| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
100.
GIỚI: CHO NGƯỜI CÓ CHỒNG DƯỚI 12 TUỔI THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy những người con gái
của dòng họ Thích, họ Câu-lê, họ Ma-la, họ Li-xa sau khi
lấy chồng rồi mới xuất gia, từng chịu đựng những việc
cực nhọc nên đã khôn ngoan. Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di bèn
hỏi Phật: -
Bạch Thế Tôn, những người nữ đã có chồng, chưa đủ
20 mùa mưa có thọ Cụ túc được không? -
Ðược. Thế
rồi, Tỉ-kheo-ni cho những người nữ đã lấy chồng 8 tuổi,
9 tuổi thọ Cụ túc, nhưng vì họ quá bé nhỏ, yếu đuối
không chịu đựng được những việc cực nhọc. Các Tỉ-kheo-ni
bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc
đó đến bạch lên Thế Tôn. Cho đến, Phật dạy: Dù ai nghe
rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho những người nữ đã lấy chồng chưa đủ
12 mùa mưa thọ Cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Chưa
đủ 12 mùa mưa:
Như trường hợp chưa đủ 20 mùa mưa ở trên đã nói rõ. Người
nữ đã có chồng:
Người mà phạm hạnh đã bị hủy hoại. Nếu cho người như
vậy thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu người nữ đã lấy chồng muốn thọ
Cụ túc trong pháp luật của đức Như-lai thì trước hết
nên hỏi ; (536a) cho đến phải xem tay chân xương cốt.v.v... Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). 101.
GIỚI: NGƯỜI CÓ CHỒNG 12 TUỔI CHƯA HỌC GIỚI MÀ CHO THỌ
GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi đức Thế Tôn chế giới
không cho phép Tỉ-kheo-ni cho người nữ đã lấy chồng chưa
đủ 12 mùa mưa thọ Cụ túc, thì Tỉ-kheo-ni cho những người
nữ đã lấy chồng đủ 12 mùa mưa thọ Cụ túc. Thế nhưng,
các Tỉ-kheo-ni than phiền rằng: "Ngươi là người nữ đã
lấy chồng đủ hay chưa
đủ 12 mùa mưa ai mà biết được!". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi, Phật
dạy: "Từ nay về sau, những người nữ đã lấy chồng đủ
12 mùa mưa phải cho học giới 2 năm". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: -
Nếu Tỉ-kheo-ni không cho người nữ đã lấy chồng đủ 12
mùa mưa học giới mà cho thọ Cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề,
như trong giới đồng nữ không học giới ở trên đã nói. Kệ
tóm tắt: "Mắng
ngay, độ phi pháp,
102.
GIỚI: NGƯỜI CÓ CHỒNG HỌC CHƯA XONG MÀ CHO THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Ca-lê độ
bà vợ của viên quan nhà vua là Tu-đề-na xuất gia cho thọ
Cụ túc. Vì lúc còn ở nhà bà đã có thai nên dần dần bụng
lớn. Các Tỉ-kheo- ni bèn khiển trách người đó rằng: -
Ðã thọ học giới mà có thai lẽ đáng phải trục xuất. -
Từ khi xuất gia đến nay tôi không hề biết chuyện đó. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Người
này từ lúc xuất gia về sau không biết đến việc ấy (việc
dâm dục) tức là bào thai có từ lúc còn ở nhà. Nếu gặp
trường hợp như vậy thì chưa nên cho thọ Cụ túc mà phải
đợi đến sau khi sinh con. Nếu sinh con gái, thì sau khi sinh
cho thọ Cụ túc. Nếu sinh con trai, thì đợi đến khi đứa
bé dứt sữa mới cho thọ Cụ túc. Nhưng nếu có chị em thân
thích nói: "Hãy bồng đứa bé đến đây để tôi nuôi dưỡng
cho" - Nếu gặp trường hợp như vậy - thì nên cho thọ Cụ
túc". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho người nữ đã lấy chồng học giới chưa
đủ mà cho thọ Cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề, như trong
điều đồng nữ học giới chưa đủ trên kia đã nói rõ. 103.
