THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Quyển Thứ Ba Mươi Chín (Tiếp Theo)

117. GIỚI: TRÚ NGỤ NHÀ THẾ TỤC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni đi đường gặp lúc hoàng hôn muốn vào trong thôn xin chỗ trú ngụ, bèn đến một nhà kia nói với người phụ nữ:

- Xin cho tôi nghỉ tạm một đêm.

- Chồng tôi đi vắng có thể chiều tối sẽ trở về.

Tỉ-kheo-ni cứ tiếp tục nài nỉ xin trú ngụ. Người phụ nữ nói: "Nếu chồng tôi không về thì cô có thể tạm nghỉ một đêm". Thế là bà ta cho nghỉ. Ðến lúc chiều tối, ông chồng trở về, do kiết sử sai khiến, ông bèn giao hoan với bà vợ. Tỉ-kheo-ni này vì chưa ly dục nên nghe tiếng hai vợ chồng giao hoan lòng không vui, đến khi trở về tinh xá, liền nói với các Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao ngươi biết thực gia dâm xứ mà vẫn trú ngụ? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ các Tỉ-kheo-ni đi đường đến lúc chiều tối bèn vào trong thôn tìm khắp nơi mà không có những nhà không có đàn ông, đành phải nghỉ tạm bên đường hẻm. Thế rồi vào lúc đêm khuya có mưa to gió dữ nổi lên, bị bọn thanh niên đến xâm phạm làm tổn thương phạm hạnh. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy trình bày với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật dạy: "Từ nay về sau, trừ lúc khác (cho đến) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết thực gia dâm xứ mà trú ngụ - trừ lúc khác - thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Lúc khác: Tức là lúc gió, lúc mưa, lúc bị đe dọa mất mạng, lúc phạm hạnh bị tổn thương; đó gọi là lúc khác.

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Biết: Hoặc tự biết hoặc do nghe người khác mà biết.

Thực: Người nữ là thực phẩm của người nam, người nam là thực phẩm của người nữ.

Gia: Tức gia tộc bốn chủng tánh.

Dâm xứ: Phòng ngủ của vợ chồng. Nếu Tỉ-kheo-ni trú ngụ nơi ấy thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ngoại trừ khi khác thì đức Thế Tôn nói là không có tội. Khi khác tức là khi gió, khi mưa, khi bị mất mạng, (539c). Khi nghi ngờ bọn con trai làm tổn thương phạm hạnh; đó gọi là khi khác. Không được đã biết nơi đó là thực gia dâm xứ mà vẫn trú ngụ. Nếu nghi ngờ trong thôn có bọn con trai phóng đãng vì sợ bọn chúng mà trú ngụ thì không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

118. GIỚI: ÐI XA KHÔNG CÓ BẠN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ các Tỉ-kheo-ni ở Tì-xá-li an cư xong, muốn đến thành Xá-vệ lễ bái Thế Tôn, bèn đến tinh xá Tỉ-kheo, chào:

- Kính chào tôn giả! Con nghe nói tôn giả muốn đến thành Xá-vệ lễ bái Thế Tôn, có đúng thế không?

- Cô hỏi để làm gì?

- Con muốn đi theo.

- Ðức Thế Tôn chế giới không cho Tỉ-kheo đi chung đường với Tỉ-kheo-ni.

- Ngày nào khởi hành vậy?

- Ngày mỗ.

Thế là các Tỉ-kheo-ni ghi nhớ ngày ấy, về chuẩn bị y bát rồi đúng ngày đến đứng chờ bên đường. Ðến ngày ấy, các Tỉ-kheo ăn xong rồi lên đường. Khi trông thấy các Tỉ-kheo-ni bèn bảo nhau: "Các Tỉ-kheo-ni muốn đi theo chúng ta, chúng ta hãy đi nhanh lên". Khi ấy, các Tỉ-kheo-ni trẻ tuổi thì vội vã chạy theo, còn những người già bệnh, nhạc sĩ không theo kịp, lạc lại đàng sau, nên bị bọn cướp lột hết đồ đạc.

