứa con trai bị
nước cuốn trôi, và đứa kia bị sói ăn thịt. Nhà của cha
mẹ bà bị cháy, và bà con bà bị thiêu trong lửa. Sau cùng
bà lấy một người chồng khác và có một đứa con trai. Ông
chồng này say rượu, giết đứa con và bắt bà ăn thịt nó.
Đau buồn, bà bỏ đi, và gặp một người đàn ông góa vợ.
Bà lấy ông này, nhưng ông chết. Theo tục lệ của vùng đó,
bà bị chôn theo xác chồng. Một tên trộm đào mộ, đem bà
đi và lấy bà làm vợ, nhưng luật pháp bắt người ăn trộm
này và ông bị vua hành hình. Bà lại bị chôn theo xác chồng.
Lúc này một con chó sói đào mộ bà, nhưng bà thoát được
và gặp Phật và xuất gia. Dù về sau bà đạt đến trạng
thái A La Hán, bà vẫn chịu đau đớn như bị một cái muỗng
sắt nung đỏ xuyên từ đỉnh đầu đến hai bàn chân, và
bà liên tục kêu lớn vì đau. Đó là nghiệp còn sót của
việc đâm đứa con trai với một cái kim, và sự kiện bà
chết chồng nhiều lần là do lời thề giả dối và xấu ác.
Sự đạt đến quả vị A La Hán là do bà đã tôn thờ vị
Bích Chi Phật, và mỗi hành động này chín trong một đời.
Ngày
xưa, trong thời Phật Vipasyin (Phật Tỳ Bà Thi), mười ngàn
tăng đạt đến bốn quả vị của con đường (từ Nhập Lưu
đến A La Hán). Khi họ sống trong nơi hoang dã, một số nhà
buôn cúng dường các tăng ấy một viên ngọc, giao cho một
vị tăng trông lo đời sống tu viện. Về sau, khi thực phẩm
cạn dần, họ định bán viên ngọc, nhưng vị tăng đã nhận
giữ nó cãi lại, “Cái này đã cho tôi, đâu phải cho tất
cả chúng ta !” Khi người ta nói lên sự thật, vị ấy khăng
khăng, “Cái này là của tôi. Các anh ăn cứt !”
Ngay
khi chết, ông sanh trong một địa ngục lớn, và chín mươi
mốt kiếp ông sanh vào chất thải, và ông sanh vào chất thải
liên miên suốt những thời của nhiều vị Phật quá khứ.
Rồi ông sanh trong một hồ nhỏ làm một sinh vật lớn, như
một con rắn nhưng với bốn chi và miệng và mắt như người.
Hồ này thối tha, vì mọi người của thành phố lân cận
trong vùng núi Linh Thứu đổ chất thải của họ vào đó.
Ở đó ông bị nhiều côn trùng nhỏ, ở trên và ở dưới
hồ cắn đốt. Khi chúng chuyển động, mùi hôi tỏa rộng.
Nhiều vạn năm ông chết và tái sanh ở đó. Có nói rằng
ông phải ở đó cho đến khi tất cả một ngàn vị Phật
đến và đi. Điều này nói trong “Chương về Nhà Sư Kyunte”.
(Kinh Người Thông Tuệ và Kẻ Ngu Dại, chương 52.)
Vô
số kiếp về trước, trong vùng Varanasi, một người đổi
tất cả gia tài lấy vàng, cất trong bảy cái hũ. Sau đó,
khi sắp chết, tâm ông không thể lìa khỏi kho tàng, và ông
tái sanh thành một con rắn để giữ vàng. Sau nhiều năm, thành
phố sụp đổ điêu tàn và trở thành một vùng đất hoang,
nhưng ông vẫn tái sanh làm rắn. Một lần có một người
đến gần, con rắn gọi lớn, “Tôi có vàng, hãy dùng nó
làm một bữa tiệc cho Tăng đoàn ! Vào ngày anh làm việc đó,
hãy mời tôi với. Nếu anh không làm được, tôi sẽ làm cho
anh ân hận !” Người ấy lấy một hũ vàng và bán. Vào ngày
anh ta làm trai tăng, anh lấy một cái thúng đỏ đem con rắn
theo. Chư Tăng dạy Pháp cho con rắn, và nó cúng dường sáu
hũ vàng, và nó vẫn sanh lại làm rắn. Có nói rằng con rắn
sau này trở thành Xá Lợi Phất và người cúng vàng giúp cho
nó trở thành Phật Thích Ca.
Trong
thời Phật Kasyapa (Phật Ca Diếp), có một vị sư già đắc
quả A La Hán có giọng nói dở và một vị sư trẻ có giọng
hay cùng nhau tụng kinh. Người trẻ than, “Huynh tán tụng giống
như chó sủa.” “Chớ nói thế”, vị sư già trả lời,
“Tôi là một A La Hán.” Người trẻ hối hận về lời nói
của mình và sám hối, nhưng anh vẫn tái sanh năm trăm lần
làm con chó. Sau cùng anh sanh làm một con chó ở Sravasti, nơi
đó một người con trai của một nhà buôn bẻ gãy chân nó
và bỏ nó trong một chỗ hoang vắng. Xá Lợi Phất cho con chó
thức ăn và dạy nó Pháp ; và sau khi chết, nó sanh làm con
một Bà la môn nhận giới Sa di từ Xá lợi Phất và thành
một A La Hán.
Những
chuyện kể ở trước nói về những tai hại của sự không
đức hạnh. Bây giờ tôi sẽ tổng hợp ý nghĩa của Kinh Người
Thông Tuệ và Kẻ Ngu Dại về những lợi lạc của đức hạnh.
Ngày
xưa, vào lúc chấm dứt thời Phật Kasyapa, có hai Bà la môn
thực hành bát quan trai. Một người cầu nguyện được tái
sanh là một ông vua, và lời cầu nguyện của ông được thành.