GIỚI: CHO NGƯỜI CÓ CHỒNG THỌ GIỚI, KHÔNG LÀM YẾT-MA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài chế giới không
cho phép Tỉ-kheo-ni cho người nữ đã lấy chồng đủ 12 tuổi
(536b) chưa đủ 2 năm học giới thọ Cụ túc, thì Tỉ-kheo-ni
cho người nữ đã lấy chồng đủ 2 năm học giới thọ Cụ
túc. Thế nhưng các Tỉ-kheo-ni chê trách người ấy: "Người
học giới đủ hay chưa đủ ai mà biết được". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Thế rồi
Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho người nữ đã lấy chồng học giới đủ
thọ Cụ túc mà không làm yết-ma, thì phạm tội Ba-dạ-đề,
như trong điều đồng nữ không làm yết ma ở trên đã nói
rõ. 104.
GIỚI: CHO THỌ GIỚI RỒI MÀ KHÔNG DẠY DỖ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni nuôi
nhiều đệ tử mà không dạy dỗ, để họ giống như trâu
trời, dê trời, không biết giữ gìn sạch sẽ, oai nghi không
đầy đủ; không biết phụng sự Hòa thượng, A-xà-lê, không
biết phụng sự trưởng lão Tỉ-kheo-ni, không biết phép vào
thôn xóm, ở A-luyện-nhã, không biết mặc y, cầm bát. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo bèn
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi độ người mà không dạy?
Từ nay về sau phải dạy dỗ 2 năm. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho đệ tử thọ Cụ túc rồi thì phải dạy
dỗ trong 2 năm. Nếu không dạy dỗ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ðệ
tử: Tức
là đệ tử cùng sống chung. Hai
năm: Tức
là hai mùa mưa. Dạy
dỗ: Hoặc
dạy A-tì-đàm, hoặc dạy Tỳ-ni. A-tì-đàm:
Tức là 9 bộ Kinh. Tì-ni:
Tức là Ba-la-đề-mộc-xoa rộng rãi hoặc giảng lược. Nếu
thấy họ có oai nghi nên khích lệ. Nếu thấy họ trái oai
nghi, nên ngăn cản. Nếu như không dạy dỗ thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Nếu như đệ tử không thể dạy, không muốn
học thì phải trục xuất. Nếu
Tỉ-kheo không dạy bảo đệ tử cùng sống chung thì phạm
tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 105.
GIỚI: THỌ GIỚI RỒI, KHÔNG HẦU THẦY. Khi
Phật an trú tại thành Xá-Vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni độ đệ
tử, sau khi thọ Cụ túc rồi, đệ tử bèn bỏ đi nơi khác.
Do đó, Hòa thượng ni than phiền rằng: "Ðức Thế Tôn chế
giới bảo phải dạy đệ tử, nhưng đệ tử bỏ tôi mà đi,
thì tôi dạy ai đây?" Các
Tỉ-kheo ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. (536c) Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi thọ Cụ túc rồi mà đi đến
nơi khác? Ngươi phải phụng sự Hòa thượng ni trong 2 năm. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Khi Tỉ-kheo-ni thọ Cụ túc rồi phải theo hầu, cung phụng
Hòa thượng ni trong 2 năm, nếu không theo hầu, cung phụng,
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Người
thọ Cụ túc:
Chỉ cho đệ tử cùng sống chung. Hai
năm: Tức
trong thời gian 2 mùa mưa. Cung
phụng: Tức
cung phụng hòa thượng ni. Theo
hầu: Không
được rời xa. Nếu không theo hầu, cung phụng thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Nhưng nếu Hòa thượng ni trì giới lỏng lẻo,
khiến đệ tử không muốn học, suy nghĩ: "Hòa thượng ni của
ta chỉ đi đến những nơi không nên đến, nếu ta đi theo
thì sợ tổn thương đến phạm hạnh", rồi bỏ đi để bảo
toàn phạm hạnh thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo không theo hầu, cung phụng Hòa thượng, thì phạm tội
Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 106.
GIỚI: NUÔI ÐỆ TỬ HÀNG NĂM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni cứ
mỗi năm mỗi độ đệ tử cho thọ cụ túc, rồi tâm sinh
nghi ngờ không biết có được làm như thế không, bèn hỏi
Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đến bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi,
Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép cứ mỗi năm mỗi độ đệ
tử mà phải để cách năm. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cứ mỗi năm mỗi nuôi đệ tử thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Giải
thích: Mỗi
năm: Cứ mỗi
mùa mưa. Nuôi
đệ tử:
Tức cho thọ cụ túc. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Phật không cho phép mỗi năm mỗi nuôi đệ
tử mà phải để cách năm một. Nếu Tỉ-kheo-ni có phước
đức thì năm thứ nhất cho đệ tử học giới, năm thứ hai
cho thọ cụ túc, thì tuy năm nào cũng có độ mà không có
tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 107.
GIỚI: ÐỂ CÁCH ÐÊM CHO THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thọ-đề
muốn cho đệ tử thọ Cụ túc bèn nói với Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
rằng: "Thưa Thánh giả, xin người mời giúp Tăng để cho đệ
tử tôi thọ Cụ túc". Thế rồi Tỉ-kheo-ni Tăng bèn cho giới
tử thọ Cụ túc (ở bản bộ yết-ma). Khi ấy, Tỉ-kheo-ni
Thâu-lan-nan-đà mời được nhóm sáu Tỉ-kheo, Thọ-đề bèn
hỏi: -
Cô đã mời giúp Tăng cho tôi được chưa? -
Ðã mời được rồi. -
Mời được ai vậy? -
Mời được nhóm sáu Tỉ-kheo. -
Tôi không dùng những vị ấy. Thế
là đến sáng hôm sau, Thọ-đề liền mời các thiện Tỉ-kheo
(537a) khác cho thọ Cụ túc. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy
nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem đến trình
bày lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Thọ-đề
đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Này Thọ-đề, đó là việc xấu. Vì sao trong một chúng thanh
tịnh mà ngươi để qua đêm mới cho thọ Cụ túc, lại còn
khinh thường chúng nữa? Từ nay về sau, Ta không cho phép trong
một chúng thanh tịnh mà để qua đêm cho thọ Cụ túc, cũng
không cho phép khinh thường chúng. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni ở trong một chúng thanh tịnh mà để qua đêm
cho thọ Cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Một
chúng thanh tịnh:
Tức thọ Cụ túc trong chúng của Tỉ-kheo-ni. Ðể
qua đêm: Nếu
để đến hôm sau mới cho thọ Cụ túc trong chúng của Tỉ-kheo
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói: Phật không cho phép ở trong một chúng thanh
tịnh mà để qua hôm sau mới cho thọ Cụ túc; đồng thời
cũng không cho phép khinh thường chúng, cũng không được mời
chúng Tỉ-kheo ác cho thọ Cụ túc, mà trước hết phải đi
thỉnh cầu thiện Tỉ-kheo. Nếu không thể mời đủ thì phải
mời được một nửa hoặc hơn một nửa để làm yết-ma.
Nếu trường hợp gặp nạn vua, nạn giặc không thể làm trong
một ngày mà phải để qua đêm thì không có tội. Trường
hợp Tỉ-kheo cũng không được khinh thường chúng, cần phải
mời được một nửa, hoặc hơn một nửa giới sư để làm
yết-ma. Nếu khinh thường chúng thì phạm tội Việt tì-ni.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 108.
GIỚI: ÐỆ TỬ CÓ LỖI MÀ KHÔNG THU XẾP. Khi
Phật an trú tại thành Tỳ-xá-ly, Lúc ấy Tỉ-kheo-ni Ca-lê
độ người con gái thứ ba của dòng họ Li-xa xuất gia, thế
rồi, cô này sống thân cận với người thế tục và ngoại
đạo. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Tỉ-kheo-ni Ca-lê: "Cô biết
đệ tử mình sống thân cận với người thế tục và ngoại
đạo mà vì sao không đưa kẻ ấy đến sống cách biệt ở
nơi khác?". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Tỉ-kheo-ni Ca-lê đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết đệ tử sống thân cận
với người thế tục và ngoại đạo mà không cách ly họ?
Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như thế. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Tỳ-xá-ly phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni độ đệ tử có vấn đề mà không tự mình
đưa họ hoặc sai người khác đưa họ đi xa ít nhất là 5,6
do tuần, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ðộ
người: Tức
là Hòa thượng ni. Ðệ
tử: Tức
là đệ tử đồng hành. Có
vấn đề:
Tức là đệ tử muốn thôi tu, hoặc là cha mẹ bà con muốn
họ thôi tu, hoặc chồng (537b), chú muốn họ thôi tu. Ðưa
đi: Hoặc
tự mình đưa đi, hoặc sai người khác đưa đi. Ít
nhất là 5, 6 do tuần: Mức độï ít nhất là sáu do tuần. Nếu
đệ tử sống thân cận với người thế tục thì nên đưa
họ đi du hành. Nếu bản thân mình già bệnh không thể làm
được thì nên chuyển lời nhờ người khác dạy bảo rằng:
"Ngươi nên đi vân du đảnh lễ chùa tháp sẽ được nhiều
công đức, đồng thời gặp được những hội chúng tốt
đẹp làm cho tầm hiểu biết của mình thêm mở mang, nếu
ta mà không già cả thì ta cũng sẽ đi". Nếu
Tỉ-kheo có đệ tử cùng sống chung có vấn đề mà không
tự mình đưa đi hoặc sai người khác đưa đến nơi khác
thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 109.
GIỚI: NGOAN CỐ KHÔNG NGHE LỜI KHUYÊN. Khi
Phật an trú tại Xá-vệ, lúc bấy giờ Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
chưa đủ 10 pháp mà độ đệ tử, rồi không dạy dỗ để
họ buông lung giống như trâu trời, dê trời. Thế rồi có
Tỉ-kheo-ni nói với Thâu-lan-nan-đà: -
Này Thánh giả, cô chưa đủ 10 pháp mà độ đệ tử rồi
không chịu dạy bảo để họ như thế đó. -
Cô đố kỵ việc tôi độ đệ tử nên trách mắng tôi. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi chưa đủ 10 pháp lại độ
đệ tử rồi không chịu dạy bảo mà còn trách móc người
khác? Từ nay về sau, Ta không cho phép trách móc người khác. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni A nói với Tỉ-kheo-ni B rằng: "Này Thánh giả,
cô chưa đủ 10 pháp mà độ đệ tử thì phải dạy bảo họ",
mà cô B trách ngược lại cô A thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Hoặc Ni Tăng, hoặc nhiều người, hoặc một người. Tỉ-kheo-ni
B: Tức là
Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà. Chưa
đủ 10 pháp:
Tức là 10 pháp chưa thành tựu mà độ đệ tử, cho thọ Cụ
túc, rồi có người khuyên can mà lại trách móc, thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo làm như trên thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức
Thế Tôn nói (như trên). 110.
GIỚI: HỨA CHO THỌ GIỚI MÀ KHÔNG CHO THỌ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có cô ni đang học
giới nói với Thâu-lan-nan-đà: -
Thưa Thánh giả, con học giới đủ rồi cho con thọ Cụ túc. -
Ðược. Sau
đó, cô Ni học giới nhắc lại: "Thưa Thánh giả, con học
giới đủ rồi, cho con thọ Cụ túc". Thâu-lan-nan-đà nghe thế
mà không cho thọ Cụ túc, không nhờ người khác cho thọ,
cũng không bảo đi nơi khác để thọ. Các Tỉ-kheo-ni bèn trách
cô ta: "Trước đây cô hứa cho thọ Cụ túc, vì sao không cho
thọ?" Tuy nghe lời trách móc ấy, nhưng (537c) cô vẫn không
cho thọ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc ác. Vì sao ngươi hứa cho người khác thọ Cụ
túc mà rồi không cho thọ? Từ nay về sau, Ta không cho phép
làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Thức-xoa-ma-ni rằng: Ngươi học giới
đủ rồi ta sẽ cho thọ cụ túc", nhưng sau đó không cho thọ,
không nhờ người khác cho thọ, cũng không bảo họ đi nới
khác, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Thức-xoa-ma-ni:
người tùy thuận học 18 việc trong 2 năm. Nói
rằng: Như
trường hợp Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà hứa cho thọ Cụ túc
mà sau đó tự mình không cho thọ cũng không bảo người khác
cho thọ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Thức-xoa-ma-ni rằng:
Ta sẽ cho ngươi thọ Cụ túc mà sau đó không có khả năng
thì nên bảo người khác cho thọ. Nếu tự mình không cho thọ,
không nhờ người khác cho thọ, thì nên bảo họ đi nơi khác
để thọ Cụ túc. Nếu Tỉ-kheo-ni hứa cho Thức-xoa-ma-ni thọ
Cụ túc mà sau đó không cho thọ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo hứa cho Sadi thọ Cụ túc mà sau đó không cho thọ
thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 111.
GIỚI: KHÔNG BỆNH MÀ ÐI XE . Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, bấy giờ Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la-già-tì-lê
đi xe lộng lẫy đến nhà bà con, bị người đời chê trách
rằng: "Vì sao Samôn ni đã xuất gia mà giống như người thế
tục, đi xe lộng lẫy, còn nhiều tham dục đến như thế?". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
đem việc đó đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như
vậy. Lại
nữa, bấy giờ có một Tỉ-kheo-ni con dòng họ Thích, vì già
bệnh ốm yếu, đi đường không theo kịp bạn bè phải đi
sau, bị bọn giặc xâm phạm. Cuối cùng, Phật bảo Ðại Ái
Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành
Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà đi xe thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Bệnh:
Nếu vì già bệnh ốm yếu hay là nhạc sĩ không thể đi được
(thì đi xe) Thế Tôn bảo là không có tội. Xe:
Gồm có 8 loại, kể cả thuyền bè đó gọi là 8 loại; nếu
sử dụng những thứ ấy thì phạm tội Ba-dạ-đề. (538a)
Ðức Thế Tôn không cho phép Tỉ-kheo-ni không bệnh mà đi xe,
thuyền. Nhưng nếu có bệnh cũng không được đi xe do trâu
đực kéo, mà được đi xe do trâu, ngựa, lạc đà cái kéo.
