THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Quyển Thứ Ba Mươi Tám (Tiếp Theo)

84- GIỚI: LÀM VIỆC CHO NGƯỜI THẾ TỤC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỳ-xá-khư Lộc Mẫu mời hai bộ Tăng (về nhà cúng dường). Các Tỉ-kheo-ni sáng sớm đến nhà bà, nói:

- Này Ưu-bà-di, hôm nay bà mời hai bộ Tăng, chúng tôi nên dùng thứ gì để báo đáp đây?

- Thưa các Thánh giả, các vị chỉ cần tụng Kinh, hành đạo tức là đã báo ân rồi vậy.

- Ðúng thế, nhưng cũng phải có việc gì khác để báo đáp chút chút chứ.

Thế là, họ leo lên gác, lấy bông vải ra, rồi người thì cán hạt, người thì nhồi bông, người thì se sợi, làm thành cuộn chỉ tròn, đem đưa bà, nói:

- Những gì chúng tôi muốn báo đáp bà, giờ đã làm xong.

- Việc đó không phải là báo đáp, muốn báo đáp thì ăn xong, ngồi thiền, tụng kinh, học kinh, đó mới gọi là báo đền.

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc đó đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm những việc thế tục tại nhà bạch y.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni làm việc cho người thế tục thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Người thế tục: Tức nhà bạch y.

Làm việc cho người thế tục: Tức là cán hạt bông, nhồi bông và se sợi, hoặc giã, xay, giặt áo, đại loại làm những việc nhà cho người thế tục như vậy thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được làm việc cho người thế tục. Nếu đàn-việt muốn cúng dường Phật nên nói: "Này Thánh giả, hãy giúp con làm dụng cụ cúng dường này", thì lúc ấy được giúp họ kết vòng hoa, nghiền bột hương.

Nếu Tỉ-kheo làm việc giúp cho người thế tục thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

85- GIỚI: VÀO NHÀ NGƯỜI KHÔNG BÁO TRƯỚC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người kia vào giữa trưa trong nhà vắng vẻ tưởng không có ai, muốn giao hoan, thì Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà không báo trước mà đột ngột đi vào. Người chồng thấy thế nổi giận, vì cuộc hành lạc của mình bị trở ngại, đồng thời nam căn còn cương cứng, bèn đuổi theo định bắt Tỉ-kheo-ni. (531c) Tỉ-kheo-ni hoảng sợ vội vàng bỏ chạy về lại trú xứ, nói với các Tỉ-kheo-ni khác: "Hôm nay suýt chút nữa tôi bị hủy hoại phạm hạnh".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết thực gia, không nói trước mà đi vào. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết thực gia, không nói trước mà đi vào, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Biết: Hoặc tự biết hoặc do nghe từ người khác mà biết.

Thực: Người nữ là thức ăn của người nam, người nam là thức ăn của người nữ.

Gia: Như nhà Sát-lợi, nhà Bà-la-môn, nhà Tỳ-xá, nhà Thủ-đà-la, đại loại các gia đình như thế, nếu không báo trước mà đột ngột đi vào thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni không nói trước thì không được đi vào. Nếu muốn đi vào thì nên nói với người giữ cửa rằng tôi muốn đi vào. Nếu người giữ cửa thưa với chủ nhà rồi họ bảo vào thì mới được vào. Nếu người giữ cửa không ra báo lại thì không được vào. Nếu nghe trong phòng có tiếng nói thì phải gảy móng tay, dậm chân cho có tiếng động. Nếu họ vẫn im lặng thì không được vào. Nếu họ ra nghênh tiếp thì được vào.

Nếu Tỉ-kheo không nói trước với gia chủ mà vào nhà họ thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

86- GIỚI: SỐNG THÂN CẬN VỚI NGƯỜI THẾ TỤC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Ca-lê độ người con gái thứ ba của gia đình Li-xa xuất gia, rồi cô ấy sống thân cận với người thế tục ngoại đạo. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép sống thân cận như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni sống thân cận với người thế tục, ngoại đạo - thậm chí sống thân cận với người làm vườn, Sadi - trọn ngày hoặc trong khoảnh khắc, thì phạm tội Ba-dạ-đề 

GIẢI THÍCH:

(Một số từ ngữ trên đã giải thích)

Ban ngày: Từ lúc bình minh đến lúc mặt trời lặn.

