ĐÁP
LƯU DI DÂN THƯ
Từ
trước đến nay không cùng nhau gặp mặt, lòng thật tưởng
nhớ vô cùng. Nay nhờ đạo nhân Tuệ Minh đến mới nhận
được thư của đại nhân, viết vào tháng chạp năm ngoái
và những câu hỏi. Đọc đi đọc lại mãi, thật hân hoan
như là thực sự được đối diện với đại nhân. Trời
thu gió lạnh, sức khỏe dạo này ra sao? Bần đạo bệnh cũ
vẫn còn, thường không được khỏe. Người đưa tin phải
trở lại phương Nam nên thư này viết vội không tường tận
được.
Tháng
tám ngày rằm(1), Thích Tăng Triệu trân trọng đáp thư rằng:
Tuy
y phục chúng ta có sai khác(2) mà diệu lý về đạo pháp vẫn
không hai. Mặc dầu giang san cách trở nhưng một khi chân lý
mà ta tri ngộ được khế hợp thì cũng như là kề cận bên
nhau. Cho nên tất cả lòng hoài niệm đều gởi theo ngưỡng
vọng đến tâm tưởng về đại nhân.
Quân
đã toại chí (lui về Lô Sơn) quy ẩn, tiêu việt mọi mỹ
lệ thế tục, độc một mình điềm nhiên vượt ngoài vạn
sự, thật đáng tán thán nếp sống đạo đức di mãn của
đại nhân. Mỗi một lời của quân trong thư, bần đạo luôn
luôn ghi nhớ không bỏ. Thư quân ví như lời nhã vịnh của
Trúc Lâm thất hiền, cao tận du nhiên. Mong rằng đời sống
thanh tịnh không bị quấy rối và xin tự bảo trọng thân
tâm. Mỗi khi có người đưa tin đến, bần đạo đều có
lời thăm hỏi về sức khỏe của quân. Nguyện rằng các tăng
nhân ở Lô Sơn vô bệnh, người tu cũng như cư sĩ đều an
hảo. Được tin Huệ Viễn pháp sư vẫn thắng thường, lòng
này thật hoan hỷ vô cùng. Tuy bần đạo chưa đạt đến được
cuộc sống thanh tịnh như của người, nhưng lòng vẫn hằng
khâm phục con đường tu cao cả đó, ân cần mong mỏi rằng
người luôn luôn được như vậy. Huệ Công tuy đã quá lục
tuần mà thanh khí vẫn trạm nhiên, đầy đủ sức khỏe, dạy
dỗ Tăng chúng trên dãy núi cao u nhã, lòng hợp nhất như cái
lặng lẽ trống không của hang cốc, xa gần đều ngưỡng
vọng, còn gì đẹp bằng? Kiễng chân tưởng ngóng về phương
trời của người, nhưng trời cao bờ thẳm đều bị giăng
che. Không thể tả hết nỗi kính trọng này, lòng thật khôn
xiết bùi ngùi. Quân đã sống cuộc đời thanh tịnh trọn
ngày với người, quyết nhiên là đã hoan hỷ về tâm ngộ
đạt của mình.
Đại
chúng ở Trường An đây vẫn bình thường. La Thập pháp sư
luôn an hảo. Lòng mộ đạo của Tần vương là bản tính tự
nhiên, căn cơ thiên bẩm vượt người. Vương là thành trì
của Tam bảo, tự cho hoằng đạo là nhiệm vụ của mình.
Do lẽ đó mà khiến nhiều vị tăng sư tài giỏi nước người,
từ phương xa cũng tìm đến. Phong khí của Linh Thứu(3) như
là sinh động tại nơi đây khiến cho đất nước này thêm
nhiều lợi ích.
Chi
Pháp Linh(4) viễn du phương xa để làm bờ bến cho đạo pháp
ngàn đời sau. Từ Tây Vực về, mang theo hơn hai trăm bộ kinh
Phương Đẳng (Đại thừa) mới(5), và thỉnh được một vị
thiền sư Đại thừa(6), một vị Tam Tạng pháp sư(7), hai vị
pháp sư Tỳ Bà Sa(8). La Thập pháp sư tại Đại Thạch tự
khởi dịch các kinh vừa được mang về. Pháp tạng thật uyên
nguyên, càng ngày càng tìm thấy nhiều văn nghĩa khác biệt
thêm.