Các Tỉ-kheo-ni bèn trình bày với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Tại sao không có khách buôn làm bạn mà ngươi dám đi đường đến nước khác xa xôi? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không có khách buôn làm bạn mà đi đến nước khác xa xôi thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Không có bạn: Không có khách buôn làm bạn.

Nước khác: Một vương quốc khác. Nếu đi đến đó thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Khi Tỉ-kheo-ni muốn đi thì trước hết nên tìm thương nhân làm bạn. Nếu người ấy nói: "Thánh giả cứ đến đây, tôi sẽ sắp đặt để cho cô đi", thì nên xem xét người ấy. Nếu họ nói nghe hay ho mà trông họ không tốt, thì không nên đi theo, mà nên tìm những người tốt có đem theo vợ và con gái để cùng đi chung.

Nếu lúc ra đi gấp gáp không xem xét kỹ được đến giữa đường mới phát giác được thực hư, thì không được rời bỏ họ ngay lập tức mà phải đợi đến gần thôn xóm mới rời bỏ họ mà đi. Nếu họ hỏi: "Cô định đi đâu vậy?", thì nên đáp: "Tôi đi khất thực". 

Nếu Tỉ-kheo-ni không làm bạn với thương nhân trong khi đi đường thì phạm tội Việt tì-ni, khi đến nơi thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo không có thương nhân làm bạn mà đi đường xa thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

119. GIỚI: DU NGOẠN THẮNG CẢNH.

(539c) Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni đi với phụ nữ đến tham quan các khu vườn, hồ nước. Thế rồi, các phụ nữ đến bên hồ nước để ăn uống, còn Tỉ-kheo-ni thì vào trong thôn xóm để tham quan. Khi ấy, bỗng có các thanh niên từ trong rừng đi ra, quấy nhiễu Tỉ-kheo-ni.

Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

- Nếu Tỉ-kheo-ni đến vườn, khu rừng, nơi hoang vắng trong lãnh thổ (quốc gia) để ngắm cảnh, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Trong lãnh thổ: Trong đất nước của một vì vua.

Vườn: Như vườn Am-bà-la cho đến vườn A-đề-mục-đa.

Khu rừng: Tức những khu rừng trồng cây.

Nơi hoang vắng: Tức những nơi không có nhà cửa. Nếu tham quan những nơi đó thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni đi tham quan khu vườn, rừng, nơi hoang vắng, thì khi ra đi phạm tội Việt tì-ni, lúc đến nơi phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu đàn việt nữ giới mời đi với họ thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo vì ham vui mà đi tham quan vườn, rừng, nơi hoang vắng thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

120. GIỚI: NGỒI VỚI TỈ-KHEO Ở CHỖ KHUẤT.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy người vợ cũ của Ưu-đà-di là Tỉ-kheo-ni Tu-xà-đề nói với thầy rằng: "Tôn giả, ngày mai tôi giữ phòng, tôn giả có thể đến thăm". Bấy giờ, tất cả Tỉ-kheo-ni đều vào thôn xóm khất thực, thì Ưu-đà-di khoác y, cầm bát đi vào tinh xá của Tỉ-kheo-ni. Thế rồi, hai người ngồi chòm hỏm ở phòng sau, để lộ bộ phận sinh dục, nhìn nhau với lòng đầy dục vọng. Lúc ấy có một Tỉ-kheo-ni già bệnh từ trong phòng bước ra để đi tiểu tiện, thấy thế rất xấu hổ, liền bước nhanh qua; rồi đem sự việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền khiển trách: "Ðó là việc xấu" (cho đến) Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi một mình với một Tỉ-kheo ở nơi vắng vẻ thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Một mình: Chỉ có một Tỉ-kheo, ngoài ra không có ai khác. Giả sử có người mà người ấy ngủ, hoặc say, hoặc điên cuồng, hoặc bị bệnh tâm thần, hoặc trẻ con đang kêu khóc, hoặc phi nhân, súc sinh thì cũng được xem là chỉ có một mình.