Nếu vì bệnh không biết đó là con đực hay cái thì không
có tội. Nếu đi đò ngang thì không có tội. Ngoài ra, nếu
có nhân duyên thì được đi đò xuôi, ngược dòng sông. Nếu
Tỉ-kheo không bệnh mà đi xe, đò thì phạm tội Việt tì-ni.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Kệ
tóm tắt: "Chưa
đủ, không yết-ma,
112.
GIỚI: KHÔNG BỆNH MÀ ÐỘI DÙ. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, bấy giờ Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la-già-tì-lê
đội dù, mang giày đi đến nhà bà con, bị người đời chê
bai rằng: "Vì sao Samôn ni mà giống như người thế tục, còn
đa dục đến như thế?". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! Từ
nay về sau, Ta không cho phép cầm dù, mang giày. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ có những cô gái của
họ Thích họ Ma-la, trước kia vốn là nhạc sĩ, nay đã xuất
gia, đi đường gặp lúc trời nóng bức rất là cực nhọc.
Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay
về sau, Ta cho phép khi bệnh (được đội dù)". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà cầm dù, mang giày thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Bệnh:
Nếu bị già yếu, bệnh hoạn, khiêng chân mà mang giày thì
Thế Tôn nói là không có tội. Ô
dù: Như ô
dù làm bằng vỏ cây, bằng đa-lê, bằng tre, bằng ma-lâu,
bằng lá cây, bằng vải, đại loại các thứ dù tương tự
như thế. Giày:
Loại giày một lớp, hai lớp. Cầm:
Nếu sử dụng thì phạm tội Ba-dạ-đề . Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu cầm dù mà không mang giày thì phạm
tội Việt tì-ni . Nếu mang giày mà không cầm dù cũng phạm
tội Việt tì-ni. Nếu dùng cả hai thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu không dùng cả hai thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo cầm dù đẹp đẽ, mang giày hai lớp thì phạm tội
Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (538b) (như trên). 113.
GIỚI: NẰM GIƯỜNG CAO QUÁ MỨC ÐỘ. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la-già-tì-lê
đi đến nhà bà con, trải 2, 3 lớp nệm trên chiếc giường
Khư-trù-la cao nghệu mà ngồi, bị người đời và ngoại đạo
chê bai rằng: "Vì sao Sa-môn ni đã xuất gia mà còn giống như
người thế tục, đa dục đến như thế?". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi ngồi trên giường Khư-trù-la cao quá mức độ
như vậy? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như thế. Ðoạn
Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, dù
ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni ngồi hoặc nằm trên giường nệm Khư-trù-la
cao quá mức độ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Quá
mức độ:
Cao hơn 8 ngón tay. Giường
nệm Khư-trù-la:
Khư-trù-la gồm có 14 loại, cho đến giường Băng-cầu-la,
Khư-trù-băng-cầu-la, nếu ngồi hay nằm trên đó thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu ngồi suốt ngày thì phạm một tội
Ba-dạ-đề. Nếu đã đứng lên rồi, ngồi xuống lại thì
cứ mỗi lần ngồi lại phạm một tội Ba-dạ-đề. Nếu giường
cao quá mức độ thì được chôn chân giường xuống (cho ngang
mức độ) mà ngồi. Nếu
Tỉ-kheo ngồi giường Khư-trù-la cao quá mức độ thì phạm
tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 114.
