DẪN
NHẬP
I
- SỬ LƯỢC
A.-
Cuộc thế Trường An
Khi
Cưu Ma La Thập đến Trường An thì Phật giáo đã hưng phát
ở đây rồi. Đạo An, Trúc Phật Niệm và một số những
Phật gia Ấn Độ khác đã thiết lập xong nền tảng căn bản
cho Phật học ở Trung Hoa.
La
Thập bấy giờ đã 58 tuổi. Ông đầu tiên trụ ở Tiêu Dao
viên, một khu vườn rộng lớn ở phía Tây bắc cổ thành
bên bờ sông Vị Thủy; sau đó dời về Đại Tự trong nội
thành. Những nơi này chắc chắn là có không khí tự viện
Lạt ma hơn là tự viện mà ta thấy ngày nay. Chắc chắn là
có rất ít những tòa nhà kiên cố; từ ngữ “thảo đường”
cho ta ý niệm một gian chánh điện mái lá vách cỏ; những
vị chuyên dịch thuật kinh điển hội tại phía Tây dãy lầu
giáp cánh với chánh gian tại Tiêu Dao viên; các buổi giảng
pháp diễn tại Chứng Huyền đường.
Vua
nhà Hậu Tần, Diêu Hưng, vốn đã quen thuộc với Phật giáo,
vô cùng tích cực trong công việc giảng dạy các kinh điển
và ngay cả dịch thuật nữa. Vua có viết nên một lược đồ
ngắn về các triết thuyết chủ yếu của Phật học để
dùng riêng, mà vua gởi đến La Thập để tường lãm. Những
văn thư trao đổi giữa hai người nay đã thất lạc. Những
điều này chứng tỏ rằng nhà vua là một người thông minh,
tuy không phải là một học giả uyên bác.
Tin
La Thập đến Trường An lan truyền ra, các học chúng từ bốn
phương quy về dưới trướng La Thập thật đông đảo, và
được gọi là chúng Nghĩa Học để phân biệt với những
học chúng ở Lô Sơn được gọi là Luật Học. Huệ Viễn,
sáng tổ Tịnh độ tông, đã thu thập được rất đông đệ
tử ở Lô Sơn (Hồ Nam) bấy giờ rồi. Huệ Viễn từng liên
lạc với La Thập để hỏi về nhiều chủ đề mâu thuẫn
nhau đương thời. Tiêu đề chánh yếu là Pháp thân (Dharmakàya)
và những vấn đề liên hệ. La Thập giải thích những mâu
thuẫn của triết thuyết này bằng cách dẫn chứng nhiều
chú giải khác nhau, trong khi nhu yếu của Tăng chúng Lô Sơn
lại chỉ cần một học thuyết giản dị của Phật giáo là
đủ. Sự dị biệt về tâm thức giữa nhà học giả Ấn Độ
và Tăng chúng Lô Sơn vốn không được giảng dạy theo giáo
điều, thật quá xa để mà - như Huệ Viễn ghi lại - có thể
đạt đến kết quả tốt đẹp qua liên lạc bằng văn thư.
Thật
ra, ảnh hưởng của La Thập không phải ở nơi sự nghiệp
viết lách, mà là ở nơi những giải thích khẩu truyền và
nhân cách đáng kính của ông. Từ bi, không kiêu mạn mặc
dầu tài trí xuất chúng, và phong thái chịu đựng những hệ
lụy không một lời ta thán, khiến La Thập được tôn kính
như là một thánh nhân hơn là một học giả. Ngụy Thư Thích
Lão ghi rằng, vua Cao Tổ, 471-499, cho xây một kiểng chùa trong
vòng Thường Trụ tự nơi La Thập tịch để tưởng niệm
người; những điều này ghi lại một ấn tượng đậm đà
trong lòng học giới Trung Hoa miền Bắc bấy giờ. Miền Nam
đương thời vẫn còn bị cho là hoang dã.
La
Thập ở Tràng An 12 năm, dịch một số lớn các kinh luận
quan trọng như: Đại phẩm Bát Nhã, Đại Trí Độ luận, Tiểu
phẩm Bát Nhã, Tịnh Danh kinh, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Trung
Quán luận, Bách luận, Thập Nhị Môn luận, Thành Thật luận,
Thập Tụng luật.
La
Thập tịch năm 413. Bốn năm sau, Tràng An bị tàn phá, các
học chúng Nghĩa Học phân tán và trung tâm Phật học phải
thiên xuống miền Nam.