Nơi vắng vẻ: Chỗ khuất vắng không có người.

Ngồi: Nếu cùng ngồi với nhau thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi với một Tỉ-kheo suốt ngày thì phạm một tội Ba-dạ-đề. Nếu nửa chừng đứng dậy rồi ngồi lại thì mỗi lần ngồi phạm mỗi tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi một mình trong phòng, rồi đột nhiên có Tỉ-kheo đi đến, vào ngồi, thì Tỉ-kheo-ni nên nhanh chóng đứng dậy. Nhưng muốn đứng lên thì nên nói trước đừng để Tỉ-kheo lấy làm ngạc nhiên. Nếu Tỉ-kheo hỏi: "Vì sao mà đứng", thì hãy đáp: "Vì Thế Tôn chế giới không cho phép con ngồi một mình với Tỉ-kheo". 

Nếu ngồi một mình với đứa bé trai dưới 7 tuổi cũng phạm. Thế thì khoảng thời gian ngồi đó là bao lâu? - (540a) Khoảng thời gian đó bằng khoảnh khắc lấy thức ăn cho người xuất gia. Nhưng nếu có tịnh nhân làm việc đi lại vào ra không gián đoạn thì ngồi không có tội. Hoặc là cửa phòng hướng ra ngoài đường, mà trên đường có người đi lại không gián đoạn cũng không có tội. Trái lại, nếu người đi lại gián đoạn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu tịnh nhân đang ngủ thì phải búng ngón tay đánh thức họ dậy. Nếu mình ở trên gác mà người dưới gác nhìn thấy, hoặc mình ở dưới gác mà người ở trên gác nhìn thấy, ba người luôn luôn nhìn thấy nhau thì không có tội.

Lại có các trường hợp: Thấy mà không nghe; hoặc nghe mà không thấy; vừa thấy vừa nghe; vừa không nghe, không thấy.

Thấy mà không nghe: Từ xa trông thấy Tỉ-kheo ngồi với Tỉ-kheo-ni mà không nghe tiếng nói.

Nghe mà không thấy: Nghe tiếng nói mà không nhìn thấy.

Ðại loại hai trường hợp sau cũng thế. Nếu thấy mà không nghe thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu nghe mà không thấy cũng phạm tội Việt tì-ni. Nếu vừa thấy, vừa nghe thì không có tội. Nếu không thấy, không nghe thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Tội này bao gồm các trường hợp: ở xóm làng; ở a-luyện-nhã; ban ngày; ban đêm; lúc đúng thời; lúc phi thời; ở chỗ che khuất chứ không phải ở chỗ trống trải, chỉ có một người chứ không phải nhiều người; ở gần nhau chứ không phải ở cách xa nhau. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

121. GIỚI: NGỒI VỚI NAM GIỚI Ở CHỖ KHUẤT.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến nhà bà con, ngồi với anh em, chị em, trẻ con ở chỗ che khuất; Tỉ-kheo-ni khác thấy thế trách cứ rằng: "Vì sao người xuất gia mà ngồi chung với người thế tục ở chỗ kín đáo giống như người đời vậy?" Rồi cô đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không cho phép ngồi với nam tử ở chỗ kín đáo (cho đến) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi với nam giới ở chỗ che khuất thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Ba-dạ-đề: Như trong giới của Tỉ-kheo ở trên đã nói rõ.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

Kệ tóm tắt:

"Cầm dù, ngồi giường cao,
Cùng trải giường, không bỏ.
Không bạch, nghỉ chỗ dâm,
Không bạn, đi tham quan.
Cùng ngồi với Tỉ-kheo
Cũng như với nam giới.
Hết phần thứ mười hai".

