NIẾT
BÀN VÔ DANH LUẬN
(Chánh
văn)
Vô
danh(1) nói rằng: “Kinh điển đề cập đến Hữu dư Niết
Bàn, Vô dư Niết Bàn(2), Tần văn(3) dịch theo Phạn nữ Nirvàna
là Vô Vi, cũng gọi là Diệt Độ. Vô Vi, là chấp thủ hư
vô tịch mặc, diệu tuyệt mọi cảnh hữu vi. Diệt Độ là
nói tất cả những lo lắng đều vĩnh viễn diệt tận; Siêu
độ bốn cõi, là nơi quy về của tất cả các cảnh tượng,
là nơi u trạch tuyệt dứt mọi ngôn từ. Nói có hữu dư,
vô dư là để chỉ những danh hiệu khác nhau khi Niết Bàn
hoặc xuất hoặc xử(4), là giả danh để ưng đương với
các vật dị biệt mà thôi.
Ta
thử bàn về vấn đề này.
Thế
nào là Đạo lý vốn là Niết Bàn? Là tịch liêu, hư khoáng,
không thể dùng hình danh sắc tướng mà đạt được, là vi
diệu vô tướng, không thể dùng hữu tâm(5) mà biết được,
siêu tuyệt tất cả những vật hữu thể do vì thăng hoa đến
nơi u linh, ôm trọn thái hư nên thường vĩnh cửu. Theo dõi
đàng sau, chẳng làm sao đạt được tông tích; nghinh đón
ở trước, không thấy đầu nó ở đâu. Lục thú không làm
sao có thể nhiếp gồm được nó, thời gian không làm sao biến
thể được nó. Hoang mang, hốt hoảng(6), dường như lưu lại
đây, dường như đã đi rồi. Ngũ mục(7) không làm sao thấy
được nội dung, nhị thinh(8) không làm sao nghe được âm hưởng,
minh minh yểu yểu, ai thấy được nào, ai hiểu được nào?
Di mãn khắp mọi nơi mà vẫn độc tôn bên ngoài biểu giới
hữu vô. Thế nên ai nói về nó tất đánh mất cái chân thật
của nó, ai biết về nó tất phản lại sự Ngu(9) của nó,
ai cho nó là Hữu tất bẻ ngược thật tính của nó, ai cho
nó là Vô tất thương tổn đến bản thể của nó. Sở dĩ
do đó mà Đức Thích Ca yểm thất nơi Ma Kiệt Đà(10), Tịnh
Danh(11) tịnh khẩu nơi Tỳ Da(12), Tu Bồ Đề đề xướng thuyết
hiển dương đạo pháp bằng cách vô thuyết, Đế Thích Phạm
Thiên dứt tuyệt nghe thấy mà vẫn mưa hoa(13). Tất cả đều
là vì lý tắc đã được thần ngự nên miệng do đó mà mặc
nhiên. Nào phải đâu là họ không biện luận, thật ra là
họ biện luận điều không thể nói được bằng lời vậy.
Kinh
Đại Niết Bàn nói: “Chân giải thoát xa lìa ngôn số, tịch
diệt vĩnh an, vô thủy vô chung, không hôn ám, không minh chiếu,
không lạnh không nóng, trạm nhiên như hư không, vô danh vô
thuyết”. Luận(14) nói: “Niết Bàn phi hữu lại cũng phi
vô, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Ý nghĩa nơi
các kinh luận trên, nào đâu là hư cấu, mà là có điều sở
dĩ bất hữu cho nên bất khả đắc mà Có, có điều sở dĩ
bất vô cho nên bất khả đắc mà Không vậy. Vì sao?
Nếu
đặt Niết Bàn vào nơi cảnh Hữu, tất ngũ uẩn phải vĩnh
viễn tiêu diệt, nếu đặt Niết Bàn vào nơi Vô tất u linh
không bao giờ kiệt quệ. U linh không kiệt, nên ôm trọn cái
Một trạm nhiên; ngũ uẩn vĩnh diệt nên ngàn vạn hệ lụy
đều bỏ. Vạn lụy đều bỏ nên Niết Bàn cùng Đạo thông
suốt; ôm trọn cái Một trạm nhiên nên Thần mà vô công.
Thần mà vô công nên chí công thường tồn; cùng Đạo thông
suốt nên rỗng không mà bất cải. Rỗng không bất cải nên
không thể cho đó là Hữu; chí công thường tồn nên không
thể cho đó là Vô. Thế nên Niết Bàn, nội tại tuyệt dứt
hữu vô, mà ngoại tại lại xưng là có xao động vậy. Là
nơi không thể đạt đến được bằng mắt thấy tai nghe,
là điều bị hôn muội bởi tứ không(15). Điềm nhiên mà
di mãn, đạm bạc mà bao la, cữu lưu lấy đó làm nơi giao
quy, các thánh do đó mà minh hội. Tuy nhiên, mặc dầu là Niết
Bàn đã đạt đến cảnh hi di, chốn thái huyền đó, nhưng
nếu ta muốn khen ngợi đó là hữu là vô, tán dương vực
hạn của nó hay là nói về đạo lý về cái Thần của nó,
thì chẳng hóa ra là ta vẫn còn ở xa tít mù đối với nó
vậy.
1-
Nghiệm xét về Thể của Niết Bàn
Hữu
danh nói: Danh hiệu không hư sinh, xưng gọi không tự khởi.
Các kinh bàn đến Hữu dư Niết Bàn, Vô dư Niết Bàn, là chân
danh của sự trở về với căn bản(16), là diệu xưng của
đạo lý về cái Thần(17) vậy. Xin cho tôi điều trần về
sự này.
Hữu
dư là: cùng với khi Đức Như Lai khởi thủy đại giác thì
Pháp thân cũng đồng sơ thời kiến lập, tắm rửa trong giòng
sông thanh tịnh của tám bậc thiền giải thoát, nghỉ ngơi
trong khu rừng rậm rạp của bảy giác chi. Tích lũy vạn ngàn
thiện đức từ muôn kiếp xa vời, Ngài quét sạch mọi vi
trần còn lưu lại từ vô thủy. Tám minh(18) soi sáng bên trong,
thần quang chiếu rọi bên ngoài; đầu tiên phát tâm đại
từ cho đến cuối cùng dùng đại bi mà cứu chúng sinh khi
hoạn nạn. Nhìn lên, người vói vịnh huyền căn; ngó xuống,
người nâng đỡ kẻ yếu đuối tang bị. Siêu quá tam giới,
độc một mình bước vào cõi Đại phương, mở hoát con đường
bình phẳng của Bát Chánh, để đắp bằng thản lộ cho chúng
sinh. Thẳng rong thần mã của Lục thông, ngự cỡi xe lành
của năm thừa, cho chí đến có thể ra vào sinh tử, cùng vạn
vật thôi thúc di động. Đạo không thể không thấm nhuần,
đức không thể không bố thí cho chúng sinh. Tận cùng đến
Hóa Mẫu vốn là bà mẹ sơ thủy của vạn vật(19), cực độ
đến diệu dụng của then cửa huyền môn, khuếch trương vũ
trụ không hư nơi chốn không còn cương giới, thắp sáng ngọn
đuốc u linh khắp mọi nơi. Khi sắp tuyệt đoạn hết mọi
điềm triệu hiện hữu nơi chín cõi sinh tử để vĩnh viễn
luân lưu trong thái hư, mà duyên hữu dư vẫn còn bất tận,
dư tông vẫn chưa tiêu diệt hết. Nghiệp quả còn vướng
vít như hồn quỷ, nên Thánh trí mãi tồn tại lâu xa. Đấy
là Hữu dư Niết Bàn vậy.
Kinh
nói: Đãi bỏ cặn bã vi trần, như luyện vàng thiệt, ngàn
vạn hệ lụy đều tận diệt mà Linh giác vẫn độc đáo
tồn tại. Vô vi là khi giáo thuyết bậc Thánh nhân về nhân
duyên đều xong hết, linh chiếu vĩnh viễn diệt tận, khuếch
đại bao la không còn điềm triệu hiện hữu gì nữa, nên
gọi đấy là Vô dư. Vì sao? Đại hoạn không gì bằng có
thân(20), nên phải diệt xác này để mà trở về với Vô;
lao cần không gì bằng trước tiên có trí, nên dứt tuyệt
trí tuệ để mà luân nhập vào không hư. Thế nên, trí do
vì có hình tướng mà bị mệt mỏi, hình tướng do vì có
trí mà lao đao. Bánh xe vì chuyển nên thành ra đường lộ;
đau khổ của chúng sinh cũng như thế, không bao giờ dừng
nghỉ.
Kinh
nói: Trí vì bị tạp độc, hình vì bị gông cùm mà phải
xa vời với điều uyên thâm huyền mặc, mà sinh khởi nên
hoạn nạn. Sở dĩ do đó mà Chí nhân đốt tuyệt thần tướng,
diệt tận tâm trí(21), bỏ hình dứt lo; nội tại không cần
chiếu sáng căn cơ, ngoại tại hưu tức gốc rễ đại hoạn,
siêu nhiên mà vĩnh viễn phân lìa cùng quần hữu, di mãn đến
đồng thể với thái hư; tịch yên không nghe, đạm bạc không
hình, âm thầm đi qua không bao giờ trở lại, chẳng ai biết
người đã đến nơi nào; giống như tiêm ngọn đèn tận rồi
thì lửa phải diệt, dầu và ánh sáng đều kiệt. Đấy tức
là Vô dư Niết Bàn vậy.
Kinh
nói: Năm ấm vĩnh viễn cùng tận, tỷ như ngọn đèn tiêu
diệt, thế nên Hữu dư Niét Bàn khả dĩ có thể mệnh danh
được, Vô dư Niết Bàn khả dĩ vô danh. Khi vô danh đã lập
rồi thì người đề xướng tông chỉ về Không, hân hoan nơi
lặng lẽ trống không. Mệnh danh sinh rồi thì kẻ hoài bão
ân huệ lại càng ngưỡng vọng nơi công đức của Thánh nhân.
Đấy là văn từ mà kinh điển truyền dạy chúng ta, là con
đường mà tiền nhân đã đi qua để dấu lại.
Thế
mà ông lại nói nội tại tuyệt dứt hữu vô, mà ngoại tại
lại xưng là có dao động, là nơi không thể đạt đến được
bằng mắt thấy tai nghe, là điều bị hôn muội bởi tứ không.
Như thế chẳng hóa ra là khiến kẻ hoài bão ân đức phải
cự tuyệt, người đề xướng tông chỉ về Không lại càng
vin theo đó mà chấp giữ. Không có gì khác nhau giữa điều
tai mắt bị lấp ngơ nơi thai bào, hay huyễn tượng bị yểm
che bởi đám vân tiêu, thế mà lại cầu mong có dị biệt
giữa cung thương mấy nhịp hay là biện luận sai thù giữa
trắng với đen! Chẳng qua là ông chỉ biết có thôi đẩy
bậc Chí nhân ra khỏi vòng hữu vô, ngâm vang bài ca tuyệt
diệt khỏi hình danh sắc tướng mà luận bàn, thật ra chẳng
biết có chỗ nào là nơi sở quy; con đường u linh(22) do đó
mà tự ẩn giấu chưa hiển lộ. Yên lặng mà tư duy, âm thầm
tìm kiếm về điều ông đề xướng, tôi thật không tìm thấy
nơi đâu để mà ký gởi lòng hoài vọng này. Có phải đấy
là điều mà ông gọi là rọi sáng đại minh vào gian phòng
u tối, là tấu âm hưởng huyền diệu cho người không biết
nghe hay chăng?
2-
Lập thể
Vô
danh nói: Hữu dư, Vô dư chỉ là danh xưng ngoại tại của
Niết Bàn, là giả danh để mà thuận ứng với vạn vật mà
thôi. Kẻ nào ôm giữ lấy điều bị xưng gọi mà cho là thực
thể của Niết Bàn, thì chỉ tìm thấy có danh ngôn; kẻ nào
chỉ để tâm xem trong hình tướng thì chỉ đăm đăm có hình
tướng mà thôi. Danh, giới hạn vào trong đề mục; hình, cùng
tận bởi thể vuông tròn. Mà hình thể vuông tròn thì vẫn
có điều không thể diễn tả được; đề mục vẫn có điều
không thể chuyển đạt được. Nên làm sao mà ta có thể mệnh
danh vật vô danh, tượng hình vật vô hình được?
Lời
nạn của ông nói: ông tin hữu dư và vô dư là quyền biến
và tịch mặc của cùng một thực thể Niết Bàn, để mà
đạt đến cùng tột bản ý của giáo thuyết về Niết Bàn
này, và cũng là thành tích ẩn hiện của Như Lai. Thế nhưng
đấy chưa phải là sự cùng tột u linh của huyền tịch và
tuyệt ngôn, cũng chẳng phải là diệu thuật của bậc Chí
nhân vốn là trung tâm của vũ trụ. Độc mình ông là không
nghe đến thuyết đàm về Chí nhân!
Duy
Ma Cật nói: “Tôi quán Như Lai, vô thủy, vô chung, đã vượt
qua lục nhập, đề xuất khỏi tam giới, chẳng tại nơi nào
cũng chẳng lìa nơi nào, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô
vi, không thể dùng ngũ thức mà nhận thức được, không thể
dùng trí mà biết được, vô ngôn vô thuyết, tâm hành xứ
diệt; nếu theo đấy mà quán thì gọi là Chánh Quán; còn như
theo những điều khác mà quán Như Lai thì chẳng thấy được
Phật”. Kinh Phóng Quang nói: “Phật như hư không, không đi,
không đến, ứng theo duyên mà hiện, không có phương sở nơi
nào”. Thế nên Thánh nhân, trong thế gian này, tịch mặc hư
vô, không cầm giữ không tranh giành, dẫn đạo mà chẳng đi
đầu, cảm rồi sau liền ứng, tỷ như là âm hưởng nơi u
cốc, như là hình tướng trong tấm gương sáng. Đối diện
với người, chẳng biết là người từ đâu lại, tùng theo
dấu chẳng biết là người đã đi về đâu, hốt nhiên mà
có, thoáng chốc đâu mất. Càng di động càng tịch tịnh,
càng ẩn giấu càng rực rỡ, ra vào u tối, biến hóa vô cùng.
Danh xưng về người tạo nên là nhân vì người cảm ứng;
khi hiển lộ tông tích thì ta gọi đấy là sinh, khi tông tích
ngừng chỉ gọi đấy là diệt. Sinh, danh Hữu dư; Diệt, danh
Vô dư. Thế đó, xưng gọi là hữu vô mà căn bản cũng chỉ
là vô danh. Thế thì làm sao mà có thể mệnh danh cho vô danh
được?(23)
Thế
nên bậc Chí nhân khi cư nơi hình vuông thì vuông, khi dừng
nghỉ nơi hình tròn thì tròn; tại Trời thì tự Trời, trong
chốn người thì lại cũng là người. Suy nguyên đến bậc
có thể vừa là Trời vừa là người theo như ý, há có phải
là Trời hay là người có thể làm được hay sao? Mà quả
là vì bậc Chí nhân chẳng phải Trời cũng chẳng phải là
người cho nên có thể vừa là Trời vừa là người như vậy.
Ngài ngự trị, nên cảm ứng mà bất vi, thuận thông mà không
bố thí. Thuận thông mà không bố thí nên không bố thí nào
quảng đại hơn; cảm ứng mà bất vi nên không hành vi nào
có thể to tát hơn. Không hành vi nào to tát hơn nên vẫn giữ
phản phục đến những thành tích vi tiểu(24); không bố thí
nào quảng đại hơn nên lại quy về vô danh.
Kinh
nói(25): “Lý tắc của Bồ đề, không thể vẽ vời, cao đến
chỗ không còn gì cao hơn nữa; quảng rộng không còn chỗ
cùng cực hạn cuộc, uyên áo không gì sâu hơn, thâm sâu không
thể trắc lượng, to tát đến ôm trọn trời đất, vi tế
đến có thể xuyên nhập vào nơi vô gián. Thế nên gọi đó
là Đạo. Như thế, lý tắc về Niết Bàn không thể dùng hữu
vô mà đạt được. Nên biết như vậy. Thế mà kẻ nghi hoặc
thấy Hóa thân của Chí nhân lại vội cho đó là Hữu, thấy
Người diệt độ thì liền cho đó là Vô. Cảnh của hữu
vô chẳng qua là địa vực của vọng tưởng mà thôi, làm
sao đủ để biểu dương huyền đạo để mà nói về Thánh
Tâm cho được?
