IV
- CHÚ GIẢI VÀ BÌNH LUẬN VỀ TRIẾT LÝ TĂNG TRIỆU
A.-
Ý nghĩa "khuôn thức
Triết
lý của Triệu luận không phải là một hệ thống như chúng
ta hiểu theo nghĩa Tây phương, với những dụng từ được
định nghĩa hoàn toàn chính xác và chủ đề phân tích chi
tiết để lập thành một liên hệ chặt chẽ trong toàn thể
vấn đề. Mà triết lý của Tăng Triệu là một hình ảnh
dựng trên truyền thống Trung Hoa qua cảm hứng theo ảnh hưởng
Thiên Trúc. Thay vì là sự kiện, ta chỉ có ảnh tượng; đáng
lẽ là phân tích, thì ta lại tìm thấy luận chứng. Luận
chứng này không hẳn là dùng theo tư tưởng khoa học như ta
đòi hỏi, mà là chân thật nếu được minh xác. Triết lý
Trung Hoa, ở phương diện này, không khác biệt với văn chương
hay nghệ thuật, vì nó thuyên giải những gì hiện hữu, thay
vì là miêu tả chúng như là những đối tượng.
Chúng
ta quen nói về “hình ảnh” vốn thay đổi theo dòng lịch
sử như là hình ảnh Bồ tát Quán Âm Diệu Thiện hay là của
một nhân vật lịch sử như Tổng thống Hoa Kỳ chẳng hạn.
Hình ảnh đó nói lên được gì? Không phải là sự thay đổi
trong chính sự kiện theo chân lý, mà là sự thay đổi của
sự thánh thiện, hay là của con người tổng thống, trong tâm
trí của mỗi một người nghĩ về hình ảnh đó. Điều này
có thể hay không có thể phù hợp với thực tại. Mà ngay
cả khi nếu nó có phù hợp đi chăng nữa thì cũng không hẳn
là trong hiệu lực mà cái hình ảnh đó có trong tâm thức
của chúng ta. Sự kiện không khơi dậy tình cảm của chúng
ta trước khi chúng được thuyên giải và biến thái vào trong
“hình ảnh”. Cái trống không vô nghĩa mà ta bị đặt vào
cần được lấp đầy do chúng ta với những ý nghĩa, và từ
đó, ta tạo nên giá trị. Chứ ta còn cách nào khác hơn để
tìm ra được định hướng nữa đâu? Tôn giáo và triết học,
thần thoại, ý thức hệ, kịch trường hay nghi lễ, thời
trang v.v..., tất cả đều bị thuyên giải trong ý nghĩa là
chúng bị gán cho một ý nghĩa khi bị chạm trán trong cuộc
đời. Hình ảnh của chúng ta về thực tại, mà không phải
chính thực tại tự nó, là những gì mà chúng ta yêu thích
và ghét bỏ, là những gì chúng ta tranh đấu và liều sống
chết cho. Điều này tạo nên một thái độ cho ý nghĩa “sự
thật”, một danh từ được sử dụng với hai ý nghĩa.
Sự
thật thực tế của một sự kiện được quyết định bởi
thí nghiệm, của một thuyên giải bởi phản ứng tình cảm
vốn cho ta biết điều mà chúng ta đang chạm trán với, điều
đó thánh thiện hay thù nghịch. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta có thể
bị ảo ảnh lừa gạt. Chúng ta có thể nghi ngờ. Trong trường
hợp đó, chúng ta tìm định hướng trong kinh nghiệm quá khứ
hay trong kiến thức mà ta có. Ở đây, ta tìm thấy “thuyên
giải”, không hẳn chỉ là bằng văn từ mà bằng nhiều phương
cách vốn bao quát truyền thống mà trong đó chúng ta sinh trưởng.
Thuyên giải này vững chắc còn hơn là cơ quan, thay đổi nhưng
vẫn sống còn và có thể tìm thấy dấu vết qua toàn thể
lịch sử của một xã hội.
Những
thuyên-giải-vũ-trụ không phải là những khuôn thức, mà là
những khuôn thức bắt nguồn từ chúng. Những thuyên-giải-vũ-trụ
được lập thành do quan sát khi mà một quan sát qua loại suy
quyết định những kích thước vũ trụ và đưa đến một
khởi nguyên phổ quát. Chúng đại biểu cho môi trường được
thuyên giải trong đó chúng ta sống với những hình ảnh và
tiêu chuẩn giá trị của nó. Khuôn thức chỉ là những hình
ảnh đơn độc được trở thành khả dĩ thiên chuyển và
tái hiện trong một môi trường khác hơn là môi trường nguyên
thủy mà từ đó chúng phát sinh. Hans Leisegang gọi chúng là
Denformen, trong tác phẩm cùng tựa, nhưng chỉ phân biệt có
hai khuôn thức, tam giác thể (ba cạnh) và vi thể (tròn). Pháp
ngữ dùng chữ motif với cùng ý nghĩa này trong nghệ thuật,
âm nhạc, văn chương... Chúng ta ở đây chỉ cần phân biệt
“thuyên giải” vốn bất khả thiên chuyển như là một toàn
thể và “khuôn thức” khả thiên. Thể-Dụng vốn là thuyên
giải vì được lập thành trên loại suy, nhưng lại trở thành
khuôn thức khi bị thiên chuyển từ vũ trụ hệ để giải
thích tác dụng của cá thể, sự kiện... Một cơ khí ở Tây
phương trở thành một khuôn thức ngay sau khi được phát minh
(con người máy móc); một số những nhà vật lý học thuyên
giải thế giới như là một cơ khí y như là những nhà đạo
sĩ thuyên giải “thiên biến vạn hóa” hay như những nhà
triết lý Ấn Độ thuyên giải sự tiến hóa của thế giới
như là một phong phú của lý tắc sáng tạo. Trăm ngàn thuyên
giải như thế xuất hiện để dần dần biến thành tín điều
và đưa đến những bó buộc của nghi thức và luật lệ đạo
đức.