122. GIỚI: ÔM ÐÀN ÔNG VÀO MÌNH MÀ THỦ THỈ.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến nhà bà con, đưa tay ra kéo anh em, chị em, trẻ con vào đứng gần bên mình rồi rỉ tai. Kẻ đầy tớ thấy thế hiềm nghi, nói: "Người xuất gia này đang nói thì thầm, chắc là nói về lỗi lầm của ta".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di. Cuối cùng, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni đưa tay ra kéo nam tử vào đứng sát bên mình, rồi nói rỉ tai thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Ðưa tay ra kéo vào bên mình: Ðưa tay ra kéo vào đứng gần kề bên.

(540b) Nói rỉ tai: Nếu nói thì thầm bên tai nhau thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Tỉ-kheo-ni không được đưa tay ra kéo nam tử vào đứng kề bên mình rồi nói chuyện, hoặc nói thì thầm. Nếu muốn nói chuyện thì phải đứng cách xa ngoài tầm tay. Nếu muốn bàn luận chuyện bí mật thì phải đứng cách hàng rào, cách bức tường, cách gốc cây hoặc cách bức màn. Nếu Tỉ-kheo-ni (nói rỉ tai với người khác) thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo đưa tay ra kéo người nữ vào đứng kề bên mình, nói chuyện thì thầm thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

123. GIỚI: ÐI VÀO CHỖ TỐI CÓ ÐÀN ÔNG.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến nhà bà con; không nói trước mà đột nhiên đi vào chỗ anh em, chị em, trẻ con đang ngồi trong bóng tối không có đèn, khiến những người bà con sững sờ hổ thẹn. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, cô đáp với đức Phật:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao ngươi biết nam tử đang ngồi trong chỗ tối không có đèn mà đi vào? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết nam tử đang ngồi trong chỗ tối không có đèn mà đi vào thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Chỗ nam tử đang ngồi: Chỗ mà họ thường nằm ngủ.

Chỗ tối: Chỗ không nhìn thấy nhau.

Không có đèn: Không có đèn dầu và các loại đèn khác. Nếu đi vào nơi đó thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Không được vào chỗ tối mà nam tử đang ngồi. Nếu có nhân duyên cần vào mà nghe những người ở trong đó đang nói năng lớn tiếng thì nên vào. Nếu không nghe tiếng nói thì trước hết nên sai người báo tin, hoặc gảy ngón tay, hoặc đốt đèn sáng cho thấy hình người, rồi có người gọi vào thì mới được vào. Nếu không báo trước, không gảy ngón tay, không đốt đèn sáng mà vào thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo không báo tin trước mà vào thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

124. GIỚI: XEM TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ.

Khi Phật an trú tại thành Vương-Xá, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đi đến trước chỗ tụ điểm ca nhạc chiếm chỗ ngồi xem. Khi bọn kỹ nhi trình diễn thì họ cất tiếng cười lớn, khiến mọi người bắt chước cười theo. Ðến lúc mọi người cười thì họ lại im lặng tựa như người đang ngồi thiền. Ðợi khi mọi người không cười nữa thì họ mới vỗ tay cười ầm lên. Do thế dân chúng bỏ các kỹ nhi mà nhìn Tỉ-kheo-ni. Vì vậy, bọn kỹ nhi không thu tiền được, nổi giận trách móc: "Vì bọn Sa-môn ni này mà chúng ta không thu tiền được".

Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật hỏi thì họ đáp:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Ðó là việc xấu. Vì sao các ngươi xem ca nhạc? Từ nay về sau, Ta không cho phép xem ca nhạc.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni xem trình diễn ca nhạc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Ca nhạc: Trình diễn các loại như: múa, ca, đánh xập xõa, đánh trống, ít nhất là xem 4 người (540c) trình diễn thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói; không được xem ca nhạc. Nếu Tỉ-kheo-ni đi khất thực mà gặp vua, phu nhân của vua xuất hành có nghi vệ ca nhạc rồi mình trông thấy thì không có tội. Thế nhưng, nếu mình đang ở chỗ thấp mà cố y leo lên chỗ cao để nhìn xem thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu đàn việt muốn cúng dường Phật, nên sắm các thứ kỹ nhạc, nghiền hương, kết vòng hoa, rồi nói với Tỉ-kheo-ni: "Thưa thánh giả, hãy giúp tôi bày biện các vật cúng dường này", thì khi ấy, mình được làm giúp họ. Nếu ở tại đó nghe tiếng nhạc mà mình có ý thích thú thì hãy bỏ đi.