Người kia cầu nguyện được tái sanh là một vị trời, nhưng
chiều hôm đó bà vợ ông khuyến dụ ông dùng cơm tối, và
ông tái sanh làm một con rồng. Vị vua đó có một người
trông coi hàng rào bao quanh vườn cây của vua. Một dịp người
trông coi khám phá ra một trái lớn, ngọt ngào mọc từ một
con suối và ông đưa nó cho thị vệ của vua, người này đem
nó cho hoàng hậu, và rồi bà đưa lên vua. Nhà vua hỏi về
trái cây và ra lệnh, “Người nào tìm ra nó hãy đem cho ta
nhiều thứ này nữa ! Nếu y không làm, y sẽ bị hành hình
!” Người ấy khóc và chờ đợi nơi con suối, và con rồng
xuất hiện thành một người đến hỏi cớ sự. Khi câu chuyện
được kể, rồng đưa cho một rổ trái cây và gởi đến
nhà vua lời nhắn này : “Hỡi nhà vua, ông với tôi là bạn.
Ông đã giữ sự nhịn ăn một cách thanh tịnh, nên ông được
sanh làm vua, trong khi tôi không giữ được, và tôi sanh làm
rồng. Hãy cho tôi bản chép tay bát quán trai. Nếu ông không
làm, tôi sẽ biến vùng này thành một cái hồ và xóa sạch
nó.”
“Vì
Phật pháp đã suy tàn, một bản văn như vậy không thể tìm
ra nữa”, nhà vua trả lời, nhưng nhà vua ra lệnh cho các quan
đại thần, “Hãy tìm nó. Nếu các ông không tìm ra cái nào,
các ngươi sẽ bị hành hình !” Một đại thần hỏi một
người già, ông trả lời, “Có một cột trụ nơi căn nhà
kia thường phát ra ánh sáng, hãy tìm ở đó.” Cột trụ được
mở ra, và Kinh về Duyên Sanh và một bản chép tay tám điều
bát quan trai được tìm thấy trong đó. Nhà vua để chúng trong
một cái hộp nhỏ bằng vàng và gởi tới cho rồng. Rồng
rất sung sướng và biếu vua nhiều ngọc. Rồng và vua giữ
bát quan trai và cũng khuyến khích những người khác làm như
vậy, kết quả họ được tái sanh thành những vị trời.
Khi gặp được Thích Ca Mâu Ni, họ nghe Pháp và đắc quả
Nhập Lưu. Họ không sanh lại trong những trạng thái khốn
khổ, và kinh nghiệm niềm vui và hạnh phúc của trời và người.
Có tiên tri rằng cuối cùng họ sẽ giải thoát. Chuyện này
rút ra từ chương ba có tựa là “Người Ăn Xin Giữ Những
Điều Giới”.
Vô
số kiếp trước, Vua Brahmadatta và tùy tùng đến một hang
động đẹp đẽ, và ở trước hang có một người đang ca
hát. Nổi giận, vua bắt nhốt và chuẩn bị hành hình. Một
trong những đại thần can vua không nên hành hình y mà để
làm một người hầu. Cuối cùng, người ấy xuất gia và trở
thành một Bích Chi Phật. Đại thần đã quy kính và cầu nguyện
vị ấy, kết quả là trong mọi đời tái sanh ông vẫn sanh
vào gia đình giàu có và thế lực hay một vị trời sống
lâu hay là người với thân thể tốt đẹp đặc biệt. Sau
cùng ông tái sanh làm con trai độc nhất của một thương gia
giàu có. Cha anh không muốn con mình xuất gia. Cậu bé nghĩ,
“Nếu mình sanh trong một giai cấp thấp của xã hội, mình
sẽ được cho phép thành một nhà sư”, và anh phóng khỏi
một mỏm núi. Nhưng anh rớt xuống an toàn. Rồi anh nhảy vào
một dòng sông, nhưng anh không chết đuối ; và anh uống thuốc
độc cũng chẳng có hiệu quả. Bởi vì anh phạm luật của
vua, ba lần vua ra lệnh bắn anh, nhưng tên đều rơi xuống
đất.
Nhà
vua bảo anh, “Anh phải là một vị trời hay một con quỷ
!” Khi đứa trẻ giải thích tại sao nó muốn chết, vua cho
phép nó xuất gia. Rồi nó thọ giới với Phật Thích Ca và
thành một A La Hán. Như thế, nhờ cứu sống một cuộc đời,
đại thần sanh ra chỗ nào thì không có gì có thể rút ngắn
cuộc đời ông được ; và cuối cùng ông đạt đến trạng
thái của một vị A La Hán.
Chín
mươi mốt kiếp trước, một người nghèo bán một số gỗ
lấy hai đồng tiền vàng và cúng dường nó cho Phật Thích
Ca và chư Tăng. Kết quả là, trong chín mươi mốt kiếp, anh
sanh làm người, và bất cứ nơi đâu anh sanh ra, trong hai bàn
tay anh có hai đồng tiền vàng. Anh luôn luôn giàu có và sự
giàu có đó là không cùng. Cuối cùng anh sanh ở Rajagrha làm
con trai của một phụ nữ chủ gia đình. Đứa bé đẹp lạ
lùng, nhưng hai tay nắm lại. Khi mở nắm tay, người ta thấy
nó đang nắm hai đồng tiền vàng, và dù khi lấy đi, những
đồng tiền vàng lại tiếp tục xuất hiện đến độ chúng
đầy cả căn phòng. Về sau, nó xuất gia với Phật, trở thành
một A La Hán và được biết là nhà sư Trang Hoàng Bằng Vàng.
Ngày
xưa, trong thời Phật Kanakamuni (Phật Câu Ni Hàm Mâu Ni). Do
niềm tin của mình có một người nghèo phục vụ cho chư Tăng
như là một người trông coi nhà. Gom hoa từ một cánh đồng,
anh tung chúng vào chư Tăng và dâng cúng những lời cầu nguyện.