Cho đến trong khoảnh khắc: Chỉ trong chốc lát. 

Sống thân cận: Thân thể sống thân cận, miệng thân cận, thân miệng sống thân cận, thậm chí sống với người làm vườn, Sadi (532a) thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni thích sống thân cận với người này người kia thì Hòa thượng ni, A-xà-lê ni nên cho họ sống cách ly ở chỗ khác.

Nếu Tỳ-kheo sống thân cận thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

87- GIỚI: TỰ THỀ THỐT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà gây lộn với Tỉ-kheo-ni khác rồi chỉ Phật, chỉ A-xà-lê, chỉ y-cà-sa thề thốt như sau: "Nam mô Phật, nếu tôi làm như thế thì khi chết tôi không được khoác áo cà sa, không đoạn tận khổ đau.bị mang tội giết cha mẹ, bị mang tội vong ân, bị mang tội hủy báng hiền thánh, rơi xuống địa ngục, đọa vào quỷ đói, đọa vào súc sinh. Nếu tôi làm như vậy, thì tôi sẽ rơi vào các cõi ấy. Nếu bạn làm như vậy thì bạn cũng sẽ rơi vào trong các cõi ấy".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: 

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Ngươi là người xuất gia mà vì sao lại thề thốt như thế? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.

Cuối cùng Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni tự thề thốt và nguyền rủa người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Giải thích:

Tự thề thốt: Như chỉ Phật, chỉ A-xà-lê thề thốt rằng: "Nam mô Phật, nếu tôi làm như thế thì tôi sẽ bị tội như Ðề-bà-đạt-đa, bị tội vọng ngữ, bị tội phản bội ân nhân, bị tội nói hai lưỡi. Nếu tôi như vậy thì phạm hạnh không thành tựu, khi chết không được khoác áo cà sa, bị rơi xuống địa ngục, đọa vào súc sanh, ngạ quỹ. Nếu bạn hủy báng tôi thì bạn cũng sẽ bị tội như thế". Nếu thề thốt như thế thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỳ-kheo thề thốt như thế thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

88- GIỚI: HỜN DỖI TỰ ÐÁNH MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà gây lộn với Tỉ-kheo-ni khác, rồi nổi giận, tự đánh, tự cào, khóc rống lên tuôn lệ. Các Tỉ-kheo-ni khác nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Vì sao ngươi nổi giận tự đánh mình, rồi khóc rống lên tuôn rơi nước mắt? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, (532b) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni tự đánh mình rồi tuôn rơi nước mắt thì phạm tội Ba-dạ-đề.

GIẢI THÍCH:

Tự đánh mình: Nếu Tỉ-kheo-ni dùng tay nắm mình lại, rồi dùng cú đấm mà đấm, hoặc dùng roi gậy đánh, hoặc dùng đất cục ném, rồi khóc lóc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni tự đánh mình mà không khóc thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu khóc mà không đánh, cũng phạm tội Việt-tì-ni. Nếu vừa đánh vừa khóc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu không đánh, không khóc thì không có tội.

Nếu Tỉ-kheo tự đánh mình rồi khóc thì phạm tội Việt-tì-ni, Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

89- GIỚI: TRÁCH NGƯỜI VÔ CỚ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến nhà thế tục ca ngợi Tỉ-kheo-ni Thọ-đề là người hiền lành, giữ giới, tinh tấn, cho đến có oai nghi ung dung khi nhìn trái, trông phải, mặc y, cầm bát, nhìn ngó chỉnh tề, ít nói năng được trời người cúng dường, đàn việt trông thấy liền sinh tâm cung kính, chu cấp y bát, thức ăn, thuốc trị bệnh. Thế nhưng, bản thân Thâu-lan-nan-đà thì oai nghi khiếm khuyết, mặc y rách rưới bẩn thỉu, để lộ cả cái bụng bự, nhũ hoa và hông ra ngoài, cử chỉ thì thô tháo, nói năng búa xua. Vì thế đàn việt sanh tâm bất kính, không mời về cúng dường y bát, thức ăn, thuốc trị bệnh. Do vậy, Thâu-lan-nan-đà nói: "Tôi đến nhà đàn việt ca ngợi Thọ-đề nên mới được các thứ cúng dường này. thế mà Thọ-đề chỉ nói những chuyện không tốt của tôi, nên tôi không được cúng dường". Thọ-đề liền trả lời: "Này thánh giả, tôi không nói chuyện xấu của thánh giả, vì sao lại bảo rằng tôi nói?".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. 

- Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi không xem xét cẩn thận mà lại trách móc người khác?. Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, không được không xét nét cẩn thận mà trách móc người khác.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: Này Thánh giả, cùng đến nhà mỗ giáp với tôi", sau đó không hài lòng Tỉ-kheo-ni ấy mà không thẩm xét những gì được nghe, rồi vô cớ quở trách, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà ở trên đã nói.

Nhà: Như nhà Sát-lợi, nhà Bà-la-môn, (532c) nhà Tì-xá, nhà Thủ-đà.

Sau đó không hài lòng: Như trường hợp Tỉ-kheo-ni Thọ-đề.

Việc không hài lòng: Chín việc ưu não, và việc thứ mười là nổi giận không đúng chỗ.

Vô cớ: Không thẩm xét kỹ những gì được nghe và quở trách người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni không thẩm xét kỹ những gì được nghe mà quở trách người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỳ-kheo không thẩm xét mà quở trách người khác thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

90- GIỚI: GIỮ CỦA NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến giờ bèn khoác y, cầm bát đi đến đứng trước cửa một gia đình hào phú, bỗng thấy có Tỉ-kheo đến khất thực, cô nói: "Tôn đức có thể vào nhà này, họ sẽ nấu thức ăn cúng dường tôn đức, rồi họ mới ăn". Nếu thấy Tỉ-kheo-ni đến thì cô nói: "Thánh giả hãy vào nhà này, đàn việt sẽ nấu thức ăn cúng dường Thánh giả, rồi họ mới ăn". Hoặc là cô nói: "Nhà khác cũng có thức ăn vậy, hà tất phải tập trung tại đây?". Ðối với tất cả ngoại đạo khất thực cô đều nói như thế với tâm keo kiệt nhằm bảo vệ nhà ấy.

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cho đến chỗ cô đáp:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi dùng tâm keo kiệt giữ gìn cho nhà người khác? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni dùng tâm keo kiệt để giữ gìn nhà người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tâm keo kiệt tật đố: Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được dùng tâm keo kiệt tật đố để giữ gìn nhà người khác. Nếu Tỉ-kheo-ni khác hỏi thì phải nói thật. Nếu ngoại đạo hỏi mà mình sợ tiêm nhiễm tà kiến của ngoại đạo nên quở trách, thì không có tội.

Nếu Tỳ-kheo dùng tâm keo kiệt tật đố tiếc của nhà người ta thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên) 

Kệ tóm tắt:

"Tự tay cho thức ăn, 
Làm giúp người thế tục.
Vào không nói, thân cận, 
Thề thốt, tự đánh mình.
Quở trách, giữ của người
Kết thúc phần thứ chín".

91- GIỚI: MẮNG NHIẾC TỲ-KHEO.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người kia xuất gia, rồi người chồng già đi đến thăm. Bà vợ đem cho thức ăn rồi đứng một bên. Ông chồng bèn đem những chuyện xấu trước kia của vợ mình ra nói. Bà vợ nghe thế không vui, liền nói: "Lão già chết yểu! Không biết ân nghĩa, những chuyện không nên nói lại đem ra nói". Các Tỉ-kheo-ni bèn quở trách cô ấy: "Này Thánh giả, đây là vị tôn túc, không được mắng mỏ như vậy". Cô ta liền nói với các Tỉ-kheo-ni: "Ðây là lão già chết yểu, không biết ân nghĩa, những chuyện không nên nói lại đem ra nói".

Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. 

- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỳ-kheo.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỳ-kheo thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Ðối diện: Bốn mắt nhìn nhau.