Nếu Tỉ-kheo xem ca nhạc thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

125. GIỚI: KHI CHÚNG TRANH CHẤP MÀ KHÔNG DẬP TẮT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trong các Tỉ-kheo-ni có sự tranh chấp sống không hòa hợp. Bấy giờ, Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di đang làm thủ chúng mà trong Tăng có sự tranh chấp khởi lên thì không thể dập tắt, còn những việc chưa phát khởi thì không thể ngăn chặn cho nó đừng sinh khởi. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di đến. Khi Ni sư tới rồi, Phật liền hỏi:

- Này Cù-đàm-di, bà có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao sự tranh chấp phát sinh mà bà không dập tắt, còn những chuyện chưa phát sinh thì không tìm phương tiện ngăn chặn đừng cho sinh khởi? Từ nay về sau, khi có sự tranh chấp thì phải dập tắt.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu các Tỉ-kheo-ni có sự tranh cãi chống đối sống không hòa hợp mà vị thủ chúng không dàn xếp dập tắt thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tranh cãi: Cãi nhau bằng miệng.

Chống đối: Hai bên tranh thắng bại, sống không hòa hợp, rồi nói với nhau như: đúng pháp, phi pháp; đúng luật, phi luật; có tội, không có tội; tội nhẹ, tội nặng; tội có thể trị phạt, tội không thể trị phạt; tội có dư tàn, tội không có dư tàn; yết-ma đúng pháp, yết-ma phi pháp; yết-ma hòa hợp, yết-ma không hòa hợp; nên làm yết-ma, không nên làm yết-ma; yết-ma đúng chỗ, yết-ma không đúng chỗ.

Thủ chúng: Vị đứng đầu của chúng làm mẫu mực cho mọi người noi theo.

Không dàn xếp dập tắt: Nếu tự mình không dập tắt hoặc sai người khác dập tắt thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Khi các Tỉ-kheo-ni có sự tranh cãi chống đối nhau sống không hòa hợp, thì không được để yên như thế mà nhìn, mà phải tìm cách dập tắt, bảo họ sám hối lẫn nhau. Nếu sự việc không đình chỉ được cần phải làm yết-ma, thì nên tập họp Tăng để giải quyết. Nếu bản thân mình không đủ khả năng thì nên mời những Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di có đức độ trong các chúng khác đến dập tắt. Nếu sự tranh cãi khó giải quyết thì nên suy nghĩ: "Ðó là do hạnh nghiệp của chúng sinh đang diễn tiến, hãy đợi (541a) thời gian chín mùi, tự nó sẽ kết thúc". Nếu suy nghĩ như thế thì không có tội.

Nếu các Tỉ-kheo tranh cãi chống đối nhau mà vị thủ chúng không tìm cách dập tắt thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

126. GIỚI: BẢO PHỤ NỮ THOA HƯƠNG KỲ CỌ.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến nhà bà con xem họ tắm gội. Các phụ nữ nói với cô: "Ðể tôi kỳ cọ thân thể cho thánh giả đặng kiếm chút công đức". Vì thân thể của Tỉ-kheo-ni này đoan chính nên các phụ nữ muốn xem cho biết. Thế là cô đồng ý để họ kỳ cọ. Họ bèn dùng các thứ hương dầu bôi vào thân cô. Các Tỉ-kheo-ni thấy thế chê trách rằng: "Người xuất gia mà còn nhiều tham dục như thế!".

Do đó, các Tỉ-kheo-ni nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, Phật hỏi và cô đáp:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao ngươi bảo những phụ nữ thế tục kỳ cọ thân thể? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni bảo phụ nữ thế tục bôi dầu, hương thơm, kỳ cọ thân thể để tắm gội - trừ khi bệnh - thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Giải thích:

Phụ nữ thế tục: Những phụ nữ thuộc bốn chủng tộc.