Kết quả là trong chín mươi mốt kiếp, dù sanh ra ở đâu,
anh cũng có một hình tướng tốt đẹp, và anh thọ thực phẩm
tuyệt hảo và tài sản phong phú. Cuối cùng anh sanh ra ở Sra-vasti
như là con của một gia đình giàu có và có uy tín. Hình tướng
anh hấp dẫn phi thường, và ngay khi sanh ra, một trận mưa
hoa rơi từ trên trời xuống. Thế nên anh có tên là Kusumadeva,
vị trời của Hoa. Về sau, anh mời Phật Thích Ca và chư Tăng
đến và lễ lạy. Trong nhà anh, gối nạm ngọc và thực phẩm
hiện ra chỉ bằng cách nghĩ đến chúng. Rồi anh trở thành
một nhà sư và đạt đến trạng thái A La Hán. Như vậy có
nói rằng người ta không nên xem thường dù chỉ một đồ
tặng nhỏ, nghĩ rằng không có phước đức bao nhiêu trong
đó.
Ngày
xưa, trong thời Phật Kanakamuni, có một chủ gia đình làm những
tôn kính đối với mỗi thành viên của Tăng già. Vui sướng
với điều này một người nghèo nắm một vốc tiêu trắng,
nghĩ rằng chúng là ngọc, và ném chúng về phía chư Tăng khi
dâng một lời cầu nguyện. Như một kết quả, trong chín mươi
mốt đời anh ta tự nhiên có ngọc, thức ăn, y phục và tài
sản. Rồi anh sanh ở Sravasti làm con của một chủ gia đình,
và ngay khi sanh ra, một trận mưa bảy thứ báu rơi xuống,
đầy nhà. Đứa bé do đó được đặt tên là Devaratna. Sau
đó anh thành một nhà sư và đạt quả vị A La Hán với thời
của Phật Thích Ca.
Ngày
xưa, khi Phật có danh hiệu là Bảo Vệ Công Đức còn ở đời,
có một vị tăng đi khắp nơi khuyến khích mọi người thực
hành đức hạnh. Lúc đó có một người đàn bà tên là Daniska
cùng cực nghèo khổ. Chồng bà và bà chỉ có một mảnh vải
để mặc cho cả hai người. Họ thay đổi cho nhau, người
này đi ra thì khoác vải lên, còn người kia thì trần truồng
ở nhà. Vị tăng nói cho bà nghe những lợi ích của bố thí,
và với sự ưng thuận của người chồng, bà cúng dường
tấm vải, và hai người trần truồng nấp trong nhà. Vị tăng
dâng tấm vải cho Phật, ngài cầm tấm vải có mùi hôi trong
tay, tuyên bố, “Đây là hành động bố thí thanh tịnh rốt
ráo duy nhất.” Nhà vua và hoàng hậu cởi bỏ y phục và những
đồ trang sức gởi đến cho cặp vợ chồng nghèo. Người
đàn ông và vợ đến đức Phật nghe Pháp. Rồi trong chín
mươi mốt kiếp, dù sanh ở đâu, họ cũng sanh ra với quần
áo và rất giàu có. Cuối cùng bà sanh ở Sravasti làm một
cô gái xinh đẹp phi thường của một chủ gia đình. Bởi
vì khi sanh ra đã mặc một áo dài trắng mềm mại, cô được
đặt tên là Suci. Khi lớn lên áo của cô cũng lớn lên theo
cho vừa tầm cỡ, và cô không mặc áo nào khác. Cuối cùng
cô thọ giới làm ni với đức Thích Ca, và y phục của cô
chuyển thành y phục của một vị ni Phật giáo. Sau đó cô
đạt được quả vị A La Hán.
Ngày
xưa trong xứ Apadeva có một chủ gia đình rất giàu nhưng keo
kiệt và không thương người. Ông có một bà người hầu
già làm việc cả đời mà thiếu áo quần che thân, và bà
không đủ đồ ăn. Một lần khi bà đi xách nước, bà khóc
to và nghĩ, “Bây giờ ta không có thực phẩm hay áo quần.
Ta đã quá già, nhưng ta phải còn làm việc, không thể chết
!” Lúc đó Thánh Katyayana đến và hỏi, “Bà có bán cho tôi
sự nghèo khó và khốn khổ của bà không ?”
“Làm
sao tôi có thể làm như vậy ?” bà hỏi.
“Hãy
tắm rửa và cúng dường cho tôi một bát đầy nước”, ngài
trả lời và bà làm theo. Ngài có một cầu nguyện hồi hướng
cho sự cúng dường này, cho bà một giáo huấn duy nhất về
thực hành tâm linh, và nói bà trì tụng danh hiệu Phật.
Sau
cùng bà chết và tái sanh làm một thiên nữ trong cõi trời
Thứ Ba Mươi Ba. Rồi thiên nữ ấy cùng với một đoàn tùy
tùng năm trăm người đến cúng dường ở chỗ chôn xác bà
lão. Người trong vùng ấy chứng kiến việc này và hỏi tại
sao như vậy. Họ kể câu chuyện về bà lão. Những vị trời
này nhận giáo pháp từ Phật Katya-yana, và người nào cũng
đắc quả.