GIỚI: CÙNG NẰM CHUNG MỘT GIƯỜNG. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo-ni
cùng ngủ chung trên một giường, một chõng, mền gối bị
rách nát, giường chõng bị hỏng hóc. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem
sự việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo bạch
với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi
cô tới rồi, Phật bèn hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni trải giường nệm ra cùng nằm chung thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Trải:
Cùng một chõng, một giường, một mùng. Giường:
Gồm có 14 loại, thậm chí nếu nằm trên giường Chi-lan thì
phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Không được nằm chung một giường mà nên
nằm mỗi người một giường. Nếu giường ba chỗ ngồi thì
được nằm hai người nhưng khi dang chân ra thì không được
quá đầu gối. Nếu tấm nệm vuông thì ba tấm được dùng
cho hai người nằm, nhưng khi dang chân ra thì không được quá
đầu gối. Nếu trải dưới đất thì không được dùng cho
nhiều người mà nên nằm cách nhau chừng một cánh tay dang
ra. Nếu tọa cụ thì nên tự trải ra mà ngồi. Khi trời lạnh
thì ở trên (538c) được phủ chung một tấm màn còn ở dưới
mỗi người tự đắp mền riêng thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo cùng nằm chung một giường thì phạm tội Việt tì-ni.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 115.
GIỚI: RA ÐI KHÔNG TRẢ LẠI PHÒNG. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Ca-lê nhận
phòng của Tăng rồi đóng cửa mà ra đi. Sau đó có Tỉ-kheo-ni
khách là Thượng tọa đến, theo thứ tự nhận phòng, thấy
cửa phòng đóng, than phiền rằng: "Ðây là phòng ốc của
Tăng vì sao lại đóng cửa rồi ra đi?". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Thế rồi, Phật bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao phòng của Tăng mà ngươi nhận rồi
không trả, lại đóng cửa rồi ra đi? Từ nay về sau không
được làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không xả phòng giường nệm của Tăng mà ra
đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Giường
nệm của Tăng:
Như giường nằm, giường ngồi, gối nệm và câu chấp. Không
xả: Không
trả lại, không thưa mà bỏ đi nơi khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni muốn đi đâu thì phải trả
lại giường nệm, nói với người trông coi giường nệm biết
rồi mới đi. Nếu không trả lại mà đi, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu như phòng không bỏ trống, sau đó có người khác ở,
thì phạm tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 116.
GIỚI: VÀO CHỖ TĂNG KHÔNG THƯA TRƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni mẹ của
Kiệt-trụ không nói trước mà đột nhiên đi vào phòng Tỉ-kheo
cha của Kiệt-trụ, rồi xoa sau lưng. Vị này quay lại nhìn
thấy, liền kêu lên: - Ðừng, đừng! Hãy xa tôi ra! -
Ngày trước tôi thường tắm rửa cho ông, nay tôi chỉ xoa
một tí thì có gì mà kêu vang. -
Ngày xưa tôi là người thế tục, nay đã xuất gia không được
làm như trước nữa. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi không thưa trước mà đi vào
tinh xá của Tỉ-kheo? Từ nay về sau Ta không cho phép làm như
thế. Thế
rồi, Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không bạch trước mà đi vào Tăng-già-lam của
Tỉ-kheo thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tăng-già-lam
của Tỉ-kheo:
Ít nhất là chỗ ở của một Tỉ-kheo. Không
bạch trước:
Không nói trước, không gọi mà tự động vào như Tỉ-kheo-ni
mẹ của Kiệt-trụ thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni muốn đi vào trú xứ của
Tỉ-kheo thì phải (539a) đến đứng trước cửa phòng bạch
rằng: "Kính chào, Tỉ-kheo-ni (mỗ giáp) xin vào gặp, mong được
sự cho phép". Khi ấy, Tỉ-kheo phải cân nhắc, nếu thấy Tỉ-kheo-ni
ấy hiền thiện mà mình đang rỗi rảnh, đã khoác sẵn y phục,
thì cho phép vào. Nếu mình đang có việc, hoặc đang làm đất
hay đang ở trần thì nên nói: "Này chị em, hãy đứng chờ
một tí", rồi xướng rằng: "Này các Trưởng lão, Tỉ-kheo-ni
muốn vào, các vị hãy mặc y phục". Nếu thấy Tỉ-kheo-ni
ấy bất thiện, không có oai nghi thì nên nói: "Cô đừng vào,
Tăng đang có việc". Nếu
không nói trước mà đi vào lần đầu thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nhưng nếu đi đến lần sau thì không có tội. Nếu không bạch
mà đi vào thì khi dở lên một chân phạm tội Việt tì-ni,
dở lên cả hai chân phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu đi trở ra
thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
Tỉ-kheo không nói trước mà đi vào trú xứ của Tỉ-kheo-ni
thì phạm tội Việt tì-ni. Khi muốn vào nên đến đứng trước
cửa phòng bảo tịnh nhân nữ thông báo (rồi mới vào). Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên).
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||