Kỳ cọ để tắm gội: Dùng các thứ dầu, hương thơm bôi vào mình rồi kỳ cọ. Nhưng nếu vì già bệnh thì không có tội. Còn nếu như không có bệnh mà bảo họ kỳ cọ tắm gội thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. 

Nếu thân thể bị ghẻ lở thì được dùng thuốc bôi lên rồi tắm rửa. Nếu bị bệnh nhiệt thì được dùng đậu xanh giã nát rồi bôi lên. Nếu bị bệnh phong thì được dùng bột gạo lứt bôi lên. Nếu bị các chứng bệnh tạp thì được dùng các loại thuốc gia truyền bôi lên, không có tội. Nhưng sau khi bôi thuốc, không được ở trong chúng mà nên ở trong phòng bên cạnh, đến khi bệnh lành phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới được vào trong chúng.

Nếu Tỉ-kheo không có bệnh mà bảo người thế tục kỳ cọ thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

127. GIỚI: BẢO TỈ-KHEO-NI TẮM CHO MÌNH.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, sau khi Thế Tôn chế giới không cho phép Tỉ-kheo-ni bảo phụ nữ thế tục kỳ cọ tắm rửa, thì Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la bèn sai Tỉ-kheo-ni kỳ cọ cho mình. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà bảo Tỉ-kheo-ni khác kỳ cọ tắm gội cho mình thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu xoa bóp mà không kỳ cọ thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu kỳ cọ mà không xoa bóp cũng phạm tội Việt tì-ni. Nếu làm cả hai thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo không có bệnh mà bảo Tỉ-kheo khác xoa bóp, kỳ cọ thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

128. GIỚI: BẢO SA-DI-NI TẮM CHO MÌNH.

Ðối với Sa-di-ni cũng như vậy. Thế nên, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà bảo Sa-di-ni xoa bóp, kỳ cọ thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Sa-di-ni: Theo Phật xuất gia, thọ 10 giới.

Bảo xoa bóp kỳ cọ: Như trong phần Tỉ-kheo-ni đã nói.

129. GIỚI: BẢO THỨC-XOA-MA-NI TẮM CHO MÌNH.

(541b) Ðối với Thức-xoa-ma-ni cũng như vậy. Thế nên, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà bảo Thức-xoa-ma-ni xoa bóp, kỳ cọ thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Thức-xoa-ma-ni: Tùy thuận làm 18 việc và học giới trong hai năm.

Sai xoa bóp kỳ cọ: Như trong vấn đề Tỉ-kheo-ni ở trên đã nói.

130. GIỚI: SAI PHỤ NỮ TẮM CHO MÌNH.

Ðối với phụ nữ thế tục cũng như vậy. Thế nên, đức Thế Tôn dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà sai phụ nữ thế tục xoa bóp, kỳ cọ thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Phụ nữ thế tục: Tức phụ nữ trong các gia đình thuộc bốn chủng tánh.

Xoa bóp, kỳ cọ: Như trong vấn đề Tỉ-kheo-ni đã nói.

131. GIỚI: KHÔNG TÔN TRỌNG LỄ BỐ-TÁT.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Tăng tập họp định làm yết-ma Bố-tát thì Tỉ-kheo-ni Thọ-đề không đến, Tăng bèn sai sứ giả đi gọi:

- Thưa thánh giả, Tỉ-kheo-ni Tăng tập họp định làm yết-ma Bố-tát, mời cô hãy đến.

- Ðức Thế Tôn chế giới nói rằng trong đời này hễ ai thanh tịnh thì được Bố-tát, ta thanh tịnh nên không cần phải đi đâu nữa.

Ðại Ái Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật hỏi và cô đáp:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Ðó là việc xấu.

