VẬT
BẤT THIÊN LUẬN
S inh
tử giao tiếp, lạnh nóng lần lượt đổi thay, các vật lưu
động, đó là quan niệm thường tình của con người. Tôi
lại cho là không phải vậy. Tại sao?
Kinh
Phóng Quang(1) nói: “Pháp không khứ lai, không động chuyển”.
Đi tìm nguyên nhân của sự bất động này, há phải do nơi
lìa bỏ cái động để tham cầu cái tịnh đâu, mà thật ra
là nhận thức rằng tịnh tồn tại ở nơi động vậy. Cầu
tịnh nơi động, nên nói rằng tuy vật tại nơi biến động
mà thực tế thì vẫn thường tịnh, không từng lìa bỏ động
ngoại tại để cầu tịnh, nên vật tuy nội tại luôn tịnh
mà vẫn không xa lìa động. Như vậy, căn bản là động tịnh
không khác, chỉ vì con người hồ đồ nghi hoặc mà cho rằng
chúng có chỗ không đồng. Đấy là nguyên nhân khiến cho chân
lý của Đức Phật(2) bị vướng mắc vào vòng tranh biện
và đạo nghĩa bị khuất tất nơi dị biệt của các học
thuyết. Do vậy mà không phải dễ dàng khi thuyết minh đạo
lý của cả hai động tịnh vậy. Vì sao?
Ai
tuyên dương chân đế, tất trái nghịch với ý kiến thế
tục, còn tuân theo thế tục tất phải xa lìa chân đế. Lìa
chân nên mê chấp tánh mà chẳng trở lại(3). Nghịch với
tục nên lời nói lạt lẽo vô vị. Đó là nguyên nhân khiến
người tầm thường không phân biệt được nên giữ hay bỏ,
kẻ kém cỏi thì vỗ tay cười mà chẳng để mắt đến(4).
Tuy gần mà không ai có thể hiểu được, đó là bản tánh
của các vật vậy. Tuy nhiên, tôi không thể bỏ qua vấn đề
này được nên lại để tâm quan sát sự giao hệ giữa động
và tịnh, dầu không dám nhất định cho rằng đấy là giải
thích chân chính nhất.
Đạo
Hành kinh(5) nói: “Pháp vốn không từ nơi nào lại, cũng không
có nơi nào để đến”. Trung Quán luận(6) nói: “Quán sát
nơi chốn, ta biết rằng người đi đã đi rồi, nhưng thật
ra thì người đi không có nơi nào để đến cả”. Cả hai
kinh luận này thông qua cái biến động của sự vật mà luận
chỉnh cái tịnh của chúng. Thế nên ta biết rằng sự vật
không biến thiên(7), thật rõ ràng không sai.
Điều
mà người ta bảo rằng động, là vì họ căn cứ nơi vật
ở thời quá khứ không đi đến hiện tại, nên gọi rằng
động mà không phải tịnh. Điều mà tôi gọi là tịnh cũng
căn cứ nơi vật từ quá khứ không đi đến hiện tại, nên
gọi là tịnh không phải động. Nhận rằng vật di động
không yên tịnh, là vì họ cho rằng sự vật quá khứ không
có đi đến hiện tại. Nhận rằng vật yên tịnh không di
động là vì tôi cho rằng vật hiện tại không có đi vào
quá khứ. Sự kiện tất nhiên chưa từng sai khác, chỉ vì
sở kiến mỗi người chưa từng đồng nhau mà thôi.
Nghịch,
nên gọi là bế tắc. Thuận, nên gọi là thông đạt. Ví như
kẻ đã đắc đạo, thì có gì có thể trì trệ người nữa
được hay không?
Thật
đáng thương cho nhân tình, luôn luôn bị mê hoặc. Tận mắt
đối diện chân lý mà chẳng cảm thấy được nó. Tuy biết
rằng vật đã đi qua chẳng tiến đến hiện tại, mà lại
cứ cho rằng vật ở hiện tại và có thể đi vào quá khứ.
Vật đã đi qua vốn chẳng đến hiện tại, thì vật ở hiện
tại làm sao mà có nơi nào để đi vào quá khứ? Sao mà như
vậy?
Cầu
tìm vật đã đi qua nơi quá khứ, thì ở nơi quá khứ, vật
chưa từng là không. Mong kiếm vật đã đi qua ở nơi hiện
tại, thì ở hiện tại, vật chưa từng là có. Nơi hiện tại
chưa từng có, nên rõ ràng là vật không từ quá khứ đến
hiện tại. Nơi quá khứ chưa từng không, cho nên biết rằng
vật không từ hiện tại đi vào quá khứ. Nghiệm xét mà cầu
tìm ở hiện tại thì sự vật ở hiện tại cũng chẳng có
đi qua. Do đấy mà gọi rằng, vật quá khứ tự tồn tại
nơi quá khứ, không phải từ hiện tại đi vào quá khứ; vật
hiện tại tự ở nơi hiện tại, không phải từ quá khứ
đi đến hiện tại. Cho nên Trọng Ni nói: “Nhan Hồi tùy thời
gian mà nhận thức rằng sự vật luôn luôn biến hóa thành
mới, không còn như lúc ban đầu nữa”(8). Như vậy, tất
vật không có tương tục đi đến; thật rõ ràng rồi vậy.
Đã không tí nào liên hệ vãng lai giữa quá khứ và hiện
tại, thì có vật nào có thể di động được đâu? Như vậy,
tất gió lốc(9) quay cuồng trên đỉnh núi cao mà vẫn thường
tịnh, nước sông cuồn cuộn chảy xuôi mà không lưu chuyển,
dã mã(10) phất phơ mà chẳng động đậy, nhật nguyệt xuyên
trọn bầu trời mà chẳng tuần hoàn; có gì là kỳ quái không?
(Nạn):
Ồ! Thánh nhân có lời nói rằng: “Mạng con người đi không
trở lại rất nhanh chóng, mau hơn nước chảy!”(11). Do đấy
mà bậc Thanh văn ngộ được lẽ Vô Thường mà đắc đạo,
bậc Bích giác chi được lý duyên khởi mà đạt Chân Đế.
Nếu cho rằng vật di động mà chẳng biến hóa, thì cần gì
phải quán sát biến hóa mới bước lên được từng bậc
thang Đạo?
(Giải):
Nếu ta nghiệm xét lời Thánh nhân lần nữa, thì thấy rằng
thật cao thâm ảo diệu, khó đo lường được. Nếu động
mà vẫn tịnh thì giống như đi qua mà vẫn đình lưu. Chỉ
có thể dùng thánh trí mới lãnh hội được điều này, chớ
không thể y nơi sự kiện mà cầu tìm được. Do đấy mà
nói “khứ” mà bất tất có nghĩa là “đi”, chỉ vì để
phòng ngừa tư tưởng thường tình của con người mà nói
vậy thôi. Gọi “trụ” mà bất tất có nghĩa là “đình
lưu”, chỉ vì để giải trừ điều con người cho là “đi
qua” vậy(12). Há phải nói “khứ” tất có nghĩa là biến
thiên, “trụ” là có lưu lại đâu?
Cho
nên kinh Thành Cụ(13) nói: “Bồ tát, trong chốn người quan
niệm rằng thế giới thường tồn bất biến mà giảng dạy
giáo thuyết Vô Thường”. Ma Ha diễn luận(14) viết: “Các
pháp không động chuyển, không có nơi nào để đi, cũng không
từ nơi nào đến”. Cả hai kinh luận này, vì để khai đường
dẫn lối cho người thế tục thường tình mà thuyết như
vậy, tuy hai lời mà chỉ một ý. Há có phải là vì văn nghĩa
sai
khác mà nguyên lý phải phân tán đâu?
Do
đó mà nói “thường” mà không trụ, gọi là “khứ” mà
không biến thiên. Không biến thiên nên tuy đã đi qua rồi
mà vẫn bất động. Không trụ, nên tuy tịnh mà vẫn thường
đi qua. Tuy tịnh mà thường đi qua nên tuy đi qua mà chẳng
biến thiên. Tuy đi qua mà vẫn bất động, nên tuy tịnh mà
không đình lưu. Đấy là điều mà Trang Sinh thí dụ về “tàng
sơn”(15) và Trọng Ni nói khi đứng bên bờ sông vậy. Cả
hai đều cảm được điều khó lưu lại của sự đã đi qua
vậy. Há có phải là họ cho rằng vì xa lìa hiện tại mà
vật có thể đi qua được đâu! Do đó, thể hội tâm Thánh
nhân, biết rằng không đồng sở kiến với kiến giải thế
tục. Vì sao?
Thế
tục quan niệm rằng con người lúc còn nhỏ và khi thành niên
cùng một thể, đến khi trăm tuổi cũng cùng một chất; tuy
biết rằng năm tháng đi qua mà lại chẳng nhận thức được
điều hình thể cũng tùy theo đó mà biến thiên. Do đó mà
Phạm chí xuất gia, đến khi đầu bạc trở về quê, người
trong thôn gặp nói rằng: “Người xưa nay vẫn còn!”. Phạm
chí nói: “Tôi tuy giống người xưa mà chẳng phải người
xưa”. Người trong thôn đều ngạc nhiên và không tin lời
nói ấy. Đấy là điều mà Trang Tử nói về người có sức
mạnh vác núi chạy đi, kẻ ngu không hiểu tại sao là vậy.
Xa lìa Đạo thật, có phải là ý tứ này chăng?
Do
đó mà Đức Như Lai, tùy thuận theo căn cơ trì trệ của chúng
sinh mà phương tiện dùng trăm ngàn giả thuyết để tiêu trừ
mê hoặc của họ; quyền thừa nơi chân tâm bất nhị mà giảng
dạy thù giáo bất nhất. Mâu thuẫn mà không thể sai khác,
đấy chỉ có thể là Thánh ngôn mà thôi.