Mắng mỏ: Như nói: "Ðồ lão già chết yểu, bất thiện, không biết ân nghĩa", thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỉ-kheo. Nếu là anh em thân thích xuất gia mà không giữ giới hạnh cũng không được mắng mỏ, mà chỉ nên dùng lời nhỏ nhẹ để khuyên bảo. Nếu người ấy còn trẻ tuổi thì nên nói: "Này Sa-lộ-ê-đa, đừng có làm việc đó. Nếu nay ngươi không học thì đợi lúc nào mới học? Sau này đệ tử của ngươi cũng sẽ bắt chước ngươi làm điều bất thiện". Nếu người ấy già cả thì nên nói: "Này Sa-lộ-ê-đa, nay ông không học đợi đến lúc già chết rồi mới học sao?"

Tỉ-kheo cũng không được đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỉ-kheo-ni rằng: "Ðồ con mụ trọc đầu! Con mụ dâm dật", thậm chí nói: "Này mụ già, bà là kẻ bất thiện, không biết ân nghĩa", mà nên dùng lời nhỏ nhẹ khuyên bảo, như trên đã nói.

Nếu Tỉ-kheo đối diện mắng mỏ Tỉ-kheo-ni thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

92- GIỚI: CHƯA ÐỦ 12 HẠ MÀ NUÔI ÐỆ TỬ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có những Tỉ-kheo-ni một tuổi, hai tuổi, ba tuổi (hạ) bèn nuôi đệ tử mà không biết dạy dỗ, để họ buông lung như dê trời, trâu trời, tịnh giới không đầy đủ, oai nghi không đầy đủ, không biết cung phụng Hòa thượng ni, A-xà-lê ni, không biết cung phụng Tỉ-kheo-ni trưởng lão, không biết phép tắc vào thôn xóm, phép tắc ở A-luyện-nhã, không biết phép tắc vào trong Tăng, không biết mặc y, cầm bát.

Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: 

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà nuôi đệ tử.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa (533b) mà nuôi đệ tử thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Chưa đủ 12 mùa mưa: Chưa đủ 12 năm gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà đủ 12 năm cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà quá 12 năm cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa.

Tỉ-kheo-ni thọ cụ túc vào mùa Ðông, nhưng chưa qua lần Tự tứ của mùa Ðông thứ 12 thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Nếu thọ cụ túc vào mùa xuân, nhưng chưa qua lần tự tứ của mùa xuân thứ 12 thì cũng gọi là chưa đủ 12 nùa mưa. Nếu tiền an cư thọ cụ túc, trải qua tiền an cư thứ 12, nhưng chưa thọ Tự tứ thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Nếu hậu an cư thọ cụ túc, trải qua hậu an cư lần thứ 12, nhưng chưa Tự tứ thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa.

Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa mà chưa đủ 12 năm, thì gọi là đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa, đủ 12 năm, hoặc quá 12 năm, thì gọi là đủ 12 mùa mưa (12 Hạ lạp)

Tỉ-kheo-ni thọ cụ túc vào mùa Ðông trải qua an cư xong, thọ Tự tứ xong, thì gọi là đủ 12 mùa mưa. Nếu thọ cụ túc vào mùa Xuân, trải qua an cư xong, thọ Tự tứ xong cũng vậy. Tiền an cư thọ cụ túc trải qua tiền an cư xong thọ Tự tứ. Hậu an cư thọ cụ túc, trải qua hậu an cư xong thọ Tự tứ, đó gọi là 12 mùa mưa (12 tuổi hạ)

Nếu Tỉ-kheo-ni (chưa đủ 12 mùa mưa mà) nuôi đệ tử, cho thọ cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà độ người thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu cho họ thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Nếu Tỉ-kheo chưa đủ 12 mùa mưa mà độ người, cho thọ cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni (?). Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

93- GIỚI: CHƯA ÐỦ 10 PHÁP MÀ NUÔI ÐỆ TỬ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau lúc ngài chế giới không cho người chưa đủ 12 mùa mưa nuôi đệ tử, thì nhóm sáu Tỉ-kheo-ni và cac Tỉ-kheo-ni khác đủ 12 mùa mưa nhưng chưa đủ 10 pháp, nuôi đệ tử mà không dạy bảo, để họ giống như trâu trời, dê trời, thậm chí không biết mặc y cầm bát. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy trình bày với Ðại Ái Ðạo. Cuối cùng, họ đáp với Phật: "Ðúng như vậy, bạch Thế Tôn". Phật dạy: "Từ nay về sau, ta không cho phép người chưa đủ 10 pháp mà nuôi đệ tử".