Thế rồi, Phật nói: "Ngươi không kính trọng Bố-tát thì ai kính trọng?" Cho đến, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không tôn kính lễ Bố-tát thanh tịnh của mỗi nửa tháng thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Thanh tịnh Bố-tát: Nếu ngày 14, 15 Tỉ-kheo-ni không bệnh mà không đi đến cung kính Bố-tát thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Bệnh: Nếu vì già yếu đau ốm uống thuốc hay lể đầu chảy máu uống sữa, thì phải gởi dục thanh tịnh.

Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà không đến Bố-tát, hoặc có bệnh mà không gởi dục thanh tịnh thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo-ni không đến Bố-tát, hoặc có bệnh mà không gởi dục thanh tịnh thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo không đến Bố-tát, hoặc có bệnh mà không gởi dục thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (kệ tóm tắt):

"Ðưa tay vời, không đèn,
Ca nhạc, không dập tắt.
Hương dầu, Tỉ-kheo-ni, 
Sa-di-ni, học giới.
Phụ nữ, không Bố-tát,
Hết phần thứ mười ba".

132. GIỚI: KHÔNG TÔN KÍNH TỈ-KHEO GIÁO HUẤN.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trưởng lão Tỉ-kheo đi giáo huấn Tỉ-kheo-ni, nhưng nhóm sáu Tỉ-kheo không được đi giáo huấn. Thế là đến ngày giáo huấn, họ bàn nhau: "Chúng ta hãy đi giáo huấn". Rồi có người nói: "Ðức Thế Tôn đã chế giới: Hễ không sai thì không được đi giáo huấn. Vậy chúng ta hãy ra ngoài cương giới đề cử lẫn nhau rồi đi". Thế rồi, họ ra ngoài cương giới đề cử lẫn nhau, rồi vào buổi sáng sớm khoác y đi đến trú xứ của Tỉ-kheo-ni, nói với Tỉ-kheo-ni: "(541c) Chị em hãy tập họp tất cả lại, chúng tôi sẽ giáo huấn".

Khi ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni liền nhanh chóng tập họp, nhưng các thiện Tỉ-kheo-ni thì không đến mà nói rằng: "Chúng tôi không nhận sự giáo huấn của những người không tuân thủ giới luật".

Bấy giờ, nhóm sáu Tỉ-kheo cùng với nhóm sáu Tỉ-kheo-ni nói chuyện thế tục trong giây lát rồi giải tán. Thế rồi, trưởng lão Nan-đà khoác y, cầm bát đi đến tinh xá, nói với Tỉ-kheo-ni: "Chị em hãy tập họp Tăng lại, tôi sẽ giáo huấn". Lúc ấy, các thiện Tỉ-kheo-ni liền tập họp đầy đủ, nhưng nhóm sáu Tỉ-kheo-ni thì không đến. Trưởng lão hỏi:

- Tỉ-kheo-ni Tăng đã tập họp chưa?

- Chưa tập họp.

- Ai không tập họp?

- Nhóm sáu Tỉ-kheo-ni.

Ðoạn, trưởng lão bảo sai người đi gọi:

- Các chị em hãy đến để tôi giáo huấn.

- Chúng tôi không đến; vì đã thọ giáo huấn với nhóm các thánh giả rồi.

- Như vậy là Tỉ-kheo-ni không hòa hợp.

Nói xong, trưởng lão liền ra về. Khi thầy đến tinh xá, Phật biết nhưng vẫn hỏi:

- Ông giáo huấn sao nhanh thế?

- Bạch Thế Tôn! Khi đến giờ, con khoác y đến đó để giáo huấn, các thiện Tỉ-kheo-ni đều tập họp, nhưng nhóm sáu Tỉ-kheo-ni thì không đến; vì Tỉ-kheo-ni Tăng không hòa hợp nên con không thể giáo huấn.

- Ði gọi nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đến đây.

Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi:

- Các ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Vào mỗi nửa tháng Tăng giáo huấn mà Tỉ-kheo-ni không cung kính, không đến nghe, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Nửa tháng: Tức ngày 14 và ngày 15.