Cho
nên đàm luận về Chân Hữu, Người gọi đó là không biến
thiên, nhưng khi hướng dẫn chúng sinh về hữu của tục đế,
thì lại thuyết là sự vật lưu động. Tuy đề xướng trăm
ngàn đường lối khác nhau, rốt lại cũng đồng quy về chung
một đích điểm. Kẻ chấp trước văn tự khi nghe nhắc đến
“không biến thiên” tất cho rằng vật quá khứ không đi
đến hiện tại; người chấp trì vật lưu động lại cho
rằng vật hiện tại có thể đi vào quá khứ. Đã gọi “xưa”,
“nay” sao lại còn muốn có dời đổi? Do đó mà nói vật
“vãng” mà bất tất có nghĩa là “đi qua”. Cổ kim thường
tồn, cho đấy là bất động. Xưng là “khứ” mà bất tất
đã “đi”, đấy gọi là không từ nay mà đi vào xưa, là
vì không có đến. Không đến, nên không dong ruổi giữa xưa
và nay; không động, nên mỗi tánh tự đình trụ nơi gian kỳ
nhất định của chúng. Theo đó, trong văn nghĩa sai khác của
các luận giải, dị thuyết của trăm nhà, ta phải lĩnh hội
ý nghĩa của họ; há vì văn nghĩa sai biệt mà bị mê hoặc
hay sao?
Do
đấy, điều mà thế tục gọi là “đình lưu”, tôi lại
gọi là “đi qua”; điều mà họ gọi là “đi qua”, tôi
lại cho là “ở lại”. Theo đó, đi qua và lưu lại tuy sai
khác, nhưng vẫn đồng một ý vậy. Cho nên biết rằng lời
nói ấy tất có lý do. Vì sao?
Con
người luôn tìm kiếm cái “xưa” ở nơi cái “nay”, nên
gọi đấy là không lưu lại. Tôi cầu hiện tại nơi quá khứ,
nên biết rằng vật không đi qua. Nếu “nay” mà đi vào “xưa”,
thì “xưa” quyết phải có “nay”. Nếu xưa đi đến nay,
thì trong nay quyết phải có xưa. Hiện tại đã không bao quát
quá khứ nên biết rằng sự vật không từ quá khứ đến;
quá khứ không bao quát hiện tại nên biết là vật không từ
nay đi vào xưa. Nếu xưa không đi đến nay, nay cũng không đi
vào xưa, thì đấy là điều mà ta gọi là mỗi tánh tự trụ
nơi mỗi gian kỳ của nó; có vật nào mà có thể di động
đi lại được đâu? Do đấy mà bốn mùa dong ruổi, nhật
nguyệt tinh sao vận hành, tuy triễn chuyển nhanh chóng mà vẫn
bất động. Do đấy mà Như Lai, công đức lưu truyền vạn
thế mà vẫn thường tồn, đạo pháp thông suốt trăm kiếp
mà vẫn kiên thật chẳng lung lay. Núi mà thành được là nhờ
nơi từng cây trúc mọc lúc ban sơ; đường dài đi trọn là
do nơi bước chân khởi đầu. Cho nên nói, công đức của
Như Lai không thể tiêu tan được là vậy. Công đức không
tiêu tan, nên tuy ở tại quá khứ mà không chuyển hóa; không
chuyển hóa nên không biến thiên; không biến thiên tất thậm
thâm minh nhiên vậy. Cho nên Kinh(16) nói: “Tam tai(17) vẫn đầy
đủ, ràng rịt nhau mà khiến nghiệp lực chúng sinh vĩnh viễn
chẳng lay chuyển”. Phải nên tin vào lời ấy. Vì sao?
Quả
không hiện hữu cùng lúc với nhân. Do nơi nhân mà tạo nên
quả. Do nhân tạo nên quả nên nhân không bị diệt ở thời
quá khứ. Quả không hiện hữu cùng lúc với nhân, nên
nhân không từ quá khứ đi đến hiện tại. Không diệt không
đến, tất rõ ràng là không thiên chuyển. Còn có thể nào
bị mê hoặc về “khứ”, “lưu”, lần lựa phân vân về
“động”, “tịnh” nữa không? Dầu càn khôn đảo ngược
vẫn không gọi đấy là không tịnh, nước cả vượt trời
vẫn không gọi đấy là động. Cho nên, nếu ta thâm nhập
lĩnh hội thực tại vật như thế thì tri hiểu lý không biến
thiên này không khó vậy.
Chú
thích:
1 Phóng
Quang Bát Nhã kinh, Tây Tấn Vô Xoa La dịch, q. 5. Diễn Dữ Không
Đăng phẩm: “Sở ngôn Ma Ha diễn, diệc bất kiến lai thời,
diệc bất kiến khứ thời, diệc bất kiến trụ xứ. Hà dĩ
xứ? Chư pháp bất động dao cố”.
2 Chân
ngôn: lời nói chân thật, tức giáo thuyết của Đức Phật,
chân lý.
3 Con
người bàn về tánh như là một đối thể, nên không bao giờ
trực ngộ được chính bản tánh tự nó, cho nên gọi là đi
quá xa mà không trở lại.
4 Lão
Tử, ch. 41: “Thượng sĩ văn đạo, cầu nhi hành chi. Trung
sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại
tiếu chi”.
5 Đạo
Hành Bát Nhã, Hậu Hán Chi Lâu Ca Sấm dịch, q. 9. Bát Đa La
Sa Bồ tát phẩm: “Không, bản vô sở tùng lai, diệc vô sở
chi”.
6 Trung
luận, q. 1. Quán Khứ Lai phẩm: “Dĩ khứ vô hữu khứ, vi
khứ diệc vô khứ. Ly dĩ diệc vi khứ, khứ thời diệc vô
khứ”.
W.
Liebenthal ghi là không tìm thấy ý nghĩa này trong Trung luận
nên phỏng đoán rằng có thể là trong bản Phạn văn, ch. 2,
kệ 22: “yasman na gatir purvo’sti kascit kimciddhi gacchati?”,
không có khứ giả đã từng đi rồi thì làm sao mà có người
nào đi và chỗ để đi đến?
Khứ,
theo Long Thọ, có 3 gian kỳ: lúc đến, lúc đang đi và lúc
bắt đầu đi. Do vì pháp chỉ tồn tại có một sát na, cho
nên người đi, khi di động, không hiện hữu trước khi y bắt
đầu, và người hiện hữu khi bắt đầu đi không phải cũng
là người đi đến hay đang đi. Thế là, thật ra, trong sát
na đi đó, không có người di động.
7 Minh
giải tựa luận.
8 Trang
Tử, ch. Điền Tử Phương: “Khâu dĩ thị nhật tố. Ngô chung
thân dữ nhữ giao nhứt tí nhi thất chi. Khả bất ai dữ?”.
Quách Tượng giải: “Kim giao nhứt tí nhi thất chi giai tại
minh trung khứ dĩ, cố hướng giả chi ngã phi phục kim ngã
dã”.
9 Toàn
lâm, Phạn ngữ vairambhaka, gió mãnh liệt có thể lật đổ
cả thế giới.
10
Ánh nắng chói trên mặt hồ nước phương xa, trông giống
như ngựa hoang. Dùng để ám chỉ ảo tượng.
11
Luận Ngữ, ch. Tử Hãn. “Thệ giả như tư phù, bất xả trú
dạ”.
12
Theo Nguyên Khương sớ: “trụ”, lưu lại, đồng nghĩa với
“vãng”, đi qua.
13
Thành Cụ Quang Minh Định Ý kinh, Hán Chi Diệu dịch. “Xử
kế thường chi trung nhi tri vô thường chi đế”.
14
Đại Trí Độ luận, q. 51, Hàm Thọ phẩm: “Tu Bồ Đề! Nhứt
thiết chư pháp bất động tướng cố, thị pháp vô lai xứ,
vô khứ xứ, vô trụ xứ”.
15
Tàng sơn, dấu núi. Trang Tử, ch. Đại Tông Sư.
16
Phổ Diệu kinh, Tây Tấn Trúc Pháp Hộ dịch, Tư Thiên Vương
Thượng Bát phẩm. “Vạn vật vô thường, hữu thân giai khổ.
Tự vi phi thân, không vô sở hữu, chung bất giải dung khổ
bi lao. Chánh ngôn tợ phản, thùy khẳng tín giả?”.
17
Nạn nước, lửa, gió. Tăng Triệu mượn ý trong Trường A
Hàm do Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch đời Hậu
Tần, q. 21, đề cập đến tam tai: đến thời kỳ thế
gian tận diệt thì sẽ có lửa, nước và gió phát sinh để
tiêu hủy thế giới vạn vật.
BẤT
CHÂN KHÔNG LUẬN
Cái
trống không toàn vẹn, không có thực thể, đấy là tông chỉ
thần diệu của tấm gương đen Bát Nhã, là nguyên tắc tối
cao của vạn vật. Nếu tự không phải là người có khả
năng lý giải siêu việt như bậc Thánh nhân thì làm sao mà
thâm nhập được đến sự thể hội hữu và vô?
Do
đó mà Thánh nhân dùng trí tuệ siêu việt tham cứu đến lĩnh
vực vô cùng vô hạn mà vẫn không bị chướng ngại, đưa
tai mắt tiếp xúc đến cực cùng sự nghe thấy mà vẫn không
bị thanh sắc hạn cuộc. Đấy chẳng phải là do vì vạn vật
tự làm cho trống rỗng mà rõ ràng là vì vật không thể hệ
lụy đến Thánh Tâm. Cho nên Thánh nhân dùng chân tâm mà thông
thuận lý tắc, nên không có trở ngại trí tuệ nào mà người
không thông đạt; do nhất khí mà quan sát vạn vật biến hóa
nên thuận thích theo những đối đãi trong cuộc đời. Không
trở ngại nào không thông đạt nên có thể hỗn hợp với
sự vật mà đạt đến chân lý thuần nhất; thuận thích điều
sở ngộ nên nhìn thấy được cái Một bên sau trăm ngàn dị
biệt của biểu hiện. Như thế, nên tuy vạn vật sai thù mà
vẫn không thể vốn tự là dị biệt. Không thể tự dị biệt,
cho nên biết rằng vạn tượng biểu hiện đây không phải
là chân thực. Hiện tượng không chân thực cho nên tuy là
hiện tượng mà không phải là hiện tượng (chân thực) vậy.