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa nhưng chưa đủ 10 pháp mà nuôi đệ tử thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

(533c) Ðủ 12 mùa mưa: Như trên đã nói.

Chưa đủ mười pháp: Nghĩa là 10 pháp chưa thành tựu. Mười pháp đó là: 

1) Giữ giới.
2) Nghe nhiều A-tì-đàm (Luận).
3) Nghe nhiều Tì-ni (Luật)
4) Học giới.
5) Học định.
6) Học tuệ.
7) Có thể tự xuất tội và sai người xuất tội.
8) Nếu đệ tử thân tín muốn bãi đạo, thì có thể tự mình hoặc nhờ người đưa họ đến nơi khác (ẩn lánh).
9) Khi đệ tử có bệnh thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác chăm sóc.
10) Ðủ 12 mùa mưa (Hạ lạp) hoặc hơn.

Ðó gọi là 10 pháp.

Nếu chưa đủ 10 pháp mà độ đệ tử thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu cho họ thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo chưa đủ 10 pháp mà độ người thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

94- GIỚI: CHƯA XIN PHÉP MÀ NUÔI ÐỆ TỬ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi ngài cho phép người nào đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp được nuôi đệ tử thì các Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp bèn nuôi đệ tử, thế rồi các Tỉ-kheo-ni khác than phiền: "Ai biết là bà đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp?"

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc đó bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, người ấy đáp lời Phật hỏi:

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Từ nay về sau, muốn nuôi đệ tử phải làm pháp Yết-ma cầu thính, rồi mới xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Người làm Yết-ma nên bạch như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thành tựu 10 pháp muốn vào trước Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử, nếu thời gian của Tăng đã đến (Xin Tăng hứa khả).

Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thành tựu 10 pháp muốn vào trước Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử; vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Vị Tỉ-kheo-ni này phải vào trước Tăng quỳ gối, chắp tay, xin như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tôi là mỗ giáp, đủ 12 mùa mưa, thành tựu 10 pháp, nay theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Kính mong Tăng cho tôi pháp Yết-ma nuôi đệ tử. (Xin như vậy ba lần). Rồi người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đủ 12 mùa mưa, thành tựu 10 pháp, đã theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Nếu thời gian của tăng đã đến, nay Tăng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp - thành tựu 10 pháp - pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Ðây là lời tác bạch.

- Xin Thánh giả tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp - đủ 12 mùa mưa, thành tựu 10 pháp - đã theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Nay Tăng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp pháp Yết-ma nuôi đệ tử, thánh giả nào bằng lòng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp pháp Yết-ma nuôi đệ tử thì im lặng; (534a) ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần thứ nhất, (lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp pháp Yết-ma nuôi đệ tử xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni thành tựu 10 pháp nhưng không làm Yết-ma mà nuôi đệ tử thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Thành tựu mười pháp: Như trên đã nói.

Không làm Yết-ma: Không làm Yết-ma giữa Tăng thì gọi là không làm Yết-ma. Ngoài ra, nếu 10 pháp không đầy đủ cũng gọi là không làm Yết-ma. Tuy nhiên, nếu làm Yết-ma mà bạch không đúng cách, chúng Tăng không thành tựu, Yết-ma không thành tựu, cũng gọi là không làm Yết-ma. Người nuôi đệ tử muốn cho đệ tử thọ cụ túc mà không làm Yết-ma thì phạm tội Ba-dạ-đề. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

95- GIỚI: CHO NGƯỜI PHẠM TỘI THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, bấy giờ Tỉ-kheo-ni Ca-lê độ con gái thứ ba của dòng họ Li-xa, rồi cho thọ học pháp. Thế là cô ta lấy chìa khóa mở cửa phòng người khác, cùng sống chung với người thế tục, ngoại đạo. Tỉ-kheo-ni bèn khiển trách Ca-lê rằng: "Kẻ này phạm giới, lấy chìa khóa mở cửa phòng người khác, cùng sống chung với đàn ông, mà vì sao cho thọ cụ túc? (?)". Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc đó đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Ca-lê đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết kẻ phạm giới lấy chìa khóa mở cửa phòng người khác, sống chung với ngoại đạo mà cho thọ cụ túc? Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni cho kẻ phạm giới thọ cụ túc.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết người kia phạm giới, cầm chìa khóa mở cửa phòng người khác, cùng sống chung với đàn ông mà cho thọ cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Phạm giới: Giới không đầy đủ, vượt qua giới.

Cầm chìa khóa mở cửa phòng: Mở cửa phòng người khác.

Ðàn ông: Người thế tục hoặc là hàng ngoại đạo xuất gia.

Sống chung: Sống gần gũi bên nhau. Nếu cho người như vậy thọ cụ túc thì phạm Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu kẻ ấy sống chung với người thế tục, ngoại đạo thì không được cho thọ cụ túc. Nếu có thể làm cho người này phạm hạnh được toàn vẹn thì trước hết nên làm cho họ sống cách ly rồi mới cho thọ cụ túc.

Nếu Tỉ-kheo biết Sadi phạm giới, sống thân cận với phụ nữ, (534b) nhưng không cho xuất gia lại mà cho thọ cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

96- GIỚI: CHO NGƯỜI THIẾU TUỔI THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỉ-kheo-ni độ những đồng nữ 10 tuổi, 12 tuổi xuất gia, thọ cụ túc. Những người này thân thể yếu đuối không làm nổi những việc nhọc nhằn, chưa biết giữ sạch sẽ, oai nghi khiếm khuyết, không biết phụng sự Hòa thượng ni, A-xà-lê ni, không biết vào thôn xóm, không biết A-luyện-nhã, không biết phép tắc khi vào trong chúng, không biết khoác y, cầm bát. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Từ nay về sau, Ta không cho phép cho đồng nữ chưa đủ 20 tuổi thọ cụ túc.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa thọ Cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Chưa đủ 20 mùa mưa: Chưa đủ 20 năm gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Nhưng đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, mà đủ 20 năm cũng gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa mà hơn 20 năm vẫn gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Nếu sinh vào mùa Ðông, tính đến mùa Ðông năm thứ 20 mà chưa qua lần Tự tứ cũng gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ sinh vào mùa Xuân cũng vậy. Nếu đồng nữ sinh vào lúc tiền an cư, tính đến tiền an cư năm thứ 20 nhưng chưa qua lần Tự tứ, sinh vào lúc hậu an cư, tính đến hậu an cư năm thứ 20, nhưng chưa qua lần Tự tứ, cũng gọi là chưa đủ 20 mùa mưa.

Nếu đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, tất cả giới sư đều tưởng là chưa đủ mà cho thọ cụ túc thì tất cả phạm tội Ba-dạ-đề. Người đó không được gọi là thọ cụ túc.

Nếu đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, một nửa giới sư tưởng là chưa đủ, một nửa tưởng là đã đủ mà cho thọ cụ túc thì những người tưởng là chưa đủ phạm tội Ba-dạ-đề, những người tưởng là đã đủ không có tội, và người này được gọi là đã thọ cụ túc.

Nếu đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, mà tất cả giới sư đều tưởng là đã đủ rồi cho thọ cụ túc, thì tất cả đều không có tội, và người này được gọi là đã thọ cụ túc.

Ðủ 20 mùa mưa mà chưa đủ 20 năm cũng gọi là đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ đủ 20 mùa mưa, đủ 20 năm hoặc đủ 20 mùa mưa mà quá 20 năm cũng gọi là đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ sinh vào mùa Ðông, đến năm thứ 20, sau khi an cư, tự tứ xong, được cho thọ cụ túc. Trường hợp sinh vào mùa xuân cũng như vậy. Ðồng nữ sinh vào lúc tiền an cư, sau 20 năm, trải qua tiền an cư xong, Tự tứ xong, sinh vào lúc hậu an cư, sau 20 năm, trải qua hậu an cư xong, Tự tứ xong (được cho thọ cụ túc).

(534c) Nếu đồng nữ đủ 20 mùa mưa mà một nửa giới sư tưởng là chưa đủ, một nửa tưởng là đã đủ (rồi cho thọ cụ túc), thì những người tưởng là chưa đủ phạm tội Việt-tỳ-ni, những người tưởng là đã đủ không có tội. Người này được gọi là đã thọ cụ túc.