Ngày
xưa, sau khi Phật Vipasyin nhập niết bàn, một số chủ gia
đình tôn kính nhiều vị sư Phật giáo. Một người nghèo
và vợ khóc vì không có gì để cúng dường. Bà vợ nói,
“Chúng ta hãy tìm quanh trong phòng kho, nếu có thứ gì nhỏ
nhất ở đó, chúng ta hãy cúng dường nó.” Tìm chung quanh,
họ thấy chỉ có một đồng tiền vàng và bỏ nó vào trong
một cái bình. Rồi họ đổ đầy bình với nước sạch, đậy
tấm gương lên, và cúng dường nó. Nhờ đức hạnh ấy cả
hai người sanh làm các vị trời ở cõi Trời Thứ Ba Mươi
Ba ; và trong chín mươi mốt kiếp, dù sanh ra nơi nào, họ cũng
đều có màu vàng và đẹp đẽ phi thường, và họ sung túc
lạ lùng. Sau cùng một người sanh ở Sravasti làm một đứa
con trai có màu da vàng ròng của một chủ gia đình giàu có,
và người kia làm một cô gái đẹp đẽ tương tự trong vùng
Campa. Ngay khi vừa sanh ra, những con suối bắt đầu chảy trong
nhà họ, và múc nước lên, nó biến thành ngọc, thực phẩm
và y phục theo ý muốn của lòng họ. Sau đó hai người cưới
nhau, mời đức Phật đến và nghe Pháp. Rồi cả hai xuất
gia và trở thành A La Hán. Ông là sư Suvarnadeva và bà là ni
Suvarnaprabha. Đó là công đức của một hành động bố thí
nhỏ của những người nghèo.
Trong
thời đại của Phật Vipasyin, có một chủ gia đình cúng dường
một đồng tiền vàng cho đức Phật, đã nhận được ba câu
kệ giáo huấn thực hành, và không làm những hành động không
đức hạnh như giết, trộm... Như một kết quả, trong chín
mươi mốt kiếp ông rất giàu và thọ. Sau cùng ông sanh ra
ở Sravasti làm con trai của một người vợ của một chủ
gia đình giàu có. Một hôm còn bé nó rơi từ lòng mẹ xuống
sông và bị một con cá lớn nuốt. Con cá bị một người
đánh cá bắt được ở hạ lưu sông, và đứa trẻ được
tìm thấy còn sống từ trong bụng cá. Nó được một thương
gia giàu nhận nuôi vì ông không có con trai. Người chủ gia
đình nghe câu chuyện này và nói với ông, “Đây là con trai
của tôi. Hãy trả nó cho tôi !”
Thương
gia kia trả lời, “Tôi đã cúng dường chư thiên, và chư
thiên ban đứa bé cho tôi từ bụng một con cá.” Họ không
dàn xếp được với nhau, nên đến gặp nhà vua, vua nói với
họ, “Hãy chia đứa bé cho cả hai người.” Cả hai đều
giàu có, nên đứa bé lớn lên trong xa hoa phú quý. Khi đến
tuổi trưởng thành, nó nói với hai người cha rằng nó muốn
thành một ông sư. Cả hai người cha đều yêu quý nó đến
độ họ không thể từ chối, thế nên nó thọ giới với
Phật Thích Ca. Nó trở thành một A La Hán có tên là Hai Gia
Đình. Nhờ cúng dường vàng, trong mọi đời ông ấy được
giàu có, và nhờ không giết hại, dù rơi xuống sông và bị
cá nuốt, ông không chết. Và nhờ những thệ nguyện quy y,
ông trở thành một A La Hán.
Ngày
xưa, sau khi Phật Kasyapa nhập niết bàn, có một chủ gia đình
dựng một cái tháp, xây một phòng họp cho Tăng, và cung cấp
nuôi sống chư Tăng một thời gian dài. Sau cùng tháp và phòng
họp sụp đổ và sự cung cấp thực phẩm cho chư Tăng chấm
dứt. Người chủ nhà ấy có một người con trai trở thành
một nhà sư, và ông đã dựng lại cái gì đã sụp đổ và
cung cấp cho chư Tăng như trước. Như một kết quả của những
cầu nguyện của ông, về sau ông sanh làm vua Mahakapina trong
Xứ Vàng. Trong nước ông có tám mươi bốn ngàn thái ấp dưới
sự trị vì của ông, và ông rất uy quyền. Khi ông chuẩn
bị hàng phục Vua Prasenajit của miền trung Ấn Độ, đức
Phật hiển lộ như một chuyển luân thánh vương và chinh phục
ông. Vị này bèn xuất gia và thành một vị A La Hán. Như vậy,
như một kết quả của công đức tạo dựng, ông được sanh
ra làm một ông vua quyền lực và đắc quả.
Ngày
xưa, một người đến cung kính tháp của Phật Kasyapa, trong
đó có một tượng voi cỡ nhỏ mà Bồ tát đã cưỡi khi xuống
từ Đâu Suất (vào trong bụng mẹ). Người ấy sửa lại tượng
voi, vẽ và thoa dầu. Như một kết quả, trong mọi đời người
này hưởng sự sống lâu, sang quý và giàu có không cùng. Về
sau ông sanh tại Sravasti làm con của một chủ gia đình, và
khi mới sanh ra, một con voi bé bằng vàng tự nhiên xuất hiện
trong phòng kho. Khi cậu bé lớn lên, con voi cũng lớn, và nước
tiểu và phân của nó bằng vàng. Chàng thanh niên thường cưỡi
nó, và khi Vua Ajatasatru đánh cắp nó, nó cũng không ở với
vua mà trở về với chàng thanh niên. Sau cùng chàng xuất gia
với Phật và được biết như là nhà sư Cứu Giúp Voi. Vì
có nhiều người đến xem voi, nó không được cho phép ở
lại với nhà sư. Thế nên nhà sư nói với nó ba lần, “Ngươi
không được cần đến nữa.” Và nó biến mất vào trong
đất.
Ngày
xưa, vào lúc chấm dứt thời đại của Phật Vipa-syin, năm
trăm nhà sư đi ẩn cư để tìm thấy tính chất như hình phản
chiếu của những hiện tượng. Vào lúc đó, một nhà sư cung
cấp thực phẩm cho họ bằng cách đi khất thực. Trong số
các sư, có bốn vị đắc quả, và họ cầu nguyện cho người
đã cung cấp thực phẩm cho họ suốt cuộc ẩn cư. Trong sáu
mươi mốt kiếp, người đã đi khất thực sanh vào cõi trời
hay người giàu có. Sau cùng ông sanh vào một chủ gia đình
ở Kosala, và ông có một ngôi nhà bảy tầng làm bằng bảy
báu. Ông sung túc giống như chư thiên, vì ông có một tùy
tùng gồm nhiều vị thiên và thiên nữ. Về sau ông xuất gia
với Phật và thành A La Hán.
