C.
Chú giải về Bát Nhã
1-
Vấn đề
Như
ta đã nói qua, luận Bát Nhã Vô Tri liên hệ đến cuộc thảo
luận thời đại thế kỷ thứ ba về “hữu tâm, vô tâm”
của Tự Nhiên. Tự Nhiên nhìn vạn vật không “như đôi mắt
con người nhìn thấy. Trang Tử nói rằng: phù tri, hữu sở
đãi nhi hậu đương”, “tri, cần phải đợi đến khi đạt
được kinh nghiệm rồi mới có thể hành động”. Quách Tượng
thích: “tri không thể tiên đoán rằng một hành động là
khả thể hay không, phải chờ đợi cho đến khi tất cả những
điều kiện tiên quyết hội đủ, nhưng mà ai sống theo như
Thiên Thượng (Tự Nhiên) sống thì không cần phải chờ đợi”,
“phù tri giả vị năng vô khả vô bất khả, cố tất hữu
đãi dã; nhược nãi nhậm thiên nhi sanh giả tắc ngộ vật
nhi đương dã”. Nếu thế, thì trí tuệ mà Tự Nhiên thâu
đạt là thế nào?
Giải
đáp của Tăng Triệu là Bát Nhã tri và đồng thời vô tri
đối với những biến diễn trần gian. Điều này chắc chắn
là ngộ phát trong khi Tăng Triệu nghe cuộc giảng giải của
La Thập lúc dịch giải Trung Luận của Long Thọ. Bất kể
những chú thích về luận này, Tăng Triệu không bao giờ thấu
hiểu hoàn toàn ý nghĩa mà Trung đạo biện dẫn trong Trung
Luận đối với Long Thọ, tác giả của nó. Long Thọ đồng
đẳng Nghiệp với Niết Bàn, đồng đẳng bình diện nơi mà
Nhân Duyên (Nghiệp) ngự trị cùng với bình diện mà nó tịch
diệt hoàn toàn (Niết Bàn). Bởi vì, thật ra, không có hai
bình diện khác nhau mà chỉ có mộït, hoặc là một tiến
hành trong mê lộ của những huyễn hóa ngẫu nhiên ràng buộc
lẫn nhau bởi nghiệp lực, hoặc là một tịnh tĩnh bất biến.
Long
Thọ không hề đề cập đến ý chỉ biểu lộ của vũ trụ.
Chuyển hóa chỉ từ giả tưởng đạt đến thật tri. Bao giờ
mà ta còn ngoan cố không chịu giã từ giả tưởng, chấp mắc
vào cái “ngã” hạn cuộc trong dòng tụ họp chằng chịt
của những yếu tố cá biệt ảo hóa, bấy giờ ta vẫn còn
phải là đối tượng của nghiệp tập thành để rồi phải
tan biến đi như những bọt bèo lênh đênh trên biển cả.
Cho nên ta phải biết nhìn thấy mặt kia của thực thể, phải
biết xả bỏ tất cả những ảo tưởng để khám phá ra rằng
cái gọi là “ta” chỉ cứu cánh là sản phẩm của tưởng
tượng, của một tràng nhân duyên kết hợp, để chấm dứt
cuộc đam mê trong lạc thú trần gian. Trong Đại thừa Ấn
Độ, không hiện hữu một Thánh nhân mà ta có thể thâm nhập
vào, và không hiện hữu Đạo mà ta có thể hòa điệu với.
Ta sẽ thấy sau đây mệnh đề danh tiếng của Tăng Triệu
“tức tợ tức chân”, nói lên một ý chỉ vô cùng khác
biệt với ý chỉ tương tùy Trung đạo của Long Thọ “samsàra
eva nirvànam: nghiệp tức Niết bàn”.
Đối
với Tăng Triệu, Bát Nhã đồng tính với Tâm của Thánh nhân.
Tâm này được thảo luận ở thế kỷ thứ ba, như ta đã
nói qua ở trên. Vấn đề nêu lên là vị Thánh nhân hành động,
hay là Tâm Thể có thể thấy những diễn biến trần gian?
Những ý kiến đương thời chia rẽ nhau. Tăng Triệu giải
quyết điều này bằng cách đồng đẳng cả hai cực đoan.
Đề mục chính yếu của Bát Nhã Vô Tri luận là minh chứng
sự đồng đẳng đó: Bát Nhã tri và đồng thời bất tri,
hay đúng hơn là vô tri theo cách thức nhân tâm biết về những
sự vật hay sự kiện rời rạc nhau. Theo đó, Tăng Triệu muốn
nói gì?
Hình
ảnh mà Tăng Triệu tập thành về Lão Tử được phong phú
thêm bằng một ý hướng mới: “hư nhi bất hữu, hư nhi bất
vô; hư bất thất chiếu, chiếu bất thất hư”. Ở Lão Tử
không có vấn đề một Tâm Thể ngủ yên từ nguyên thủy
rồi vào một lúc nào đó chợt bừng dậy. Ở nguyên thủy,
vũ trụ tịnh, yên, bất động bởi nhân tình, nhưng Lão Tử
không hề nói là vũ trụ trước tiên huyễn hoặc rồi sau
mới minh chiếu. Qua Tăng Triệu, theo đó, thuyên giải về Đạo
của Lão Tử như là Chiếu là một điều mới lạ đương
thời. Bát Nhã của Tăng Triệu lại cũng thế, là huệ chiếu
của Thánh Tâm được nhân cách hóa. Tâm đó có thể là chưa
bừng tỉnh và rồi trở nên “hư”; hay là bừng tỉnh để
rồi phải viên mãn với những “sôi động của cuộc sống”.
Hình ảnh này khiến cho sự đồng đẳng thể và dụng dễ
dàng hơn. Bởi vì khuôn thức thể dụng vốn đòi hỏi đến
động tính biểu đức như là tiềm tàng trong mỗi biến chuyển
do vì biến chuyển luôn luôn đưa từ một trạng thái này
đến một trạng thái khác, không phải theo như ta quan niệm
là một vật di động từ một chỗ này đến một chỗ khác.
Thang
Dụng Đồng, trong khám phá về sự thuyên giải của Vương
Bật về Dịch Kinh và Luận Ngữ, cho rằng: Bản thể là trật
tự biểu đức trong đó vạn vật được dung chứa và phát
sinh nhưng mà tự nó thì lại vô chất và vô hình. Nó là cái
bất biến, là toàn thể viên mãn, mà mỗi biến chuyển đều
có luật riêng của nó theo Trật Tự. Nó khởi sinh sự triển
khai theo dòng luân lưu của Đại Dụng, mà ý nghĩa của nó
được Triệu sử dụng qua thuật ngữ Chiếu Công. Ý tưởng
về biểu đức, như trên vừa đề cập đến, Tăng Triệu
bị bắt buộc phải xả bỏ nếu mà thuyết đồng đẳng về
Thể và Dụng của Tăng Triệu được minh chứng là chân thật.
Cho
dầu phải thế, Tăng Triệu vẫn còn một thuyết tương tự
dùng để chứng minh cho thuyết đồng đẳng của mình. Theo
truyền thống Trung Hoa, vũ trụ không những chỉ có một khởi
điểm, mà còn có một trung tâm nữa. Đối lập với trung
tâm (nội) là vòng chu vi (ngoại). Khuôn thức này thích nghi
với thuyết đồng đẳng. Bởi vì, nhìn từ bên trong (nội
tại) và từ bên ngoài (ngoại tại) thì vật bị nhìn thấy
vẫn là một.
Do
đó, dầu cho ta có sử dụng danh từ gì chăng nữa thì ta vẫn
còn nằm trong cùng một khuôn thức mà khuôn khổ của nó bị
tô điểm bởi nhiều hình sắc. Sự phát biểu thay đổi, nhưng
mà ý nghĩa vẫn là một. Gọi Tâm là tịch tĩnh là nói về
Nội Thể của nó, đó là Tăng Triệu đề cập đến Tâm ở
phương vị Thể, “nội hữu độc giám chi minh”; gọi Tâm
là minh chiếu, tỉnh thức, nói về Ngoại Chất của nó, đó
là Tăng Triệu đề cập đến Tâm ở phương vị Dụng, “ngoại
hữu vạn vật chi thức”. Nhưng mà, mặc dầu bị miêu tả
sai biệt nhau, Tâm vẫn là Tâm. Làm sao mà Toàn Thể lại có
thể là cái này hay cái kia được? Chỉ vì Tâm của chúng
sanh chúng ta phân biệt mà nên vậy thôi, “biện đồng chi
đồng ư dị, biện dị chi dị ư đồng”, là vậy.
Ở
Lô Sơn, nơi Tịnh Độ tông do Huệ Viễn sáng lập và thịnh
hành truyền bá, từ ngữ Tịch, thay vì là Thể, được sử
dụng bởi các hành giả chú ý thâm nhập Tâm Thể này vào
Thiền định. Nhưng các thiền giả này tri nhận vạn vật
cách khác biệt nhau, cho rằng ta không thể lìa Thiền định
mà đạt được Bát Nhã(8), chỉ có trong Thiền ta mới đạt
được Bát Nhã. Khi Thiền Tâm đã viên mãn thì ta thâm nhập
vào Tuệ Tâm. Với Tăng Triệu, đây là một tiến hành thuộc
thế tục (in mundo). Huệ Viễn không cho là Tuệ Tâm đồng
đẳng với thế gian, mà cho là một siêu thể hoạt động
trong thế gian và trong lúc hoạt động đó tự biểu lộ hoặc
chiếu sáng hoặc tĩnh mặc, như là mặt trăng, hay như là âm
và dương.
Tăng
Triệu đả kích hình ảnh này trong “Thư gửi Lưu Di Dân”.
Chủ thể của Động Tác Vũ Trụ (Thiên Nhiên) không phải
là vị Thiền Sư Vũ Trụ (Thánh Nhân), nhưng mà là vũ trụ
hoạt động bởi chính tự nó. Hoạt động của Như Lai là
sự biểu lộ của Cuộc Sống Vũ Trụ, sự tự biểu lộ của
chính hoạt động đó, hay là sự biểu lộ của Thánh Nhân,
chỉ khả thể nếu mà Như Lai không tham dự vai trò nào trong
đó. Trong tấn tuồng này, vị sáng thế và sự sáng thế là
một, “vật bất dị ngã, ngã bất dị vật; ngã vật huyền
hội, qui hồ vô cực”, Niết Bàn Vô Danh luận nói như thế.
Biểu
tượng thông dụng của Tăng Triệu là tấm gương đen (huyền
giám). Tâm của chúng sanh cũng như tấm gương, nhưng mà đối
lập với những tấm gương bằng đồng - chúng không phải
chỉ phản ảnh vật từ bên ngoài mà còn biểu lộ cả những
vật từ bên trong nữa. Do đó, chúng không dựa trên ấn tượng.
Cuộc sống, ta có thể nói, sáng rọi, nó bừng chiếu. Khi
bừng chiếu, Bát Nhã phản chiếu nội tại và từ đó, tạo
nên cái mà ta gọi là “thế gian”, nhưng mà thật ra chỉ
là cái thế giới nội tại của Bát Nhã mà thôi(9).
Ở
Lô Sơn, Thánh Nhân được tri nhận như là vị Thiền Sư Vũ
Trụ, nhưng mà thiền định của Bát Nhã vượt hơn Thiền
Định, nó là một Sinh Hoạt Vũ Trụ. Nhà Thiền tu gạt thế
giới bên ngoài ra để mà rút vào tịch lặng, để mà nhìn
thế giới từ bên trong; còn Bát Nhã thì vừa là nội tại
lẫn ngoại tại đồng một lúc. Hiện hữu đương nhiên của
Bát Nhã là ánh sáng, là sự sống, là sáng tạo. Tất cả
mọi nhị nguyên đều bị gạt bỏ.
Vậy
thì thế nào là Bát Nhã? Có một kinh nghiệm nào có thể cho
ta biết được một ý niệm về điều mà Tăng Triệu muốn
nói, hay là Tăng Triệu chỉ giản dị là để cho niềm tưởng
tượng của Tăng Triệu lăng xăng không mục đích? Trong Vật
Bất Thiên luận, Tăng Triệu đồng đẳng Như Lai với Đạo,
vốn là định luật căn bản của mọi diễn biến, tạo nên
mọi diễn biến, biểu lộ chúng, tri nhận và điều khiển
chúng, “Thánh nhi ứng hội chi đạo tắc tín nhược tứ thời
chi chất”. Thế nào là định luật? Nó không phải là một
vật. Có những sự kiện phân định kỳ, như là những vận
hành của thiên không, như là bốn mùa tuần hoàn, cho ta thấy
rằng chúng được dẫn hành bởi định luật. Có phải chăng
Tăng Triệu ghi nhận rằng những định luật đó có thể được
khám phá bất cứ nơi nào trong mọi sự kiện xảy ra hầu
như tình cờ của cuộc sống hàng ngày? “Đạo có xa vời?
Cuộc sống của chúng ta là thực tại. Thánh Nhân có quá xa
vời? Tri nhận được Người như thật sự Người là, và
ta sẽ trở thành Thần”, Tăng Triệu nói như thế ở cuối
Bất Chân Không luận. Và trong Vật Bất Thiên, Tăng Triệu
cho ta thấy một đam mê tầm cầu trật tự trong cái vô trật
tự theo thứ tự thời gian của những biến diễn vốn khiến
ta phân vân không biết Tăng Triệu ở xa bao nhiêu địa điểm
nơi mà các định luật chấm dứt là đặc quyền của Thượng
đế.
2-
Huyền thoại
Trong
cảnh trí “Bát Nhã Vô Tri”, ta thấy Tự Nhiên, hay Thánh
Nhân, tri nhận được tất cả những biến diễn và bổ túc
mỗi một vật với nhu cầu của nó. Thánh Nhân ngự trị định
mệnh và hướng dẫn chúng như là Trật Tự hay Luật Tắc,
hướng dẫn con người đến số phận của họ. Mặc dầu
là trật tự này vận hành như là những mùa tuần hoàn, hay
như là tấm gương phản chiếu hay như tiếng đồng vọng,
một cách tự nhiên và vô ý thức, mặc dầu là Thánh Nhân
hành động không cần kích thích bởi điều kiện, và mặc
dầu Người không có dự trù nào trong khi hành động như thế,
vẫn có một ràng buộc huyền bí giữa Người và vạn vật
trong vũ trụ, một loại nhân duyên phổ quát giúp Người có
thể cảm nhận được những lời cầu nguyện của vạn vật.
Tóm lại, Thánh Nhân của Tăng Triệu không khác nào Thánh Nhân
của Đạo gia đương thời.
Nhưng
còn những hình ảnh khác vốn thay thế Thánh Nhân thì sao?
Chức vụ của họ rất mơ hồ. Họ có thể giữ toàn thể
những nhiệm vụ của Thánh Nhân hay chỉ một phần mà thôi.
Trong Vật Bất Thiên, Thần ngự trị thế giới và lo lắng
đến vạn vật, trong lúc Bát Nhã tri biết những diễn biến,
và đôi khi giữ cả hai nhiệm vụ. Sự phân biệt giữa cả
hai không mấy quan trọng(10).
Huyền
thoại này ta không nên xem là hệ trọng. Con người nói đến
Thánh Nhân như là các nhà triết gia trung cổ Tây phương nói
đến Thiên Chúa, chỉ định ngài với tất cả mọi thuộc
tính và nhiệm vụ. Những thuộc tính và nhiệm vụ này không
phải là biểu trưng, nhưng mà chúng cũng không hàm tàng đức
tin nào cả. Không có nhà triết gia Trung Hoa nào tin tưởng
nơi Thánh Nhân như là người đạo Gia Tô tin tưởng nơi Thiên
Chủ của họ. Mà đúng hơn là Hán nhân tham dự với những
hình ảnh vũ trụ ï, cố gắng thiểu thâu những hình ảnh
này vào những ý tưởng ít nhiều trừu tượng. Trong Thiền
học Phật giáo, Đức Phật không còn một thuộc tính nào
ngoài vấn đề là làm thế nào để nói về Người, thế
thôi.
Đối
với người đương thời, những cảnh trí và hình ảnh siêu
hình của Tăng Triệu được tô điểm bởi những từ ngữ
Phạn văn như là một thời trang. Tăng Vệ, người từng chú
giải Thập Địa kinh và viết bài tự cho kinh này(11), đồng
đẳng Đạo với Thừa, và gọi Đại thừa điều vốn từng
được gọi là Đại Đạo. Bát Nhã cưỡi trên thừa đó và
tràn ngập thế giới với ánh sáng của cuộc đời. Tăng Triệu
không xông xáo xa đến như vậy. Nhưng mặc dầu không phải
là một vị Thần, Bát Nhã chắc chắn cũng là một nhân tính
như là Thánh Nhân hay Tự Nhiên, bà mẹ của vạn hữu.