Ðồng nữ đủ 20 mùa mưa mà tất cả giới sư tưởng là chưa đủ rồi cho thọ cụ túc, thì tất cả đều phạm tội Việt-tì-ni. Người này không được gọi là thọ cụ túc. Nếu tất cả giới sư đều tưởng là đã đủ thì tất cả không có tội. Người này được gọi là đã khéo thọ cụ túc. 

Ðồng nữ: Người mà phạm hạnh chưa bị hủy hoại. (Nếu cho đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa) thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu đồng nữ muốn thọ cụ túc trong giáo pháp của đức Như Lai thì giới sư nên hỏi: "Ngươi sinh vào lúc nào?". Nếu họ không biết thì nên xem tấm ván ghi năm sinh. Nếu không có tấm ván thì phải hỏi cha mẹ thân nhân của họ. Nếu cũng không biết, thì phải hỏi xem sinh vào thời vua nào, năm được mùa hay năm mất mùa. Nếu cũng không biết thì nên xem tướng trạng (để suy đoán). Nếu họ là con gái của nhạc sĩ thì tuy tuổi nhỏ mà hình vóc lớn, nên xem tướng tay chân xương cốt (mà suy đoán). Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

97- GIỚI: CHO NGƯỜI CHƯA HỌC GIỚI THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài chế giới không cho phép Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa thọ cụ túc, thì các Tỉ-kheo-ni cho các đồng nữ đủ 20 mùa mưa thọ cụ túc. Thế nhưng các Tỉ-kheo-ni khác dị nghị: "Ngươi đủ 20 mùa mưa hay chưa đủ 20 mùa mưa ai mà biết được".

Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy: "Từ nay về sau, đồng nữ 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong giáo pháp của Như Lai phải theo tăng xin hai năm học giới. Trước hết phải làm Yết-ma cầu thính rồi mới xin. Người làm Yết-ma nên tác bạch như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong giới luật của đức Như Lai, nếu thời gian của Tăng đã đến, xin Tăng cho phép mỗ giáp vào trước tăng xin hai năm học giới.

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn vào trước Tăng xin hai năm học giới, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Thế rồi, đồng nữ này phải vào trước Tăng xin như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Con là đồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, nay theo Tăng xin hai năm học giới. Kính mong Tăng thương xót cho con hai năm học giới (Xin như vậy ba lần).

Người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, đã theo Tăng xin hai năm học giới, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp pháp Yết-ma hai năm học giới. Ðây là lời tác bạch.

Xin Thánh giả (535a) Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, đã theo Tăng xin hai năm học giới, Thánh giả nào bằng lòng cho mỗ giáp hai năm học giới thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là lần Yết-ma thứ nhất (lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp hai năm học giới xong, vì im lặng, tôi ghi nhận như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni chưa cho đồng nữ đủ 20 tuổi học giới mà cho thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Ðủ 20 tuổi: Tức đủ 20 mùa mưa. Nếu đủ 20 mùa mưa mà chưa đủ 20 tuổi cũng gọi là đủ 20 mùa mưa. Thậm chí, nếu hậu an cư sinh, sau 20 năm hậu an cư thọ tự tứ xong, cũng gọi là đủ 20 tuổi.

Không cho học giới: Nếu không làm Yết-ma mà cho học giới cũng gọi là không cho học giới. Hoặc 10 pháp không đầy đủ cũng gọi là không cho học giới. Tuy có làm Yết-ma nhưng chúng không thành tựu, bạch không đúng pháp, Yết-ma không đúng pháp - nếu một pháp nào không thành tựu - mà cho thọ cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

98- GIỚI: CHO NGƯỜI HỌC GIỚI CHƯA XONG THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni cho người đang thọ học giới học chưa hoàn tất thọ cụ túc; thế rồi, đức Thế Tôn bảo: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni cho người đang thọ học giới học chưa hoàn tất thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Thọ học giới: Cho thọ học giới, đủ 10 pháp, chúng thành tựu, bạch thành tựu, Yết-ma thành tựu, tất cả mọi pháp đều thành tựu, đó gọi là thọ học giới.