Theo
đó, thì vật và ngã(1) phát khởi từ đồng một căn bản,
phải và trái cùng nhất khí, thâm ảo vi diệu, quyết không
phải là điều mà thế tục có thể liễu giải được. Cho
nên những đàm luận gần đây về học thuyết Không tông
của Phật giáo mỗi mỗi đều có chỗ không đồng. Nếu mà
từ nơi những quan điểm bất đồng, ta đề cập đến điểm
tương đồng, thì có điểm nào có thể gọi là đồng không?
Cho nên các học thuyết nối tiếp nhau xuất hiện mà không
đạt được đến chỗ nhất trí là vậy. Vì sao?
Thuyết
“Tâm Vô”(2) cho rằng “Không” là do tâm tự trống rỗng
trước vạn vật, chớ vạn vật chưa từng là không. Cái Không
đó, theo thuyết này, đạt được là khi tâm thần an tịnh;
nhưng theo đó thì lại đánh mất ý nghĩa “không” khi vạn
vật tự là trống không. Thuyết “Tức Sắc”(3) thuyết minh
rằng sắc(4) tự nó không phải là sắc nên tuy là sắc mà
chẳng phải là sắc vậy. Người nói sắc, là nói rằng Không
tức là Sắc, bởi vì Sắc ở đâu thì Không ở đấy, chớ
không phải là đợi đến khi Không thành tựu nơi Sắc rồi
mới gọi đấy là Sắc. Thuyết này, như thế, chỉ minh liễu
rằng Sắc không tự hình thành là Sắc được, nhưng theo đó
thì không lĩnh hội được điều Sắc căn bản không phải
là Sắc vậy.
Thuyết
“Bản Vô”(5) thiên trọng nơi Vô; bao nhiêu lý luận đều
lập trên Vô cho nên cho rằng vạn vật phi hữu. Cho nên khi
(vật) phi hữu, thì Hữu tức Vô; khi vật phi vô, thì Vô cũng
lại là Vô. Người lập nên giáo thuyết này, bất quá họ
chỉ cho là không Có tức không thật Có, không Không tức không
thật Không mà thôi. Cần gì phải nhất định cho rằng phi
hữu tức không có “hữu”, rằng phi vô tức không có “vô”
đâu? Luận thuyết cực đoan về Vô này sao mà có thể gọi
được rằng thuận thông sự thật, rằng phù hợp tình huống
thực tế của vạn vật được? Nếu gọi một vật là vật
khi nó quả là một vật thì vật đó khả dĩ được ghi danh
là vật. Nếu gọi vật vốn không phải một vật là vật
thì tuy nó là vật mà quả không phải là vật vậy(6).
Cho
nên, vật không phải tùy thuộc vào nơi danh gọi mà có thể
tựu thành thực tại làm vật được; danh gọi cũng không
tùy thuộc vào nơi vật mà có thể trở thành chân thật. Do
đó mà Chân đế hoàn toàn thanh tịnh, siêu việt mọi danh
xưng, giáo thuyết; há có thể dùng văn từ ngôn lý mà biện
giải được sao? Tuy nhiên, bần đạo không thể trầm mặc
được cho nên lại nêu lên vấn đề liên hệ Hữu-Vô này
mà luận chỉnh lại. Thí như luận nghĩa sau đây:
Ma
Ha diễn luận(7) nói: “Các pháp chẳng có tướng Hữu, cũng
chẳng có tướng Vô”. Trung luận viết(8): “Các pháp bất
hữu bất vô, đấy tức là Đệ nhất Chân đế vậy”. Tầm
cầu bất hữu bất vô, há có phải gọi là thanh trừ hết
vạn vật, lấp mắt ngơ tai, xem thế giới tịch nhiên hư khoát,
rồi sau Chân đế mới thể hiện đâu. Thật sự thì là vì
(Thánh nhân) thuận thông cùng vạn vật cho nên vạn vật không
chướng nghịch Người mà thôi. Không xa lìa giả tướng cũng
không thoát ly chân tướng, cho nên biết rằng bản tánh vạn
vật chẳng biến dịch. Tánh không biến dịch cho nên tuy là
Không mà Có. Vạn vật không chướng nghịch nên tuy Có mà
Không. Tuy Có mà Không cho nên Có đó là điều gọi là chẳng
phải Có. Tuy Không mà Có, nên gọi đấy là chẳng phải Không.
Theo đó, tất chẳng phải là vật không có, mà là vật chẳng
phải là vật chân thật mà thôi. Vật không phải chân vật,
cho nên dựa vào đâu mà ta có thể gọi là vật được?
Cho
nên kinh viết(9): “Tánh của Sắc vốn Không, chẳng phải
là sắc bị hủy diệt rồi sau mới là Không”. Do đó, ta
thấy thái độ Thánh nhân đối với vạn vật, nhận thức
rằng vạn vật bản lai tự chúng trống không, không thực
tại, chớ chẳng phải là đợi đến phân tích ra thành Không-Có
rồi sau mới cầu tìm thông đạt đến nguyên lý Hữu-Vô đâu?
Nhân đó, cơn bệnh mà Duy Ma kinh(10) bàn đến, cho là không
chân thật; Siêu Nhật kinh(11) gọi là tứ đại vốn hư huyễn
vậy.
Tuy
rằng văn tự trong Tam tạng kinh có sai thù, nhưng nguyên lý
vẫn thâu gồm nơi cái Một mà thôi. Cho nên kinh Phóng Quang(12)
nói: “Theo Chân đế đệ nhất thì (Thánh nhân) không có chỗ
thành tựu cũng không có điều sở đắc, còn theo tục đế
thì có chỗ thành tựu, có nơi sở đắc”. Cái gọi là sở
đắc chỉ là giả hiệu của vô đắc, mà vô đắc thì là
cái danh chân thật của hữu đắc vậy. Danh chân thật,
nên tuy là chân thật mà chẳng phải Có. Giả hiệu, nên tuy
có mà chẳng phải Không. Cho nên nói rằng Chân mà quả chưa
từng Hữu, nói rằng Tợ mà quả chưa từng Vô, là vậy. Hai
lời một ý, đạo lý của cả hai chưa từng sai khác. Cho nên
kinh viết(13): “Chân đế và tục đế có khác nhau không?
Đáp rằng: Không khác vậy”. Kinh này biện minh rằng Chân
đế quả chẳng phải Có và tục đế quả chẳng phải Không.
Há có phải rằng nhị đế sai khác nhau là vì vật sai khác
nhau hay sao?
Theo
đó, tất vạn vật có điều gọi là Bất Hữu, quả có điều
gọi là Bất Vô. Có điều gọi là bất hữu cho nên tuy có
mà chẳng phải có. Có điều gọi là bất vô cho nên tuy không
mà chẳng phải thật không. Tuy không mà chẳng thật không
cho nên cái Không đó không hẳn là tuyệt đối hư không; tuy
có mà chẳng thật có cho nên cái Có này chẳng phải là cái
Hữu chân thật. Nếu nói rằng Hữu không phù hợp với chân
thật, Vô không đổi dời hình tích, tức là Có và Không tuy
xưng rằng sai khác mà kỳ thật đạt đến cái Một duy nhất
vậy.
Thế
nên Đồng Tưû(14) tán thán rằng: “Thuyết rằng pháp không
hữu cũng không vô, chỉ do nhân duyên mà các pháp phát sinh”.
Anh Lạc kinh viết(15): “Gọi là chuyển pháp luân, tức chẳng
có chuyển pháp luân, cũng chẳng không chuyển pháp luân, đấy
mới gọi là chuyển cái pháp luân vốn không bị chuyển”.
Đấy là tông chỉ thâm ảo vi diệu của các kinh. Vì sao? Nếu
gọi rằng vật là không, tức là tin rằng tà kiến về hữu-vô
chẳng phải sai hoặc; nếu gọi rằng vật là Có, tức cho
rằng học thuyết về vạn vật thường hằng là có thể kể
là chính xác vậy. Thật ra, vì rằng vật chẳng phải thật
Không, cho nên tà kiến trên là sai hoặc; vì rằng vật chẳng
phải thật Có, cho nên thường kiến trên chẳng đạt được
đến chân lý. Theo đó, tất phi hữu phi vô là Chân đế vậy.
Cho
nên Đạo Hành kinh viết(16): “Tâm vốn không hữu cũng không
vô”. Trung Quán nói(17): “Vật hiện khởi tùy thuộc theo
nhân duyên cho nên bất hữu, do nhân duyên khởi cho nên bất
vô”. Tầm cầu chân lý, quả hiển nhiên là như thế vậy.
Sở dĩ tất nhiên, là do vì nếu Có quả thật có, thì Có
phải tự thường có, há phải chờ đợi đầy đủ nhân duyên
rồi sau mới hiện khởi thành có hay sao? Còn nếu như
thật không, thì Không phải tự thường không, sao lại phải
đợi nhân duyên phá tán hết rồi sau mới trở thành không?
Nếu như Có không tự hữu, phải chờ đợi nhân duyên đầy
đủ rồi mới có, tức biết rằng Có này chẳng phải là
chân hữu. Hữu chẳng phải chân hữu, nên tuy hữu mà không
thể gọi là Có vậy. Còn về bất vô, Vô tất phải thậm
nhiên bất động mới có thể gọi đó là Vô. Vạn vật nếu
quả là không, tất chẳng có thể hiện khởi. Đã hiện khởi
tất chẳng phải Không. Do đó, ta đã minh chứng rằng vạn
vật đều do nhân duyên sanh khởi cho nên bất vô vậy.