Vô
số kiếp về trước, có hai ngàn nhà tu trên một ngọn núi.
Nghe rằng trời không mưa mười hai năm, một chủ gia đình
giàu có hứa sẽ làm thí chủ cho họ trong thời gian đó. Ông
chỉ định năm trăm người lo cung cấp cho các sư, nhưng họ
mệt mỏi và than, “Sự phiền toái liên miên này là vì những
người ăn xin kia.” Lúc đó có một người gọi các nhà tu
đến dùng bữa, và anh có một con chó đi theo. Một hôm anh
quên gọi, nhưng con chó chạy đến và sủa, và các nhà tu
đến.
Sau
mười hai năm, các nhà tu nói, “Mưa sắp rơi xuống, thế
nên hãy trồng trọt”, và anh chuẩn bị ruộng đồng. Chỉ
có cây táo ta là lớn, và trái rất nhiều đến độ đầy
cả những nhà kho của anh. Rồi năm trăm người kia bắt đầu
tin, họ sám hối những lời thô lỗ trước kia. Bởi vì họ
gọi các nhà tu là ăn xin, họ tái sanh năm trăm lần làm ăn
xin. Sau cùng họ trở thành năm trăm người ăn xin ở Sravasti,
nơi đó họ xuất gia và thành A La Hán. Đó là lợi ích của
sự sám hối của họ.
Một
nhà vua và các đại thần thỉnh mời Phật Thích Ca và chư
Tăng đến, nhưng họ nói, “Chớ mời những nhà sư trước
kia là người ăn xin.” Thế nên theo lời của Phật Thích
Ca, mỗi người (trước kia là người ăn xin) mang theo một
bình bát đầy trái cây của mùa màng không cần trồng của
Bắc Cu Lô Châu. Họ có bữa ăn cùng với Phật, và mọi người
đều đầy lòng tin. Sau đó tất cả họ được mời chung.
Người
chủ gia đình là đức Phật, người giữ kho là Thái Tử Chiến
Thắng, người gọi các thầy tu là Vua Upana, và con chó trở
thành một chủ gia đình tên là Tốt Giọng, luôn luôn có một
giọng nói hay trong tất cả mọi đời.
Ở
Sravasti có một người đàn bà tên là Nyen-gamo, bà rất nghèo
túng. Do đi ăn xin, bà có được ít dầu, làm một cây đèn
dầu nhỏ và dâng cúng Phật. Sáng hôm sau bấc của cây đèn
không tắt, và Mục Kiền Liên, nghĩ rằng cây đèn không cần
thắp ban ngày nên ngài làm cho tắt, nhưng không làm được.
Bấy giờ đức Phật tiên tri rằng sau hai vô số kiếp người
đàn bà sẽ thành Phật hiệu là Ánh Sáng Ngọn Đèn.
Ngày
xưa, Phật Kasyapa và tăng chúng được một người đàn bà
giàu và một người đàn bà nghèo mời đồng thời, và các
ngài trước tiên đến chỗ ngưòi đàn bà nghèo. Với một
cảm giác tự tôn và kiêu căng vì giàu, người đàn bà kia
than, “Các ngài không đến ta trước, mà đến cái bà ăn
xin kia !” Như một kết quả, bà năm trăm lần sanh ra làm
ăn xin. Ngày hôm sau với lòng tin và sùng mộ, bà gặp Phật
và nhận lời tiên tri của ngài về sự giác ngộ của bà,
và mọi người cúng dường vô số đèn dầu lên đức Phật.
–
Ở Tây Tạng, thời gian trước, có một người rất giàu cúng
dường rộng rãi cho mọi cộng đồng tu viện ở Lhasa, trong
đó có ba đại học tăng, với hai mươi lăm vị tăng. Bố
thí rộng rãi như vậy, ông nghĩ mình là một nhà từ thiện
vĩ đại, và sự kiêu ngạo của ông lớn lên.
Trong
khi đó, một bà già ăn xin, thấy ông là một thí chủ cho
những tu viện đó, thành thực tùy hỷ với sự rộng lượng
của ông. Nhiều niềm tin, bà tùy hỷ, vui theo công đức và
đức hạnh của ông, nhưng vì quá nghèo bà chỉ có thể làm
một ngọn đèn bơ bằng cách đổ mỡ thú vật vào một móng
chân ngựa. Cây đèn này bà cúng dường chung với hàng ngàn
cây đèn bơ của thí chủ giàu có. Khi chúng đang cháy, một
ngọn gió nổi lên thổi tắt tất cả những ngọn đèn trừ
ngọn đèn của bà.
Một
thành tựu giả chứng kiến sự việc này bình luận rằng
dù nhà từ thiện cúng dường rất nhiều, động cơ của ông
bị dơ nhiễm vì sự tự phụ. Ngược lại, bà lão chỉ có
một món cúng dường khiêm tốn nhất, đã làm với tin tưởng
và khiêm hạ thuần khiết thanh tịnh.
Khi
cúng dường, động cơ phải là sự tin tưởng thanh tịnh và
từ lòng bi, không nghĩ đến cái gì bạn sẽ được đền
đáp. Lúc đó hành động bố thí của bạn thực sự là một
đức hạnh và sẽ có những hậu quả tốt đẹp. Nhưng nếu
hành động bố thí có động cơ là tự phụ, chút tốt đẹp
cũng không đến từ đó. –
Ngày
xưa, một nhà sư tên là Aryamitra quyết định đi khất thực
để cúng dường đèn dầu trong ba tháng lên đức Phật Rinchen
Tsukpu. Một người con gái của vua cho nhà sư một lượng dầu
lớn, thế nên không cần đi xin, ông có đèn dầu để cúng
dường trong ba tháng. Trong một vô số kiếp, cả hai người
hưởng thọ hoan hỷ và hạnh phúc của trời và người, và
thân thể đẹp đẽ phi thường. Cuối cùng nhà sư đó thành
Phật Dipamïkara (Nhiên Đăng), và cô gái thành Phật Thích Ca.
Có nói rằng dù sau khi thành Phật, nhiều người cúng dường
hai vị đèn dầu.
Trong
thời Phật Kasyapa, một nhà sư mới vào chế giễu một vị
khác khi nhảy qua một cái mương, nói rằng, “Huynh nhảy như
một con khỉ !” Nhà sư đáp : “Tôi là một A La Hán, thế
nên chớ nói những lời vu vơ như thế.” Dù nhà sư đã sám
hối, ông sanh năm trăm lần làm khỉ. Nhờ sự sám hối, khi
còn làm khỉ ông gặp Phật Thích Ca và cúng dường mật cho
ngài. Ông chết, và ngay sau đó tái sanh làm người, nhà ông
đầy mật. Sau cùng, ông xuất gia và thành một A La Hán, làm
một vị tăng có tên Mật Tuyệt Hảo. Như thế, có nói rằng
cần giữ gìn không nói lời bậy bạ.
Ngày
xưa, một trong nhiều tháp của Phật Visvabhuj sụp đổ, và
một bà lão tìm mười người để giúp bà trùng tu lại. Như
một kết quả của sự cầu nguyện của họ, trong chín mươi
mốt kiếp họ cùng tái sanh làm trời và người, với thân
thể đẹp đẽ, hấp dẫn, và mọi người tôn kính, không
bao giờ rơi xuống địa ngục. Cuối cùng bà trở thành Sumana,
con gái của chủ gia đình Anathapindika. Đẹp đẽ, một hoàng
tử cưới cô, và cô sanh mười cái trứng nở thành mười
con trai. Những người con trai về sau xuất gia và trở thành
A La Hán. Người đàn bà già xưa đã trở thành cô gái, và
mười người đàn ông từng giúp bà thành A La Hán.
Một
lần, đức Phật đang dạy Pháp, năm trăm con thiên nga bay đến
và nghe ngài nói. Thích thú, chúng muốn đậu xuống, nhưng
một người thợ săn đặt bẫy và giết chúng. Lập tức chúng
tái sanh trong Trời Thứ Ba Mươi Ba. Nhớ lại những đời trước
của mình, họ đến gặp Phật và đạt Nhập Lưu.
Có
nói rằng phát sanh một thái độ ác tâm đối với những
nhà sư mặc y vàng là phát sanh một ác tâm với tất cả những
bậc thánh của ba thời ; thế nên đây là một tội lỗi vô
lượng ; trong khi nếu người ta phát sanh lòng tin, đó là công
đức lớn. Có kể rằng một con sư tử tên là Tâm Kiên Cố
bày tỏ sự kính trọng đối với một thợ săn mặc y phục
vàng nghệ, và như một kết quả, một trăm ngàn kiếp nó
trở thành chuyển luân thánh vương, và cuối cùng thành Phật.
Trên
là những chuyện kể từ các kinh. Đến đây kết thúc chương
bổ sung về những hành động và những hậu quả của chúng.
–
Những chuyện trên chứng minh rằng nhiều động cơ phát sanh
từ những trạng thái tâm thức khác nhau ảnh hưởng đến
những hành động của chúng ta, và những chúng sanh khác nhau
tri giác một vật duy nhất trong nhiều cách khác nhau. Chư thiên
thấy nước là cam lồ, ngạ quỷ thấy nó như mủ máu, và
chúng sanh địa ngục như dung nham núi lửa. Một vật được
thấy khác nhau là do nghiệp của từng cá nhân.
Thực
tại có thể được thấy theo những cách khác nhau. Như chẳng
hạn đức Dalai Lama được nhiều người xem là sự hiện thân
đích thực của Quán Thế Âm. Một số nghĩ ngài là tốt cùng
cực, một số suy nghĩ ngài là xấu. Trong thế giới này nhiều
sự nói xấu được lan truyền, và tất cả chúng đều sanh
ra từ nghiệp của người ta – từ những hành động và những
kết quả của chúng – với gốc rễ là tâm thức của họ.
Mọi sự thay đổi, vui, buồn, sướng khổ, thương, ghét...
đều do tâm thức. Mọi quan điểm đều vô thường và một
cách nền tảng, chỉ là những xuất hiện của tâm thức.
Thế nên, chớ chú trọng đến chúng quá nhiều. Cần chú trọng
nhiều là chính tâm thức của bạn !
Trong
truyền thống Đại Toàn Thiện, Guhyagarbhatantra nói rằng tinh
túy không gốc rễ của mọi sự chính là tâm. Mặt khác tâm
là nền tảng, hay gốc rễ, của tất cả những hiện tượng,
nhưng bản thân tâm thì không có gốc rễ, hay tinh túy. Khi
nói rằng toàn thể sanh tử và niết bàn có tâm làm gốc rễ
của chúng, chúng ta có thể hỏi, “Tâm là của ai ? Có phải
là tâm của một cá nhân không ?” Câu trả lời là không
; tâm của tất cả chúng sanh. Sự liên hệ của sanh tử và
niết bàn với tâm của Phật không phải là liên hệ với
tâm của một vị Phật mà là với tất cả chư Phật. Những
tạo tác ý niệm vô số của tâm phát triển, và do chạy theo
những cái ấy, chúng ta kéo dài mãi sự hiện hữu của chúng
ta trong sáu cõi sanh tử, và cũng kéo dài ba độc của tâm.
