H.-
Trao đổi văn thư với Lưu Di Dân
Trong
Đáp thư Lưu Di Dân, danh từ Bát Nhã không xuất hiện nữa.
Mà Thánh Nhân bấy giờ được gọi là Chí Nhân hay Ngã, vốn
hiện hữu trong từng vật một. Ngã siêu việt mọi vật hữu
hình, do đó không tri, không ứng hội. Đáp thư khuyến cáo
ta đừng cố công định nghĩa cái Ngã đó.
Cách
giao thiệp bằng thư này là một đặc thái không những đối
với văn học Tây phương mà ngay cả đối với văn học Trung
Hoa nữa. Đây là một hình thức văn học trong đó người
vấn thư chân thành tìm hiểu tư tưởng của người tiếp
thư và không ngần ngại bày tỏ tư tưởng riêng mình. Bởi
vì là cả hai thuyên giải thế giới bằng từ hai cực đoan
đối lập, nên sự dị biệt căn bản của quan niệm hai người
không bao giờ lấp đầy được, nhưng mà do vì cả hai chân
thành diễn đạt tư tưởng của mình nên cuối cùng lại trở
nên tri kỷ, mặc dầu thật sự cả hai không hề gặp mặt
nhau lần nào trong cuộc đời. Tình bạn của họ cho ta thấy
phong thái văn nhã trong học giới Trung Hoa bấy giờ.
Thế
nào là thiền quán mà học chúng Lô Sơn tu tập? Có phải thiền
này xuất phát từ hình thức thuộc Đạo gia? Hay đấy là
thiền đặc biệt của Huệ Viễn? Sự vô tư mà các thế lực
siêu nhiên bảo trì được biết đến từ thời đại nhà
Châu hay sớm hơn. Thế thì ảnh hưởng Ấn Độ bắt đầu
từ bao giờ? Và ở nơi đâu? Chắc chắn là ở nơi sự sùng
tín thần quyền (chư Phật và Bồ tát) vốn chưa được biết
đến trước kia, chư Phật vốn từ bi nhưng đồng thời lại
nghiêm khắc về luật nghi, vốn là những thần linh có thuộc
tính xã hội mà ai cũng sẵn sàng đầu phục. Có phải chăng
ảnh hưởng Phật giáo đã tự tiêu mòn vào trong vai trò lãnh
đạo đó? Có phải chăng Hồ Thích đúng lý khi cho rằng Hán
nhân chấp nhập truyền thống Phật giáo chỉ giản dị là
để phân tán và đồng hóa Phật giáo Ấn Độ vào truyền
thống Trung Hoa? Họ phân hóa điều bất khả phân hóa. Nhưng
mà, có thể nào mà các triết gia gian nan lặn lội từ Đạo
cho đến Phật, đến một vị bất khả mệnh danh, đến Đấng
Chí Nhân vốn chỉ có thể trực nhận qua sự yên tĩnh của
tự tâm con người, chính Tự Tâm Phật, mà lại không hề
bị ảnh hưởng của Long Thọ? Chắc chắn là không. Nếu thế,
thì ảnh hưởng của Long Thọ như thế nào? Văn hóa Trung Hoa
bấy giờ hầu như là đang lê bước vào tử lộ nếu không
được tăng cường sinh khí bởi ảnh hưởng ngoại lai, một
ảnh hưởng quả thật độc đáo, thình lình, và hoạt động
như dòng nước thấm nhuần cây cỏ, mà không truyền thụ
điều gì thuộc vật chất cả.
Lịch
sử của triết lý Phật học Trung Hoa là một minh chứng hiển
nhiên về định thuyết Tự Nhiên này.
Chú
thích:
1 Ngô
giải bất tạ tử, văn đương tương ấp nhĩ.
2 Tức
Hà Án, nhà đạo sĩ lừng danh, tác giả Luận Ngữ tập giải
và Đạo Đức luận, phát huy Đạo giáo.
3 Cả
hai Đại phẩm Bát Nhã và Tịnh Danh kinh được Moksala, Vô
Xoa La, dịch vào đời Tây Tấn, sau Cưu Ma La Thập trùng dịch
vào khoảng 401-406.
4 Sớ,
gồm cả chú, là phần bình giải các kinh điển hay luật luận.
Tự,
phần tựa viết đề cho một tác phẩm nào đó, thường là
tóm tắt ý chỉ căn bản của tác phẩm đó.
Thư,
trao đổi văn thư với đạo hữu; phần này rất quan trọng
trong việc nghiên cứu tiểu sử và những biến cố quan trọng
trong cuộc đời của tác giả, từ đó giúp ta suy ra nguyên
do tạo nên kết quả những công cuộc đóng góp vào văn học
của tác giả.
Ký,
phần tự thuật của chính tác giả, tức là tự truyện.
5 Luận
này đầu tiên được liệt kê trong bản Mục lục năm 858,
nhưng giáo sư Thanh Dụng Đồng đã tận mắt thấy được
bản khác có bài tự của Hoài Huy, vốn mất năm 808.
6 Tục
Tạng kinh ghi: Dĩ niệm thuật lực hóa tác chủng chủng sắc
tướng.
7 Cát
Tạng, trong Pháp Hoa huyền luận, ghi rằng: “Lưu Cầu, trong
bộ Pháp Hoa chú của ông, thu thập thích giải của mười
nhà bình chú, trong đó có cả Tăng Triệu”. Lại còn có một
bộ Kim Cương kinh chuù, gồm trong một tập thành những thích
giải do Dương Khuê thu thập, gọi là Kim Cương kinh tập giải.
Nhưng vì bộ này chỉ được đề cập lần đầu tiên trong
bộ Mục lục Nhật Bản năm 1094, nên có thể là giả mạo.
Những bình chú này chỉ là những thích giải ngoại lệ, không
có giá trị nhiều.
8 Giới-Định-Tuệ:
theo Tịnh Độ, mô thức tam đẳng bất khả phân này mọi
người tu Phật đều phải tu tập qua.
9 Demiéville,
Paul. La mirror spirituelle: les concepts d’éclairer, reflecter, regarder,
voir clairement, comprendre, connaitre, tendent à associer et à se confondre
dans certain mots chinois, chiếu & minh. Dans le Bouddhisme chinois,
chiếu designe techniquement la fonction de la gnose, Bát Nhã.
10
Thần được đề cập đến trong Lão Tử, lại cũng xuất
hiện trong Liệt Tưû. Lão Tử ch.39: Thần nhứt dĩ linh. Tăng
Triệu dịch nghĩa của prajnà là Thánh Tâm, hay đúng hơn là
Tâm Vũ Trụ, Cuộc Sống Vũ Trụ, bởi vì Tâm không phải là
thuộc tính của Thánh nhân; cả hai Thánh Tâm và Tâm đều
đồng thể.
11
Liebenthal, W. One-mind dharma: Nhứt tâm pháp, tr.41.
12
Trung luận, ch.25, kệ 19.
13
Trung luận, Quán Hữu Vô phẩm 15.