B.-
Tăng Triệu
Mặc
dầu còn trẻ, Tăng Triệu được liệt vào hàng tứ kiệt
của La Thập - gồm Đạo Sanh, Huệ Quán, Tăng Triệu và Tăng
Duệ - và rất tích cực trong việc dịch thuật. Tăng Triệu
giữ việc “chấp bút” cho thầy, tức là tập thành bản
Hán văn những kinh điển do La Thập giải thích theo khẩu truyền,
và cả ghi lại những chú thích hay phê bình mà La Thập thỉnh
thoảng thêm vào. Chính dựa trên những cuộc tham dự vào việc
dịch thuật kinh điển này mà Tăng Triệu tạo nên các bản
luận, nay được tập thành gọi là Triệu luận.
Với
một tâm hồn tinh khiết, không bị buộc ràng bởi thành kiến
hay học thuyết thiên chấp nào, Tăng Triệu đã thấu triệt
ngay bản ý của Long Thọ khi nghe thầy giảng Trung luận, nên
ngay sau đó, liền trước tác Bát Nhã Vô Tri luận, vào khoảng
404 sau TL, hơn hai ngàn lời, trình lên thầy và được tán
thán: “Ta hiểu không thua ngươi nhưng văn từ phải nhường
ngươi”(1). Đến Lưu Di Dân cũng phải kinh dị: “Không ngờ
trong Tăng giới lại có bậc Bình Thúc”(2); và Huệ Viễn
phải ca ngợi: “Thật là độc đáo”. Tăng Triệu bấy giờ
chỉ mới hai mươi tuổi. Sau đó, Tăng Triệu sáng tác Vật
Bất Thiên, Bất Chân Không và Niết Bàn Vô Danh luận, từng
được Diêu Hưng hoàng đế nhà Hậu Tần, 393-416, hạ bút
chú giải từng chi tiết một và ngự đề tựa cho, lập thành
một “Trung Quán luận Trung Hoa”, tức “Triệu luận”, vừa
triển khai ý chỉ của vị Bồ tát Luận sư vĩ đại Long Thọ,
vừa minh chứng sở ngộ của riêng Tăng Triệu để tự tạo
nên một địa vị độc đáo trong văn học Phật giáo Đại
thừa, và từ đó, lập nên một học thuyết Tánh Không mang
văn thể Đạo gia, dùng từ ngữ Quách Tượng, trích dẫn Lão
Trang để nói về chân lý tự chứng: Niết bàn có thể đạt
đến ngay trong chính cuộc sống này chứ không phải ở một
thế giới khác. Chân lý vốn là nguyên lý căn bản và là
mục đích của Trung đạo vậy.
C.-
Giá trị học thức của Tăng Triệu
Ngôn
từ mà Tăng Triệu dùng phần lớn là theo Đạo giáo, nhất
là trong Bát Nhã Vô Tri. Các luận sau cũng đầy dẫy những
dẫn chứng từ Lão Tử Đạo Đức kinh và Trang Tử Nam Hoa
kinh; cả Dịch kinh và Luận ngữ cũng được dẫn chứng. Tăng
Triệu còn thông hiểu văn chương của Vương Bật (226-269?)
và của những đạo gia ảnh hưởng Phật giáo đương thời
như Huệ Viễn, Chi Đạo Lâm (314-366), v.v...
Những
kinh thường được dẫn chứng là Đại phẩm Bát Nhã, Tịnh
Danh kinh(3), Đạo Hành Bát Nhã, Trung luận và Đại Trí Độ
luận. Điều đáng kinh ngạc là Tăng Triệu không hề trích
dẫn Bách luận hay Thập Nhị Môn luận, trong khi theo truyền
thống Nhật Bản thì Tăng Triệu lại là sáng tổ Tam luận
tôn. Một đôi khi, Tăng Triệu cũng dẫn chứng Pháp Hoa kinh.
Điều này cho ta ý niệm rằng dường như các học chúng không
phải tham dự vào tất cả các công cuộc dịch thuật, mà
chỉ chia thành từng nhóm học tập một số kinh điển chỉ
định nào đó và do đó không thể học hỏi các bản kinh
khác.
Rất
nhiều Tăng sĩ học hỏi một bản kinh duy nhất trong suốt
trọn cuộc đời của họ; đấy là một phần đặc thái của
sự phân chia thành tông phái chủ trì chỉ một bộ kinh căn
bản của Phật học Trung Hoa.