Một cách cơ bản, chúng ta kéo dài sanh tử của chúng ta bằng
cách bám níu vào cái không có hiện hữu đích thật mà cho
là thật. Vì lý do này, đức Phật dạy Bốn Thánh Đế, hai
vô ngã, tức là nhân vô ngã và pháp vô ngã, và cái thấy
tánh Không.
Do
khuynh hướng bám chấp vào cái không hiện hữu cho là thực
có, chúng ta bám vào những hiện tượng như là kiên cố và
thường hằng, đó là chấp thường. Nhìn vào các thân Phật,
thì Pháp thân là bản tánh đích thực của tâm. Bốn hoạt
động của Báo thân – bình an, mở rộng, thần lực và dữ
tợn – chỉ là những phô diễn của tâm. Tiếp theo là cấp
độ Báo thân, bao gồm tất cả cõi tịnh độ, những cung
điện, những phô diễn của trí huệ bổn nguyên, và mọi
phẩm tính của chư Phật, chúng chỉ là thuộc bản tánh của
tâm. Rồi chúng ta có thể nhìn các cõi dục, cõi sắc và cõi
vô sắc của sanh tử. Tất cả các cõi này, cùng với những
tương liên tương thuộc của những hành động và những hậu
quả của chúng, nảy sanh từ tâm. Mọi hạnh phúc và đau buồn
người ta kinh nghiệm sanh ra chỉ từ tâm.
Hãy
nhớ trong tâm mười thí dụ mà đức Phật đã nói về mọi
hiện tượng, tuyên bố rằng chúng như tiếng vang, như ảnh
phản chiếu, như ảo ảnh v.v... Người ta chỉ bám chấp vào
cái không thật cho là thật. Hãy nhớ mười thứ tương tự
này trong tâm ; chúng thực sự là những đối tượng rất
thích hợp để thiền định. Nhưng trong lúc đó, quan trọng
là chúng ta không phát triển một thái độ tự xem là đặc
biệt. Không có ai trong chúng ta là đặc biệt. Nếu bạn muốn
trở nên đặc biệt, thì hãy nhận biết bản tánh của cái
tỉnh giác của bạn. Nếu bạn muốn là đặc biệt, hãy gỡ
thoát khỏi mạng lưới sanh tử này. Nếu bạn không làm được
điều này, bạn không là đặc biệt.
Khi
tôi nói về sự không thực của kinh nghiệm của chúng ta,
bạn có thể nghĩ có lẽ nghiệp thực ra cũng không có sự
thật nào như những kinh nghiệm của bạn, nhưng đây là một
kết luận sai lầm. Hãy xem những đại sư quá khứ của dòng
Kagyu. Họ thường tụng một câu nguyện, “Nguyện tôi chứng
biết những tinh tế của những hành động và những hậu
quả của chúng.” Chỉ khi người ta đã có được một chứng
ngộ rất cao gọi là “một vị của tất cả những hiện
tượng”, thì người ta mới có thể thực sự thâm nhập
vào những mối tương quan tinh vi này, những mối kết lẫn
nhau tinh tế này của những hành động và những hậu quả
của chúng. Có sự chứng biết đầy đủ này những tinh tế
của nghiệp có nghĩa là bạn đã có được hai loại hiểu
biết (hai trí) : về bản thể và về hiện tượng (căn bản
trí và hậu đắc trí). Trí huệ về bản thể (căn bản trí)
là sự chứng ngộ tánh không, nó là bản tánh của tất cả
hiện tượng. Trí huệ về hiện tượng (hậu đắc trí hay
sai biệt trí) của một vị Phật là sự thấu hiểu thâm nhập
phạm vi trọn bộ của những hiện tượng, đặc biệt về
những hành động và những hậu quả của chúng. Những tương
quan này thì vi tế không thể nghĩ bàn. Hiểu biết về bản
thể và về hiện tượng có thể ví như thân của một cái
cây, và quả là tám vạn bốn ngàn bộ giáo lý của Phật.
Thế nên, chớ nghĩ rằng những giáo lý về nghiệp là một
cái gì phải để lại sau hay trở nên vụn vặt một khi người
ta đã đạt chứng ngộ rất cao. –
CHƯƠNG
BA
Những
Hành Động
và
những Hậu Quả của chúng
Kính
lễ đức Quán Thế Âm !
Một
giải thích phác họa về những hành động và những hậu
quả của chúng đã được trình bày trong những phần sơ khởi
của những giáo huấn về những giáo lý thực hành sâu xa
của Quán Thế Âm, nhưng khó mà có được từ đó nhiều hơn
là sự hiểu một phần. Sự hiểu chính xác về những hành
động và những hậu quả của chúng không thể có cho đến
khi nào người ta đã đạt được nhất tâm cấp lớn. Trừ
phi có chứng ngộ “một vị xuất hiện trong nhiều cách”,
sự tinh vi của những hành động và những hậu quả là không
thể phân biệt rõ ràng. Như thế, những đạo sư Kagyu trong
quá khứ vẫn nguyện, “Xin ban phước cho con để con có thể
phân biệt rõ ràng sự tinh vi của những hành động và những
hậu quả của chúng.” Với chúng ta, mọi hạnh phúc và nghịch
ý và mọi niềm vui và nỗi buồn của sanh tử đều do nghiệp
thống trị.
–
“Nhất tâm lớn” là trạng thái định (samadhi) sanh khởi
do nghiên tầm bản tánh giác, rigpa. “Một vị xuất hiện
trong nhiều cách” là một chứng ngộ đặc biệt, nó cũng
được gọi là “chứng ngộ bindu duy nhất”. Cái gì là một
vị xuất hiện trong nhiều cách này ? Đó là bản tánh đơn
nhất của tất cả sanh tử và niết bàn. Đó là thấy tất
cả các hiện tượng đồng thời là một vị và một bản
tánh.
Thành
công tâm linh và thành công thế gian tất cả đều nảy sanh
từ công đức bạn đã tích tập trong quá khứ do hoạt động
đức hạnh. Không có công đức, dù bạn có bỏ ra mười triệu
đô la cho một mục tiêu riêng biệt nào đó, bạn cũng sẽ
không có thành công mà bạn đang nhắm đến. Nó thực sự
đến từ những hành động trước kia của bạn. Thế nên
quan trọng là không đổ lỗi cho ai cả khi bạn kinh nghiệm
thất bại hay thất vọng. Hơn nữa, chúng ta phải biết rằng
chúng ta muốn thành công, chúng ta cần gieo trồng những hạt
giống của đức hạnh. Nếu chúng ta muốn tránh bất hạnh,
chúng ta cần tránh nguồn gốc của nó, tức là không đức
hạnh. Đồng thời, thay vì đổ lỗi cho những người khác
về những thất bại của chúng ta, chúng ta phải nhận ra những
giới hạn và khuyết điểm của chúng ta và xóa tan chúng.
–
Chương
Về Vòng Hiện Hữu Của Sanh Tử nói :
Dù
sanh ra ở đâu trong ba cõi,
Sự
sanh ra đó cũng do nghiệp thống lãnh.
Nghiệp
là cái gì đã mắc trong quá khứ.
Cái
chết cũng do nghiệp thống lãnh.
Khi
thời gian đến cho sự sanh và sự chết,
Chư
thiên dần dần rơi khỏi những cõi trời.
Mặc
dù thần lực kỳ diệu của họ, họ bất lực
trong
việc ở lại.
Để
cho điều này dễ hiểu, tôi sẽ giải thích sơ lược. Hành
động quyết định được bàn luận trong bộ kinh Một Phân
Tích của Những Hành Động :
Hành
động nào quyết định đưa đến tái sanh ? Khi thực hiện
bất kỳ hành động đức hạnh nào, người ta làm một hồi
hướng quyết định bằng cách nói, “Nhờ việc này, nguyện
tôi có được một tái sanh như vầy.” Và phạm vào năm tội
ngũ nghịch, sẽ dẫn thẳng đến tái sanh.
–
Bất kỳ lúc nào bạn dấn thân vào những hành vi đức hạnh
với động cơ thanh tịnh và rồi hồi hướng công đức của
những hành động này, sự cầu nguyện ấy sẽ dẫn bạn đến
sự tái sanh mà bạn hồi hướng. Thế nên sự cầu nguyện
này có tầm quan trọng lớn nhất. Bất cứ nơi nào bạn muốn
cho tâm thức bạn đến sau khi chết, hãy cầu nguyện cho mục
đích đó. Thế nên hãy cầu nguyện thường xuyên và ghi nhớ
trong tâm ý muốn được sanh vào cõi đó.
Như
một kết quả của bất kỳ đức hạnh lớn lao nào, chẳng
hạn có được một chứng ngộ tánh không, ngay trong đời
tới bạn sẽ đi lên một cõi cao cả của hiện hữu. Ngược
lại, nếu bạn phạm vào những việc không có đức hạnh,
ác hạnh, như một trong các hành vi ngũ nghịch, bạn sẽ rơi
thẳng xuống những cõi khốn khổ. Chớ có nghi ngờ về điều
này. –
Nếu
bạn nỗ lực có đức hạnh và thường trực cầu nguyện
được tái sanh vào Cực Lạc, đó là tối ưu, hay một chọn
lọc bậc trung là cõi Núi Vinh Quang Màu Đồng, hay ít nhất
trong một vùng con người nơi đó có Pháp, bạn sẽ quyết
định được sanh ở đó ; thế nên điều này là quan trọng.
Nếu bất kỳ cái nào trong năm tội ngũ nghịch hay một sự
phá samaya (những thệ nguyện cam kết) xảy ra, và bạn chết
mà không sám hối nó, quyết định bạn sẽ được sanh vào
một khổ cảnh ; thế nên sám hối là quan trọng.
Dù
những thiện căn đã được tích tập, nếu không có những
cầu nguyện về thời gian chín thành của chúng, không chắc
chắn chúng sẽ chín thành quả thế nào. Một Phân Tích Của
Những Hành Động nói :
Hành
động nào không quyết định đưa đến tái sanh ? – khi không
có hồi hướng sau khi đã thực hiện một hành vi đức hạnh.
Có
bốn khả năng về những hành động đức hạnh và không đức
hạnh. Nếu bạn làm một đức hạnh mạnh mẽ hay tội lỗi
mạnh mẽ, có thể nó chín ngay trong đời này. Theo lời của
Gongchik Dorje, “Những hậu quả của những hành động hiện
tại có thể chín ngay bây giờ.” Cũng có hành động đức
hạnh hay không đức hạnh không chín trong khoảng đời này,
mà chín khi bạn đã đi nơi khác. Điều này giống như câu
tục ngữ, “Người ta đi tìm những quả của sự rộng lượng
của họ.” Một Phân Tích Của Những Hành Động nói rằng
hành động đức hạnh và không đức hạnh chín sau khi người
ta đã đi đến một nơi khác, như trong trường hợp thương
gia Maitrakanyaka. Hành động này có thể chín trong xứ sở khác.
Tôi
sẽ giải thích khúc chiết những điểm được dạy trong Một
Phân Tích Của Những Hành Động từ các bộ kinh. Một khi
bạn đã phạm vào một hành động tội lỗi, không đức hạnh,
nếu bạn phát lồ và sám hối nó với sự ân hận lớn lao
và không làm nó trong tương lai nữa, nghiệp đó thể hiện
nhưng rồi không được tích tập. Nếu bạn hoàn toàn dấn
thân vào đức hạnh hay tội lỗi nào với tâm bạn nhưng không
với ngữ hay thân bạn, nó được tích tập nhưng không thể
hiện. Nếu bạn làm trọn một hành vi tội lỗi mà không tìm
cách tránh nó, và do không hối hận, không sám hối nó, và