| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
x Quyển Thứ Bốn Mươi 134-
GIỚI: DU HÀNH TRONG LÚC AN CƯ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy đang mùa An cư, Tỉ-kheo-ni
Ca-lê nhận giường nệm của Tăng xong rồi bỏ đi du hành.
Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di
... Cuối cùng, Phật hỏi rồi cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao trong lúc an cư mà ngươi du hành? Từ nay về sau, Ta không
cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni du hành trong lúc an cư thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: An
cư: Tức là
Tiền An cư và Hậu An cư. Du
hành: Ít nhất
là đi đến trú ngụ trong thôn xóm thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu trong lúc An cư mà Tỉ-kheo-ni rời khỏi
cương giới một đêm thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu
vì nạn vua, hoặc bọn giặc từ nơi khác đến, hoặc sợ
bị mất mạng, hoặc sợ tổn thương phạm hạnh mà bỏ đi,
thì không có tội. Trong
lúc An cư, nếu Tỉ-kheo-ni không làm yết-ma cầu thính mà vì
việc của tháp, của Tăng đi du hành (thì phạm tội Ba-dạ-đề).
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 135-
GIỚI: AN CƯ XONG KHÔNG DU HÀNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni An cư
tại thành Xá-vệ xong bèn đi đến nhà bà con của Tỉ-kheo-ni
Bạt-đà-la tại Tì-xá-li. Những người bà con ấy hỏi: -
Các cô An cư ở đâu vậy? -
Ở thành Xá-vệ. -
Tại thành Xá-vệ có những gì tốt đẹp không? -
Rừng cây Kỳ Hoàn, hoa trái sum suê, hồ nước trong mát, tinh
xá như thế đó, chỗ ở của Thế Tôn như thế đó, tôn giả
Xá-lợi-phất, Ðại-mục-liên như thế, cư sĩ Tu-đạt như
thế. -
Ðấy thật là chân chính xuất gia. Còn Bạt-đà-la của tôi
thì sinh ra nơi đây, trưởng thành tại đây, từ bé đến
giờ chẳng chịu đi đâu, giống như người không có tay chân. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng cô đáp khi Phật hỏi: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao An cư xong mà ngươi không du hành? Từ nay Ta không cho
phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni An cư xong mà không du hành thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: An
cư xong: Tức
hết ba tháng. Không
du hành: Ít
nhất là không rời khỏi xóm làng để vân du thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Khi An cư xong mà không rời khỏi cương giới
(542c) ít nhất là trong một đêm thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nhưng nếu vì già yếu bệnh hoạn không thể đi được thì
không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 136.
GIỚI: RỦ AN CƯ, SAU TRÁCH CỨ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
nói với Thọ-đề: "Chúng ta hãy An cư tại đây". Rồi cô
đi đến nhà đàn việt ca ngợi: "Tỉ-kheo-ni Thọ-đề hiền
thiện, giữ giới, bà nên cúng dường". Ðúng là Thọ-đề
có oai nghi đoan chính, cử động nhìn ngó không trái phép tắc,
khiến đàn việt thấy thế sinh tâm hoan hỉ. Thế nhưng, sau
đó, Thâu-lan-nan-đà lại trách móc làm não loạn Thọ-đề. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, cô đáp khi Phật hỏi: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: "Này thánh giả,
chúng ta hãy An cư tại đây", nhưng sau đó trách cứ, xúc não
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Nếu
Tỉ-kheo-ni nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: "Chúng ta hãy An cư
tại đây", nhưng trong lúc An cư lại tự mình dùng thân, miệng,
hoặc sai người khác dùng thân miệng xúc não người kia, thì
phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu trường hợp người đó không
giữ giới, sợ họ làm điều phi pháp nên đuổi đi, thì không
có tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni xúc não Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni thì phạm tội Việt
tì-ni. Nếu xúc não người thế tục thì phạm tội Việt tì-ni
tâm hối. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). 137-
GIỚI: NHIỄU LOẠN NGƯỜI AN CƯ TRƯỚC MÌNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, đến ngày An cư thì
Tỉ-kheo-ni Ca-lê bèn đi nơi khác. Ðến khi thọ An cư xong,
cô trở về thì phòng ốc đã được phân chia hoàn tất. Cô
liền đến phòng cũ của mình đòi người đang ở trong phòng: -
Ðây là phòng của tôi, hãy trả lại cho tôi. -
Tôi đã nhận rồi, cô không được đòi. Thế
là hai người gây lộn nhau. Lúc ấy có thiện Tỉ-kheo-ni gọi
cô, nói: "Này thánh giả, hãy đến phòng này mà ở". Cô bèn
đem những đồ lau nhà, củi, cỏ chất đống trong phòng. Vị
Tỉ-kheo-ni ở trước liền nói: -
Này thánh giả, đấy là những vật không cần dùng đừng
để trong phòng. -
Này hiền giả, ngươi mua căn phòng này chăng? -
Căn phòng này của Tăng, theo thứ tự mà tôi nhận được. -
Nếu căn phòng này của Tăng thì tại sao tôi lại không chất
đồ được? Thế
là cô dùng thân miệng nhiễu loạn người kia. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, khi Phật hỏi, cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết người khác đã an cư
trước mà sau đó đến nhiễu loạn? Từ nay về sau, Ta không
cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tỉ-kheo-ni khác đã an cư trước, rồi
sau đó mình đến tự nhiễu loạn hoặc sai người khác nhiễu
loạn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Biết
người khác đã an cư trước:
Tức là Tiền An cư và Hậu An cư. Nhiễu
loạn: Nếu
tự mình dùng thân miệng, hoặc sai người dùng thân miệng
nhiễu loạn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
nhiễu loạn Tỉ-kheo-ni thì phạm tội Ba-dạ-đề, nhiễu loạn
Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni thì phạm tội Việt tì-ni. Cuối cùng,
(543a) nếu nhiễu loạn người thế tục thì phạm tội Việt
tì-ni tâm hối. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 138-
GIỚI: ÐỔ ÐỒ BẤT TỊNH KHÔNG COI TRƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni không
xem trước bên ngoài tường mà đem đổ đồ đại tiểu tiện,
không ngờ ngay khi ấy có người Bà-la-môn vừa mới tắm rửa
sạch sẽ, mặc y phục mới đang đi trên con đường hẻm,
bị phẩn uế đổ nhằm
trên đầu. Ông Bà-la-môn liền nổi giận mắng: "Bọn
Sa-môn ni con của nhiều người làm bẩn ta như thế này đây!". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đi đến bạch với Phật. Cuối cùng, khi Phật
hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi không chịu xem kỹ trước
mà đổ đồ bất tịnh? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm
như vậy. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không xem trước ngoài bờ tường mà đổ đồ
bất tịnh ra ngoài, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ngoài
bờ tường:
Ngoài hàng rào bờ tường. Ðổ
đồ bất tịnh:
Như đại tiểu tiện, đàm dãi, rác rưởi và nước rửa tay
chân, tóc, móng tay.v.v... Không
xem: Không
xem trước mà đổ. Khi muốn đổ vật gì thì phải xem kỹ
trước, nếu có nhiều người đi thì phải chờ lúc vắng
người rồi mới đổ. Nếu người đi thưa thớt thì phải
khảy móng tay rồi mới đổ. Nếu không xem, không khảy móng
tay mà đổ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo không xem mà đổ thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên
đức Thế Tôn nói (như trên). 139-
GIỚI: ÐẠI TIỂU TIỆN TRÊN CỎ TƯƠI.
Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc không
cấm Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni vào chơi trong hoa viên, hồ nước
ở phía Ðông. Do thế, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni vào trong hoa viên
ấy nói những chuyện thế tục, đại tiểu tiện, khạc nhổ
trên cỏ tươi, rồi hái lá sen gói đồ bất tịnh (phân) bỏ
vào trong hồ nước. Sáng sớm, vua Ba-tự-nặc cùng hậu cung
phu nhân đi đến hoa viên, hồ nước để du ngoạn. Vì bọn
cung nữ bị cấm cung lâu ngày không được ra ngoài, giờ đây
mới được du ngoạn nên rất phấn khởi thích chí, ai nấy
đều chiếm những đám cỏ tươi, nói: "Ðây là bãi cỏ của
tôi", rồi chạy lại nắm cỏ, liền bị bẩn tay. Thế là
họ đến hồ nước để rửa, thì lại thấy có những gói
lá trên hồ nước, bèn suy nghĩ: "Chắc là các chàng thanh niên
nghe chúng ta sắp du ngoạn nên họ gói những gói hương để
tặng chúng ta đây", liền chạy đến giành lấy, nên bị bẩn
tay. Họ bèn đến tâu với vua: "Ðây là những thứ gì mà
dơ bẩn thế này?". Vua liền gọi người giữ vườn đến
hỏi: -
Ai làm bẩn công viên này vậy? -
Hôm qua, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni vào công viên tắm rửa, đùa giỡn
rồi ra về, chứ không ai khác cả. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Thế rồi, Phật dạy: "Ðó là việc xấu". Cho đến: Dù ai
nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đại tiểu tiện trên cỏ tươi thì phạm tội
Ba-dạ-đề. --
Nếu Tỉ-kheo-ni đại tiểu tiện trong nước thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Giải
thích: (543b)
Cỏ: Gồm tất cả mọi loại cỏ, nếu đại tiểu
tiện trên đó thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu vào mùa mưa,
cỏ mọc phủ đất, thì nên tìm chỗ không có cỏ mà đại
tiểu tiện. Nếu không có chỗ đất trống thì nên đại tiện
trên gạch, ngói, cây cỏ khô, trên phân trâu ngựa hay chỗ
mà người ta đại tiện. Nếu cũng không có thì ít nhất tìm
một khúc cây, đại tiện cho rơi trên khúc cây trước rồi
mới rơi trên cỏ. Nếu
chỗ đi kinh hành có cỏ thì nên để một ống nhổ ở đầu
đoạn đường đi kinh hành. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Nước:
Gồm có 10 loại như trên đã nói. Nếu đại tiểu tiện khạc
nhổ trong nước thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
vào mùa mưa nước ngập tràn lan thì nên đại tiểu tiện
trên chỗ cao. Nếu không có chỗ cao thì nên đại tiểu tiện
trên gạch, đá, cây cỏ khô, trên phân bò, phân ngựa. Nếu
cũng không có thì nên dùng cây, cỏ, cành để lót, đại tiểu
tiện cho rơi trên cây cỏ trước rồi mới rơi xuống nước
sau. Nếu đào cầu tiêu mà ở dưới có nước chảy ra thì
không được đi tiểu tiện trước trong đó; mà nên bảo tịnh
nhân đại tiểu tiện trước, rồi Tỉ-kheo-ni mới đi sau.
Nếu ở dưới cầu có dòng nước chảy thì nên đặt một
tấm ván, để khi đi cầu rơi trên tấm ván trước rồi mới
rơi xuống nước sau. Nếu khi đi thuyền có cầu tiêu thì nên
đặt một tấm ván, để khi đi cầu phân rơi trên tấm ván
trước rồi mới rơi xuống nước sau. Nếu không có tấm ván
thì đặt một cành cây để khi đi cầu phân rơi trên cành
cây trước, rồi mới rơi xuống nước sau. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). 141-
GIỚI: CHUYỂN LỢI CỦA TĂNG CHO MỘT NHÓM NGƯỜI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỉ-kheo-ni
đi du hành khuyến hóa, nói với người phụ nữ rằng: "Bà
hãy cúng dường các thực phẩm để tôi sắm thức ăn cho
các Tỉ-kheo". Người phụ nữ bèn đưa thực phẩm, rồi dặn:
"Ðến ngày cúng dường, cô tin cho tôi biết để tôi đến
nấu nướng". Thế rồi, họ mời tôn giả Xá-lợi-phất, Ðại-mục-liên,
Li-bà-đa, Kiếp-tân-na, tôn giả La-hầu-la; đồng thời mời
nhóm sáu Tỉ-kheo, rồi sắp hai dãy ghế, một dãy dành cho
Tỉ-kheo trưởng lão, một dãy dành cho nhóm sáu Tỉ-kheo. Khi
đến giờ, các trưởng lão Tỉ-kheo bèn khoác y cầm bát đi
đến nhà thí chủ, ngồi theo thứ tự. Thế rồi, họ dọn
cho tôn giả Xá-lợi-phất cơm gạo trắng, canh mông cự và
các loại sữa. Cứ thế chuyển dần đến thức ăn thô. Họ
dọn cho tôn giả Mục-liên cơm gạo thô, canh ma-sa, dầu, sữa.
Còn các Tỉ-kheo khác thì dọn cơm gạo đỏ, canh ma-sa, hoặc
có chỗ thì có cơm mà không có canh, hoặc có canh mà không
có cơm. Cuối cùng, đến tôn giả La-vân, họ dọn cơm gạo
đỏ, canh rau tạp. Khi những phụ nữ bưng các thức ăn ngon
lên hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo-ni rằng: "Dọn những thứ này cho
ai?", thì các Tỉ-kheo-ni ấy bèn dùng thân mình che các trưởng
lão Tỉ-kheo mà chỉ nhóm sáu Tỉ-kheo, bảo dọn cơm trắng
canh ngon, các món sữa; đồng thời (543c) tự tay mình bưng
dọn phủ phê. Khi
các Tỉ-kheo thọ trai xong trở về, Phật biết nhưng vẫn hỏi
Xá-lợi-phất: -
Này Xá-lợi-phất, được ăn các thức ngon đầy đủ không? -
Ðã ăn rồi, bạch Thế Tôn! Phật
hỏi ba lần như vậy thì thầy cũng đều đáp giống nhau.
Phật lại hỏi từng trưởng lão Tỉ-kheo như vậy, họ cũng
đều đáp giống y như thế. Cuối cùng, Phật hỏi La-vân: -
Vì sao mà trông sắc diện, sức lực của ông có vẻ không
đầy đủ? Có được ăn những thức ngon no nê không? -
Bạch Thế Tôn! Ăn dầu thì có sức lực, ăn sữa thì có sắc
diện, còn ăn canh rau thì không có sắc diện, sức lực. Ðoạn,
Phật hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo: -
Các ông có được ăn ngon không? -
Bạch Thế Tôn! Chúng con được cơm gạo trắng, canh ngon, các
món sữa và những thức ăn ngon lành đều do các chị em có
niềm tin ân cần dâng cúng. -
Người ngồi trên hết (Thượng tọa) là ai vậy? -
Là tôn giả Xá-lợi-phất. Phật
liền hỏi Xá-lợi-phất: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðây là cách ăn phi pháp. Vì sao ông ngồi nhìn Tỉ-kheo Tăng
bị nhiễu loạn mà vẫn giữ thái độ thản nhiên? -
Nếu Thế Tôn dạy rằng đó là bữa ăn phi pháp thì dù trải
qua một kiếp hay hơn một kiếp cũng không tiêu hóa được. Thế
là tôn giả bèn dùng chiếc lông chim ngoáy vào yết hầu cho
mửa thức ăn ra. Ðồng thời, khi ấy Phật bảo gọi nhóm
sáu Tỉ-kheo-ni đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi: -
Các ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao các ngươi biết đó là lợi ích
của cả chúng mà lại xoay về cho một nhóm người? Từ nay
về sau, Ta không cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết đó là lợi ích của cả chúng mà xoay
về cho một nhóm người thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Biết:
Hoặc tự biết hoặc do nghe người khác mà biết. Chúng:
Tức là chúng Tỉ-kheo, chúng Tỉ-kheo-ni. Lợi:
Gồm có 8 thứ sau đây: Thuốc dùng đúng lúc, thuốc dùng ban
đêm, thuốc dùng trong bảy ngày, thuốc dùng trọn đời, vật
tùy thân, vật nặng, vật bất tịnh, vật vừa tịnh vừa
bất tịnh. Xoay
về: Nếu
vật ấy thí chủ đã định cúng chỗ này mà xoay sở để
họ cúng chỗ khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu
có người đến hỏi: "Tôi muốn cúng dường, vậy nên cúng
dường nơi nào?", thì nên đáp: "Tùy theo ý ông, thích cúng
dường nơi nào thì cúng dường
nơi ấy". Nếu họ hỏi: "Ở đâu có công đức lớn?",
thì nên đáp: "Cúng dường cho Tăng". Nếu họ
hỏi: "Ở đâu có chúng Tăng giữ giới tinh nghiêm?",
thì nên đáp: "Không có chúng Tăng nào lại phạm giới cả".
Nếu họ hỏi: "Ở đâu có Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni giữ giới,
ít việc, ngồi thiền, tụng kinh, ít đi vân du để tôi thường
được thấy vật cúng dường này?", thì được nói: "Nên
cúng dường cho mỗ giáp". Nếu
Tỉ-kheo-ni biết vật đó thí chủ định cúng cho Tăng mà vận
động họ cúng cho mình thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề.
Nếu vận động họ cúng cho người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu biết họ định cúng cho chúng này mà vận động họ
cúng cho chúng khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu họ định
cúng cho nhóm người bà con này mà vận động họ cúng cho
nhóm người bà con khác cũng phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu vật
họ định cúng cho người này mà vận động họ cúng cho người
khác thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
Tỉ-kheo biết vật thí chủ định (544a) cúng cho chúng này
mà vận động họ cúng cho chúng khác thì phạm tội Việt
tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Kệ
tóm tắt: "Giáo
huấn, mụt chỗ kín,
Trong
141 giới Ba-dạ-đề của Tỉ-kheo-ni thì 70 giới giống với
giới của Tỉ-kheo còn 71 giới thì khác. Ðến
đây thuyết minh xong giới Ba-dạ-đề. NÓI
RÕ PHẦN ÐẦU CỦA 8 TÁM GIỚI ÐỀ-XÁ-NI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, Ngài nói với Ðại Ái Ðạo:
"Một thuở nọ, Như Lai ở tại thành Xá-vệ, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni
hễ gặp cửa hàng sữa thì xin sữa, gặp cửa hàng dầu thì
xin dầu, gặp cửa hàng mật thì xin mật, gặp cửa hàng đường
phèn thì xin đường phèn, gặp cửa hàng thịt thì xin thịt,
gặp cửa hàng cá thì xin cá, gặp cửa hàng sửa tươi thì
xin sữa tươi, gặp cửa hàng sữa đông lạnh thì xin sữa
đông lạnh về ăn, nên bị người đời chỉ trích rằng:
"Vì sao Sa-môn Cù-đàm ca ngợi thiểu dục, đả kích đa dục.v.v..."
(như trong nhân duyên của Tỉ-kheo đã nói rõ). Tỉ-kheo-ni Cù-đàm-di
cũng phải học như vậy. Lại
nữa, này Cù-đàm-di, một thuở nọ Ta đang sống ở tại tinh
xá của dòng họ Thích, nơi thành Ca-duy-la-vệ, từng cho phép
Tỉ-kheo có bệnh được xin thức ăn ngon". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không có bệnh mà vì muốn sướng thân, tự
mình đến nhà bạch y xin sữa, hoặc sai người đi xin về
để ăn hoặc uống, thì Tỉ-kheo-ni này phải đến Tỉ-kheo-ni
khác sám hối như sau: "Thưa thánh giả, tôi phạm điều đáng
trách, xin sám hối tội Ba-la-đề-đề-xá-ni này". Giải
thích: Tám
loại thực phẩm ngon:
1- Sữa đóng váng; 2- Dầu; 3- Mật; 4- Ðường phèn; 5- Sữa
tươi; 6- Sữa đông lạnh; 7- Cá; 8- Thịt. Vì
muốn sướng thân:
Chỉ tự cung phụng cho thân mình. Bệnh:
Nếu bị bệnh mà dùng thì Thế Tôn nói là không có tội.
Thế nào gọi là bệnh? - Như bị già yếu, hoặc lúc uống
thuốc xổ, lể đầu chảy máu, đại loại các thứ bệnh
như thế. Nhà:
Tức nhà của bốn chủng tánh. Sữa
đóng váng:
Như sữa bò, sữa trâu, sữa dê. Xin:
Tư mình đi xin hoặc sai người đi xin. Hoặc
ăn hoặc uống:
Tỉ-kheo-ni này phải đến Tỉ-kheo-ni khác sám hối như sau:
"Thưa thánh giả, tôi phạm điều đáng trách, xin sám hối
với thánh giả". Vị chủ sám nên hỏi: -
Cô có thấy tội này không? -
Dạ thưa thấy. -
Cô đừng có tái phạm nhé. -
Xin cúi đầu vâng lệnh. Ba-la-đề-đề-xá-ni:
Tội này phải phát lồ, còn gọi là hối quá. Nếu
Tỉ-kheo-ni bị bệnh nhiệt cần sữa (544b) thì được phép
xin; nhưng không được đến nhà không có niềm tin để xin,
mà nên đến nhà có lòng tin để xin. Khi đi khất thực, thấy
người bán sữa liền chào: -
Lão trượng mạnh khỏe xhứ? -
Thánh giả muốn thứ gì? -
Muốn xin thức ăn. -
Tôi không có thức ăn, chỉ có sữa thôi, nếu cô cần sữa
thì tôi cho. Gặp
trường hợp như vậy thì được lấy đầy bát, đồng thời
cũng được khuyên họ cúng dường cho người khác. Nếu
gặp người bán dầu cũng được làm như vậy. Nếu bị bệnh
phong cũng được xin dầu, nhưng không nên đến nhà ép dầu
để xin, mà nên đến nhà có niềm tin để xin. Nếu đi khất
thực mà thấy người bán dầu, thì nên chào: -
Lão trượng mạnh khỏe chứ? -
Thánh giả cần thứ gì? -
Cần xin thức ăn. -
Tôi không có thức ăn mà chỉ có dầu, nếu thánh giả cần,
tôi sẽ cúng dường. Gặp
trường hợp như vậy thì được lấy đầy bát không có tội.
Khi ấy cũng được khuyên họ cúng cho bạn như mật, hoặc
nước. Khi bị bệnh thì được xin mật; nhưng không được
đến những nhà lấy mật để xin mà nên đến nhà có niềm
tin để xin. Ðồng thời cũng được khuyên họ cúng dường
cho bạn như là đường phèn. Nếu
có bệnh mà thầy thuốc bảo nên uống nước đường phèn,
thì được xin đường phèn; nhưng không được đến nhà làm
đường phèn xin mà nên đến nhà có niềm tin để xin. Nếu
khi đi khất thực mà thấy người cân đường phèn.v.v...,
cho đến cũng được khuyên họ cúng cho bạn. Nếu
có bệnh mà thầy thuốc bảo nên uống sữa tươi, thì được
xin sữa tươi. Nếu đi khất thực mà thấy nhà nuôi bò đang
vắt sữa tươi, thì nên chào: -
Lão trượng mạnh khỏe chứ? -
Thánh giả có muốn thứ gì không? -
Tôi muốn xin thức ăn. -
Tôi không có thức ăn mà chỉ có sữa tươi, nếu thánh giả
cần tôi sẽ cho. Nếu
như thế thì được lấy. Hoặc xin sữa đông lạnh mà họ
nói không có sữa đông lạnh mà chỉ có sữa tươi, cũng được
lấy. Nếu
bị bệnh mà thầy thuốc bảo nên uống sữa đông lạnh, thì
được xin sữa đông lạnh. Nếu
khi đi khất thực mà thấy người đang đong sữa đông lạnh
thì nên chào: -
Lão trượng mạnh khỏe chứ? -
Thánh giả có cần thứ gì không? -
Tôi muốn xin thức ăn. -
Tôi không có thức ăn mà chỉ có sữa đông lạnh. Khi
ấy mình được lấy. Ðồng thời cũng được khuyên họ cúng
cho bạn. Nếu đi xin sữa đông lạnh đã biến chế thành nước
mà họ cho sữa đông lạnh cũng được lấy. Nếu
Tỉ-kheo-ni uống thuốc xổ, rồi thầy thuốc bảo nên uống
nước cá hầm, thì được xin cá. Nếu khi đi khất thực,
xin sữa đông lạnh mà gặp cá thì cũng được nhận lấy. Nếu
khi lể đầu chảy máu, rồi thầy thuốc bảo nên ăn thịt,
thì được xin thịt, nhưng không được đến nhà mổ thịt
để xin mà nên đến nhà có lòng tin để xin. Khi
đi khất thực, xin nước rau, nếu thí chủ nói:
"Không có nước rau mà chỉ có nước thịt", mà mình cần
thì được lấy. Nếu
tự biết mình vào những lúc ấy thường phát sinh bệnh, mà
lúc ấy tìm thuốc rất khó, thì được xin để dự trữ không
có tội. Nhưng nếu lúc không bệnh mà xin rồi lúc có bệnh
đem ăn thì phạm tội Việt tì-ni. Lúc có bệnh xin, lúc không
bệnh ăn, thì không có tội. Lúc có bệnh xin, lúc có bệnh
ăn cũng không có tội. Lúc không bệnh xin, lúc không bệnh
ăn, thì phạm tội Ba-la-đề-đề-xá-ni. Nếu
(544c) không tùy theo bệnh mà nấu thức ăn rồi tùy theo bệnh
mà ăn thì không có tội. Nếu tùy theo bệnh nấu thức ăn,
không tùy theo bệnh mà ăn thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
tùy bệnh nấu thức ăn, rồi tùy bệnh mà ăn thì không có
tội. Nếu không tùy theo bệnh nấu thức ăn, không tùy theo
bệnh mà ăn cũng không có tội; vì lẽ người xuất gia nhờ
người khác mà sống còn. Thế nên đức Thế Tôn nói về
tám thức ăn ngon: Sữa đóng váng, dầu, mật, đường phèn,
sữa tươi, sữa đông lạnh, thịt và cá. Giới
Ba-la-đề-đề-xá-ni của Tỉ-kheo-ni đến đây là hết. Về
Chúng học pháp, chỉ trừ việc nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đại tiểu
tiện trên cỏ tươi và trong nước, ngoài ra các giới khác
hoàn toàn giống như giới của Tỉ-kheo mà ở trước đã nói
rõ. 1-
Hiện tiền tì-ni (Khi giải quyết việc tranh chấp phải có
sự hiện diện của đương sự).
Pháp,
tùy thuận pháp như trong phần của Tỉ-kheo trên kia đã nói
rõ. Về
phần khác nhau của giới bổn Tỉ-kheo-ni đến đây là hết. NÓI
VỀ PHẦN ÐẦU CỦA NHỮNG PHÁP LINH TINH Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni ngồi kiết
già vào đầu đêm, cuối đêm, bị một con rắn chui vào trong
cửa mình. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Nên đổ thứ thuốc mỗ giáp vào, con rắn không
chết mà sẽ bò ra". Thế là họ đổ thứ thuốc ấy vào,
con rắn liền chui ra. Phật liền quở trách Tỉ-kheo-ni ấy:
"Vì sao ngươi ngồi xếp bằng? Từ nay về sau, Ta không cho
phép ngồi như thế. Khi ngồi nên co lại một chân, dùng gót
chân bịt vào chỗ cửa mình. Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi xếp bằng
thì phạm tội Việt tì-ni". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni trải chiếu
đan ra ngồi để vá y, bị cật tre đâm vào đường tiểu
tiện chảy máu. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy đến
bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay về sau, Ta không
cho phép Tỉ-kheo-ni ngồi trên chiếu tre. Khi vá y, nên dùng
giẻ lau sạch giảng đường hay phòng sưởi rồi trải y ra
vá. Nếu không có chỗ thì nên trải y trên giường, trên đầu
gối mà vá. Nếu ai ngồi trên chiếu tre thì phạm tội Việt
tì-ni. Ðó gọi là phép dùng chiếu tre". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
cùng với nhiều phụ nữ khác ra sông A-kì-la cởi y phục rồi
xuống tắm. Thế rồi, cô lên trước, lấy đồ trang sức
thắt lưng của phụ nữ đeo vào lưng mình, rồi hỏi họ: -
Xem tôi có đẹp không? -
Chúng tôi là những người còn tham dục, nên dùng đai buộc
để cho lưng có eo, hầu mong được chồng yêu chuộng, còn
thánh giả (545a) dùng nó để làm gì? Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế, bèn đem việc ấy đến bạch đầy đủ
với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, khi Phật hỏi, cô liền đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni
buộc đai lưng. Nếu ai dùng đai lưng của phụ nữ để buộc
lưng mình thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu có ung nhọt
thì buộc đai lưng không có tội. KHÔNG
ÐƯỢC MẶC TRANG PHỤC PHỤ NỮ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
cùng với các phụ nữ ra sông A-kì-la, cởi y phục để một
chỗ rồi xuống nước tắm. Ðoạn, cô lên bờ trước, mặc
váy của phụ nữ vào, rồi hỏi họ: -
Xem tôi mặc cái này có thích hợp không? -
Tôi là người thế tục mặc cái này là muốn được chồng
yêu thương, còn cô mặc nó để làm gì? Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, khi Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép mặc váy. Nếu váy được
dùng các loại vỏ ốc, lưu ly, chân trâu, ngọc, vàng, bạc,
ma ni trang điểm thì không được phép mặc. Ít nhất là nếu
dùng vải sợi đóng váy thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu
trên âm hộ có mụt nhọt, nên phải bọc nó thì không có
tội. Ðó gọi là váy. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, có Tỉ-kheo-ni (cho đến) xuống
tắm rồi lên bờ trước, mặc trang phục của phụ nữ vào.
Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn.
Cuối cùng, khi Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép mặc trang phục phụ nữ. Những
trang phục của phụ nữ như: Trên đầu chít khăn, trước
trán treo những tua vàng, lỗ tai đeo vòng có nạm ngọc anh
lạc, ngón tay đeo nhẫn, cổ tay, cổ chân đeo xuyến; đại
loại tất cả các dụng cụ mà phụ nữ dùng để trang sức
như thế đều không được đeo. Nếu ai đeo thì phạm tội
Việt tì-ni. Thế nhưng, nếu trên mình có mụt nhọt phải
rịt thuốc, rồi buộc những thứ kể trên thì không có tội.
Ðó gọi là những thứ trang sức của phụ nữ. KHI
ÐỘ XUẤT GIA PHẢI ÐỔI TRANG PHỤC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc bấy giờ Tỉ-kheo-ni độ
những người phụ nữ thuộc dòng họ Thích, họ Ma-la, họ
Li-xa và những phụ nữ con nhà đại phú xuất gia, để họ
mặc nguyên xi những trang phục thế tục. Khi ấy, con gái của
những nhà nghèo lúc ra khỏi nhà và đi dự các lễ hội thường
đến thuê những trang phục ấy, nên bị người đời chê
trách rằng: "Ðây là kẻ cho thuê y phục, không phải phép
tắc xuất gia". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, khi Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, khi độ phụ nữ xuất gia không nên để họ
mặc nguyên cả y phục thế tục, mà phải bảo họ cởi bỏ
rồi mới độ. Phép xả bỏ như sau: Nếu phụ nữ đến xin
xuất gia thì nên bảo họ cởi bỏ những trang phục thế tục.
Nếu họ nghĩ rằng: "Có thể vào lúc ấy thóc gạo đắt đỏ,
khất thực khó khăn hoặc là già bệnh cần đến thuốc men,
mà phụ nữ thì khó được những vật cần thiết", thì nên
để gởi ở nhà dân. (545b)
Nếu phụ nữ mặc trang phục thế tục đến mà để nguyên
như vậy độ họ xuất gia thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó
gọi là để nguyên trang phục thế tục xuất gia. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, những phụ nữ con
dòng họ Thích, họ Ma-la, họ Li-xa, con nhà hào quí dẫn theo
người hầu đoan chính xuất gia, rồi bảo người hầu bán
thân cho người ngoài để giúp mình nuôi sống, nên bị người
đời chê cười rằng: "Ðấy không phải là người xuất gia
mà là dâm nữ". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Cuối cùng, khi Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi nuôi dâm nữ để giúp mình nuôi sống? Từ nay
về sau, Ta không cho phép nuôi dâm nữ để giúp mình sinh sống.
Nếu ai nuôi thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là dâm nữ. KHÔNG
ÐƯỢC BẢO NGƯỜI LÀM VƯỜN BÁN DÂM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Thế Tôn chế giới
không cho nuôi dâm nữ thì Tỉ-kheo-ni lén nuôi phụ nữ làm
vườn, rồi để họ tự bán thân để nuôi miệng, nên bị
người đời chê trách rằng: "Ðấy không phải là phép tắc
xuất gia mà là dâm nữ". Tỉ-kheo-ni
bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, khi
Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép lén nuôi phụ nữ làm vườn
rồi bảo họ bán dâm để tự nuôi sống. Nếu ai nuôi thì
phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là phụ nữ làm vườn. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni trẻ
tuổi đoan chính nhũ hoa của cô rịn sữa, người đời thấy
thế đều cười. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Cuối cùng, khi Phật hỏi, thì cô đáp: -
Ðúng như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau phải may yếm. Cách may yếm như trên đã nói.
Trước hết nên mặc yếm che vú rồi mới mặc y khác. Nếu
ai không sắm yếm thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu có mà không
mặc cũng phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là yếm (tăng-kì-chi). Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, như trong nhân duyên của Tỉ-kheo-ni
Bạt-đà-la ở trên đã nói rõ. Thế rồi, Phật dạy: "Ta không
cho phép tắm khỏa thân mà phải mặc áo khi tắm. Ðồng thời
không cho phép khỏa thân vào trong sông, trong hồ nước để
tắm mà phải mặc áo tắm khi tắm. Nếu ai tắm khỏa thân
thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu tại chỗ vắng vẻ không
có người thì tắm khỏa thân không có tội. Ðó gọi là áo
tắm. Kệ
tóm tắt: "Phép
ngồi, ngồi chiếu tre,
KHÔNG
ÐƯỢC DÙNG TAY VỖ VÀO ÂM HỘ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy chỗ ở của Tỉ-kheo-ni
chỉ cách chỗ ở của người thế tục qua một bức tường.
(545c) Vì dục tâm sinh khởi, Tỉ-kheo-ni bèn dùng tay vỗ vào
âm hộ của mình. Khi ấy người chồng nghe tiếng liền hỏi
vợ: -
Ðó là tiếng gì vậy? -
Không hiểu vì sao mà có tiếng kêu như vậy? -
Người xuất gia này tu phạm hạnh, dục tâm sinh khởi không
tự kiềm chế được nên vỗ vào âm hộ mà phát ra tiếng
kêu như thế. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép vỗ vào âm hộ. Vỗ nghĩa
là dùng tay mà vỗ. Nếu ai dùng chén hoặc tô vỗ để cho
lắng dịu dục tâm thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là
dùng tay vỗ vào âm hộ. KHÔNG
ÐƯỢC DÙNG CAO NẮN NAM CĂN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni bị dục
tâm sinh khởi bèn dùng cao làm nam căn (dương vật) rồi buộc
dưới chân giường. Sau đó căn phòng bị hỏa hoạn, sợ giường
nệm bị cháy nên đem ra ngoài. Rồi có người thế tục thấy
hỏa hoạn, bèn đi xem xem nơi nào bị lửa cháy, phát hiện
được bèn chê trách rằng: "Vì sao người xuất gia mà làm
chuyện đồi bại này!". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, khi Phật hỏi thì cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng cao làm nam căn. Nam căn
bằng cao nghĩa là dùng cao để làm, hoặc dùng đồng, thiếc,
chì, bạch lạp, hoặc răng, hoặc sáp ong, đại loại làm các
loại nam căn như thế. Nếu ai sử dụng nam căn bằng cao để
làm cho lắng dịu lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá. Ðó
gọi là nam căn bằng cao. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Ðại Ái Ðạo đi
đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua
một bên, bạch với Phật rằng: -
Bạch Thế Tôn! Nữ nhân hình (bộ phận sinh dục của người
nữ) xú uế có dược rửa ráy không? -
Ðược rửa. Thế
rồi, Tỉ-kheo-ni rửa bên ngoài, nhưng bên trong vẫn còn xú
uế, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, họ hỏi Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có được rửa bên trong không? -
Ðược rửa. Cách rửa là rửa vào trong chừng một lóng tay
chứ không được sâu hơn mức đó. Nếu như rửa sâu hơn
mức đó để cho lắng dịu lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Ðó gọi là cách rửa ráy (âm đạo). CÁCH
DÙNG VẢI THẤM KINH NGUYỆT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni có kinh nguyệt
khiến cho giường nệm bị dơ bẩn. Ðại Ái Ðạo bèn đến
bạch với Thế Tôn: -
Bạch Thế Tôn! Có thể may một tấm vải dùng để thấm kinh
nguyệt được không? -
Ðược, nên dùng miếng vải cũ để may, nhưng không được
dùng vật cứng, cũng không được dùng vật cạ sâu vào âm
hộ để kích thích dâm dục, mà nên dùng vật mềm mại để
che đường tiểu tiện. Nếu ai dùng vật cứng để cạ sát
trong âm hộ cho dịu bớt lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Ðó gọi là cách dùng tấm vải thấm kinh nguyệt. CÁCH
GIẶT VẢI THẤM KINH NGUYỆT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni đến chỗ
tắm rửa của phụ nữ giặt váy thấm kinh nguyệt, bị phụ
nữ chê trách rằng: "Sa-môn ni ấy làm bẩn chỗ nước này,
khiến cho đỏ thắm như vậy đó". (546a)
Các Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Cuối cùng, Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không cho phép đem
váy thấm kinh nguyệt đến chỗ tắm rửa của phụ nữ để
giặt. Nếu ai giặt thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là
cách giặt váy thấm kinh nguyệt của phụ nữ. KHÔNG
ÐƯỢC GIẶT ÐỒ DƠ CHỖ ÐÀN ÔNG TẮM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Thế Tôn chế giới không
cho đem đồ thấm kinh nguyệt đến giặt tại chỗ tắm rửa
của phụ nữ, thì các Tỉ-kheo-ni bèn đem đến chỗ tắm rửa
của nam tử để giặt. Cuối cùng, Phật dạy: -
Nếu Tỉ-kheo-ni đem đồ thấm kinh nguyệt đến giặt tại
chỗ tắm rửa của nam tử thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó
gọi là giặt đồ tại chỗ tắm của nam tử. KHÔNG
ÐƯỢC GIẶT ÐỒ DƠ CHỖ DU KHÁCH GIẶT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Thế Tôn chế giới không
cho phép đem đồ thấm kinh nguyệt đến giặt tại chỗ tắm
rửa của nam tử thì các Tỉ-kheo-ni bèn đem đến chỗ giặt
đồ của du khách để giặt. Cuối cùng, Phật dạy: "Ta không
cho phép đem váy thấm kinh nguyệt đến chỗ giặt đồ của
hành khách để giặt, mà nên dùng cái thau hoặc cái chậu
sành đem đến chỗ vắng vẻ để giặt. Khi giặt xong không
được đem đổ nước bẩn trên đất, mà nên đem đổ xuống
khe, lạch, nơi không có người trông thấy, rồi đem chiếc
váy ấy phơi khô để sau này khi cần sẽ dùng đến. Nếu
Tỉ-kheo-ni đem váy thấm kinh nguyệt đến chỗ giặt đồ của
du khách mà giặt thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là chỗ
giặt y phục của du khách. KHÔNG
ÐƯỢC DÙNG ÂM HỘ HỨNG CHỖ NƯỚC XỐI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni bị lòng
dục sinh khởi bèn đưa âm hộ ra hứng ngay chỗ những giọt
nước xối, liền bị xuất bất tịnh (tinh khí), nên tâm sinh
nghi ngờ. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo lại bạch với Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay
về sau, Ta không cho phép đưa âm hộ ra hứng tại chỗ giọt
nước xối. Nước xối nghĩa là những giọt nước từ trên
cao chảy xuống. Nếu Tỉ-kheo-ni muốn tắm tại chỗ có nước
xối thì nên dùng tấm vải che ở trên. Nếu ai đưa âm đạo
ra hứng ngay chỗ giọt nước xối, chỗ giọt nước mái nhà
dột để dịu bớt lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá. Khi
muốn tắm tại chỗ giọt nước xối, chỗ giọt nước mái
nhà dột thì không được ngửa thân mình về phía giọt nước
mà phải quay lưng lại. Nếu ai ngửa thân mình về phía giọt
nước cho vơi bớt lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá. Ðó
gọi là chỗ giọt nước xối". KHÔNG
ÐƯỢC LỘI NGƯỢC DÒNG NƯỚC CHẢY. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni xuống tắm
chỗ dòng nước chảy xiết, rồi lòng dục sinh khởi, bèn
lội ngược lên dòng nước, khiến tinh khí bị xuất ra. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy: "Từ
nay về sau, Ta không cho phép lội ngược dòng nước chảy xiết
để cho nước xoáy vào đường tiểu tiện. Nếu ai đi ngược
lên dòng nước từ trên núi đổ xuống, dòng nước đang chảy
xiết, hoặc cố ý lội ngược lên dòng nước để cho vơi
bớt lòng dục thì phạm tội Thâu-lan-giá. Khi tắm tại dòng
nước chảy xiết không được hướng mặt về phía dòng nước
mà nên quay lưng lại. Nếu ai hướng mặt về phía dòng nước
chảy xiết thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là dòng nước
chảy". KHÔNG
ÐƯỢC DÙNG CỦ LÀM NAM CĂN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni dùng
các vật đút vào âm hộ cho xuất tinh, (546b) như dùng các
thứ củ cải, củ hành đưa vào âm hộ cho xuất tinh. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối
cùng, Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như
thế. Nếu Tỉ-kheo-ni nào dùng củ cải, củ hành đút vào
âm hộ cho xuất tinh để làm dịu bớt lòng dục thì phạm
tội Thâu-lan-giá. Ðó gọi là củ". Kệ
tóm tắt: "Vỗ
âm hộ, dùng cao,
KHÔNG
ÐƯỢC LÀM YẾT-MA CỬ TỘI TỈ-KHEO. Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo tập họp mà không biết làm yết-ma cử tội, liền sai Tỉ-kheo-ni làm. Khi làm xong, Tỉ-kheo-ni sinh tâm nghi |