Thiền
sư Pháp Hiền nơi Ngõa Quan tự dạy phép tu thiền, môn đồ
có hơn trăm người, ngày đêm không dám giải đãi, thật đạo
mạo và thâm trầm. Thật đáng hoan lạc. Tam Tạng pháp sư
Phật Đà Da Xá lo dịch Luật tạng, Tứ Phần luật, nơi Trung
tự; bản mạt thật tinh tường như là tự nhìn thấy Luật
đầu tiên được Đức Phật chế ra(9). Hai vị pháp sư Tỳ
Bà Sa trụ nơi Thạch Dương tự, ghi chép bộ Xá Lợi Phất
A Tỳ Đàm luận(10) bằng Phạn ngữ ra giấy. Tuy là chưa khởi
dịch sang Hán văn, nhưng nếu có hỏi về ý chỉ của luận
này thì sẽ nghe được nhiều việc tân kỳ.
Bần
đạo một đời được tham gia công cuộc dịch thuật này
quả là gặp nhiều nhân duyên may mắn; chỉ hận một điều
là không được chính mắt nhìn thấy tập đoàn Tăng già của
Đức Phật Thích Ca tại Kỳ Hoàn viên(11) mà thôi. Lại không
còn hận nào khác ngoại trừ lòng cảm khái không được cùng
chư thanh thắng quân tử nơi Lô Sơn đồng tập họp chung một
nơi trong đạo pháp.
Đạo
Sanh thượng nhân trụ nơi đây đã được vài năm, khi nào
có dịp bàn luận thường cùng nhau xưng tán đại nhân. Rồi
người bỏ về phương Nam, cùng quân đã cùng nhau tương kiến.
Chưa được thư nào của người, thật không lời nào tả
hết nỗi buồn nhớ này.
Uy
đạo nhân đến, tiếp được bài Vịnh niệm Phật tam muội
của quân, và bài Vịnh tam muội của Huệ Viễn pháp sư cùng
với bài tựï(12). Các sĩ phu học giới đều xưng tán nét
mỹ lệ của các tác phẩm này, hứng thú đã cao diệu kỳ
thú mà văn tự lại càng thanh thoát uyển chuyển, có thể
gọi đấy là mình chứng của nhị vị đã bước vào ngưỡng
cửa của Thánh đạo, gảy đàn mà ca nơi cổng đó vậy. Quân
cùng Huệ Viễn pháp sư chắc chắn là có tạo tác nhiều bản
văn khác, sao lại chỉ gởi cho bần đạo có ít như vậy?
La
Thập pháp sư, trong năm Ngọ (406), dịch Duy Ma kinh(13). Bần
đạo được tham dự luôn, trong những lúc nhàn rỗi, ghi chép
lại tất cả những lời Thập công dạy để mà chú giải.
Tuy dụng từ không thành văn nhưng ý nghĩa đều lập cước
có căn bản. Nay nhân thư này gởi một bản xuôi về Nam đến
đại nhân, khi nào nhàn hạ, mong đại nhân đọc thử qua về
phê bình cho.
Câu
hỏi của đạo hữu thật uyển chuyển và thiết thực, nạn
vấn như là người đất Dĩnh(14). Tư tưởng của bần đạo
không được vi tế, chỉ vì quá vụng về khi hạ bút thành
văn. Hơn nữa, đạt đến cuối đường rồi thì vô ngôn,
nếu còn nói thì là vẫn còn đang đi(15). Nói, nói hoài không
thôi, mà có biện giải được gì đâu? Tuy nhiên, bần đạo
phải nương vào lời nói ngông cuồng của mình để mà giải
thích rõ ràng ý chỉ các nạn vấn của đạo hữu.
Thư
bàn rằng: “Thánh Tâm minh nhiên tịch tĩnh, cả lý tắc và
cực đoan đều không”, “tuy trong thế gian, vạn vật đều
phải có danh, nhưng mà lại cùng vô danh không khác”. Huyền
nhiệm của nghĩa lý này, đạo hữu tự cho là còn chưa hiểu
rõ. Nếu quả điều này khiến cho đạo hữu lo nghĩ, thì nên
bỏ qua danh ngôn(16) đi để mà đạt tới ý chỉ nội tại,
định tâm dần dần về nó. Hơn nữa, sao đạo hữu lại dụng
điều vốn bị nhân tình phân biệt mà cầu tìm cái dị biệt
của Thánh Tâm?