II
- TÁC PHẨM CỦA TĂNG TRIỆU
Văn
học Phật giáo Trung Hoa phát triển qua các thể sớ, tự, thư
và kyù(4) và các thể tương tự khác. Những thể này do cá
nhân tự sao chép lấy hay do lệnh của một quan chức giữ
phần tập thành các tài liệu văn học mà được thu tập
lại.
Triệu
luận là một bộ các tác phẩm được tạo thành giữa khoảng
404-414 sau TL, và có lẽ được viết theo thứ tự thời gian
như sau: Bát Nhã Vô Tri, Bất Chân Không, Vật Bất Thiên và
Niết Bàn Vô Danh luận. Ở những bản mục lục xưa, mỗi
luận xuất hiện rời rạc nhau cho đến khi Phí Trường Phòng
lần đầu tiên tập thành chúng lại trong Lịch đại Tam bảo
ký, năm 597, gọi chung là Triệu luận, gồm có:
1-
Tông Bản Nghĩa - không được liệt kê trong các mục lục
xưa, vốn được tập thành vào triều đại nhà Lương hay
sớm hơn. Sau mới được các nhà tập thành về Tăng Triệu
thêm vào.
2-
Vật Bất Thiên luận - viết vào năm 410 hay trễ hơn.
3-
Bất Chân Không luận - cả hai, Vật Bất Thiên và Bất Chân
Không, đều dẫn chứng theo Trung Quán luận vốn được dịch
vào khoảng 408-409, do đó mà cả hai luận này chắc chắn là
phải được viết sau niên lịch này. Trủng Bản Thiện Long,
trong Tăng Triệu nghiên cứu, cho là năm 410.
4-
Bát Nhã Vô Tri luận - phần tự đề cập đến việc La Thập
dịch Đại phẩm Bát Nhã vốn được hoàn tất năm 403. Năm
408, Đạo Sanh mang một bản sao của luận này đến Lô Sơn,
nơi luận được Huệ Viễn và Lưu Di Dân nghiên cứu. Do đó,
chắc chắn luận phải được viết giữa khoảng 408-409, và
trước hai luận trên. Thiện Long cho là năm 405.
5-
Trao đổi văn thư với Lưu Di Dân về những vấn đề thuộc
luận trên. Lưu Di Dân viết thư vấn vào cuối năm 409, nhưng
khi đáp thư của Tăng Triệu đến Lô Sơn, 7 tháng sau, thì
Lưu Di Dân đã tạ thế rồi.
6-
Niết Bàn Vô Danh luận - dẫn nhập bằng biểu tấu vua nhà
Tần, Tấu Tần vương biểu, một phần giả mạo nhưng dựa
trên các tài liệu chân thật.
Ngoài
ra, Tăng Triệu còn được cho là tác giả của những tác phẩm
sau đây:
1-
Tịnh Danh kinh chú: Kinh này được dịch vào năm 406, do đó
bộ chú của Tăng Triệu chắc chắn phải được viết vào
khoảng 406-410. Thiện Long cho là năm 407.
2-
Duy Ma Cật Sở Thuyết kinh chú, trong đó ba vị Luận sư La
Thập, Tăng Triệu và Đạo Sanh được đề cập đến. Bản
chú giải của Đạo Sanh viết sau bản của Tăng Triệu với
mục đích cố gắng tìm hiểu Tăng Triệu.
3-
Tịnh Danh kinh tập giải quan trung sớ, do Đạo Dịch tập thành
năm 760.
Ngoài
ba bản chú trên, còn có bản của Tăng Duệ. Một thủ bản
đời Tần tìm thấy ở Đôn Hoàng được La Chấn Ngọc in
trong Thất Kinh Thám Tùng Khan.
4-
Cưu Ma La Thập Pháp sư lụy, do chính Tăng Triệu thân đề
tự, vẫn còn truyền trong Quảng Hoằng Minh tập, quyển 26.
Bản tiểu sử có kể đến, nhưng Thiện Long nghi ngờ chủ
quyền tác giả của nó.
5-
Các bài tự - Pháp Luận mục lục chỉ kể có ba: Tự cho kinh
Tịnh Danh, cho Trường A Hàm vốn được dịch vào năm 413,
và cho Bách luận vốn được dịch năm 404. Bài tự cho kinh
Phạm Võng đáng nghi ngờ vì ngay chính kinh này cũng bị xem
như là giả trá.
6-
Bảo Tạng luận - Các học giả Nhật Bản và giáo sư Thanh
Dụng Đồng(5) nghiên cứu thật chi tiết luận này. Luận có
một đoạn biện luận trực tiếp chống đối lại các vị
niệm Phật tăng, họ có thể là nhóm Lô Sơn vốn dĩ là tín
đồ Tịnh Độ(6). Về văn thể và ý chỉ, tác giả của luận
này hình như là một đạo gia Phật tử ở vào thế kỷ thứ
năm. Tác giả, tuy không phải là Tăng Triệu, nhưng chắc chắn
là thâm hiểu các tác phẩm của Tăng Triệu. Tục Tạng kinh
giảng nghĩa tựa đề kinh là: Như hà dĩ vô giá chi bảo ẩn
tại ám nhập chi khanh.
7-
Trượng Lục Tức Chân luận, được liệt kê trong những bản
mục lục lâu đời nhất. Lại cũng có một bộ luận cùng
tựa của Tăng Bật hiện thất lạc.
Phật
điển Nhật Bản do Tiểu Dã Huyền Diệu tập thành năm 1936,
ở phần Tăng Triệu có liệt kê nhiều bộ luận khác được
cho là của Tăng Triệu, nhưng do vì không có bộ nào được
đề cập đến trong văn học trước đời Đường, nên chúng
ta không cần để ý đến các chi tiết của chúng ở đây(7).
Cũng vậy, một bản bình chú về Đạo Đức kinh do Stanislas
Julien đề cập năm 1842 cho là của Tăng Triệu, vốn không
được biết đến trước năm 901.
III
- CÁC BÀI TỰ VÀ SỚ
A.-
Tự
1-
Triệu luận tự, tiểu Chiêu Đề tự, Huệ Đạt tác. Huệ
Đạt rất có thể là tác giả của bản chú kể sau.
2-
Triệu luận tự chú, của Nguyên Khương, in cùng với bản
Triệu luận chú của cùng tác giả.
3-
Giáo khoa Triệu luận tự chú, tiểu Chiêu Đề tự, Sa môn
Huệ Đạt thuật, do Lạc Đàm Thiền sư Hiểu Nguyệt chú.
Hiểu Nguyệt là Thiền sư thuộc Lâm Tế tôn. Không rõ niên
đại của ông. Nhưng qua một đoạn trong bài chú, có lẽ ông
là người đương thời với Minh Giáo Thiền sư Khế Trung,
vốn được duyệt định niên đại là 1007-1072, căn cứ theo
Ngũ đăng hội nguyên, theo Tục Truyền đăng lục và theo Triệu
luận cập chú sớ của Trung Điền Nguyên Thứ Lang, trang 383-4,
in năm 1936.
B.-
Sớ
1-
Triệu luận sớ, tam quyển, Trần Huệ Đạt soạn. Bộ này,
ngày nay ta chỉ còn có quyển thượng và trung; quyển hạ thiếu
mất rất nhiều đoạn. Tác phẩm thật ra rất hoàn toàn, mặc
dầu thứ tự của các quyển đã bị thay đổi theo sử quan;
theo đó, quyển hạ trước kia nay được in trước quyển thượng
và trung.
Trung
Điền Nguyên và Thanh Dụng Đồng nghi ngờ rằng bản chú và
bài tự không cùng tác giả. Trung Điền Nguyên khiến ta chú
ý rằng trong bộ chú giải có hai chỗ gọi tác giả là Chiêu
Đề, tức là qua tên của tự viện. Cát Tạng, trong Đại
thừa huyền luận, chương 4, cũng gọi tác giả bằng tên này.
Nguyên Khương, trong Triệu luận sớ, ghi rằng Tiểu Chiêu Đề
tự được dựng nên vào đời Tần, trong khi Đại Chiêu Đề
tự được xây vào đời Lương. Điều này rất có lý. Nhưng
không có ai biết gì về Huệ Đạt thuộc Đại Chiêu Đề
tự cả.
Cát
Tạng và Nguyên Khương đồng ý rằng Chiêu Đề là danh gọi
của Huệ Đạt thuộc Tiểu Chiêu Đề tự, ở huyện Giang
Ninh, Nhuận Châu, nay thuộc phía Nam Nam Kinh.
Bản
Triệu luận sớ này ghi rằng, quyển thượng giải thích về
tục đế (laukika), quyển trung về chân đế (paramartha), thật
ra là một tư tưởng cũ kỹ, không được tu chỉnh theo ý
nghĩa chân chính của tác phẩm.
Mặc
dầu nguyên lai tác giả đã được phân biệt, nhưng ta vẫn
còn gặp phải khó khăn: một tăng sư không thể tự gọi mình
qua tên ngôi chùa. Danh dự này chỉ dành riêng cho vị sáng
lập chùa hay vị đáng tôn kính nhất trong Tăng chúng của
ngôi chùa mà thôi. Thế nhưng, hai phần đầu của bản sớ
này được mệnh danh là “nghĩa ký” và “nghĩa tự ký”,
tức là, do một người nào khác ghi tập lại. Như vậy, có
thể là một đệ tử nào đó ghi chép lại những giải thích
của thầy mình, tức Huệ Đạt, và tôn xưng ông qua danh hiệu
ngôi chùa.
Nguyên
Khương cho ta biết rằng Huệ Đạt nổi danh thời Trần (557-589).
Chính Huệ Đạt kể rằng ông đã từng giảng pháp trong hai
mươi năm, trước khi tạo nên bản sớ này. Các tác phẩm
của ông cho ta thấy ông ủng hộ triệt để Tam Luận tông,
chống lại Thành Thật tông.
2-
Triệu luận sớ, tam quyển, Đường Nguyên Khương tuyển. Tiểu
sử của Nguyên Khương được ghi lại trong Cao tăng truyện,
quyển 4. Ông là người lùn tịt và lù đù, không giống như
hình ảnh lý tưởng của một học giả, nhưng thật ra là
người rất ham học hỏi. Vào triều đại Thần Khương (627-649),
khi ông đến kinh đô để truyền pháp, ông thường mang trên
vai hay kéo lê sau hai chân một tấm phản có gắn bánh xe. Trong
khi vui hứng, ông nói rằng ông có thể tận cùng đả kích,
chỉ với gia tài bé nhỏ đó, và hướng dẫn đến tri ngộ
chân lý, những ai vốn tin tưởng nơi Giả Hữu mà chưa thấu
đáo được ý chỉ của Bản Không. Theo lệnh vua, ông trụ
tại An Quốc tự, và chuyên giảng Tam luận. Đông Vực truyền
đăng mục lục, năm 1094, liệt kê có 6 tác phẩm thuộc tên
ông. Tất cả đều đã thất lạc.
Bộ
sớ này gồm ba quyển như đã kể trên, theo thứ tự mà chúng
xuất hiện ở những kỳ in sau. Đây là lần đầu tiên mà
Tông Bản Nghĩa, phần tự của Tăng Triệu, xuất hiện.
3-
Triệu luận sao, tam quyển, Ngưu Đầu Sơn U Tây tự Huệ Chứng
tuyển. Theo Trung Điền Nguyên, thủ bản của Triệu luận sao
này được bảo trì ở Cao Sơn tự, Mai Vĩ thôn. Bản này lần
đầu tiên được liệt kê trong một bản mục lục mà Viên
Nhân từ Trung Hoa mang về Nhật năm 839. Trong một mục lục
khác của cùng tác giả, Huệ Chứng lại được gọi là Tuệ
Trừng.
4-
Chú Triệu luận sớ, Tống Nghiêu Phong Tuân Thức thuật, gồm
6 quyển.
Tuân
Thức, trụ trì ở Nghiêu Phong tự, hiệu là Từ Vân Sám Chú,
là một nhân vật tên tuổi của Thiên Thai tông và là tác
giả của nhiều tác phẩm, trong số đó có đến 30 quyển
còn lưu truyền. Ông sống vào những năm 964-1032. Tiểu sử
của ông tìm thấy trong Khế Tung Đàm Luật văn tập, ch. 13,
trong Phật Tổ thống ký và một vài thủ tập khác.
5-
Triệu luận trung ngô tập giải, Tần Thủy Sa môn Tịnh Nguyên
tập, 2 quyển. Phật học thư cục ở Thượng Hải ấn hành
theo một mộc bản đời Tống thuộc sở hữu của La Chấn
Ngọc. Một ấn bản khác đời Tống thuộc sở hữu của Tùng
Bản Văn Tam Lang, lại sai khác với bản trên rất nhiều; phần
phụ lục, tập giải đề tự, ghi là được viết vào năm
1058.
Tịnh
Nguyên (1011-1088) thuộc Hoa Nghiêm tông, là đệ tử của Thừa
Thiên ở Ngũ Đài sơn. Về sau, Tịnh Nguyên rất tích cực
hoạt động ở miền Nam. Tiểu sử của ông trong Phật Tổ
lịch đại thông tải, ch. 19.