Ý
ông cho là Chí nhân tịch nhiên, đạm bạc, vô quang. Tôi thì
cho là ẩn hiện đến cùng một nguồn nên khi Người tồn
tại (tôi) không cho là Hữu, Người mất rồi tôi không cho
là Vô. Vì sao? Đức Phật nói(26): “Ta không sinh cũng không
bất sinh, tuy sinh mà bất sinh; không hình cũng không bất hình,
tuy hình mà bất hình”. Theo đó, biết là tuy Người tồn
tại mà vẫn không vì đó mà hữu. Kinh nói(27): “Bồ tát
nhập vào tam muội vô tận, tường tận nhìn thấy chư Phật
thời quá khứ diệt độ”. Lại nói: “Nhập nơi Niết Bàn
vẫn không Bát Niết Bàn”. Theo đó, biết là tuy Người mất
rồi mà vẫn không vì đó mà vô. Mất, mà không vì đó mà
vô nên tuy vô mà vẫn hữu; tồn tại mà không vì đó mà hữu
nên tuy hữu mà vẫn vô. Tuy hữu mà vô nên đó là điều gọi
là phi hữu; tuy vô mà hữu nên đó là điều gọi là phi vô.
Thế nên lý tắc Niết Bàn, quả là xuất phát nơi địa vực
hữu vô mà vẫn tuyệt diệt con đường danh ngôn hình tướng.
Quyết nhiên như vậy.
Ông
lại còn nói: Đại hoạn không gì bằng có thân, nên phải
diệt thân xác này để mà trở về với Niết Bàn, lao cần
không gì trước tiên bằng có trí nên phải dứt tuyệt trí
tuệ để mà luân nhập vào không hư. Nếu mà Vô dư Niết
Bàn là như vậy tức là ông đã bẻ ngoặt tông cực về Thần
của Thánh nhân và đả thương đến huyền chỉ của Người
rồi. Kinh nói: “Pháp thân vô tướng, do hội ứng với vạn
vật mà thành hình; Bát Nhã vô tri, chỉ vì đối với nhân
duyên mà chiếu sáng”. Bôn ba ứng tiếp ngàn vạn cơ hội
mà chẳng hề khuấy động đến cái Thần của mình, đối
trị trăm ngàn nạn tai sai khác mà không động chạm đến
cái Cảm ứng của mình. Khi di động thì như là hành vân,
khi dừng nghỉ thì như cốc thần(27b). Há phải đâu là người
hữu tâm nơi bỉ thử, và để tình cảm bị hệ lụy bởi
động tịnh hay sao? Đã vô tâm nơi động tịnh, cho nên vô
hình vô tướng khi đi lại. Đi lại không vì hình tướng cho
nên không do nơi tài năng mà không thành hình; động tịnh
không vì tâm cho nên không cảm nào mà không ứng. Thế nên,
tâm sinh nơi vô tâm, tướng xuất nơi vô tướng, là vậy.
Vì tướng không phải do Ngã xuất nên cũng như vàng đã bị
nấu chảy mà vẫn không nóng bỏng; tâm chẳng phải do Ngã
sinh nên hàng ngày sử dụng đến mà vẫn bất động. Thế
thì phân vân bối rối là tự nơi mình, chớ đối với Ngã
có làm gì được đâu?
Sở
dĩ do đó mà trí Thánh nhân điều hành vạn vật mà vẫn không
lao đao, hình đầy khắp tám phương mà vẫn không lo lắng.
Thêm vào mãi mà vẫn không thể làm đầy, bớt ra mãi mà vẫn
không thể làm thiếu; nên làm sao mà ông lại có thể tin chắc
là Thánh nhân(28) là người trúng bệnh dịch tả trên đường
đi đến thành Câu Xá Na(28b) nên phải nằm nghỉ dưới tàng
song thọ, để rồi linh thần kiệt quệ nơi tự tháp(29), thể
xác tận diệt trong cơn hỏa táng như vậy? Thế mà kẻ mê
hoặc sống trong cảnh trí còn có thấy nghe, tìm cầu di tích
những công nghiệp sai thù của mình, định nghĩa đại phương
bằng cách chấp trì vào quy củ, cho rằng bậc Chí nhân bị
lao đao bởi trí tuệ, đấng Đại thánh bị lo lắng bởi hình
tướng, rằng Người phải xả hữu để mà nhập vô, và nhân
theo đó mà được mệnh danh (hoặc là hữu vi hoặc là vô
vi). Có phải là y cho rằng Thánh nhân là người chọn thải
lời nói tinh vi bên ngoài sự nghe thấy, bạt xuất huyền căn
nơi hư hoại hay sao?
3-
Vi xuất
Hữu
danh nói: Từ khi hỗn nguyên tách ra làm Trời và Đất, vạn
hữu tham dự vào mà phân tán thêm mãi thì vật hiện hữu.
Đã là hữu thì vật không thể đạt được bất vô, vật
vốn vô thì tự bất vô, do vì dựa trên hữu. Sở dĩ do đó
mà cao thấp cùng nhau đối trị, hữu vô tương sinh, đấy
là vận số của tự nhiên; vận số vốn cục hạn từ khi
hỗn nguyên phân tách ra làm Trời và Đất như thế.
Theo
đó mà quan sát, thì điều mà bà mẹ của vũ trụ dưỡng
dục, mà lý tắc vốn không u hiển trong đó nảy nở những
sinh vật quỷ quái, là Vô và phi Hữu vậy. Khi hữu hóa thành
vô, thì vô là phi vô vậy. Theo đó, thì lý tắc về vô trong
cảnh giới hữu vô không sung mãn vậy. Kinh nói: “Hai pháp
hữu vô nhiếp tất cả các pháp”. Lại còn liệt xưng ba
pháp vô vi: hư không, số duyên tận và phi số duyên tận(30).
Số duyên tận, tức là Niết Bàn. Thế mà ông lại luận rằng:
bên ngoài cảnh hữu vô, đặc biệt còn có một diệu đạo
cao siêu tuyệt cả hữu vô, gọi là Niết Bàn. Ta hãy nghiệm
xét lại căn bản của diệu đạo này. Nếu quả như hữu,
thì là (như ông nói) tuy vi diệu mà phi vô. Nếu như tuy vi
diệu mà phi vô, tức là phải nhập vào trong cảnh giới hữu.
Nếu quả như vô, thì vô tức là (như ông nói) không sai biệt.
Vô mà không sai biệt tức là phải nhập vào cảnh giới vô.
Nói tóm lại, mặc cho ông nghiệm cứu cách nào đi nữa, thì
vẫn không có điều có thể khác biệt với hữu mà lại phi
vô, không có điều có thể khác biệt với vô mà lại phi
hữu được. Rõ ràng là vậy. Thế mà ông lại nói bên ngoài
hữu vô đặc biệt có một diệu đạo, phi hữu phi vô, gọi
là Niết Bàn. Tôi nghe lời ông nói mà chưa thể để vào tâm
được.
4-
Siêu cảnh
Vô
danh nói: Vận số của hữu vô không thể không đầy khắp
bởi các pháp, nội thể của các pháp không thể không sung
mãn. Thế nhưng cái sung mãn của các pháp này chỉ là tục
đế mà thôi. Kinh Ma Ha Bát Nhã nói: “Thế nào là Chân đế?
Là Đạo lý của Niết Bàn vậy. Thế nào là tục đế? Là
pháp hữu vô vậy”. Vì sao? Hữu, là hữu đối với vô. Vô,
là vô đối với hữu. Là vì khi một vật hữu, thì còn có
điều sở dĩ gọi là vô; khi một vật vô, thì còn có điều
sở dĩ xưng là hữu. Như thế, tất hữu sinh khởi là do đối
trị với vô; vô sinh khởi là do đối trị với hữu. Lìa
khỏi hữu tất không có vô, ly vô thì không có hữu. Hữu
vô tương sinh là cũng như là cao thấp tương đãi nhau. Có
cao tất phải có thấp, có thấp tất là phải có cao vậy.
Như thế, nên tuy hữu vô sai thù nhau mà thật ra là cả hai
đều nhất thiết là phải hữu vậy. Điều tương phản đối
trị áp dụng cho chí đến sự thành hình của sắc tướng,
sự sinh khởi của thị phi. Thì làm sao mà ta có thể dùng
nó để mà sung mãn được u cực, định pháp Thần đạo(31)
cho được. Do đó mà khi tôi luận rằng Niết Bàn thoát ngoài
hữu vô là chỉ với ý định dùng các pháp hữu vô(32) để
mà hạn cuộc vào trong nội thể của sáu cảnh(33). Nội thể
của sáu cảnh này chẳng phải là trạch xứ của Niết Bàn,
cho nên chỉ mượn tạm từ ngữ “xuất”, thoát ngoài hữu
vô, để mà loại trừ hữu vô vậy thôi.
Bọn
ông, hy vọng theo trào lưu của Đạo học, lờ mờ trên con
đường u linh đưa đến Niết Bàn, gởi tình vào cảnh giới
tuyệt đối, khi đạt được rồi thì bỏ mất ngôn từ để
đặt mình vào nơi cảnh giới phi hữu phi vô. Làm sao mà tôi
có thể đề xướng cùng bọn ông rằng bên ngoài hữu vô
đó, còn có một cái Hữu nữa, vốn khả thể xưng định
được? Kinh nói ba vô vi, đấy là những rối rắm ưu phiền
của chúng sinh trọn kiếp chỉ thuần một nỗi hoạn lo; hoạn
lo một nỗi không gì trước tiên bằng hữu; khi diệt tuyệt
hữu rồi thì tiếng gọi trước tiên không gì bằng là vô.
Cho nên tôi mượn tạm danh từ vô để mà liễu minh rằng
nó phi hữu; mượn tạm hữu để liễu minh điều đó phi vô
nên không gọi rằng nó là vô vậy.
5-
Sưu huyền
Hữu
danh nói: Ông luận rằng Niết Bàn thật không thoát ngoài hữu
vô, cũng không tại nơi hữu vô. Nếu như không tại nơi hữu
vô thì tất không thể do nơi hữu vô mà đạt được Niết
Bàn. Không thoát ngoài hữu vô, tất không thể xa lìa hữu
vô mà cầu tìm được. Cầu tìm Niết Bàn, không có chỗ,
thế thì cả đến ứng hội của nó cũng đều vô. Thế nhưng
Niết Bàn chắc chắn phải là bất vô, bởi vì chỉ có khi
bất vô, ta mới có thể tầm cầu được con đường u linh
dẫn đến Niết Bàn. Sở dĩ do đó mà hàng ngàn Thánh
nhân đồng noi theo con đường đó, chưa từng vị nào trở
về mà với hai tay trống không. Thế nên biết rằng đạo
lý của Niết Bàn phải là Hữu. Vậy mà ông lại nói không
thoát ngoài cũng không tại nơi hữu vô, tất là phải có ý
chỉ gì khác biệt. Tôi có thể nghe được chăng?
6-
Diệu tồn
Vô
danh nói: Ngôn từ là do danh nghĩa khơi dậy. Danh nghĩa là do
hình tướng mà sinh. Tướng là nhân nơi vật có thể tượng
hình được. Vô tướng tất vô danh. Vô danh thì vô thuyết.
Vô thuyết quyết phải là không truyền đạt. Kinh Đại Niết
Bàn nói: “Niết Bàn chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp,
không truyền đạt được, không thuyết giải được, chẳng
phải là điều sở tri của Tâm”. Làm sao mà tôi dám nói
về nó, thế mà ông lại muốn nghe cho được? Tuy nhiên, Thiện
Cát(34) có lời nói rằng: “Nếu chúng sinh có thể dùng vô
tâm mà lãnh thọ, vô thinh mà lắng nghe (giáo pháp của ta),
thì ta sẽ dùng vô ngôn mà nói về nó”. Nay bọn ông lại
noi theo ngôn từ, nên tôi lại phải dùng ngôn từ mà biện
giải vậy.
Tịnh
Danh nói: “Không lìa phiền não mà đắc Niết Bàn” và Thiên
nữ (35) (trong kinh Tịnh Danh) này nói: “Không thoát ngoài thế
giới ma chướng mà nhập thế giới của Phật”. Thế nên
Đạo mà u huyền là do tồn tại nơi chứng ngộ cách vi diệu.
Diệu ngộ là do nơi tức chân. Tức Chân do vì quán hữu vô
cùng là Một. Quán hữu vô cùng là Một cho nên bỉ thử chẳng
phải hai. Sở dĩ do đó mà Trời Đất và Ngã đồng căn(36),
vạn vật và Ngã một thể. Cùng đồng với Ngã cho nên vạn
vật chẳng còn là hữu vô; (bởi vì) nếu dị biệt với Ngã
tức là trái ngược với tính vô sở bất tại của Người.
Sở dĩ do đó mà Thánh nhân tuy không thoát ngoài, không tại
nơi hữu vô, mà đạo lý vẫn tồn lưu trong đó vậy. Vì sao?
Bậc
Chí nhân, hư tâm, mặc chiếu, mà nội thể không thể không
sung mãn, ôm trọn lục hợp(37) trong lòng mà kinh giám có dư,
chiếu soi vạn hữu trong vũ trụ mà tinh thần vẫn thường
hư. Cho chí đến có thể bạt xuất huyền căn nơi thời vị
thủy, tiến vào chốn loạn động mà lấy đó làm tịnh tâm,
điềm đạm, uyên thâm, tịch mặc, hòa điệu cách vi diệu
với tự nhiên. Sở dĩ do đó mà tuy ở trong hữu mà (Thánh
nhân) không hữu, cư nơi vô mà bất vô. Cư vô mà bất vô
nên bất vô nơi (vạn vật vốn) vô; ở trong hữu mà không
hữu nên bất hữu nơi (vạn vật vốn) hữu. Do đó mà có
thể không xuất ngoài hữu vô, lại cũng không tại nơi hữu
vô vậy. Thế nên pháp không có tướng hữu vô; Thánh nhân
không có cái biết về hữu vô. Thánh nhân không có biết về
hữu vô nên nội tại thì vô tâm; pháp không tướng hữu vô
nên ngoại tại không số. Ngoại tại không số, nội tại
vô tâm, bỉ thử tịch diệt, vật và Ngã cùng hòa làm một,
đạm bạc không điềm triệu, đấy gọi là Niết Bàn. Niết
Bàn nếu được như thế thì hình đồ nó lượng đo đều
tuyệt dứt. Nên làm sao mà có thể dễ dàng cho ông tìm cầu
Niết Bàn trong nội thể của hữu vô hay là có thể vạch
ranh chia nó bên ngoài hữu vô cho được?
7-
Nạn sai
Hữu
danh nói: Niết Bàn đã tuyệt dứt cảnh vực có thể đo lường
được bởi hình đồ tất phải siêu vượt ngoài sáu cảnh.
Không xuất ngoài, không nội tại, mà huyền đạo độc nhất
tồn tại, như thế tất phải cùng lý tận tánh(38), cứu cánh
là vi diệu bậc nhất không sai biệt. Theo lý thuyết, lẽ tất
nhiên là phải như thế.
Thế
mà kinh Phóng Quang lại nói(39): “Đạo lý của ba thừa đều
nhân vì nơi vô mà có sai biệt”. Phật nói(40): “Một thời,
ta là Bồ tát danh gọi là Nhu Đồng ở vào thời Đức Phật
Nhiên Đăng; ta nhập Niết Bàn. Là Nhu Đồng Bồ tát, bấy
giờ ở Thất Trụ Địa(41) ta vừa thâu hoạch được Vô Sanh
Pháp Nhẫn, và tiếp tiến đạt thêm ba địa(42) nữa”. Như
thế, nếu Niết Bàn chỉ là một, tất chẳng phải đạo lý
cứu cánh rồi. Đạo lý cứu cánh, thì làm sao mà có sai thù
cao thấp? Nếu như các kinh thuyết dị biệt nhau, thì làm sao
mà ta có thể chọn lựa (kinh nào là đúng) cho được?
8-
Biện sai
Vô
danh nói: Quả nhiên là đạo lý cứu cánh không sai biệt. Kinh
Pháp Hoa nói: “Đệ nhất Đại Đạo không có tới hai chánh
lý. Nhưng ta vì người giải đãi chậm chạp dùng phương tiện
nơi đạo lý nhất thừa mà phân biệt thuyết là có ba”.
Như là ba chiếc xe chạy ra khỏi căn nhà phát hỏa(42b). Do
vì tất cả đều thoát khỏi sinh tử nên đồng gọi là Vô
Vi, nên tuy là các thừa bất nhất, có tới ba tên, nhưng mà
cùng thâu hội về chung một lối, tức là Một mà thôi.
Thế
mà ông lại nạn rằng: ba thừa đều nhân đó mà có sai biệt.
Điều đó do vì là có tới ba hạng người cho nên Vô Vi phải
có tới ba tên (để đối trị với ba hạng người này), chớ
chẳng phải là Vô Vi có tới ba đâu. Cho nên kinh Phóng Quang
nói: “Niết Bàn có sai biệt không? Đáp rằng không có sai
biệt. Nhưng, ở Đức Như Lai thì tất cả kết tập đều
diệt tận, còn ở bậc Thanh văn thì kết tập chưa tận diệt
hết”. Cho phép tôi dùng lời thiển cận giải thích ý chỉ
xa vời này. Như người đốn củi, đốn qua một xích thì
không còn một xích củi nào để đốn, đốn qua một tấc
thì không còn một tấc; nên ông phải biết là củi mà còn
để đốn là tại nơi không còn mấy xích tấc, chứ không
phải tại nơi không còn xích tấc nào nữa. Chúng sinh vạn
đoan, thức căn không đồng nhất, trí tuệ có cạn có sâu,
đức hạnh có người sâu dày có người bạc mỏng; sở dĩ
do đó mà tuy tất cả đều qua đến bờ bên kia, nhưng mà
cấp bậc giải thoát có thấp có cao không đồng. Há phải
là bỉ ngạn sai dị đâu, mà sai dị là do tự nơi ta mà thôi.
Thế nên tuy các kinh biện luận sai thù nhưng mà ý chỉ thì
vẫn không trái ngược nhau vậy.
9-
Trách dị
Hữu
danh nói: Cùng đồng thoát khỏi nhà lửa, tất chỉ có một
điều là không còn hoạn nạn; đồng thoát khỏi sinh tử tất
chỉ có một Vô Vi mà thôi. Thế mà ông luận rằng bờ bên
kia không khác (với bờ bên này), khác là tự chúng ta. Bờ
bên kia, tức là bờ Vô Vi; còn chúng ta tức là bọn người
nhập thể vào Vô Vi. Vậy xin hỏi rằng, chúng ta cùng Vô Vi,
là một hay khác? Nếu mà ta là Vô Vi thì Vô Vi cũng lại là
ta; ông không thể nói được là Vô Vi không khác mà khác là
tự nơi ta. Còn nếu như ta khác với Vô Vi, thì ta chẳng phải
là Vô Vi, tức Vô Vi tự thường là Vô Vi, còn ta thì tự thường
là hữu vi vậy. Như thế, đạt đến minh hội về điều này
tất phải, không thể thông qua được. Cho nên tất nhiên là
ta cùng Vô Vi; nếu là một, cũng không có đến ba; mà nếu
là khác thì cũng không có đến ba thừa được. Vậy thì danh
gọi tam thừa, do đâu mà phát sinh?
10-
Hội dị
Vô
danh nói: “Như chúng ta ngừng lại (ở bờ) bên này tức chúng
ta đang ở bờ bên này, (nếu) đi qua đến bờ bên kia tức
là chúng ta ở bờ bên kia. Sở dĩ do đó mà sự thành công
cũng lại là thành công cho người thành công; sự thất bại
cũng là thất bại cho người thất bại. Khi ta đạt đến
Vô Vi, thì ta tức là Vô Vi. Nên Vô Vi duy chỉ là một, sao
ông lại nói ngược là Vô Vi không là một? Tỷ như ba con
chim bay thoát khỏi lưới, đồng vượt qua khỏi cảnh vực
không còn hoạn nạn nữa. Vô hoạn đồng nhất mà mỗi mỗi
chim trời tên gọi khác nhau mà cho là vô hoạn cũng lại khác
nhau; lại cũng không thể vì vô hoạn là một mà lại cho là
các con chim cũng chỉ là một. Như thế, tức nhiên là chim
(khi thoát khỏi lưới rồi) tức là vô hoạn, vô hoạn tức
là chim. Vô hoạn làm sao sai khác được, sai khác chăng là
các chim trời mà thôi.
Theo
vậy, ba thừa của chúng sinh đều cùng siêu việt khỏi lồng
vọng tưởng, đồng đưa đến cảnh giới Vô Vi. Vô Vi duy
là đồng nhất mà mỗi mỗi thừa đều khác nhau. Ta không
thể vì mỗi mỗi thừa sai khác nhau mà cho là Vô Vi cũng có
khác, lại cũng không thể vì Vô Vi là một mà cho là ba thừa
cũng là một vậy. Như thế, tất nhiên là ta tức là Vô Vi,
Vô Vi tức là ta. Vô Vi làm sao sai khác, khác sai chăng là do
tự nơi ta mà thôi. Vô hoạn duy nhất là đồng nhất, nhưng
mà (khi chim vượt khỏi lưới) bay lên hư không thì có (con
bay) xa có con bay gần. Cũng vậy, Vô Vi duy là đồng nhất mà
tấm gương huyền thì còn có cạn có sâu. Vô Vi tức là Thừa.
Thừa tức là Vô Vi. Như thế, chẳng phải là ta khác biệt
với Vô Vi, mà là vì ta chưa đạt đến tận cùng Vô Vi cho
nên trình độ đạt đến Vô Vi có đến ba, là vậy.
11-
Cật tiệm
Hữu
danh nói: Ngàn vạn hệ lụy càng sinh thêm mãi, căn bản nơi
vọng tưởng. Vọng tưởng một khi trừ khử rồi thì vạn
lụy tất cũng phải ngừng nghỉ. Hai thừa trước đạt đến
Tận Trí, Bồ tát thừa đạt đến Vô Sanh Trí; lúc đó thì
tất cả vọng tưởng đều diệt tận, các trói buộc đều
vĩnh viễn tiêu trừ. Kiết phược đã tiêu trừ tất tâm trở
nên vô vi. Tâm đã vô vi, tức không còn màng (vô vi) chướng
mắt nữa(43).
Kinh
nói: “Các Thánh trí không lìa mặt trái (là Hữu vi), không
thoát khỏi ngoài cũng không tại nơi Niết Bàn; thực thể
của các Thánh trí đều không”. Lại nói: “Đại Đạo vô
vi, bình đẳng bất nhị”(44). Đã gọi là không hai, tất
không thể dung chứa tâm sai biệt. Thánh trí cũng không thể
nhập (vào Vô Vi), tất chỉ có vậy mà thôi. Thực thể của
Thánh trí hội ứng đến tận cùng vi diệu, thế mà ông lại
nói là thể nhập mà vẫn chưa tận cùng, đấy là điều mà
tôi chưa ngộ hiểu được.
12-
Minh tiệm
Vô
danh nói: Vô Vi không hai, đấy là tất nhiên rồi. Còn kết
hoặc thì cứ chồng chất mãi lên, có thể gọi đó là phải
được diệt tận cấp kỳ ngay; thế nhưng tôi chưa giải thích
tới. Vậy nay xin giải thích tường tận vậy.
Kinh
nói: “Ba mũi tên đều trúng đích(45)”; “ba con thú độ
hà(46). Trúng đích và độ hà không khác, mà sai thù là có
cạn có sâu, do vì sức lực của người bắn tên và của
mỗi con thú, không đồng vậy. Ba thừa đều đưa chúng sinh
qua đến bến đò duyên khởi, đều chiếu soi mục đích của
Tứ đế, dứt tuyệt Tợ để mà hiển Chân(47), đồng đưa
lên đến Vô Vi. Tuy nhiên, chúng sinh không ngồi cùng trên một
thừa là do vì trí tuệ không đồng vậy. Quần hữu tuy nhiều
mà số lượng thì có hạn. Thí như một người trí tuệ bằng
như Thân Tử(48), biện luận như Mãn Nguyện(48), mà cho đến
cùng cực tài trí tư lự của y vẫn không nhìn được bờ
bến trí tuệ và biện luận của hai người trên. Huống hồ
là vận số của hư vô, cảnh vực của huyền diệu, mà đạo
lý vốn không bờ bến; lại muốn diệt tận cấp kỳ thì
làm sao cho được? Sách(49) chẳng là nói, người tham học
mỗi ngày mỗi gia ích thêm sự học của mình, người cầu
tìm Đạo mỗi ngày một tổn bớt ra (cái biết hạn cuộc
của mình) đó hay sao? Người cầu tìm Đạo tức là người
cầu tìm Vô Vi vậy. Vì cầu tìm Vô Vi mà mỗi ngày phải mỗi
tổn bớt ra, chứ làm sao mà có thể đạt đến Vô Vi cấp
kỳ cho được? Cần phải tổn bớt mỗi ngày một chút, cứ
tổn bớt như thế mãi cho đến không còn gì có thể tổn
bớt nữa được. Kinh Phóng Quang Bát Nhã dùng thí dụ về
con đom đóm và ánh mặt trời để chỉ cho cái dụng (sai khác
nhau của) trí tuệ. Nên biết như vậy.
13-
Cơ động
Hữu
danh nói: Kinh đề cập đến Pháp thân, khi đạt đến rồi
thì (Bồ tát) nhập cảnh giới Vô Vi. Không thể dùng trí mà
biết được tâm của Người, không thể dùng tướng mà đo
lường hình của Người, thân thể không còn bị các ấm xâm
nhập nữa; tâm và trí đều tịch diệt. Thế mà (kinh) lại
nói là (Nhu Đồng Bồ tát) phải tiến tu thêm ba trụ nữa,
tích đức cho đầy rộng thêm (là nghĩa làm sao?). Còn
tiến tu, căn bản là còn phải chuộng đến hoàn hảo; phải
tích đức là do sinh nơi cầu tìm được sang sông (qua bờ
Vô Vi). Còn ưa chuộng hoàn hảo tức là tính chấp thù hoặc
xả bỏ phải xuất hiện; còn cầu tìm sang sông là thất bại
hay thành công vẫn còn chờ đợi. Tức là còn lấy chấp thủ
hay xả bỏ làm tâm, thất bại hay thành công làm thể. Thế
mà ông lại nói là thể không còn bị các ấm xâm nhập, tâm
trí đã tịch diệt, văn nghĩa này trái ngược đến độ sai
thù nhau mà lại chỉ về Một Người, không khác nào là chỉ
về hướng Nam mà nói là phương Bắc để chỉ đường dẫn
lối cho kẻ lạc đường vậy(50).
14-
Động tịch
Vô
danh nói: Kinh Phóng Quang nói rằng Thánh nhân vô vi mà vô sở
bất vi. Vô vi, nên tuy động mà vẫn thường tịch mà thường
động nên vật không thể nào là một; tuy động mà thường
tịch nên vật không thể nào là hai. Vật không thể là hai
nên càng động thì càng tịch; vật không thể nào là một
nên
càng tịch thì càng động. Sở dĩ do đó mà vi tức là vô
vi. Động và tịch tuy thù biệt mà không thể nào có thể
là sai khác được.
Kinh
Đạo Hành Bát Nhã ghi rằng: “Tâm bất hữu cũng bất vô”.
Bất hữu, không phải như là cái hữu của hữu tâm; bất
vô, không phải như là cái vô của vô tâm. Vì sao? Hữu tâm,
tức là chúng sinh vạn vật đều hiện hữu; vô tâm tức chỉ
còn là thái hư. Vọng tưởng dứt thì vạn vật không còn;
thái hư tuyệt mất nơi linh chiếu. Làm sao mà ta có thể dùng
(hình ảnh) ngừng dứt nơi vọng tưởng, tuyệt mất nơi linh
chiếu để mà tiêu biểu cho đạo lý về Thần Khí, để mà
nói về Thánh Tâm cho được? Như thế, do vì Thánh Tâm bất
hữu, nên không thể gọi đó là vô; Thánh Tâm bất vô
nên không thể gọi đó là hữu. Bất hữu, nên tâm trí tư
tưởng đều diệt; bất vô nên lý tắc khế hợp. Lý tắc
không thể không khế hợp nên vạn đức đều biểu lộ; tâm
tưởng đều diệt nên (Thánh Tâm) thành công chẳng phải là
do nơi ta vậy.
Sở
dĩ do đó mà Thánh Tâm tuy ứng hóa vô phương mà chưa từng
là hữu vi; tịch nhiên bất động mà chưa từng là bất vi.
Kinh Ma Ha Bát Nhã nói: “Tâm vô sở hành, vô sở bất hành”.
Nên tin vào lời đó. Nhu Đồng Bồ tát nói: “Ta từ vô số
kiếp ngày xưa bố thí tài vật của nước ta, ngay cả đến
thân mệnh ta, cho vô số chúng sinh. Nhưng do vì ta bố thí với
tâm vọng tưởng, nên đấy không phải là bố thí. Nay do vô
sinh tâm mà cúng dường Đức Phật năm đóa hoa nên đấy mới
gọi là bố thí vậy”. Bồ tát Không Hành(51) khi nhập Không
Giải Thoát Môn(52), nói rằng đây chỉ là lúc hành đạo,
chưa phải là chứng được đạo rồi vậy. Như thế tất
tâm càng không hư thì càng rộng lớn; trọn ngày hành đạo
mà không trái ngược với điều vô hành, là vậy.
Cho
nên Hiền Kiếp kinh nói về hạnh đàn na (tức bố thí) vô
xả; kinh Thành Cụ ca ngợi hành động của bất vi; Tọa Thiền
Tam Muội kinh đề xướng hạnh từ bi của vô duyên; kinh Tư
Ích diễn đạt cái trí vô tri. Ý chỉ của Thánh nhân hư huyền,
nên tuy văn nghĩa sai thù mà cùng đồng một biện luận. Há
có thể vì văn nghĩa cho là hữu vi là ta vội phải cho đó
là hữu vi, cho là vô vi liền cho đó là vô vi hay sao? Bồ tát
(Duy Ma Cật) trụ nơi pháp môn bình đẳng, vốn diệt tận
và đồng thời không diệt tận (vạn hữu), không diệt tận
hữu vi cũng không trụ nơi vô vi; đấy là sự này vậy. Thế
nên dùng thí dụ về Nam Bắc (như ông nói ở trên) là sai
lầm, chẳng lĩnh hội được ý nghĩa tôi nói ở đây.
15-
Cùng nguyên
Hữu
danh nói: Nếu chẳng có chúng sinh thì lấy ai mà ngự cỡi
trên ba thừa? Chẳng có ba thừa thì lấy gì mà đạt được
Niết Bàn? Tất nhiên, trước tiên là phải có chúng sinh, sau
nữa phải có Niết Bàn. Như thế, tất Niết Bàn phải có
khởi điểm; có khởi điểm tất có chung cuộc. Thế mà kinh
Đại Bát Niết Bàn lại nói: “Niết Bàn vô thủy vô chung,
trạm nhiên như hư không”. Như thế, tất Niết Bàn phải
hiện hữu trước tiên; nên chẳng phải là ta phải học hỏi
về Niết Bàn lần nữa rồi sau mới có thể hiểu được
nó vậy.
16-
Thông cổ
Vô
danh nói: Chí nhân trống rỗng không hình tướng, nhưng vạn
vật không gì là không bị Ngã tạo nên. Trong khi thành hình
nên vạn vật như thế, Người tự tạo thành. Điều đó duy
chỉ có Thánh nhân là làm được mà thôi. Vì sao?
Chẳng
có Lý tắc thì không thể có Thánh nhân; chẳng có Thánh nhân
thì không thể có Lý tắc. Lý tắc tựu thành Thánh nhân; Thánh
nhân không sai dị Lý tắc. Cho nên Thiên đế nói: “Cần tìm
cầu Bát Nhã nơi đâu? Thiện Cát nói: Không thể trong sắc
tướng mà tìm Bát Nhã, cũng không xa lìa khỏi sắc tướng
mà tìm cầu Bát Nhã”. Lại nói(53): “Thấy duyên khởi là
thấy Pháp; thấy Pháp là thấy Phật”. Điều đó có nghĩa
là vật và Ngã không dị biệt theo hiệu lực vậy. Sở dĩ
do đó mà bậc Chí nhân che giấu huyền cơ khi trời đất chưa
có điềm triệu gì, tàng ẩn vận số u minh khi di động theo
biến hóa, ôm trọn lục hợp mà làm cảnh tâm, hợp nhất
quá khứ vị lai mà làm thành thể. Cổ và kim thông, thủy
và chung đồng, cùng bản cực mạt, không gì còn có thể là
hai. Hạo nhiên, khuôn trời đất rộng lớn này, gọi là Niết
Bàn vậy.
Kinh
Duy Ma Cật nói: “Không lìa các pháp mà đắc Niết Bàn”.
Lại nói (trong kinh Phóng Quang): “Vì các pháp vô biên nên
Bồ đề vô biên”. Thế đó, ta biết rằng đạo lý của
Niết Bàn tại nơi khế hợp vi diệu (với vạn hữu); đạt
đến tận khế hợp vi diệu thì căn bản là hợp nhất (Niết
Bàn và vạn hữu) cách u u minh minh. Tất nhiên theo đó thì
vật không khác Ngã, Ngã cũng không khác vật; vật và Ngã
đồng hội thông cách diệu huyền và cùng quy về vô cực.
Tiến đến trước, chẳng thấy đầu; thối ra sau, chẳng thấy
đuôi (của Bát Nhã) nơi đâu. Làm sao mà ông lại có thể
hạch hỏi về thủy chung của nó cho được? Cho nên Thiên
nữ (trong Duy Ma Cật kinh) hỏi (Xá Lợi Phất) rằng: “Trưởng
lão, giải thoát từ bao giờ vậy?” là vậy.
17-
Khảo đắc
Hữu
danh nói: Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Tánh của chúng sinh
cực hạn bên trong ngũ ấm”. Lại nói: “Người đạt đến
Niết Bàn thì ngũ ấm đều diệt tận, giống như ngọn đèn
tàn”. Như thế tất tánh của chúng sinh có thể diệt cấp
kỳ trong vòng ngũ ấm, và đạo lý của Niết Bàn kiến lập
bên ngoài tam hữu(54). Cả hai hoàn toàn thuộc hai cảnh giới
sai thù nhau, nên chẳng có chúng sinh nào có thể đạt được
Niết Bàn. Vì, nếu quả như có thể đạt được Niết Bàn,
tất tánh của chúng sinh không dừng nghỉ theo ngũ ấm. Nếu
ông cứ cho rằng tánh của chúng sinh quả dừng nghỉ theo ngũ
ấm thì ngũ ấm tất không hoàn toàn diệt tận. Bởi vì nếu
ngũ ấm đều diệt tận thì còn ai đây để mà đạt đến
Niết Bàn?
18-
Huyền đắc
Vô
danh nói: Chân đế hiện hữu là nơi xa lìa duyên khởi; tợ
phát sinh nhân vì chấp trước. Chấp trước nên (thấy) có
đắc; xa lìa cho nên là vô danh. Thế nên người cầu chân
(khi đạt được Chân rồi) tất đồng thể với Chân; người
nào xem pháp là tợ tất đồng thể với tợ. Nay ông cho Hữu
Đắc là đắc, nên ông cố cầu tìm hữu đắc; còn tôi cho
Vô Đắc là đắc cho nên đắc được (Niết Bàn) nơi vô đắc
vậy.
Vả,
khi đàm luận tất phải san định căn bản (của vấn đề)
trước tiên. Như thế, đã luận bàn về Niết Bàn, tất không
thể lìa khỏi Niết Bàn, mà nói về Niết Bàn được. Nếu
như nói về Niết Bàn là ta đang ở trong Niết Bàn thì ai độc
nhất chẳng phải ở trong Niết Bàn mà lại còn muốn cầu
đắc được Niết Bàn? Vì sao? Đạo lý Niết Bàn, diệu tận
thường số, dung trị trời đất, rửa sạch vạn hữu, quân
bình trời và người, đồng nhất những dị biệt. Trong đó,
nhìn mà không tự thấy mình; dội tiếng lại mà không nghe
mình nói; chưa từng là hữu đắc, chưa từng là vô đắc.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn nói: “Niết Bàn chẳng phải là chúng
sinh, cũng chẳng khác dị với chúng sinh”. Duy Ma Cật nói:
“Nếu Di Lặc đắc được diệt độ, thì tất cả chúng
sinh lại cũng đắc được diệt độ. Vì sao? Nhất thiết
chúng sinh, bản tánh thường diệt, nên không cần phải được
diệt độ lần nữa”. Điều này minh chứng rằng diệt độ
là tại nơi bọn người chưa diệt độ vậy. Như thế, nếu
chúng sinh chẳng phải là chúng sinh, thì ai là người đắc
được diệt độ? Niết Bàn chẳng phải là Niết Bàn thì
là cái gì có thể đắc được? Kinh Phóng Quang nói: “Có
thể dùng Hữu mà đắc được Niết Bàn không?”. (Đức Phật)
đáp rằng: “Không”. “Thế thì theo Vô mà đắc được
chăng? Đáp rằng: “Không”. “Như thế là nghĩa làm sao?”.
“Không có gì là sở đắc mới thật danh là đắc vậy”.
Như thế, tức là đắc vô sở đắc vậy. Vô sở đắc nên
gọi là đắc; nên ai mà không là như vậy?
Tất
nhiên, huyền đạo là tại nơi diệt tuyệt hết cảnh vực,
nên không đắc mà lại đắc được (Niết Bàn), diệu trì
tồn nơi bên ngoài vạn vật nên không tri mà là tri vậy. Đại
tượng ẩn nơi vô hình, nên không thấy nó mới là thấy;
đại thanh giấu trong im lặng, nên không nghe mới là nghe được
nó.
Cho
nên (Niết Bàn) có thể bao quát mọi quá khứ, dẫn đạo chúng
sinh vượt quá quần phương, ngăn chặn các độc đả thương
đến chúng sinh; thông suốt (vạn vật) mà không (để vật
nào) rơi lọt; sâu rộng như biển cả, có gì mà chẳng do
từ đó mà không thành được? Do đó, Phạm chí (trong kinh
Phật Thuyết Bá Dược Sư) nói: “Tôi nghe ý nghĩa đạo Phật,
thật rộng sâu như biển cả không bờ, không có gì mà đạo
Phật không tựu thành được, không chúng sinh nào mà không
đạt đến được”.
Thế
nên, nay tôi viết Luận Niết Bàn Vô Danh này là để khai lộ
cho ba thừa, biện lối về chân tợ, bảo tồn đạo lý của
Thánh nhân và hiển lộ chỗ đạt đến của Vô Danh vậy.
Chú
thích: PHẦN CHÁNH VĂN
1 Độc
giả để ý đến các điều học giả nghi ngờ rằng “Niết
Bàn Vô Danh luận” này không phải do chính Tăng Triệu sáng
tác. Một lý do quan trọng về nghi vấn này là văn thể và
dụng từ đều có khác biệt với các bản luận trước. Có
thể là chính Tăng Triệu thay đổi? Hay thật ra bản luận
này giả mạo? Ở đây, tác giả luận này (tạm cho là Tăng
Triệu) vì chủ trương Niết Bàn là Vô Danh nên tự xưng mình
là Vô Danh và gọi đối phương là Hữu Danh. Nguyên văn: Vô
Danh viết. Người dịch cứ tạm theo đấy mà dịch. Phần
phê phán xin dành cho độc giả.
2 Sopadhisesa
và Nirùpadhisesa.
3 Tức
Hán văn.
Hán
văn có đến ba danh từ dịch Nirvàna: Nê Viết , Nê Hoàn và
Niết Bàn, vì vào thời kỳ dịch giải kinh điển sơ thời
ở Trung Hoa, những cách dịch phiên âm này chưa được thống
nhất. Lại nữa, vì văn ngôn sử dụng nơi Trung Nguyên (gia)
và vùng biên cương (Sở, nơi còn bị xem là man rợ) không
đồng. Sau này, Niết Bàn được chính thức nhìn nhận. Tăng
Triệu và Huệ Viễn trước sử dụng phiên âm Nê Hoàn, sau
này, trong Duy Ma Cật sở thuyết kinh chú, Tăng Triệu lại dùng
Niết Bàn.
4 Huệ
Từ: Quân tử chi đạo hoặc xuất hoặc xử.
5 Hữu
tâm đối trị với vô tâm. Xem những phần trước, khi Tăng
Triệu bàn về tâm của Thánh nhân vốn vô tâm, tâm thế gian
là hữu tâm.
6 Lão
Tử, ch. 21. “Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt; hốt hềø
hoảng hề kỳ trung hữu tượng, hoảng hề hốt hề kỳ trung
hữu vật”.
7 Nhân,
thiên, tuệ, Bồ tát và Phật nhãn.
8 Nhân
và thiên nhĩ.
9 Lão
Tử, ch. 20. “Ngã ngu nhơn chi tâm dã tai, độn độn hề”
(Tuyệt học vô ưu).
10
Phổ Diệu kinh, q. 7. Đức Phật nhập thiền định bảy tuần
lễ dưới cội bồ đề tại thành Ma Kiệt Đà (Magadha) và
chỉ khi Phạm Thiên đến thỉnh cầu thuyết pháp cứu độ
chúng sinh mới xả thiền bắt đầu chuyển pháp luân.
Đại
Trí Độ luận, q. 7, Tùng Phật thổ nguyện thích phẩm 23,
cũng ghi: “Đắc đạo hậu ngũ thập thất nhập tịch bất
thuyết pháp”.
11
Tức Duy Ma Cật, Vimalakirti, nín lặng không trả lời câu hỏi
của Văn Thù về vấn đề làm sao đạt được Trung đạo.
12
Vaisali.
13
Bản Đại Tạng in lầm là ước, phải đọc là
tuyệt. Ma Ha Bát Nhã nói: “Tu Bồ Đề, xướng vô thuyết
dĩ thích đạo, Thích Phạm Thiên tuyệt thinh vũ hoa”.
14
Theo Nguyên Khương, trích Trung luận, Quán Niết Bàn phẩm, q.
25: “ Như Phật kinh trung thuyết, đoạn hữu đoạn phi
hữu, thị cố tri Niết Bàn, phi hữu diệc phi vô”.
15
Bốn bậc Vô Sắc Giới Thiền của Nam Thiền tông.
16
Lão Tử, ch. 25: “Thệ viết viễn, viễn viết phản”. Luật
phản phục của Lão Tử, đây chỉ cho Vô dư Niết Bàn.
17
Thần đạo, Hữu dư Niết Bàn.
18
Năng lực nhìn thấy ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai
của chúng sinh.
19
Lão Tử: Hữu danh vạn vật chi mẫu.
20
Lão Tử, ch. 13. “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả vi ngô hữu
thân, cập ngô vô thân ngô hữu hà hoạn?”.
21
Đại Trí Độ luận, ch. Đế Nghĩa: “Tích nhật hôi thân
diệt trí vi Vô dư Niết Bàn, kim nhật diệu hữu bất không”.
22
Tức Niết Bàn.
23
Đọc: ư hà khả danh; thay vì “ư hà bất danh”, như trong
Đại Tạng.
24
Trang Tử: “Đạo ẩn ư tiểu thành” với lời chú “tiểu
thành giả, vi nhân nghĩa ngũ đức”.
25
Thái tử Đoan Ứng Bản Khởi kinh.
26
Duy Ma kinh sớ có một câu hỏi tương tự: “Pháp thân giả
hư không thân dã; vô sinh nhi vô bất sinh, vô hình nhi vô bất
hình”.
27
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh; và trong Quang Tán Bát
Nhã kinh.
27b
Lão Tử: Cốc thần bất tử.
28
Chỉ Hóa thân Đức Phật, tức Đức Phật lịch sử Thích
Ca Cù Đàm khi Bát Niết Bàn.
28b
Thành Kusanagàra.
29
Tự tháp, makùtabandhana, nơi xá lợi Đức Phật được thờ.
Trủng Bản Thiện Long theo ý kiến Nguyên Khương đọc là thiên
quan, quan tài, như in trong Đại Tạng. Thực tế, dân Ấn Độ
không dùng quan tài chôn người chết mà chỉ hỏa táng.
30
Àkàsa, pratisamkhyànirodha, apratisamkhyànirodha.
31
Hệ từ: Âm dương bất trắc chi vị thần.
32
Hữu vô chi số. Ở đây, số đồng nghĩa với pháp, dharma.
Theo Phật giáo Ấn Độ, thế gian gồm có 80 hay 100 pháp. Theo
Dịch Kinh Trung Hoa, thế gian được hình dung bởi 54 quẻ.
33
6 căn, 6 trần và 6 cảnh thuộc Sắc giới.
34
Tức Tu Bồ Đề, Subhùti, trong Ma Ha Bát Nhã.
35
Triệu luận lược sớ của Đức Thanh đời Minh lại dẫn
chứng một đoạn khác trong Bảo Nữ Sở Vấn kinh, nhưng không
sát nghĩa. Thiên nữ này chắc chắn là người trả lời những
câu hỏi của Xá Lợi Phất trong phẩm 7 của kinh Tịnh Danh.
36
Ngã, chỉ cho Thánh nhân.
37
Trời, đất, đông, nam, tây, bắc là lục hợp.
38
Dịch Kinh, quẻ Thuyết Khuê.
39
Phóng Quang Bát Nhã kinh: “Vân hà thuyết ngôn, thị Tu đà
hoàn, thị A la hán, thị Bích chi Phật, thị Tam Da Tam Phật
hồ? Phật ngôn: thị giai nhân vô vi nhi hữu danh”.
40
Kinh Tự Tại Vương Bồ Tát.
Nguyên
Khương dẫn chứng cho là trong kinh Pháp Hoa, nhưng trong kinh
này chỉ là vấn đề thuộc Nhiên Đăng, chứ không phải thuộc
Nhu Đồng.
41
Thất Trụ địa, tức Sở Tác địa, krtavi.
42
Giai đoạn A la hán thiền.
42b
Chỉ cho phiền não, nghiệp của chúng sinh.
43
Ế, bệnh mắt bị màng mây che. Chỉ cho chúng sinh vô minh không
nhìn thấy được Niết Bàn.
44
Đạo Sanh nổi tiếng qua biện luận “lý bất khả phân”
đương thời.
45
Có thể không phải là trích dẫn trong kinh mà là trong luận
Tỳ Bà Sa.
46
Voi, ngựa và thỏ. Xem chú thích 18 cho Bát Nhã Vô Tri.
47
Tuyệt tợ tức chân. Một lý do khác cho ta thấy tác giả luận
này không phải là Tăng Triệu vốn đề xướng thuyết “tức
tợ tức chân”.
48
Tức Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Pùrna Maitràyaniputra.
49
Lão Tử, ch. 48. Vi học nhật tích, vi đạo nhật tổn.
50
Huệ Đạt trong Triệu luận sớ dẫn chứng Biện Tông luận
của Tạ Linh Vận, vốn dùng thí dụ về Nam Bắc để mà biện
giải Đốn Ngộ tông của Đạo Sanh. Thí dụ này sau được
Huệ Quán sử dụng và thay đổi. Trong nhân gian, tục ngữ
nói: Nam viên Bắc triệt, càng xe ở Nam mà bánh xe quay về
Bắc.
51
Đạo Hành Bát Nhã kinh.
52
Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, giải thoát môn, thuộc Câu Xá
tông: “sùnyatà, animitta, apranihita, vimoksammukhàni.
53
Kinh Đại Bát Niết Bàn, và trong Liễu Bản Sinh Tử kinh.
54
Nghiệp, Sắc và Vô Sắc Giới.