NỘI
DUNG
Lời
Nói Đầu
1.
Một Khẩu Truyền về những Lời Nguyện Quy Y và Bồ Đề
Tâm Đại Thừa
2.
Những Câu Chuyện về những Hành Động và Hậu Quả của
chúng
3.
Những Hành Động và những Hậu Quả của chúng
4.
Một Dẫn Nhập những Thí Dụ và Ý Nghĩa của chúng
5.
Một Sự Nhận Diện Qua Văn Xuôi
6.
Sự Nhận Diện Đại Ấn
7.
Làm thế nào để theo Con Đường Nhảy Qua
8.
Hướng dẫn trên Con Đường của Sự Chuyển Di
9.
Một Giới Thiệu Vào Nền Tảng, Con Đường và Quả
10.
Bốn Cấp Bậc của Yoga
11.
Làm sao Tiến Bộ theo những Địa và những Con Đường
12.
Kết Luận
Chú
Thích
Thuật
Ngữ
LỜI NÓI
ĐẦU
Tác
giả của bản văn này, Karma Chagmé Rinpoche, sanh năm 1613 ở
Nyomto Zalmo Gang trong vùng Do-Kham đông Tây Tạng, và theo truyền
thống Tây Tạng, sự ra đời của ngài đã được Padmasambhava
tiên tri. Cha ngài là Đại thành tựu giả Pema Wangdrak nổi
tiếng, và mẹ ngài, Cho-kyong Kyi, được xem là một dakini trí
huệ. Cha ngài là người hướng dẫn tâm linh của ngài cho
đến tuổi mười một, đã đặt tên ngài là Wangdrak Sung,
và ngay khi sanh ngài ra đã ban cho ngài quán đảnh trường thọ
từ những terma của Tertošn Ratna Lingpa. Trong thời kỳ sơ học
với cha mình, Wangdrak Sung tỏ ra là một học trò xuất sắc,
học viết và đọc, cử hành những nghi lễ, ghi nhớ những
bản văn, và ngồi thiền yên lặng những thời gian lâu.
Năm
mười một tuổi, ngài gặp thiền giả Prawashara, nhận nhiều
quán đảnh, khẩu truyền và giáo huấn, trong đó có những
khẩu truyền về Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và dòng Đại
Ấn từ Kun-ga Namgyal của Drungpa Tserlung. Mười chín tuổi,
Wangdrak Sung quyết định xuất gia và đến trụ sở của Karmapa
là Tu viện Tsurphu để nhận thọ giới. Ở đây ngài nguyện
quy y, thọ sa di và sau đó cụ túc giới. Rồi ngài vào Tu viện
Thupten Nyingling của truyền thống Zurmang.
Bây
giờ có pháp danh là Karma Chagmé, ngài thi hành những bổn phận
ở tu viện và tiếp tục học thông thạo tất cả những bản
văn chánh và thứ về luận lý học Phật giáo. Năm con Rồng,
Karmapa và hai đứa con tâm linh đến tu viện Zurmang. Khi lưu
lại ở đó, Karma Chagmé đã nhận từ Karmapa nhiều quán đảnh,
khẩu truyền và giáo huấn, gồm cả những giáo lý Đại Ấn.
Rồi ngài đi theo với Karmapa một năm rưỡi, có lúc nhập
thất ẩn cư với Karmapa và nhận thêm những giáo huấn. Năm
hai mươi mốt tuổi ngài trải qua một sát hạch công khai trước
một chúng hội mười hai ngàn vị tăng, điều làm tăng thêm
danh tiếng vốn đã là một học giả nổi trội của ngài.
Sau
đó Karma Chagmé dấn thân vào một cuộc nhập thất mười
ba năm trong đó ngài thiền định về một hình tướng của
Quán Thế Âm có danh hiệu là Jinasagara (TT. Gyalwa Gyatso) như
là bổn tôn được chọn của ngài. Gần lúc kết thúc cuộc
nhập thất, ngài nhận ra và đưa lên ngôi nhà tertošn trẻ
Mingyur Dorje, ban cho vị này nhiều quán đảnh và trao truyền.
Nhớ lại vô số đời quá khứ, tertošn trẻ Mingyur Dorje bắt
đầu có những thị kiến nhiều bổn tôn, cho phép mở ra một
kho tàng những trao truyền quý báu. Karma Chagmé, như là người
giữ kho tàng, là người chép lại chúng.
Sau
khi kết thúc cuộc nhập thất, Karma Chagmé ban những quán đảnh
Namchoš, hay “Pháp Không Gian”, là những phát hiện tertošn
Mingyur Dorje và những phát hiện của đại tertošn Ratna Lingpa.
Ngài viết bản văn mà một phần được dịch ra ở đây,
nó phối hợp những giáo huấn thực hành ngài đã nhận về
Đại Ấn (Mahamudra) và Đại Toàn Thiện (Dzogchen). Vị sáng
lập truyền thống Payušl của dòng Nyingma, Vidyadhara Kunzang
Sherab, đã nhận tất cả những trao truyền này trực tiếp
từ Karma Chagmé. Đáng chú ý là, dòng thực hành đặc biệt
này đã trở thành cốt lõi của truyền thống Payušl và đã
được thực hành liên tục đến ngày hôm nay.
Karma
Chagmé tịch năm 1678 sau khi loan báo cho hàng ngàn đệ tử rằng
đã đến lúc ngài khởi hành đến một cõi khác. Ngài biểu
lộ những dấu hiệu kỳ lạ trong cái chết của ngài. Có
nói rằng ngài hòa tan tâm ngài vào Phật A Di Đà, và sau khi
trà tỳ nhiều hình ảnh Quán Thế Âm Jinasagara được thấy
trên xương ngài.
•
Gyatrul
Rinpoche, người bình giảng bộ sách này, sanh ở Tây Tạng
năm 1925, được Jamyang Khyentse Lodro Tayé công nhận là hóa
thân của Sampa Kunkyab, một thiền giả dòng Payušl đã để
cả đời mình ẩn tu và về sau ban những quán đảnh và truyền
pháp từ hang ẩn cư của mình cho rất đông đệ tử. Sau khi
được đưa đến Tu viện Payušl Dhomang, Gyaltrul còn trẻ đã
được vị thầy trợ giáo Sangye Gošn dạy dỗ. Sangye Gošn
từ lúc còn bé đã nhận được tên này từ Tertošn Gili nổi
tiếng (Dudjom Lingpa), ngài đã chọn ra em bé khi đi ngang qua
làng của em, đặt tên cho em và tiên tri tương lai của em.
Trong
những năm chàng thiếu niên Gyatrul sống với lama của mình,
ngài nhớ ngài đã có những cuộc viếng thăm đều đặn của
một người mặc áo màu trắng mà ngài cảm thấy là Quán
Thế Âm ; và ngài còn nhớ rằng tóc Sangye Gošn đã bạc lại
trở thành đen và những răng mới lại mọc, thay chỗ những
cái đã rụng. Hầu hết sự tu hành căn bản của Gyatrul Rinpoche
xảy ra dưới sự hướng dẫn của thầy Sangye Gošn, gồm cả
những cuốn Phật Tánh Trong Lòng Bàn Tay, Sự Hợp Nhất Của
Đại Ấn và Đại Toàn Thiện của Karma Chagmé trong dòng của
mình, và nhiều bản văn phụ mà ngài đã học với thầy mình
trong ba năm liên tiếp. Về sau Gyatrul Rinpoche đi ẩn tu với
Tulku Natsog Rangdrošl – một hóa thân trong những hóa thân của
của Dušdjom – vị này trở thành vị thầy tâm linh đầu
tiên. Gyatrul Rinpoche cũng nhận những khẩu truyền từ Payušl
Chogtrul Rinpoche vĩ đại, vị thầy đầu tiên của H. H. Renor
Rinpoche, vị trưởng phái hiện tại của hai dòng Payušl và
dòng Nyingma như một tổng thể, và từ Apkong Khenpo.
Từ
khi đến Hoa Kỳ năm 1976, Gyatrul Rinpoche là đại diện tâm
linh của H. H. Dudjom Rinpoche, và với vị này, ngài đã lập
ra những trung tâm Pacific Region Yeshe Nyingpo trên bờ biển phía
Tây, gồm Tashi Chošling, một trung tâm Phật giáo Tây Tạng
gần Ashland, Ogegon. Nơi này đã tiếp nhiều đại lama như H.
H. Dudjom Rinpoche, H. H. Penor Rinpoche, H. H. Khenpo Jigmé Phuntsok,
và nhiều học giả và thiền giả thành tựu khác của những
dòng khác nhau của Phật giáo Tây Tạng. Từ khi đến Hoa Kỳ,
Gyaltrul Rinpoche đã dạy Pháp cho nhiều ngàn học trò ở phương
Tây.
B.
Alan Wallace
Santa
Barbara, California
07-31-2007
03:34:12