Tăng giáo huấn: Tức là giáo huấn Tỉ-kheo-ni. Nếu như không cung kính, không đến nghe thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu vì già yếu bệnh hoạn uống thuốc, hoặc lể đầu chảy máu uống sữa thì nên gởi dục nói như sau: "Con là mỗ giáp xin gởi dục vì sự giáo huấn" (Nói như vậy ba lần).

Nếu không có bệnh mà không đến, hoặc có bệnh mà không gởi dục thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðến ngày Bố-tát, nên sai Tỉ-kheo-ni đem thỉnh nguyện đến chỗ Tăng nói như sau: "Tỉ-kheo-ni Tăng hòa hợp, xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tỉ-kheo Tăng, hỏi về việc Bố-tát và thỉnh cầu giáo huấn" ( Nói như vậy ba lần).

Khi ấy, trong chúng Tỉ-kheo Tăng nếu có người đi giáo huấn Ni thì nên đáp: "Này chị em, tôi sẽ đến".

Nếu có Tỉ-kheo thành tựu 12 pháp thì nên làm yết-ma sai đi giáo huấn; còn nếu như không có thì hãy nói: "Không có người đi giáo huấn Tỉ-kheo-ni. Nhưng Ni chúng chớ phóng dật".

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

133. GIỚI: BẢO NAM TỬ PHÁ UNG NHỌT.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thọ-đề bị mụt nhọt mọc tại chỗ kín. Khi các Tỉ-kheo-ni vào thôn xóm khất thực hết thì có vị lương y chữa mụt nhọt đến, cô (542a) bèn bảo:

- Thưa y sĩ, ông hãy phá giùm mụt nhọt cho tôi.

- Có thể được.

Thế là vị thầy thuốc liền mổ ung nhọt, đắp thuốc vào rồi ra về. Khi các Tỉ-kheo-ni khất thực trở về, thấy dưới đất có máu mủ, bèn hỏi Thọ-đề:

- Ðây là máu mủ gì vậy?

- Tôi phá ung nhọt đấy.

- Vì sao cô có ung nhọt ở chỗ kín, không bạch với thiện Tỉ-kheo-ni mà lại phá?

Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, khi Phật hỏi, thì cô đáp:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao ngươi có ung nhọt từ đầu gối trở lên, từ vai trở xuống mà không bạch xin phép trước mà lại phá? Từ nay về sau Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni có ung nhọt ở chỗ kín, từ đầu gối trở lên, từ vai trở xuống, không bạch xin phép trước mà để cho nam tử phá, tẩy rửa thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Từ đầu gối trở lên: Tức là từ bắp vế trở lên.

Từ vai trở xuống: Tức là từ đôi nhũ hoa trở xuống.

Không bạch trước: Không bạch với thiện Tỉ-kheo-ni.

Xin phép: Làm yết-ma cầu thính ở giữa Tăng. Khi ở chỗ kín có ung nhọt mà muốn phá thì trước hết nên làm yết-ma cầu thính ở giữa Tăng (rồi mới phá). Người làm yết-ma nên nói như sau:

- Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Ở chỗ kín của Tỉ-kheo-ni mỗ giáp có ung nhọt. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp vào giữa Tăng xin pháp yết-ma phá ung nhọt:

Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp muốn vào giữa Tăng xin pháp yết-ma phá ung nhọt, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Nếu ở chỗ kín có ung nhọt thì nên bảo người đáng tin cậy, hoặc đệ tử y chỉ, hoặc bạn đồng Hòa thượng, A-xà-lê dùng kim hay móng tay để phá rồi rịt thuốc vào. Nếu bảo nam tử phá ung nhọt thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu bị mụt nhọt từ vai trở lên, từ đầu gối trở xuống mà muốn phá, hoặc muốn lể đầu chảy máu hay muốn lể cánh tay, thì nên sai phụ nữ nắm chặt nơi ấy để cho nam tử phá, thì không có tội.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ ba mươi chín.

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap