NIẾT
BÀN VÔ DANH LUẬN
Biểu
tấu Tần chúa Diêu Hưng.
Tăng
Triệu nói rằng:
Triệu
nghe Trời đạt đến nhất thể do nơi thanh tịnh, Đất đạt
đến nhất thể do yên nhiên, quân vương đạt đến nhất
thể do cai trị thiên hạ(1). Phủ phục trước sự sáng suốt
minh triết của bệ hạ, Triệu tôi nói Đạo đã hội ứng
với thần linh của bệ hạ, nên lý tắc không làm sao mà không
thông hợp, diệu khế như trung tâm chiếc kim hoàn(2). Thong
thả mà giải quyết vạn sựï(3), hoằng đạo trọn ngày,
uy đức bảo bọc trăm họ, văn chỉ của bệ hạ đã trở
thành luật tắc cho nhân gian. Do đó mà người xưa nói rằng(4),
vũ trụ có tứ đại, trong đó vương quyền là một.
Đạo
lý của Niết Bàn là chỗ hội quy của ba thừa, là uyên nguyên
của Phương Đẳng, là vùng nước xa tít, là sa mạc mênh mông,
là địa vức nơi dứt tuyệt mọi điều thấy nghe, u ẩn đến
hư huyền, hầu như chẳng phải là tình người có thể đo
lường tới được.
Triệu
tôi hèn mọn, lại mong ân đất nước được nhàn cư nơi
học tứ, làm môn hạ Thập Công hơn mười năm. Tuy kinh điển
học tập có nhiều đề mục thắng giải chớ không phải
chỉ có một, nhưng mà vấn đề Niết Bàn vẫn là quan trọng
bậc nhất (đối với học đồ ở đây). Tuy lấy điều dự
thính các công cuộc học tập làm đầu, nhưng vì Triệu tôi
tài hèn trí kém nên tuy được Thập Công tận tường dạy
dỗ mà lòng vẫn còn mang nặng mù mờ những hoài nghi. Vì
trí óc ngu muội không dừng, lại nữa, những hoài nghi này
tựa hồ như đã được liễu giải rồi nhưng vì chưa được
các kinh cao quyết xác cho, nên vẫn còn chưa dám tự quyết
là đúng.
Bất
hạnh Thập Công lại tạ thế nên không còn ai để mà tham
cứu học hỏi nữa, Triệu tôi lấy đó làm điều vĩnh viễn
cảm khái trong lòng. Thế nhưng thánh đức của bệ hạ không
cô độc, vì thần khí đã cùng Thập Công khế hợp. Chính
mắt Triệu tôi trông thấy Đạo được bệ hạ và Thập Công
tồn trì, tấc lòng thật tận cùng khoái lạc, nên càng phấn
chấn học đòi huyền phong để mở cửa Pháp cho đời mạt
thế.
Một
ngày, mong ân được xem thư của bệ hạ gởi cho (hoàng đệ
là) An Thành hầu Diêu Tung(5), trả lời về tông chỉ của
Vô Vi(6). (Thế nào là Vô Vi?). Bệ hạ đáp rằng: “Sở dĩ
chúng sinh từ bao lâu vẫn lưu chuyển trong vòng sinh tử là
vì cứ mãi đắm trước nơi ái dục. Nếu mà tâm đình chỉ
dục vọng thì không còn lẫn lộn nơi sinh tử nữa. Không
còn sinh tử, ẩn giấu tinh thần nơi huyền mặc, khế hợp
cùng cái Đức của hư không, đấy gọi là Niết Bàn vậy.
Đã là Niết Bàn thì làm sao mà còn có thể dung chứa được
vật hữu danh bên trong?”.
Những
lời này quả là đã đạt đến tận cùng cái mỹ lệ vi tế
của chúng, đàm luận đến cực đoan vượt ngoài hình tướng
vậy. Như tự bệ hạ, đạo pháp chưa tham cứu đến Văn Thù,
đức chẳng sánh bằng Di Lặc, thì làm sao mà có thể tuyên
dương huyền đạo, tự làm thành hào cho Phật pháp được?
Làm sao mà có thể sử đại giáo vốn đã cuộn lại rồi
nay lại được trải ra lại(7), để mà hiển dương ý chỉ
u huyền vốn đã bị luân lạc? Triệu tôi ân cần ngoạn thưởng
nghĩa văn, không thể lìa thư khỏi tay dầu trong chốc lát.
Hân hoan, tỏ ngộ, lòng mang mang phơi phới, múa may phấn khởi,
chẳng lúc nào nhàm. Há đấy chẳng những là bánh xe thanh
thắng cho đương thời mà cả là bờ bến cho bao nhiêu kiếp
về sau nữa hay sao?
Ý
chỉ của thánh vương uyên thâm huyền nhiệm, lý luận vi tế,
văn ngôn giảm ước, khả dĩ tài giỏi hơn người đi trước,
bạt tụy cao sĩ; Triệu tôi chỉ sợ rằng bọn người câu
chấp vào văn từ chưa thể nào tận tường thông hiểu ý
nghĩa mà bệ hạ đề khởi được. Cho nên Triệu tôi xin phỏng
theo Khổng Tử khi sáng tác nên chương Thận Dực trong Dịch
Kinh, không tham cầu nơi câu văn phong phú mà chỉ lo toan đến
việc hoằng hiểu ý chỉ u huyền của kinh điển, tự chuyên
viết nên “Niết Bàn Vô Danh luận” này.
Luật
gồm chín điều bác bỏ và mười phần điều giải, biện
luận quảng bác theo các kinh để dẫn chứng và thí dụ. Lấy
điều ngưỡng ước đến chỗ cùng cực về Vô Danh của bệ
hạ, nào dám đâu gọi luận này là diễn đạt thần tâm hay
là nghiên cứu đến tận cùng tư tưởng xa vời của bệ hạ.
Vậy nên chỉ dám lấy điều định giải biện nghị Bát Nhã
huyền môn để diễn thích cho Tăng chúng nơi học tứ mà thôi.
Cuối
chương bản luận của bệ hạ nói: “Tất cả các học phái
đồng ý thông qua rằng, Đệ Nhất Nghĩa Đế bao la, yên nhiên,
không hư, tịch tĩnh, không hiện hữu Thánh nhân. Tôi thường
cho đấy là quá sức trực tiếp, không gần được với nhân
tình. Nếu như không Thánh nhân thì ai là người biết rằng
có cái Vô?(8)”. Thật như chiếu văn sáng suốt của bệ hạ
nói như thế, quả thật như thế. Đạo vốn hoảng hốt, yểu
minh, nhưng nội tại hiện hữu tinh thần. Nếu như không Thánh
nhân, thì ai cùng Đạo tụ họp? Các học đồ ngày nay, chẳng
thể khônog trù trừ trước ngưỡng cửa Đạo mà tấm tức
về ý chỉ của vấn đề Niết Bàn này. Hoài nghi trọn ngày
mà chẳng có ai để mà xác chính cho. Hữu hạnh tình cờ được
lời phán quyết cao siêu của bệ hạ, tông đồ nhờ đó mà
được y nhiên. Học đồ vốn đứng gõ cửa Đạo, nay được
hăm hở xông vào huyền thất. Đấy quả thật có thể gọi
là Pháp luân lại tái chuyển nơi cõi Diêm Phù(9) và ánh sáng
của Đạo pháp lại rực rỡ thêm qua ngàn muôn kiếp nữa.
Nay
xin diễn thích ý chỉ của luận do bệ hạ sáng tác, biện
giải khúc chiết về Thể của Niết Bàn mà bệ hạ cho là
Vô Danh, và yên bài lần cuối cuộc đàm luận về ý chỉ
bao la, yên nhiên của Niết Bàn như sau:
Kính
cẩn trình lên bệ hạ, như bài này tham giải thánh chỉ được
chút nào, thì mong bệ hạ sắc dạy cho được tồn ký. Như
có điều sai lạc, xin bệ hạ chỉ điểm thêm cho.
Tăng
Triệu viết:
Nê
Viết, Nê Hoàn, Niết Bàn, ba danh từ này lần lượt xuất
hiện, do vì văn ngôn sử dụng nơi Trung nguyên và nơi biên
cương(10) không đồng. Nay gọi Niết Bàn, là phiên âm đúng
nhất vậy.
Chú
thích: PHẦN DẪN NHẬP
1 Lão
Tử, ch. 39. “Thiên đắc nhứt dĩ thanh, địa đắc nhứt dĩ
ninh, thần đắc nhứt dĩ linh, cốc đắc nhứt dĩ doanh, vạn
vật đắc nhứt dĩ sinh, hầu vương đắc nhứt dĩ vi thiên
hạ trinh; kỳ trí chi”.
2 Trang
Tử, ch. Tề Vật luận. “Xử thủy đắc hoàn trung, dĩ ứng
vô cùng”.
3 Trang
Tử, “du nhận vạn cô”.
4 Lão
Tử, ch. 25. “Vực trung hữu tứ đại, nhi vương cư kỳ nhứt
yên”.
5 Thư
đáp của Diêu Hưng này viết sau khi Thập Công ngã bệnh năm
409 và trước khi Công tịch năm 413. Diêu Tung, bào đệ của
nhà vua, được nhắc đến trong tiểu sử của La Thập như
là một tín đồ hăng say truyền bá đạo Phật, chức là Đại
Tần Tư Lệ Giáo Úy Tả Tướng Quân, và được phong làm Giám
sát quan nơi học tứ cho đến năm 410. Năm 417 tử trận.
Quảng
Hoằng Minh tập ghi lại ý chỉ của các thư vấn đáp như
sau:
a.
Thư của Diêu Hưng viết cho bào đệ, ghi là có viết thư hỏi
La Thập về vấn đề tam thế (traikalya), nêu lên bốn điểm
thắc mắc: Bát Nhã, Hóa thân Phật, Tam thế và Niết Bàn.
b.
Thư đáp của Diêu Tung.
c.
Thư thứ hai của Diêu Hưng mà Tăng Triệu kể ở nơi luận
này.
d.
Thư đáp của Diêu Tung.
e.
Thư đáp của Diêu Hưng.
6 Độc
giả cần để ý là Vô Vi trong bản luận này đồng nghĩa
với Niết Bàn. Xem phần đầu bản chánh văn, khi Tăng Triệu
định nghĩa các danh từ về ý nghĩa Niết Bàn.
7 “Sử
phù đại giáo quyến nhi phục thư”, Tăng Triệu dùng hình
ảnh tượng trưng giáo lý vốn được ghi chép trên lối quyển
sách của Trung Hoa, cuộn tròn lại để chỉ cho cảnh Phật
điển không được ai mở ra đọc đến, cứ phải bị cuộn
tròn cho đến khi Diêu Hưng trải sách ra để mà truyền pháp.
8 Dụ
Nghị luận của Tuệ Duệ (tức Tăng Duệ, mất năm 439): “Mỗi
chí khổ vấn: Phật chi chân chủ diệc phục hư vọng. Phật
nhược hư vọng, thùy vi chân giả. Nhược thị hư vọng, tích
công lũy đức, thùy vị kỳ chủ?”. Mỗi chí khổ vấn: Chỉ
cho việc mỗi kỳ học tập, Thập công đều bị các Tăng
đồ vấn nạn.
9 Diêm
Phù Đề, Jambudvipa, chỉ cho Ấn Độ hay là cõi trần gian nơi
Phật pháp được truyền bá.
10
Xem chú thích phần chánh văn về Niết Bàn, mục số 3.