Cho
nên Ma Ha diễn luận viết(18): “Tất cả các pháp đều tùy
thuộc vào tất cả nhân duyên nên mới có thể phát sinh là
Hữu; tất cả các pháp đều tùy thuộc vào tất cả nhân
duyên cho nên không thể sinh khởi thành Hữu. Tất cả các
pháp không hiện hữu tùy thuộc vào tất cả nhân duyên cho
nên có thể hiện hữu; tất cả các pháp hiện hữu tùy thuộc
vào tất cả nhân duyên cho nên không được kể là hiện hữu”.
Tham cầu biện luận về Hữu-Vô này, ta thấy chúng chẳng
phải chỉ giản dị là tương phản với nhau mà thôi đâu.
Như quả nhận rằng: vạn vật phải là Có, tức đấy là
Có, không thể nói là Không; nếu phải Không, tức đấy là
Không, không thể nói là Có. Thật ra, nói là Hữu, tức là
chỉ tạm mượn cái Hữu đó để thuyết minh rằng vạn vật
chẳng phải không; nói là Vô là mượn hờ cái Vô đó để
mà biện giải rằng vạn vật chẳng phải là Hữu mà thôi.
Một sự, mà hai lời. Tuy văn từ có vẻ như bất đồng, mà
thật ra nếu lĩnh hội được rằng chúng có chỗ sở đồng,
thì biết là chúng không có sai khác mà bất đồng vậy.
Theo
đó, vạn pháp quả có điều sở dĩ là bất hữu, nên không
thể gọi rằng chúng Có; quả có điều sở dĩ là bất vô,
nên không thể gọi chúng là Không. Vì sao? Như quả nói rằng
chúng Có, thì Có đó chẳng phải thật là chân chính sinh khởi;
như quả nói rằng chúng Không, thì sự vật đã tượng ảnh
thành hình rồi - tượng hình - nên không thể là Vô. Chẳng
phải chân, chẳng phải thực hữu, đấy quả nhiên là ý nghĩa
Bất Chân Không, hiển nhiên như vậy.
Cho
nên kinh Phóng Quang nói(19): “Các pháp chỉ là giả hiện,
không thật”. Tỷ như người huyễn hóa(20), không phải là
không có người huyễn hóa, mà là, người huyễn hóa là người
không chân thật vậy.
Cho
nên nếu dựa vào danh gọi mà tìm kiếm đến vật, thì vật
không phải vì danh gọi đó mà trở thành chân thật được;
nếu dựa vào vật mà tìm danh gọi thì danh gọi không đạt
được công trình của vật. Vật không vì danh mà trở nên
thật, nên chẳng phải là vật; danh không đạt được công
trình của vật nên chẳng phải là danh. Thế nên, danh không
thể hiện được cái chân thật của vật; cái chân thật
của vật cũng không tương đồng với danh. Danh và Thật đã
không tương đồng thì tìm đâu ra cái gọi là vạn vật bây
giờ?
Cho
nên Trung Quán nói(21): “Vật không phân biệt bỉ thử, nhưng
con người lại cho là cái này, cho là cái kia”. Cái kia, bỉ,
là vì đối trị với cái này nên gọi là cái kia; cái này,
thử, là vì đối trị với cái kia cho nên gọi là cái này.
Bỉ thử đối trị nhau, nên làm sao mà định được chắc
chắn là cái này hay cái kia được(22)? Chỉ vì người mê
hoặc nhận định rằng chúng quyết nhiên phân biệt vậy thôi.
Thực tế thì, bỉ thử bản lai chẳng phải có, kiến giải
của người mê hoặc cũng không thể gọi là chẳng phải không.
Cho nên nếu ngộ được điều chẳng phải có của cái này
cái kia, thì còn vật nào có thể bị nhận định là Hữu
nữa đâu? Do đó, ta biết rằng vạn vật chẳng phải chân
thật, nguyên lai chúng chỉ là giả hiệu mà thôi. Vì vậy
mà Thành Cụ kinh(23) thuyết rằng “danh” đó chỉ miễn cưỡng
mà lập nên thôi, và Viên Lâm(24) mượn tỷ dụ về ngón tay
và con ngựa.
Như
thế, ngôn luận sâu thẳm xa vời có đâu mà không tồn tại?
Cho nên Thánh nhân ngự trên trăm ngàn biến hóa của vạn vật
mà vẫn không bị thay đổi, kinh lịch vô số mê hoặc mà
vẫn thông qua như thường; quả là do rằng Người nhận thức
được điều vạn vật bản lai tự hư huyễn, chứ không phải
là dựa trên điều hư huyễn mà bàn luận rồi mới khiến
vạn vật thành hư huyễn đâu.
Thế
nên kinh(25) nói: “Thật hi hữu! Thế Tôn! Bản thể bất biến
là căn bản của các pháp, không phải là xa lìa bản thể
bất biến mà lập nên căn bản, cho nên căn bản là bản thể
chân chính vậy”. Theo đó, thì Đạo có xa đâu nào? Tất
cả sự vật xúc cảm được đều chân thật, nên Thánh nhân
có xa đâu nào?
Tùy
thời thể nghiệm để mà hiển xuất tác dụng thần diệu
của Thánh nhân, là vậy.
Chú
thích:
1 Chủ
thể và khách thể.
2 Do
Chi Mẫn Độ thành lập, đời Nam Bắc triều, là một trong
sáu nhà bảy tông, có khuynh hướng Duy vật chủ nghĩa. Phái
Phật giáo chánh tông cho đấy là tà đạo.
3 Do
Chi Đạo Lâm, tức Chi Độn, thành lập, chủ trương rằng
tánh của Sắc không tự có nên Sắc tuy là Sắc mà vẫn Không.
4 Sắc,
đối trị với Không, là vạn vật thiên hình vạn trạng,
là hiện tượng thế tục nhìn thấy hàng ngày.
5 Bản
Vô thuyết, thế lực rất lớn, do Đạo An đề xướng, chủ
trương rằng: “Vô là cái đầu tiên của vạn vật biến
hóa, Không là lúc sơ thủy các hình tướng”.
6 “Dĩ
vật vật phi vật, tắc sở vật nhi khả vật; dĩ vật vật
phi vật, cố tuy vật nhi phi vật”.
7 Theo
Nguyên Khương sớ, dẫn chứng Đại Trí Độ luận,
q. 6. “Nhược pháp nhân duyên sinh, thị pháp tánh thực không.
Nhược thử pháp bất không, bất tùy nhân duyên hữu. Như
cảnh trung tượng, phi cảnh diệc phi nhân, diệc phi trì cảnh
nhân. Phi tự phi vô nhân, phi hữu diệc phi vô, diệc phục
phi hữu vô. Thử ngữ diệc bất thọ, như thị danh Trung đạo”.
8 “Nhược
sử vô hữu vô, vân hà đương hữu vô? Hữu vô ký dĩ vô,
tri hữu vô giả thùy?”, theo Nguyên Khương sớ.
9 Duy
Ma kinh, Cưu Ma La Thập dịch, quyển trung, Nhập Bất Nhị Pháp
Môn phẩm: “Sắc sắc không vi nhị. Sắc tức thị không,
phi sắc diệt không, sắc tánh tự không. Như thị thọ, tưởng,
hành, thức, thức không vi nhị”.
Quan
điểm này, Tăng Triệu trong Duy Ma kinh chú, giải thích như
sau: “Sắc tức thị không, bất đãi sắc diệt, nhiên hậu
vi không. Thị dĩ kiến sắc di ư không giả, tắc nhị ư pháp
tướng dã”.
10
Tẩm tật. Duy Ma kinh, Vấn Tật phẩm: “Như ngã thử bịnh
phi chân phi hữu, chúng sinh bịnh diệc phi chân phi hữu”.
11
Siêu Nhựt Minh Tam Muội kinh, Tây Tấn Nhiếp Thừa Viễn dịch.
Nguyên Khương sớ dẫn: “Bất hữu thọ bất hữu mệnh tức
đại hư dã”.
12
Phóng Quang Bát Nhã kinh, q. 5: “Tu Bồ Đề ngôn: hữu sở đãi,
hữu sở đắc, bất dĩ nhị thế tục chi sự hữu đãi hữu
đắc. Đản dĩ thế sự cố hữu Tu đà hoàn, Tư đà hàm,
A la hán, Bích chi Phật. Hữu Phật. Dục luận tối đệ nhất
giả, vô hữu đãi, vô hữu đắc. Tùng Tu đà hoàn thượng
chí Phật, diệc vô đãi, diệc vô đắc”.
13
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa kinh, q. 22, Đạo Thọ phẩm: “Thế
Tôn! Thế đế, đệ nhất nghĩa đế hữu dị da? - Tu Bồ Đề!
Thế đế, đệ nhất nghĩa đế vô dị dã. Hà dĩ cố? Thế
đế như, tức thị đệ nhất nghĩa đế như. Dĩ chúng bất
tri bất kiến thị như cố”.
14
Duy Ma kinh, Phật Quốc phẩm: “Trưởng giả Bảo Tích tác
kệ: thuyết pháp bất hữu diệc bất vô, dĩ nhân duyên cố
chư pháp sinh, vô ngã vô tạo vô thọ giả, thiện ác chi nghiệp
diệc bất vong”.
Chú
Duy Ma kinh, q. 1, Tăng Triệu cũng nói: “Dục ngôn kỳ hữu,
hữu bất tư sinh; dục ngôn kỳ vô, duyên hội tức hình. Hội
hình phi vị vô, phi tự phi vị hữu. Thả hữu hữu cố hữu
vô, vô hữu hà sở vô? Hữu vô cố hữu hữu, vô vô hà sở
hữu? Nhiên tắc tự hữu tắc bất hữu, tự vô tắc bất
vô. Thử pháp vương chi chánh thuyết dã. Hữu diệc bất do
duyên, vô diệc bất do duyên. Dĩ pháp phi hữu phi vô, cố do
nhân duyên sinh. Luận viết: pháp tùng nhân duyên cố bất hữu,
duyên khởi cố bất vô; chư pháp giai tùng duyên sanh nhĩ. Vô
biệt hữu chân chủ tể chi giả, cố vô ngã dã. Phù dĩ hữu
ngã, cố năng tạo thiện ác, thọ họa phúc pháp; ký vô ngã,
cố vô tạo vô thọ giả dã. Nhược vô tạo vô thọ giả,
tắc bất ưng hữu vi thiện hoạch phước, vi ác chí ương
dã. Nhiên chúng sinh tâm thức tương chuyển, thiện ác do khởi.
Báo ứng chi đạo, liên hoàn tương tập; kỳ do thanh hòa hưởng
thuận, hình trực ảnh đoan; thử tự nhiên chi lý vô sai hào
phân. Phục hà giả thường ngã nhi chủ chi tai?”.
15
Bồ Tát Anh Lạc kinh, Diêu Tần Trúc Pháp Niệm dịch,
q. 21: “Văn Thù Sư Lợi tam bạch Phật ngôn: Pháp hữu sinh
diệt, pháp vô sinh diệt? - Nhứt thiết chư Phật sở chuyển
pháp luân, diệc hữu chuyển, diệc vô chuyển. Chư Phật chánh
pháp diệc hữu bất chuyển, diệc bất vô chuyển. Chư Pháp
như không, cố vô hữu chuyển, cố vô vô chuyển”.
16
Đạo Hành Bát Nhã, Hậu Hán Chi Lâu Ca Sấm dịch,
q. 1: “Xá Lợi Phất vị Tu Bồ Đề ngôn: hà như tâm diệc
bất hữu diệc bất vô, diệc bất năng đắc?”.
17
Trung Quán, q. 4, Tứ Đế phẩm: “Chúng nhân duyên sinh pháp,
ngã thuyết tức thị không. Hà dĩ cố? Chúng duyên cụ túc,
hòa hợp nhi vật sinh; thị vật thuộc chúng nhân duyên, cố
vô tự tánh. Vô tự tánh cố không. Không diệc phục không.
Đản vi dẫn đắc, cố dĩ giả danh thuyết. Ly hữu vô nhị
biên, cố danh Trung đạo”.
18
Đại Trí Độ luận, q. 80: “Nhứt thiết chư pháp bất tự
sinh, giai thuộc nhân duyên sinh. Hữu nhân tuy kiến nhứt thiết
pháp tùng nhân duyên sinh vị vi tùng tà nhân duyên sinh. Tà
nhân duyên giả, vi trần thế tánh đẳng. Thị cố thuyết
bất kiến pháp vô nhân duyên sinh, diệc bất kiến pháp tùng
thường nhân duyên vi trần thế tánh sinh”.
19
Phóng Quang, q. 18: “Phật cáo Tu Bồ Đề: danh tự giả bất
chân, giả hiệu vi danh, giả hiệu vi ngũ ấm, giả danh vi nhân
vi nam vi nữ”.
20
Huyễn hóa nhân, trong Liệt Tử: “Tri huyễn hóa chi bất dị
sinh tử dã, thùy khả dữ học huyễn hĩ”.
21
Trung luận, Quán Khổ phẩm: “Tự tác khổ bất thành, vân
hà bị tác khổ? Nhược bị nhân tác khổ, tức diệc danh
tự tác”.
22
Như cái cầu; đứng bên này gọi là đầu cầu, bên kia là
đuôi cầu, và ngược lại. Tất cả đều tùy theo phương
vị của người nhận định sự vật cho nên sự vật bị
người định danh, không phải thực tướng của sự vật là
vậy. Trang Tử, Tề Vật luận: “Vật vô phi bỉ, vật vô
phi thị”.
23
Thành Cụ Quang Minh Định Ý kinh: “Thị pháp vô sở hữu pháp
cố cưỡng vi kỳ danh”.
24
Trang Tử làm quan ở Tất Viên, ở đây Viên Lâm chỉ cho Trang
Tử.
Tề
Vật luận, Trang Tử hội vi Mông Tất Viên sử: “Dĩ chỉ
dụ chỉ chi phi chỉ, bất nhược dĩ phi chỉ dụ chỉ chi phi
chỉ dã. Dĩ mã dụ mã chi phi mã, bất nhược dĩ phi mã dụ
mã chi phi mã dã. Thiên địa nhứt chỉ dã, vạn vật nhứt
mã dã”.
25
Ma Ha Bát Nhã, q. 25: “Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: Thế Tôn!
Nhược thực tế tức thị chúng sinh tế, Bồ tát tắc vi kiến
lập thực tế ư thực tế. Thế Tôn! Nhược kiến lập thực
tế ư thực tế, tắc vi kiến lập tự tánh ư tự tánh”.
BÁT
NHÃ VÔ TRI LUẬN
Bát
Nhã, trống không, u huyền, lại là tông chỉ tối cao của
ba thừa và trở nên là đệ nhất Chân đế không sai biệt.
Nhưng đã từng có bao nhiêu là luận giải khác nhau về vấn
đề này.
Sa
môn Cưu Ma La Thập, người Thiên Trúc, khi thiếu thời học
tập theo Đại thừa, nghiên cứu đến tận cùng căn cơ diệu
thú của thừa này. Một mình bạt tụy vượt khỏi biểu thị
của ngôn từ hình tướng(1), khế hợp kỳ diệu với cảnh
giới hy di, thu phục các dị thuyết ở Ca Thấp Di La(2) và
quạt cơn gió lành Phật pháp qua vùng Đông độ(3). Vì muốn
đốt đuốc Tuệ soi khắp bốn phương mà đành giấu mình
làm ẩn sĩ nơi đất Lương, chỉ vì Đạo không cần được
hưởng ứng cách hư vọng; nhưng một khi đã hưởng ứng thì
tất phải có lý do(4). Năm Hoằng Thủy thứ ba, niên đại
Tinh kỷ (tức 401 sau TL), Tần vương thừa cơ lập mưu cử
binh xâm nhập kinh đô nhà Hậu Lương để đưa Thập về Tần.
Vận số nhà Tần ở phương Bắc quả là hiển nhiên vậy(5).
Vua
nhà Đại Tần(6), đạo khế hợp với đầu mối làm chúa
trăm vua, đức thuận hòa thiên hạ cả trăm ngàn thời đại,
nhàn nhã mà giải quyết vạn sự trong nước và hoằng đạo
Phật trọn ngày. Quả ở đời mạt thế, vương là đấng
chí tôn của thứ dân, là kẻ phò tá giáo pháp di truyền của
Đức Thích Ca.
Lúc
bấy giờ (khi Thập được đưa về Tần), vương bèn tập
họp chúng Sa môn Nghĩa Học(7) hơn năm trăm người nơi quán
Tiêu Dao. Vương tự giữ phần đọc bản Hán văn, cùng Thập
công tham cứu san định kinh Phương Đẳng(8). Những điều
mà họ khai thác không những chỉ ích lợi cho người đương
thời mà cả cho bao nhiêu thế hệ về sau, làm bờ bến cho
đạo pháp nữa.
Triệu
tôi, vốn ít học vấn và chậm trí, lại được may mắn tham
gia vào hội trường dịch thuật kinh điển, nên nhờ đó mà
nghe học được những điều mới lạ và quan trọng lần đầu
tiên đương thời. Quả nhiên là Thánh trí u hiển vi diệu,
ẩn mật thâm sâu khó lường, không hình thể không danh gọi,
cả đến không thể dùng ngôn từ sắc tướng mà đạt đến
được. Nên Triệu tôi chỉ hoài bão dùng thí dụ về Tượng
Võng tìm châu(9) mà ký gởi cuồng ngôn, chứ không dám tự
xưng là có thể biện biệt được Thánh Tâm đâu. (Thế nên)
chỉ dùng thí dụ trong kinh luận mà nói.
Kinh
Phóng Quang viết(10): “Bát Nhã không có sở hữu tướng, không
có sinh diệt tướng”. Đạo Hành kinh(11) nói: “Bát Nhã không
có điều gì thấy, Bát Nhã không có điều gì biết”. Những
kinh này biện luận về cái Dụng chiếu soi của Trí Bát Nhã,
nên gọi là vô tướng, vô tri. Nhưng sao lại nói là vô tướng,
vô tri? Quả là có cái Biết vốn không tướng, và cái Chiếu
soi vốn tự không biết vậy. Vì sao?
Nếu
có điều được biết đến, tất có điều không được biết
đến. Vì rằng Thánh Tâm vô tri nên không có gì mà không biết
đến. Biết điều không biết, nên gọi là Nhất Thiết Trí.
Cho nên Kinh nói(12): “Thánh Tâm không biết điều gì cho nên
không có điều gì không biết”. Ta nên tin vào lời nói đó
vậy. Bởi thế nên Thánh Tâm tự làm trống rỗng chân tâm
của mình để mà thực chứng trí tuệ chiếu sáng; trọn ngày
biết mà chưa từng là biết, nên thường yên ẩn cái rực
rỡ và che giấu cái hào quang của mình; tự hư tâm mà phản
chiếu cái huyền diệu của vũ trụ. Bế kín trí tuệ, tắc
lấp thông minh, thế mà chỉ một mình giác ngộ được cái
mênh mông của trời đất. Thế nên, trong trí tuệ tất tồn
tại tấm gương vô cùng u diệu vốn phản chiếu cách vôt
ri; trong Tinh thần tất có cái dụng hội ứng với các nhu
cầu mà vẫn không tư lự về chúng. Tinh thần không tư lự
nên một mình ngự trị, vượt ngoài thế giới biểu tượng.
Trí tuệ vô tri nên nên huyền chiếu bên ngoài sự vật. Trí
tuy bên ngoài sự vật nhưng mà chưa từng không hàm chứa sự
vật. Tinh thần tuy vượt ngoài thế giới mà trọn ngày vẫn
nằm trong địa vực trần gian. Do đó mà nhìn lên ngó xuống(13)
vẫn tùy thuận theo điều biến hóa của vạn vật, tiếp ứng
vô cùng. Không u ẩn nào mà không quan sát tới, nhưng vẫn
không tỏ lộ công đức chiếu sáng của mình. Đấy tất là
điều sở tri của sự vô tri, là điều hội ngộ của Tinh
thần Thánh nhân vậy.
Chân
thật mà không hiện hữu, hư không mà chẳng phải vô, tồn
tại mà không thể bàn luận tới, đấy chỉ có thể là Thánh
trí mà thôi. Vì sao?
Nếu
bàn về sự hiện hữu của trí tuệ này, thì thực tế nó
không hình tướng, không tên gọi; nếu nói về sự bất hữu
của nó thì quả nó được Thánh nhân xem như là Linh thể
của mình. Thánh nhân xem như là Linh thể nên tuy hư mà không
mất điều chiếu sáng; không hình tướng không tên gọi nên
tuy chiếu mà không mất điều hư không của nó. Chiếu mà
không mất hư nên tuy hỗn độn mà không biến đổi; hư mà
không mất chiếu nên di động để tiếp dẫn các vật thô
cục. Thế nên cái Dụng của Thánh trí chưa từng bị phế
bỏ khi nào cả; nhưng mà cầu tìm hình tướng của nó thì
chưa từng bao giờ có thể đạt được.
Cho
nên đồng tử Bảo Tích(14) nói: “Dĩ vô tâm ý nhi hiện hành”,
do không tâm ý mà (trí) hiện hành. Kinh Phóng Quang nói(15) :
“Không dao động, Đức Phật, trong thiền định, kiến lập
các pháp”. Do đó mà dấu tích của Thánh nhân trăm ngàn vạn
lối cũng chỉ dẫn độ chúng sinh đến cái Một cứu cánh
mà thôi.
Thế
nên Bát Nhã có thể tự trống rỗng mà vẫn chiếu sáng, Chân
đế có thể bị đánh mất mà vẫn được biết đến, vạn
vật động chuyển có thể thiên biến mà vẫn yên tịnh, Thánh
nhân có thể không hoạt động mà vẫn hội ứng. Tất cả
đấy là nghĩa bất tri mà vẫn tự tri, không biết rằng mình
có hoạt động (ngoại tại) mà vẫn tự hoạt động (nội
tại) vậy. Thế nào là tri? Thế nào là hoạt động?
Nạn
rằng: Chân tâm của Thánh nhân đơn độc sáng chói mà chiếu
soi mỗi mỗi vật, ứng tiếp không dừng, di động mà hội
ứng theo từng sự kiện. Mỗi một vật được chiếu soi nên
biết là không có gì bị bỏ sót; di động mà vẫn hội ứng
với sự kiện nên tuy hội ứng mà vẫn không đánh mất chân
tính. Hội ứng mà không mất chân tính nên hội ứng với
những gì hội ứng được, biết mà không có gì bỏ sót nên
hiện hữu sự biết nơi những gì có thể biết được. Biết
những gì có thể biết được nên Thánh nhân không làm trống
rỗng sự biết của mình; hội ứng với những gì khả ứng
nên Thánh nhân không làm rỗng không điều hội ứng của mình.
Biết là đã hội ứng mà lại nói là không biết, không hội
ứng, là nghĩa làm sao? Nếu như quên mất sự biết, bỏ sót
điều hội ứng kia, tức là Thánh nhân không tư kỷ mà biết
là hội ứng, cho nên tựu thành mục đích riêng tư của mình.
Hay nói cách khác, có phải chăng là thánh nhân không tự khởi
lên điều rằng mình biết, nên đạt được vô tri hay chăng?
Đáp
rằng: Công đức của Thánh nhân, cao cả như Trời Đất mà
lại bất nhân; ánh sáng của Người vượt hơn ánh sáng nhật
nguyệt mà lại ngập tràn hôn ám. Há phải là Người lờ
mờ không biết gì hết như cây đá, là chỉ giản dị là
vô tri mà thôi hay sao? Chắc chắn là thần minh của Người
khác hơn của thế tục, cho nên ta không thể dựa theo sự
tướng thế gian mà cầu tìm được. Ý của ông muốn nói
rằng Thánh nhân không thể tự làm hiện hữu cái Tri của
mình; thật ra là Thánh nhân chưa từng không hiện hữu cái
Tri đó; như vậy có phải chăng là ông đã bẻ ngược bản
tánh của Thánh Tâm, đánh mất ý nghĩa của kinh văn đấy
hay sao? Vì sao?
Kinh
nói(16): “Chân Bát Nhã, thanh tịnh như hư không, không thấy
không biết, không tạo tác, không gây nghiệp”. Đấy tất
là do vì cái trí đó tự nó vốn tri vậy. Há phải đợi cho
bị phản chiếu rồi sau mới vô tri hay sao? Nếu quả như có
cái trí mà tự tánh vốn không thanh tịnh thì tất nó không
thể phân biệt với trí tuệ mê hoặc được. Ba món độc,
bốn món đảo điên(17) cũng đồng thanh tịnh, vậy thì Bát
Nhã độc tôn ở chỗ nào? Nếu ông do vì sở tri đó đẹp
mà gọi đó là Bát Nhã thì sở tri đó quả chẳng phải là
Bát Nhã. Vì sở tri tự thường tịnh nên Bát Nhã chưa từng
là tịnh. Lại nữa, thanh tịnh không phải là duyên cớ để
mà ta có thể tán thán Bát Nhã. Cho nên kinh nói là Bát Nhã
thanh tịnh, tức có nghĩa là do vì thể tánh của Bát Nhã chân
thật thanh tịnh, căn bản không có cái tri chấp thủ mê hoặc.
Căn bản không có cái tri hoặc thủ cho nên ta không thể mệnh
danh là Tri được. Há chỉ vô tri được gọi là vô tri mà
thôi hay sao, mà cả tri cũng là tự vô tri nữa. Cho nên Thánh
nhân do nơi Bát Nhã vô tri mà chiếu soi Chân đế vô tướng.
Chân đế không thiếu sót gì cả, như thỏ, ngựa(18). Bát
Nhã là tấm gương vô cùng bất tận, cho nên hội ứng mà
không sai khác, thích nghi mà không là như vậy. Tịch nhiên
vô tri mà không gì là không biết.
Nạn:
Vật không thể lấy gì để mà tự thông nên ta phải lập
danh để mà thông hiểu đến vật. Vật tuy chẳng phải là
danh(19), mà quả nhiên là có những vật có thể mệnh danh
được và chúng thích nghi với danh gọi đó. Do đó mà khi
ta sử dụng danh để mà tìm cầu đến vật, vật không thể
lẩn tránh đâu được. Thế mà ông lại luận răng Thánh Tâm
vô tri, lại nói Thánh Tâm không gì không biết đến. Theo ý
tôi thì rằng “vô tri” có nghĩa là chưa từng biết; “tri”
chưa từng không biết. Ấy là điều được phái Danh giáo
thông qua, và là căn bản của ý nghĩa khi lập luận vậy.
Vậy mà ông lại cho rằng Thánh Tâm chỉ là Một, do vì ý
chỉ văn ngôn mà thành ra có khác biệt. Tầm theo văn nghĩa
của ông để tìm sự thật, tôi thấy chẳng làm sao mà chúng
có thể thích nghi được. Vì sao? Nếu mà “tri” có mặt
nơi Thánh Tâm, thì “vô tri” không có chỗ để mà được
hiện diện; nếu “vô tri” có mặt nơi Thánh Tâm thì “tri”
cũng không có chỗ để mà hiện diện. Nếu cả hai “tri”
và “vô tri” cùng không có mặt thì chúng ta không còn gì
để mà bàn luận nữa.
Đáp:
Kinh nói(20): “Ý nghĩa của Bát Nhã là vô danh, vô thuyết,
phi hữu, phi vô, phi thực, phi hư”. Tuy hư mà không mất chiếu,
chiếu mà không mất hư, đấy tức là pháp vốn vô danh, cho
nên chẳng có ngôn từ nào có thể nói về nó được. Tuy
rằng ngôn từ không giải thích được nó, nhưng mà nếu chẳng
phải là ngôn từ thì không thể nào có thể truyền đạt
được nó. Do đó mà Thánh nhân trọn ngày nói mà thật ra
chưa từng nói một lời, là vậy. Nay thử vì ông mà cuồng
ngôn biệt biện cái tâm của Thánh nhân.
Vi
diệu, vô tướng, nên không thể được cho là hữu; khi dụng
thì đầy khắp nên không bị cho là vô. Không thể cho là vô
nên Thánh trí luôn luôn tồn tại; không thể cho là hữu nên
danh giáo phải dứt tuyệt vậy. Do đó mà nói là “biết”
mà không hẳn là biết, thật ra là muốn đả thông ý nghĩa
về tấm gương vốn chiếu soi; nói là “không biết” mà
chẳng phải là không biết, chẳng qua là muốn biệt biện
ý nghĩa cái tướng của trí đó mà thôi. Biệt biện về tướng
nên ta không thể cho đó là vô; đả thông ý nghĩa tấm gương
nên không cho đó là hữu. Chẳng phải hữu nên tri mà thật
là vô tri; chẳng phải vô nên vô tri mà thật là tri. Thế
nên nói tri tức là vô tri, vô tri tức là tri, là vậy. Ông
không nên vì lời nói khác biệt mà vội cho rằng Thánh Tâm
có chỗ sai khác.
Nạn:
Chân đế thậm thâm u huyền, nếu chẳng phải là Thánh trí
thì không làm sao trắc lượng được. Năng lực của Thánh
trí chính là phát biểu tại nơi đây. Cho nên Kinh(21) nói:
“Không đạt được trí Bát Nhã thì không thấy được Chân
đế”. Như thế, Chân đế tất làm nhân duyên cho Bát Nhã.
Dùng duyên mà tìm cầu trí, thì trí tất phải biết vậy.
Đáp:
Dùng duyên cầu trí, trí chẳng phải tri. Vì sao? Kinh Phóng
Quang nói(22): “Không duyên nơi sắc mà sinh thức, ấy gọi
là không thấy sắc”. Lại nói: “Năm ấm thanh tịnh nên
Bát Nhã thanh tịnh”. Bát Nhã do đó là năng tri mà ngũ ấm
là sở tri vậy. Sở tri tức là duyên. Tri và sở tri, cùng
nhau mà có, cùng nhau mà không. Cùng nhau mà không nên chẳng
vật nào có; cùng nhau mà có nên bị sinh khởi bởi duyên.
Chẳng vật nào có cho nên duyên không thể bị sinh khởi, Duyên
không thể bị sinh khởi nên chiếu duyên mà chẳng biết; vì
sinh khởi bởi duyên nên tri và duyên cùng nương nhau mà sinh
khởi. Do đó mà tri và vô tri đồng sinh khởi nơi sở tri vậy.
Vì sao? Tri là biết điều bị biết; trì giữ cái tướng (của
điều bị biết đó) nên gọi là biết. Chân đế tự vô tướng,
thì chân trí lấy gì mà có thể biết được?
Vì
sao mà điều này quyết nhiên như vậy? Duyên không phải là
điều sở tri. Điều bị biết phát sinh nơi chủ thể biết,
tức là sở tri sinh khởi ra tri, tri lại cũng sinh khởi ra sở
tri; do đó mà tri và sở tri cùng nhau sinh khởi. Cùng nhau sinh
khởi tức là phải tùy thuộc vào các pháp. Tùy thuộc vào
các pháp cho nên chẳng phải Chân; chẳng phải Chân nên chẳng
phải là Chân đế vậy. Thế nên Trung Quán nói: “Vật tùng
theo nhân duyên mà có cho nên không chân thật; không tùng theo
nhân duyên mà có nên tương ứng với Chân”(23).
Nay
gọi Chân đế là Chân. Nếu là Chân, tất chẳng phải do nhân
duyên. Chân, phi duyên, nên không vật nào tùng theo nhân duyên
mà sinh vậy. Cho nên Kinh nói: “Không thấy có pháp nào không
tùy theo nhân duyên mà sinh khởi, ấy là chân trí quán chân
đế, nên chưa từng nắm giữ điều sở tri”. Trí không nắm
giữ điều sở tri nên trí này do đâu mà biết? Thế nên trí
không phải là chẳng biết, chỉ là Chân đế chẳng phải
là điều bị biết cho nên Chân trí cũng chẳng biết, vậy
thôi. Thế mà ông lại muốn rằng phải dùng duyên mà cầu
trí, nên ông cho trí là biết. Duyên đã tự chẳng phải là
duyên thì do nơi đâu mà ông tìm thấy được cái biết đó?
Nạn:
Ông luận rằng không chấp thủ là có ý nói vô tri nên không
chấp thủ, hay là nói tri rồi sau mới không chấp thủ? Nếu
vô tri nên không chấp thì Thánh nhân tất u u minh minh như là
người đi trong đêm, không biết phân biệt sai khác giữa trắng
và đen. Nếu tri rồi sau mới không chấp thủ, thì tri tất
khác biệt với chấp thủ vậy.
Đáp:
Chẳng phải vô tri rồi mới bất thủ, cũng chẳng phải tri
rồi sau mới không chấp thủ. Mà là Tri tức là Bất Thủ
cho nên có thể bất thủ mà vẫn tri.
Nạn:
Ông luận rằng: Bất thủ, thực ra là do vì Thánh Tâm không
xem vật như là vật tự noù(24) nên không chấp thủ cách mê
hoặc. Không chấp thủ tất không xem nó như thế(25), không
xem nó như thế cho nên không thích nghi với nó(26). Ai thích
nghi với Thánh Tâm mà lại có thể nói rằng Thánh Tâm không
có điều gì mà không biết?
Đáp:
Quả vậy. Quả Thánh Tâm vô thị, vô đương. Thế nhưng, vô
đương tất vật không thể không thích nghi với Thánh Tâm;
vô thị tất vật không thể không như thế. Vật không thể
không như thế cho nên như thế mà không phải thế; vật không
thể không thích nghi cho nên thích nghi mà không thích nghi. Do
đó mà Kinh(27) nói: “(Thánh nhân) tường tận nhìn thấy các
pháp mà thật ra không có điều gì bị thấy cả”.
Nạn:
Thánh Tâm chẳng phải không thể như thế, mà thật ra là lấy
điều như thế làm điều có thể như thế. Tuy là vô thị
mà có thể như thế cho nên thích nghi như thế nơi không phải
như thế vậy(28). Do vậy mà Kinh(29) nói: “Chân đế vô tướng
cho nên Bát Nhã vô tri”. Thật ra đấy có nghĩa là Bát Nhã
biết rằng hữu tướng không hiện hữu. Nếu lấy điều vô
tướng là không có tướng, thì ta còn cần gì phải hệ lụy
nghĩ suy về Chân đế nữa?
Đáp:
Thánh nhân thật ra không vô tướng. Vì sao? Nếu cho rằng vô
tướng là vô tướng, thì trạng thái vô tướng đó tức là
tướng vậy. Xả bỏ cái tướng vô để đi tìm tướng hữu,
cũng ví như chạy trốn đỉnh núi cao để rồi đâm đầu
vào hang thẳm. Cả hai cách đều không thoát khỏi được hoạn
lo. Thế nên Thánh nhân ở nơi hữu mà xem nó là bất hữu,
ngụ chốn vô mà không thấy là vô. Tuy không chấp trì nơi
hữu hay vô, mà cũng không xả bỏ hữu-vô, cho nên hòa lẫn
ánh sáng của mình vào trần lao, luân lưu năm cõi, tịch nhiên
mà trụ, yên tĩnh mà đến, điềm đạm vô vi mà không gì
là không làm(30).
Nạn:
Thánh Tâm tuy không biết, nhưng mà lý tắc hội ứng của tâm
này không sai lạc, cho nên Thánh nhân dùng tâm mình để thích
ứng với điều khả ứng, và tồn giữ tâm trước điều
không có thể ứng hội được. Như thế tức là Thánh Tâm
có lúc sinh khởi có lúc hoại diệt. Thánh Tâm mà lại có
thể như vậy hay sao?
Đáp:
Sinh diệt, là tâm sinh diệt. Thánh nhân vô tâm, thì sinh diệt
lấy đâu mà phát khởi? Lại nữa, chẳng phải là Người
không tâm, mà là Người có cái Tâm Vô Tâm; cũng chẳng phải
không ứng hội mà là ứng hội cách bất ứng vậy. Do đó
mà lý tắc ứng hội của Thánh nhân, là y nơi bốn mùa làm
chất, dựa vào hư vô làm thể, cứ thế mà bất khả đắc
mà sinh, bất khả đắc mà diệt.
Nạn:
Cái vô của Thánh trí, và cái vô của trí tuệ mê hoặc (của
thường nhân), cả hai đều không có sinh diệt. Vậy thì cả
hai tâm này có sai khác nhau đâu?
Đáp:
Cái vô của Thánh trí là không biết, vô tri; cái vô của trí
mê hoặc là biết cái không, tri vô. Tuy rằng cả hai cái Vô
đồng, nhưng điều sở dĩ làm chúng Vô thì sai khác. Vì sao?
Thánh Tâm hư tịnh, không biết có điều có thể không, nên
có thể gọi đó là vô tri, chứ chẳng phải gọi là tri vô.
Hoặc trí thì có biết, cho nên có biết rằng có điều có
thể không, nên có thể gọi đó là tri vô, mà không thể gọi
là vô tri được.
Vô
tri, là cái vô của Bát Nhã. Tri vô là cái vô của Chân đế.
Do đó, mà với Bát Nhã và Chân đế, nếu bàn về cái dụng
thì cả hai tuy đồng mà dị, còn bàn về thể thì cả hai
tuy dị mà đồng. Đồng cho nên đối với cái này cái kia
đều vô tâm; dị cho nên không đánh mất công năng chiếu
sáng. Do vậy mà nếu ta bàn đến điểm đồng thì chúng đồng
nơi dị; bàn đến điểm dị thì chúng dị nơi đồng. Thế
nên chúng bất khả đắc mà dị, bất khả đắc mà đồng
vậy. Vì sao?
Ở
nội tại, Thánh trí hiện hữu ánh sáng của tấm gương độc
nhất; ngoại tại hiện hữu thực thể của vạn pháp. Vạn
pháp tuy thực nhưng nếu chẳng được chiếu sáng thì không
thể đạt được, cho nên cả trong lẫn ngoài phải họp nhau
mà thành được công năng chiếu soi. Đấy là cái dụng của
Thánh trí, vốn là điều không có thể đồng được. Nội
tại tuy chiếu mà không biết, ngoại tại tuy thật mà không
tướng; cả trong lẫn ngoài vẫn tịch nhiên, đồng cùng nhau
đều không, đấy tức là cái thể của Thánh trí vốn là
điều không thể dị được(31).
Do
đó mà kinh(32) nói: “Các pháp không sai khác”; há phải có
nghĩa là kéo dài cẳng con le hay tiện ngắn chân con hạc(33),
dời núi để lấp đầy hang rồi sau mới gọi là không sai
khác đâu. Thật ra là (Thánh trí) không phân biệt có sai khác
nơi những vật dị biệt, cho nên tuy vật khác mà trí không
khác vậy. Thế nên Kinh(33) nói: “Thậm kỳ Thế Tôn! Do nơi
trong pháp vô dị mà thuyết rằng các pháp sai khác”. Lại
nói: “Bát Nhã cùng chư pháp, không phải Một, cũng không
khác”. Nên tin như vậy.
Nạn:
Ông luận rằng: bàn về dụng nên (Bát Nhã và Chân đế) khác
nhau, nói đến thể nên chúng đồng. Nhưng ông chưa tường
trình về Bát Nhã, nội tại có thể sai khác ở nơi thể và
dụng hay không?
Đáp:
Dụng tức tịch, tịch tức dụng, dụng và tịch bản thể(34)
chỉ là Một, đồng xuất mà khác tên vậy thôi. Cho nên không
có cái thể dụng nào có thể làm chủ cái dụng (của Bát
Nhã và Chân đế) được. Thế nên, trí càng u ám thì chiếu
sáng càng rực rỡ. Tinh càng tịch tĩnh thì hội ứng càng
hoạt động hơn. Há phải cho rằng minh, muội, động, tĩnh
khác nhau đâu? Do đó mà Thành Cụ(35) nói rằng: “Không làm
mà vượt quá điều làm”; Bảo Tích(36) viết: “Vô tâm,
vô thức, thế mà không phải không tri giác”. Cả hai đều
bàn đến tột cùng Tinh thần, tận suốt trí tuệ của Thánh
nhân, đến cực đỉnh vượt ngoài danh tướng vậy. Đấy
là minh giải nghĩa văn “Thánh Tâm Khả Tri” vậy.
Chú
thích:
1 Nguyên
Khương sớ trích “Dịch Lược Liệt” của Vương Bật: “Vong
tượng giả nãi đắc ý giả dã, vong ngôn nãi đắc tượng
giả dã”, đánh mất hình tướng mới tìm thấy ý chỉ, đánh
mất ngôn từ mới tìm thấy hình tướng.
2 Kapilavastu,
nơi sinh trưởng của Đức Phật Cù Đàm. Ở đây chỉ cho
Ấn Độ nói chung.
3 Chỉ
cho Trung Hoa.
4 Chỉ
công cuộc Diêu Hưng cử binh đánh Cổ Tạng, kinh đô Hậu
Lương, với mục đích mang La Thập về Tần.
5 Phóng
Quang Bát Nhã tiên đoán rằng Phật giáo truyền bá trước
ở phương Nam, chuyển sang Tây rồi cuối cùng tận phương
Bắc ở Trung Hoa.
6 Diêu
Hưng, tự Tử Lược, vua nhà Hậu Tần (394-416), lấy hiệu
là Thiên Vương. Theo Tần thư tải ký.
7 Chúng
Tăng chuyên học về luận, trở thành luận sư, trái với học
chúng về luật trở thành luật sư.
8 Theo
Xuất Tam Tạng ký tập: khi dịch các kinh Đại thừa, nhất
là khi dịch Ma Ha Bát Nhã, La Thập đọc bản Phạn văn, vua
Tần cầm bản Hán văn do Vô La Xoa dịch trước vốn được
gọi là Phóng Quang Bát Nhã; cả hai chung nhau so sánh hai bản
và tham định những từ ngữ và ý nghĩa của câu văn.
9 Trang
Tử, thiên Thiên Địa, ch. Huyền Châu: “Hoàng đế, làm rơi
mất ngọc huyền sai Ly Châu đi tìm mà không được, bèn sai
Tượng Võng, Tượng Võng tìm được”.
10
Phóng Quang Bát Nhã, q. 14, A Duy Việt Chí Tượng phẩm: “Bát
Nhã ba la mật đa như hư không tướng, diệc phi tướng, diệc
bất tác tướng”.
11
Đạo Hành Bát Nhã, q. 20: “Bồ tát diệc vô hữu biên; sắc
dữ Bồ tát, bất khả đãi bất khả đắc. Nhứt thiết Bồ
tát, bất khả đắc bất khả đãi. Hà sở thị Bồ tát Bát
Nhã ba la mật, đương hà tùng thuyết Bồ tát đô bất khả
đắc kiến, diệc bất khả tri xứ”.
12
Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn kinh: “Dĩ vô tri cố tri”.
13
Triệu luận sớ của Huệ Đạt: “Ngưỡng cầu Phật đạo,
phủ chưởng nhược táng, thuận vật ứng tiếp vô cùng tận
dã: ngước lên tìm cầu Phật đạo, ngó xuống cứu vớt kẻ
thế cô, tùy thuận vạn vật mà ứng tiếp vô cùng tận vậy”.
Dịch
Kinh, ch. 8 nói: “Ngưỡng tắc quán tượng ư thiên, phủ tắc
quán pháp ư địa uần điểu thú chi văn, dữ địa chi nghi”.
14
Duy Ma Cật kinh, Phật Không Quốc phẩm: “Vô tâm ý nhi hiện
hành”, theo bản dịch của Chi Khiêm; “Dĩ vô tâm vô thọ
hành”, theo bản dịch của La Thập, mà Tăng Triệu chú giải
rất chi tiết. Nhưng sao lại sử dụng cú nghĩa sai biệt nơi
đây?
15
Phóng Quang Bát Nhã, Chư Pháp Đẳng phẩm thứ 86: “Như Lai
đại sĩ chi sở sai đặc, bất động ư đẳng giác pháp vi
chư pháp lập xứ”.
16
Ma Ha Bát Nhã, Đẳng Không phẩm thứ 23: "Như hư khong vô kiến
vô văn vô giác vôt hức, ma ha diễn diệc như thị vô kiến
vô văn vô giác vô thức... bất khả kiến bất khả đoạn
bất khả chứng bất khả tri.
17
Ba món độc: tham, sân, si; và bốn đảo điên: cho rằng vạn
vật vốn vô thường, khổ, vô ngã và không là thường, lạc,
ngã và tịnh.
18
Phổ Diệu kinh, cũng gọi là Bản Khởi kinh, và Tỳ Bà Sa luận
nói: “Chân đế không giống như thỏ, ngựa, vốn dĩ thể
nhỏ nên không thể vói tới đáy sông sâu như voi”.
Tỳ
Bà Sa, q. 4, Giải Thập Môn Đại chương: “Vi đắc vô tận
thậm thâm duyên khởi để, phi như nhứt thiết Thanh văn, Bích
chi Phật tác tỷ dụ, tam cầm độ hà: thỏ, mã, hương tượng.
Thố giả, phù nhi độ hà, mã giả, tiểu đa xúc da nhi độ;
hương tượng giả, tận để sa nhi độ; như thị tam thừa
độ duyên khởi hà, Phật, Bích chi Phật, Thanh văn...”.
19
Lấy thí dụ về cái bàn. Ta gọi đấy là cái bàn để mà
phân biệt với những vật khác vốn không phải là cái bàn.
Nhưng “cái bàn” là do ta đồng ý mà gọi như thế, chứ
vật đó có phải thực là “cái bàn” đâu?
20
Ma Ha Bát Nhã, Đẳng Không phẩm thứ 23: “Như hư không phi
ám phi minh, ma ha diễn diệc như thị phi ám phi minh”.
21
Triệu luận Tân sớ, do Văn Tài soạn, trích Đại Trí Độ
luận, Thích Sơ phẩm, q. 18: “Nhược nhân kiến Bát Nhã, thị
tắc đắc giải thoát”.
22
Phóng Quang Bát Nhã, q. 11, Bất Hòa Hợp phẩm: “Bất dĩ ngũ
ấm nhân duyên khởi sinh thức giả, thị vi bất kiến ngũ
ấm”; q. 9, Chiếu Minh phẩm: “Dĩ ngũ ấm thanh tịnh cố
Bát Nhã ba la mật thanh tịnh”.
23
Tức Chân.
24
Nguyên văn: “Bất vật ư vật”. Triệu luận sớ của Nguyên
Khương giải: “Bất dĩ vật vi hữu vật”.
25
Vô Thị.
26
Vô Đương.
27
Phóng Quang Bát Nhã, q.4, Mật Hạnh phẩm: “Phật cáo Tu Bồ
Đề: Bồ tát tác thị hành Bát Nhã ba la mật, ư chư pháp
vô sở kiến, tuy bất kiến chư pháp, diệc bất khủng diệc
bất úy vu, bất hối diệc bất giải đãi”.
28
Triệu luận sớ của Nguyên Khương: “Tuy thị bất thị, thị
cố đương thị ư vô thị dĩ giả. Vật phi thị hữu cố
đương thị vô, bất dĩ vật vi hữu vật, ưng dĩ vật vi vô
vật dã”.
29
Cả Liebenthal lẫn Robinson không tìm thấy nguồn gốc nguyên
văn câu trích dẫn này.
30
Mượn ý Lão Tử: Vô vi nhi vô bất vi.
31
Ta thấy Tăng Triệu dụng ý dùng từ ngữ “tịch” đối
chiếu với “dụng”, thay vì là “thể” và “dụng” như
Huệ Viễn dùng. Và “thể” với Tăng Triệu hợp nhất cả
hai “tịch” và “dụng”. Tuy nhiên, độc giả Phật học
quen thuộc với “thể” và “dụng” hơn nên người dịch
mạn phép dùng chúng khi có thể.
32
Ma Ha Bát Nhã, q. 22, Biến Học phẩm: “Phật cáo Tu Bồ Đề:
Như thị như thị. Chư pháp vô tướng, phi nhứt phi dị tướng;
nhược tu vô tướng thị tu Bát Nhã ba la mật”.
33
Trang Tử, thiên Biền Mẫu, ch. Toàn Sinh Tổn Tánh: “Phù bính
tuy đoản, tục chi tắc ưu, hạc hính tuy trường, đoạn chi
tắc bi”.
34
Ma Ha Bát Nhã, q. 23, Lục Dụ phẩm: “Vô dị pháp trung nhi
phân biệt thuyết dị tướng”.