Những
tài liệu ông thu tập gồm có các bản chú 1, 2, 3 theo như
liệt kê trên đây, và ba bản khác hiện đã thất lạc.
Những
chú thích về Tăng Triệu trong sách này thường là dẫn chứng
theo Tịnh Nguyên vốn trích dẫn theo Triệu luận sớ do Quang
Diêu Thiền sư, sống vào năm 716-807, soạn.
6-
Triệu luận tập giải lịnh mô sao, hai quyển, do Tịnh Nguyên
viết. Đây là một bản sớ sao về tác phẩm vừa kể trên
của cùng tác giả, còn lưu truyền với thủ bản được bảo
trì ở thư phòng chùa Cao Sơn, Nhật.
7-
Mông Án Hòa thượng tiết thích Triệu luận, hai quyển, được
in lại trong Triệu luận nghiên cứu từ một thủ bản đời
Kamakura, hiện thuộc thư tập Maeda (Tiên Điền). Mục Điền
Đế Lãng nghiên cứu thật chi tiết bản này trong Triệu luận
lưu truyền, in năm 1955, tr. 283-289.
8-
Triệu luận tân sớ, Nguyên Văn Tài thuật, tam quyển. Số
quyển thay đổi theo các mục lục, bản còn lưu truyền gồm
có 3.
Văn
Tài (1241-1302), sinh trưởng trong gia đình nông dân. Ông học
rộng, hiểu xa và trải hầu hết cuộc đời ở Bạch Mã tự,
Lạc Dương. Do đó mà ông cũng còn được gọi là Thích Nguyên
Tông Chủ. Khi Vạn Thánh Hữu Quốc tự, ở Ngũ Đài sơn, được
vua Thành Tông nhà Nguyên truyền lệnh xây, ông được sắc
phong làm trụ trì ở đây. Trong số các tác phẩm ông viết,
còn kể có Tuệ Đăng tập. Tuệ Đăng này dường như là tác
giả của bản Triệu luận sao, số 3 trên kia. Tiểu sử của
Văn Tài trong Phật Tổ lịch đại thông tải, ch. 22.
Văn
Tài nói, trong phần tự tự, rằng ông dùng bản chú của Quang
Diêu Thiền sư và một bản sớ của một vị Tăng tên là
Đạt, Vân Am Đạt Thiền sư. Đạt này có thể là Huệ Đạt.
9-
Triệu luận tân sớ du nhân, 3 quyển, của Văn Tài. Đây là
bản sớ sao của tác phẩm vừa kể trên của cùng tác giả.
10-
Triệu luận lược chú, 6 quyển, của Đức Thanh đời Minh.
Kỳ in năm 1888, gồm trong 2 quyển, do Kim Lăng khắc kinh xứ,
Nam Kinh, ấn hành.
Đức
Thanh (1546-1623) là một Thiền sư ở Nam Kinh. Tiểu sử của
ông còn lưu truyền trong bộ Cảnh Sơn Đại sư mộng du toàn
tập của Thiền Thiện. Cảnh Sơn là pháp hiệu nổi danh của
Đức Thanh. Trong số các tác phẩm ông viết, còn có những
bản chú giải về Lão Tử và Trang Tử như bộ “Đạo Đức
kinh giải phát đề”, v.v...
Bản
lược chú này một phần là biện luận, dùng để ủng hộ
Tăng Triệu chống lại những kết án cố hữu của Trần Trừng
cho là Tăng Triệu thuộc Lão giáo, theo trong cuốn Vật Bất
Thiên Chánh Lượng luận của Trần Trừng. Cuộc tranh biện
đưa đến các bài thảo luận tiếp theo đó, hoặc phủ nhận
hoặc đính chính lời kết án đó. Bộ chú được dẫn nhập
bằng một lược dẫn về bài tự của Huệ Đạt và kết
thúc bằng một lời bạt, ghi năm 1605, của một vị tên là
Tuệ Tâm.
Trung
Điền Nguyên, ở trang 42-48, còn liệt kê thêm 12 bản sớ nữa
mà hiện nay đã thất truyền. Một bản trong số đó là 5.
Ta lại còn có thể thêm vào Triệu luận sớ nghị, được
An Trừng đề cập đến trong Trung luận sớ ký vốn là sớ
sao của Trung Quán luận sớ của Cát Tạng. Thang Dụng Đồng,
tr. 837, cho đấy là một tác phẩm Nhật.
IV
Chú giải & bình luận về triết lý Tăng Triệu