Thư
nói rằng: Quý vị trên Lô Sơn bàn luận về “cùng linh, cực
số, diệu tận, minh phù”, cho rằng đây là danh gọi khác
đi của tịch chiếu(17), nên kết luận rằng đây là thể
của định tuệ. Còn nếu như “tâm thể tự nhiên, linh bạc,
độc cảm”, tất làm cho sự hội ứng với các số cơ hồ
phải dứt tuyệt.
Ý
bần đạo thì “diệu tận minh phù” không thể lấy Định-Tuệ
làm danh, “linh bạc độc cảm” không thể bị gọi là làm
dứt tuyệt các số. Hai lời tuy khác, mà diệu dụng của chúng
luôn vẫn là một. Dấu tích và người để lại dấu tích
đoù(18) tuy trái ngược nhưng đối với Thánh nhân thì vẫn
không sai khác. Vì sao? Thánh nhân làm tâm trở nên huyền nhiệm
để mà chiếu sáng cách trầm mặc; lý tắc và cực đoan của
tâm đồng vô. Đã gọi là đồng, tất cùng đồng vô mà không
cực đoan. Làm sao mà cực đoan của đồng vô lại là danh
gọi của Định-Tuệ được? Danh gọi cho Định-Tuệ chẳng
phải do vì đồng ở bên ngoài mà gọi như vậy đâu. Nói
là chúng đồng ở bên trong, tất phải có điều bị gọi
là chẳng đồng. Nếu gọi là chúng đồng ở bên ngoài, tức
gọi là Phi Ngã vậy. Lại nữa, tâm của Thánh nhân không hư,
vi tế, diệu tuyệt cảnh giới vô thường này(19), không có
gì không cảm ứng, không gì không hội thông. Động cơ u minh,
vận hành tiềm ẩn, mà cái dụng của tâm vẫn bất đồng,
có hành động nào mà có thể làm cho hội ứng của các số
phải dứt tuyệt?
Ngoài
ra, thế nào là hiện hữu của tâm? Nếu cho rằng hiện hữu
của Tâm là có, tất cái Có này không phải tự có, cho nên
Thánh Tâm không hiện hữu cái Có đó. Không hiện hữu cái
có, cho nên hiện hữu cái Vô Hữu. Cái Vô Hữu này Có, nên
không Vô. Không Vô, nên Thánh nhân bất hữu bất vô. Bất
hữu bất vô, mà thần khí của người vẫn không hư. Vì sao?
Hữu, Vô, đấy chỉ là phản ảnh và âm hưởng của tâm mà
thôi. Mà ngôn từ và hình tướng lại là sở duyên duyên của
phản ảnh và âm hưởng đó vậy. Hữu-Vô nếu đã bị phế
bỏ, tất tâm không còn bị ảnh hưởng. Ảnh hưởng đã lặng
yên tất ngôn từ hình tướng không thể đo lường được.
Ngôn từ hình tướng không thể đo lường được tâm, tất
đạo tuyệt quần phương(20). Đạo tuyệt quần phương nên
tâm đủ năng lực để cùng linh cực số. Vì cùng linh cực
số, nên lại gọi là diệu tận. Đạo lý của diệu tận,
căn bản vốn không truyền đạt. Không truyền đạt, nên (Thánh
nhân) ngự tại nơi minh tịch(21). Minh nhiên đã dứt tuyệt
cho nên không hư nhờ đó mà thông qua. Diệu tận vốn tồn
tại nơi cực số, nên số nhờ đó mà hội ứng. Số nhờ
đó mà hội ứng nên Thánh nhân di động để hội ứng với
vạn sự. Không hư nhờ đó mà thông qua cho nên Đạo siêu
việt mọi danh gọi. Đạo siêu danh ngoại, nhân đó mà gọi
là vô; nhân di động để hội ứng với vạn sự nên gọi
là hữu. Nhân đó gọi là hữu, nên cho là Chân Hữu, cưỡng
mà gọi như vậy. Thật ra, làm sao mà có thể như vậy được?
Bởi
vì kinh nói(22): “Thánh trí không biết mà không gì không biết,
không làm mà không gì là không làm”. Đấy là lý tắc tịch
diệt, vô ngôn vô tướng (của vạn vật). Chứ phải đâu
là hễ nói hữu thì quyết chắc đấy là có, vô thì là không,
động là trái ngược với tịnh, tịnh là phế bỏ cái dụng
hoạt động đâu?
Nhưng
nay quý vị đàm luận, phần đông lại dựa trên ngôn từ,
ngó khắp vũ trụ vô tận để mà tìm kiếm góc cạnh của
bầu trời(23); nhớ lại tiềm thức, cho đó là biểu tượng
huyền diệu; bảo tồn điều được bảo tồn tất cho đó
là phải đương nhiên như thế. Cho nên khi nghe là Thánh nhân
có biết thì vội cho là Thánh nhân hữu tâm; nghe là Thánh
nhân không biết thì vội cho Thánh nhân là đại hư, không
biết gì hết. Cho là có Hữu-Vô, là vì thiên kiến, chứ Trung
đạo làm gì có hai cực đoan? Vì sao? Vạn vật tuy sai thù,
mà bản tính vẫn luôn là một. Ta không thể cho đấy là vật,
cũng chẳng phải là không phải vật(24). Có thể cho vật là
vật, tất danh gọi và hình tướng của vật phải sai biệt
nhau. Không thể gọi vật là vật, tất vật là chân thật
như vậy. Thế nên Thánh nhân không cho vật là vật, cũng không
cho vật là chẳng phải vật. Không cho vật là vật, thì vật
quả là phi hữu; không cho vật là chẳng phải vật, thì vật
quả là phi vô(25). Phi hữu nên sở dĩ do đó mà không thủ;
phi vô, nên sở dĩ mà không xả. Không xả, nên vẫn bảo tồn
cái chân thật của vật cách kỳ diệu; không thủ, nên tất
cả danh tướng đều tùy thuận theo nhân duyên. Danh tướng
tùy thuận theo nhân duyên nên chẳng phải là hữu tri; diệu
tồn cái chân thật của vật, nên chẳng phải là vô tri.
Do
đó mà kinh nói: “Bát Nhã, nơi các pháp, không thủ, không
xả, không biết, không không biết”. Ngoại tại của nhân
duyên hữu và vô này là cảnh vực nơi mà tâm dứt tuyệt
hết mọi chấp thủ hay xả bỏ. Nay quý vị lại muốn dùng
cực đoan hữu-vô để mà cật vấn rằng Thánh Tâm có biết
hay không, chẳng là xa vời với chân lý quá hay sao?
Thỉnh
quý vị cật vấn về hữu-vô này hãy nghe bần đạo trần
thuyết. Trí sinh khởi, ở đâu, nếu chẳng là ở trong nơi
hình tướng? Pháp bản lai không có hình tướng, nên Thánh
trí lấy gì mà biết? Điều mà thế tục cho là vô tri, là
để chỉ cho cây cỏ, đá sạn, hư không, những vật vô tình.
Còn Thánh trí là tấm gương linh diệu, là ngọn đèn u huyền,
thành hình khi triệu chứng hình tướng chưa sinh khởi, khi
mà Đạo lý không có ẩn cơ, thì làm sao mà ta có thể cho
Thánh trí là vô tri được? Lại nữa, vô tri sinh nơi hữu
tri, tức là không vô tri rồi. Còn như vô tri sinh nơi vô tri,
tức là không hữu tri rồi(26). Không hữu tri, gọi đấy là
phi hữu; không vô tri, gọi đấy là phi vô. Do đó mà tuy Thánh
trí hư mà vẫn không mất chiếu, chiếu mà vẫn không mất
hư; lẵng bặt, y nhiên, mà vĩnh viễn tịch tĩnh, không câu
không chấp. Ai mà dám cho rằng hễ động là hữu, hễ tịnh
là vô?
Thế
nên Kinh nói: “Chân Bát Nhã, chẳng phải hữu cũng chẳng
phải vô, không khởi nên không diệt”. Ý chỉ đó, không
thể thuyết minh cho người tầm thường được. Vì sao? (Bần
đạo) nói rằng Bát Nhã “phi hữu” là ý muốn nói Bát Nhã
“chẳng phải là hữu”, chứ chẳng phải là ý muốn nói
Bát Nhã “là chẳng hữu” đâu. Nói rằng “phi vô” là
ý muốn nói Bát Nhã “chẳng phải là vô”, chứ không ý
muốn nói Bát Nhã “là chẳng vô” đâu. Chẳng phải có,
chẳng phải chẳng có, chẳng phải vô, chẳng phải chẳng
vô, cho nên Tu Bồ Đề trọn ngày thuyết về Bát Nhã mà lại
nói rằng không có gì được thuyết cả. Đấy là Đạo lý
tuyệt ngôn, biết lấy gì mà truyền đạt bây giờ? Quý vị
đã tham cứu huyền học, chắc hẳn lĩnh hội được điều
này.
Lại
nữa, đạo hữu nói: “Trước tiên phải xác định điều
sở dĩ hội ứng của Thánh Tâm, rằng có phải chăng tâm duy
chỉ minh chiếu cách vô tướng, hay là có phải chăng tâm nhìn
thấy tất cả những biến hóa ngoại tại”. Quý vị đàm
luận như vậy tựa hồ như muốn nói rằng ý chỉ vô tướng
và biến hóa không phải Một: rằng vì thấy có biến hóa
nên tâm phải khác biệt với vô tướng; rằng nếu chỉ minh
chiếu cách vô tướng thì tâm phải bị đánh mất nơi điều
hội ứng không bị sinh khởi lên. Nếu quý vị nghĩ như vậy
tức là quý vị nghi ngờ rằng nghĩa của Tức Tợ Tức Chân
có điều trì trệ.
Kinh
nói(27): “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức
thị không, không tức thị sắc”. Luận về ý chỉ của Đức
Như Lai, khi ta quán về Sắc và Không, nếu mà nhất tâm quán
sắc rồi, lại nhất tâm quán không, thì khi nhất tâm quán
Sắc, tất duy chỉ thấy Sắc là chẳng phải Không; khi nhất
tâm quán Không, tất duy chỉ thấy Không, chẳng thấy Sắc.
Nếu quả nhiên như vậy thì quý vị cho là Không và Sắc là
hai điều khác nhau, làm sao mà quý vị có thể xác định được
bản ý của kinh cho được? Thế nên, khi kinh nói “phi sắc”
là ý nói nơi phi sắc thì thái hư tất phải phi sắc; như
vậy phi sắc làm sao mà có thể được minh giải? Còn nếu
như ta cho phi sắc nơi sắc, tất nhiên phi sắc không khác với
sắc. Phi sắc không khác sắc, thì sắc tức là phi sắc(28).
Như thế, ta biết rằng Biến Hóa tức là Vô Tướng, Vô Tướng
tức là Biến Hóa. Chỉ vì tính tình của con người không
đồng cho nên dấu tích của giáo lý phải có điều dị biệt
vậy thôi.
Nếu
ta khảo cứu kinh điển Huyền học mà tìm bản ý của Thánh
nhân, thì ta há lại còn cho rằng Chân và Tợ sai thù với
Tâm, rằng không có khác biệt với Chiếu nữa hay sao? Thế
nên, khi minh chiếu cách vô tướng, Thánh Tâm vẫn không đánh
mất công năng khơi dậy lên điều hội ứng; tuy thấy có
biến động mà không làm sai lạc ý chỉ của vô tướng. Thánh
Tâm(29) tạo nên hữu không khác vô, tạo nên vô không khác
hữu; chưa từng là bất hữu, chưa từng là bất vô; cho nên
viết là Đức Như Lai bất động mà kiến lập nên các pháp.
Nhân đó mà tìm hiểu, thì thể và dụng có gì mà trở ngại
với nhau được đâu? Như thế đó, làm sao mà ta có thể cho
rằng cái biết của Thánh nhân khi nhìn thấy biến động là
khác biệt với sự minh chiếu của vô tướng được?
Bần
đạo sợ rằng khi quý vị đàm luận về hai tâm Không và
Hữu, vì quý vị thấy có cái dụng sai thù giữa tịnh và
động, nên cho rằng Thánh nhân có biết khi nhìn thấy biến
động, và (quý vị kết luận rằng) không thể gọi Thánh
Tâm khi đó là bất hữu được. Nếu như quý vị có thể
xả bỏ được cái tâm nội tại cố chấp của mình để
mà tầm cầu huyền cơ nơi sự vật bên ngoài, thì quý vị
sẽ thấy rằng tất cả vạn hữu đều hội nơi Nhất Hư,
và sẽ hiểu rằng cái Chí Hư này là phi vô. Thì quý vị sẽ
phải nhìn nhận rằng bậc Chí Nhân trọn ngày hội ứng cùng
với vạn vật, thôi thúc, di chuyển, ngự cỡi trên vận khí,
khơi dậy biến hóa, mà từ nguyên thủy vẫn chưa từng là
hữu vậy. Nếu Thánh Tâm được như thế, thì có Hữu nào
có thể bị chấp thủ đâu, sao quý vị lại trách bần đạo
là chưa giải thích nghĩa lý của bất thủ?
Đạo
hữu lại bàn về Vô Thị, cho đến điều sở dĩ là Chân
Thị, và về Vô Đương, cho đến điều sở dĩ là Chí Đương,
và lại hỏi có thể đấy là chỉ cho Như Lai không?
Nếu
như đạo hữu có thể vô tâm nơi điều gọi là Thị vốn
ở nơi Vô Thị, vô tâm nơi điều gọi là Đương vốn ở
nơi Vô Đương, thì đạo hữu sẽ hiểu rằng, trọn ngày Thị
không trái ngược với Vô Thị, trọn ngày Đương không trái
ngược với Vô Đương. Bần đạo chỉ sợ rằng, chỉ vì
đạo hữu thấy Hữu Thị nơi Vô Thị, Hữu Đương nơi Vô
Đương cho nên đạo hữu mới bị bận trí như kể trong thư.
Vì sao?
Nếu
quả Chân Thị có thể thị, Chí Đương có thể đương, tất
danh tướng thành hình mà sinh có đẹp có xấu, rồi lại sinh
có bôn ba tranh đoạt; ai có thể ngưng dứt sự chấp trì vào
danh tướng đó được? Cho nên, Thánh nhân thông quá hết mọi
điều ôm ấp trong lòng, vô thức vô tri, nên tuy ở nơi địa
vực của động biến mà đã tịnh chỉ nơi vô vi, ngự nơi
cảnh hữu sinh mà dứt tuyệt hết mọi ảnh hưởng của ngôn
từ. Tịch liêu hư khoáng, ta chẳng thể nào dùng hình danh
sắc tướng mà đạt đến Người được. Chỉ có vậy mà
thôi.
Đạo
hữu lại trách bần đạo chưa giải nghĩa rõ ràng ý nghĩa
Chân Thị có thể thị, Chí Đương có thể đương. Bần đạo
lo rằng đạo hữu có thể gọi vạn vật là đương nhiên,
còn đối với vật vốn tự bất nhiên, thì làm sao mà đạo
hữu có thể gọi là đương nhiên cho được?
Lắm
ngôn từ sinh nhiều biện giải, cũng như nhiều dấu chân gây
nên các nẻo đường sai khác nhau. Nhưng bên trong điều có
thể nói lên được lại có điều không thể dùng đến ngôn
từ; đã có dấu tích tất có điều không thể để lại dấu
tích. Cho nên người thiện ngôn về ngôn từ cầu tìm ngôn
từ nơi điều không thể nói được nên bằng ngôn từ; kẻ
thiện tích về dấu tích tìm kiếm dấu tích nơi điều không
thể để lại dấu tích. Lý tắc siêu tuyệt vốn hư huyền;
ai vừa chấp tâm vào đấy là đã sai lạc rồi, hà huống
là lên tiếng nói.
Ý
nghĩa này xin chuyển đến quý vị nơi phương xa, mong rằng
chư quân tử với tâm thông đạt, có thể chỉ giúp thêm cho
những gì chưa đề cập đến trong thư này.
Chú
thích:
1 Năm
410.
2 Lưu
Di Dân không xuất gia làm Tăng mà chỉ là học giả cư sĩ.
3 Linh
Thứu, grddhakùta, nơi Đức Phật thường thuyết pháp, đây
chỉ cho sinh hoạt Phật giáo nói chung.
4 Chi
Pháp Linh, đệ tử Pháp Viễn, vâng lệnh thầy đi Trung Á năm
392, thu thập nhiều kinh điển ở Quy Tư (Khotan), trong đó có
bản Hoa Nghiêm, Avatamsaka, 60 quyển mà sau này được Giác Hiền,
Buddhabhadra, dịch ra Hán văn.
5 Niên
kỷ Pháp Linh về Trường An vẫn còn phải được xét lại.
Bài tự Tứ Phần luật, Dharmaguptakavinàya, cho rằng Linh về
Trường An năm 408 cùng với Phật Đà Da Xá, Buddhayàsas. Điều
này có thể vì Da Xá đến Trường An năm 407 theo đoàn Tăng
lữ do lệnh vời của nhà vua, và Pháp Linh có thể là tháp
tùng theo. Tứ Phần luật dịch năm 410-412, nhưng trước đó
Da Xá đã có dịch Thập Trụ kinh, Dasabhumikasùtra; như vậy,
Da Xá tất phải đến Trường An trước năm 410 mới là có
thể dịch kinh này. Thư đáp của Tăng Triệu ghi rằng Pháp
Linh mời được hai vị Tăng kể sau vào năm 407. Danh Tăng truyện
lại cho là sớm hơn: 406. Nhưng nếu thế thì tin này của Tăng
Triệu phải là quá trễ bởi vì Đạo Sanh đến Lô Sơn năm
408, và tất là đã đề cập đến việc Pháp Linh trở về
với các bộ kinh điển rồi, không cần gì Tăng Triệu phải
nhắc lại trong thư (theo Thang Dụng Đồng, tr. 304-306).
6 Phật
Đà Bạt Đà La, Buddhbhadra, tức Giác Hiền, một nhân vật
lạ lùng nhưng quan trọng. Đệ tử của Buddhasena thuộc Nhứt
Thiết Hữu tông, Giác Hiền đến Trường An qua nẻo Cam Túc
(không phải qua An Nam như truyền thuyết nói) năm 410 hay có
thể sớm hơn, vào khoảng 406, nơi đây thâu thập đệ tử
và gây nhiều kẻ thù. Năm 411, bị trục xuất và đi Lô Sơn,
được Huệ Viễn tiếp đón nồng hậu. Huệ Viễn khiến một
đệ tử lên kinh phân biện về việc bạc đãi Hiền. Hiền
tịch ở Nam Kinh năm 429.
7 Phật
Đà Da Xá, Buddhayàsa, vốn người Bà la môn, từng là thầy
của Cưu Ma La Thập, và sau này lại học Đại thừa với Thập.
Chỉ theo La Thập đến Cổ Tạng, mà từ chối mấy lần Thập
yêu cầu đến Trường An. Cuối cùng, khi Da Xá đến, được
tiếp đãi trọng thể và được tự do đi lại trong Tiêu Dao
viên.
Các
bản sớ giải Triệu luận, ngoại trừ Nguyên Khương, lại
cho rằng vị Tam Tạng pháp sư nói trong thư là Đàm Ma Lưu
Chi, Dharmaruci, vốn đến Trường An năm 405, và tiếp tục dịch
Thập Tụng luật, Sarvàstivàdavinàya, vốn bị bỏ dang dở,
sau khi Phật Nhã Đa La, Punyatrata, dịch. Đàm Ma Lưu Chi bị
mang tiếng vì sau 8 năm trời khổ công vẫn không dịch xong
được bộ luật này, về sau được Vimalaksa hoàn tất. Lưu
Chi sống ở Đại Tự, trong khi Phật Đà trụ tại Trung Tự.
Phật Đà Da Xá nổi danh và chắc chắn là người mà Tăng
Triệu đề cập đến, hơn là lão Đàm Ma Lưu Chi khù khờ
kia (Theo Trủng Bản Thiện Long và Thang Dụng Đồng).
8 Hai
người này chỉ có thể là Đàm Ma Da Xá, Dharmayàsa, và Đàm
Ma Cúc Đa, Dharmagupta, đến Trường An năm 407. Da Xá là sa môn
ở Ca Thấp Di La, sau này đi Giang Lăng thu thập đệ tử, trong
số đó nổi tiếng là Pháp Độ thường lo việc tạo lập
ni tự.
9 Phật
Đà Da Xá đọc thuộc lòng trọn bộ Luật gồm 447 trang trong
Đại Tạng. Học giả Trung Hoa ban đầu nghi ngờ ký ức của
Da Xá nhưng vị Luật sư này minh chứng ký ức kỳ diệu của
mình bằng cách đọc qua một lượt một bộ sách về y thuật
rồi gấp sách lại, đọc lại toàn bộ không sai một chữ.
10
Sàriputra-Abhidharmasàstra, Xá Lợi Phất A Tỳ Đàm luận. Bản
Phạn ngữ được ghi chép ra năm 407-408, nhưng các vị sư Ấn
Độ này không đủ sức để diễn đạt ra Hán văn. Mãi đến
năm 414 mới hoàn tất công trình.
11
Jetavana, nơi Đức Phật thường giảng pháp.
12
Niệm Phật Tam Muội Vịnh do một số người viết tại Lô
Sơn năm 402, được ghi chép lại sau khi được 100 Phật tử,
Tăng chúng cũng như cư sĩ, do Huệ Viễn chủ lễ, xưng tán
và thệ nguyện tái sinh nơi miền Cực Lạc của Đức Phật
A Di Đà. Cách thức niệm Phật này ngày nay trở thành là một
phương pháp giao tiếp mà các Phật tử sử dụng luôn luôn
trong xã hội; đây vốn là một biến thái về sau. Thật ra,
căn bản đây là một phương pháp quán tưởng về thế giới
Tịnh Độ, mà Phạn ngữ gọi là Buddhànusmrtit-nàma samàdhi.
Huệ Viễn đọc qua phương pháp quán tưởng này trong Pratyutpannabuddha
sammukhavasthita samàdhi. Ban Châu Tam Muội kinh. Viễn từng thảo
luận vấn đề này với La Thập.
Nay
chỉ còn lại bài vịnh của Vương Tế Chi và bài tự của
Huệ Viễn về toàn tập bản vịnh này là còn lưu truyền
trong Quảng Hoằng Minh tập.
13
Vimalakirtinirdésasùtra. Gọi là dịch nhưng thật ra là Cưu Ma
La Thập đọc bản Phạn ngữ và bàn luận văn nghĩa của kinh
với các đệ tử Trung Hoa, trong đó là nhóm Tứ Kiệt mà Tăng
Triệu là một.
14
Chương Chí Nhân, Trang Tử Nam Hoa kinh.
15
Chí thú vô ngôn. Phạn ngữ gati; có sáu nẻo đường trong
vòng luân hồi, gọi là lục thú đến cuối nẻo đường,
tức là giải thoát. Chưa đạt đến giải thoát nên vẫn còn
nói năng.
16
Vong ngôn.
17
Cũng còn gọi là Chỉ Quán, hay Định Tuệ.
18
Đại Tạng in là “tích ngã nhi thừa”, thì không dịch được.
Nên đọc là “tích ngã nhi quải”.
Huệ
Đạt trong Tăng Triệu sớ không chú giải câu này. Nguyên Khương
và các nhà luận giải sau không quyết chắc.
“Tích”
đây có thể là mượn ý trong Lão Tử, ch. 27, “thiện hành
vô triệt tích”, người đi khéo thì không để lại dấu
chân. Ngã là Ngã Tự Nhiên, tức Thánh nhân, Đức Phật.
19
Diệu tuyệt thường cảnh, đồng nghĩa với “đạo tuyệt
quần phương”. Quần phương đây chỉ cho các phương thuật,
như ch.Thu Thủy, Nam Hoa kinh của Trang Tử, là các thuật vốn
có phân biệt lớn nhỏ, sai khác, nên không toàn diện.
20
Giống như chú thích 19 trên.
21
Cũng như minh phù, dịch là ý nghĩa hiện hữu của Thánh nhân
ở thế gian này đã di mãn.
22
Lão Tử, ch. 41.
23
Lão Tử, ch. 38.
24
Liebenthal nhắc đến câu này trong phần dẫn nhập, hỏi rằng:
“Thế giới có phải là vật? Bất khả... Thế giới không
phải là vật? Bất khả...”.
25
Ngôn kỳ phi hữu giả, ngôn kỳ phi thị hữu, phi vi thị phi
hữu.
26
Câu này trong Đại Tạng bị in thiếu mất một đoạn. Nên
đọc là: “Thả vô tri sinh ư hữu tri, vô vô tri dã; vô tri
sinh ư vô tri, vô hữu tri dã”.
27
Trong Ma Ha Bát Nhã Tâm kinh, Prajnàparamita-hrdayasùtra. Theo Tăng
Triệu thì Sắc và Không đồng nghĩa với Nghiệp và Niết
Bàn; còn theo Phật học Ấn Độ thì Sắc (rùpa) chỉ là một
trong 5 uẩn, mà 5 uẩn đều là pháp cho nên không.
28
Phi sắc, ở đây đồng nghĩa với không.
29
Trang Tử sử dụng từ ngữ Tạo hóa: Dịch Kinh dụng “Thánh”
cũng một ý nghĩa. Hệ Từ: phạm vi thiên địa chi hóa nhi
bất quá, khúc hành vạn vật nhi bất di.
* Dịch
giả sử dụng danh từ “đại nhân” và “quân”, khi Tăng
Triệu chỉ đàm luận với Lưu Di Dân như bạn bè giao hữu;
dùng chữ “đạo hữu” khi thật sự đi vào nội dung vấn
đề, là đàm luận giữa Tăng Triệu và Lưu Di Dân (cư sĩ).