Học chưa hoàn tất: Trong hai năm thọ học giới phải tùy thuận học 18 việc. Ðó là: Khi ăn uống phải ngồi dưới tất cả Tỉ-kheo-ni, trên tất cả Sa-di-ni, đối với họ không thanh tịnh nhưng đối với Tỉ-kheo-ni thì thanh tịnh; đối với Tỉ-kheo-ni không thanh tịnh thì đối với họ cũng không thanh tịnh, được ngủ chung cùng phòng với Tỉ-kheo-ni ba hôm, cũng được ngủ chung với Sa-di-ni trong ba hôm, được Tỉ-kheo-ni trao cho thức ăn, ngoại trừ năm loại thực phẩm được hỏa tịnh; theo Sa-di-ni nhận thức ăn; Tỉ-kheo-ni không được hướng đến họ nói về Ba-la-đề-mộc-xoa, từ Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni, mà chỉ được nói: không được dâm, không được trộm cắp, không được giết người, đại loại được dạy bảo như vậy, không được nghe Bố-tát, Tự-tứ. Ðến ngày Bố-tát (535b) Tự tứ, phải đến trước Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Tăng, nói như sau: "Con là mỗ giáp thanh tịnh, xin thượng tọa ghi nhớ cho", nói như vậy ba lần, rồi lui ra. Nếu phạm một trong bốn giới Ba-la-di sau cùng thì ngay trong ngày ấy phải thọ học pháp trở lại. Nếu phạm 19 giới Tăng-già-bà-thi-sa trở về sau thì tất cả đều sám hối tội Ðột-cát-la. Nếu phá năm giới như ăn phi thời, cất thức ăn để ăn, nhận vàng bạc và tiền mặt, uống rượu, mang hương hoa, thì tùy phạm vào ngày nào phải bắt đầu thọ học lại hai năm kể từ ngày đó, còn thời gian trước bị hủy bỏ. Ðó gọi là học giới chưa hoàn tất.

Nếu ai cho người học chưa hoàn tất thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên)

99- GIỚI: KHÔNG CHO NGƯỜI ÐÃ HỌC XONG THỌ GIỚI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Thế Tôn chế giới không cho phép Tỉ-kheo-ni cho người chưa học giới hai năm hoàn tất thọ cụ túc, thế nên Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ 18 mùa mưa (tuổi) học giới hai năm, đến lúc đủ 20 mùa mưa cho thọ cụ túc. Tuy vậy, các Tỉ-kheo-ni vẫn chê trách rằng: "Người học giới hoàn tất hay chưa hoàn tất ai mà biết".

Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến trình bày với Ðại Ái Ðạo. Cho đến Phật dạy: "Từ nay về sau, đồng nữ đã học giới đủ 20 mùa mưa muốn thọ cụ túc trong pháp luật của Như Lai để làm Tỉ-kheo-ni, thì trước hết phải làm Yết-ma cầu thỉnh, rồi đến trước Tăng xin pháp Yết-ma đã học giới hoàn tất để thọ cụ túc. Người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 20 tuổi đã học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai; nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ giáp vào trước Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất.

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 20 tuổi đã học giới hoàn tất muốn vào trước Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, người này phải vào giữa Tăng quỳ gối, chắp tay, xin như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Con là đồng nữ mỗ giáp 20 tuổi, đã học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, nay theo Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Kính mong Tăng thương xót cho con thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất, (xin như vậy ba lần).

Người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp đủ 20 mùa mưa, đã học giới hoàn tất, muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai làm Tỉ-kheo-ni, nay theo Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay tăng cho mỗ giáp pháp Yết-ma thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Ðây là lời tác bạch.

- Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp đủ 20 mùa mưa, đã học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc làm Tỉ-kheo-ni trong pháp luật của đức Như Lai, (535c) đã theo Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Nay Tăng cho mỗ giáp thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Thánh giả nào bằng lòng cho mỗ giáp thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế).

Tăng đã bằng lòng cho mỗ giáp pháp Yết-ma thọ cụ túc xong, vì Tăng im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu học ni đã học giới hoàn tất mà Tỉ-kheo-ni không làm Yết-ma cho thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Học giới hoàn tất: Trong hai mùa mưa tùy thuận làm 18 việc.

Không làm Yết-ma: Không tác pháp Yết-ma cho thọ cụ túc thì (Tỉ-kheo-ni bổn sư) phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ ba mươi tám

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap