F.-
Niết bàn vô danh
Nhà
nghiên cứu về Tăng Triệu hình như là có tìm thấy mấy trang
cuối cùng của thủ bản chân chính của luận này, rồi ông
ta thêm vào một phần biện bác giữa Huệ Quán và Đạo Sanh,
và lại sửa chữa theo văn thể của ông ta. Trong thủ bản
chân chính, Tăng Triệu bàn đến Thánh Nhân như là nhà sáng
thế: “phù thánh nhân không động vô tướng nhi vạn vật
vô phi ngã tạo”. Ở Bát Nhã Vô Tri, Chí Nhân được giải
thích theo bản chất cố hữu của người: ngự trị thế giới,
lo lắng cho chúng sinh và tri biết những gì xảy ra. Nói tắt,
người là Tự Nhiên được nhân cách hóa. Hơn thế nữa, người
là ánh sáng của cuộc sống, thâm nhập và sinh động vũ trụ
vốn là vũ trụ sinh động. Trong hành động sáng tạo đó,
Huyền giám hàm chứa mỗi hình tướng và âm thanh của cuộc
sống hàng ngày. Ở Bất Chân Không, người là Toàn Không vốn
đồng đẳng với cái viên mãn của thế giới. Theo đó, không
có môi trường nào trống không để mà một nhà sáng tạo
nhân cách hóa có thể chen vào.
Có
thể là Tăng Triệu, để chứng minh rằng nhất thiết có Chí
Nhân, nên đã sử dụng thuật ngữ “tạo” thay vì là “chiếu”.
Nhưng mà dầu tạo hay chiếu, sự sáng thế vẫn chỉ có một
ý nghĩa duy nhất là “tự-biểu-hiện”. Như ở Bất Chân
Không, Tăng Triệu bảo rằng: “Công đức chiếu soi của Như
Lai, chiếu công, thì bất khả hoại diệt”. Công đức đó,
ở đây gọi là “sự sáng tạo”.
G.-
Thiền định của Tăng Triệu
Ở
thời đại nhà Tần - khi Tăng Triệu tạo nên luận này - điều
mà học giới tìm kiếm không phải là tri thức khoa học hay
là tiến hóa kỹ thuật, mà là diệu vật, hoặc thuộc tinh
thần hay vật chất, hoặc là một bí ẩn về cội nguyên của
vũ trụ, hay là một dược thảo đưa đến trường sinh bất
tử, vượt thoát mọi bất đắc ý thế gian. Các bộ kinh điển
đều có nói về “diệu vật”đó. Khi Tăng Triệu suy tư
về diệu vật này, Tăng Triệu đi đến những tri ngộ khiến
Tăng Triệu tự giác rằng phải chăng Tăng Triệu vẫn chưa
vượt qua giới hạn hiện hữu của con người. Điều mà Tăng
Triệu tri nhận chắc chắn cũng là điều mà các thiền giả
Ấn kinh nghiệm khi họ nhập định.
Phật
học Ấn Độ thực tập hai phương pháp thiền định, anusmrti:
quán, và samàdhi: tam muội, siêu việt mọi nhận thức. Tam
muội của Tăng Triệu có thể được xem là trạng thái xuất
thần trong đó thiền giả hoàn toàn hòa điệu với tự nhiên.
Cuộc sống vũ trụ là vấn đề triết lý của Trung Hoa; nhập
thể với cuộc sống vũ trụ đó là mục đích tôn giáo. Trạng
thái trong đó thiền giả hay thi sĩ cảm nhận mình hòa điệu
với thiên nhiên là đề tài chính yếu trong những tranh vẽ
thiên nhiên của Trung Hoa, và hơn tất cả, đấy là điều
mà Tăng Triệu kinh nghiệm trong những lúc nhập định tam muội.
Kinh
nghiệm đó có thể diễn đạt qua ý nghĩa “dòng sông cuồn
cuộn chảy xuôi mà vẫn không động chuyển”. Ai dám tin vào
lời mâu thuẫn đó? Chỉ có Đức Thanh đời Minh (tức Cảnh
Sơn Thiền sư, 1546-1623), hơn mười thế kỷ sau là tin, và
theo đó, đã chứng ngộ: “Ai chỉ trích ý nghĩa của câu
nói này, dựa trên kinh nghiệm thế tục của hắn, sẽ phải
bối rối. Nhưng mà hỡi các người ham chỉ trích kia, một
ngày nào đó, các người sẽ đạt đến kinh nghiệm siêu việt
này và các người rồi cũng sẽ phải tin”.
Đức
Thanh là một thiền sư. Nhưng ông lại nhận rằng triết lý
tương phản trong các bài luận của Tăng Triệu quả thật
quan hệ đối với vấn đề mà các thiền sư buộc các hành
giả giải quyết khi tham thiền. Thật ra thì văn học Thiền
đầy dẫy những biểu tượng của Tăng Triệu. Ảnh hưởng
của Tăng Triệu trên hình thức mới nhất này của đạo Phật,
tức Thiền học, quả không thể phủ nhận được.