| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỳ-xá-khư Lộc Mẫu
mời hai bộ Tăng (về nhà cúng dường). Các Tỉ-kheo-ni sáng
sớm đến nhà bà, nói: -
Này Ưu-bà-di, hôm nay bà mời hai bộ Tăng, chúng tôi nên dùng
thứ gì để báo đáp đây? -
Thưa các Thánh giả, các vị chỉ cần tụng Kinh, hành đạo
tức là đã báo ân rồi vậy. -
Ðúng thế, nhưng cũng phải có việc gì khác để báo đáp
chút chút chứ. Thế
là, họ leo lên gác, lấy bông vải ra, rồi người thì cán
hạt, người thì nhồi bông, người thì se sợi, làm thành
cuộn chỉ tròn, đem đưa bà, nói: -
Những gì chúng tôi muốn báo đáp bà, giờ đã làm xong. -
Việc đó không phải là báo đáp, muốn báo đáp thì ăn xong,
ngồi thiền, tụng kinh, học kinh, đó mới gọi là báo đền. Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc đó đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm những
việc thế tục tại nhà bạch y. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni làm việc cho người thế tục thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Giải
thích: Người
thế tục:
Tức nhà bạch y. Làm
việc cho người thế tục:
Tức là cán hạt bông, nhồi bông và se sợi, hoặc giã, xay,
giặt áo, đại loại làm những việc nhà cho người thế tục
như vậy thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được làm việc cho người
thế tục. Nếu đàn-việt muốn cúng dường Phật nên nói:
"Này Thánh giả, hãy giúp con làm dụng cụ cúng dường này",
thì lúc ấy được giúp họ kết vòng hoa, nghiền bột hương. Nếu
Tỉ-kheo làm việc giúp cho người thế tục thì phạm tội
Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 85-
GIỚI: VÀO NHÀ NGƯỜI KHÔNG BÁO TRƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người
kia vào giữa trưa trong nhà vắng vẻ tưởng không có ai, muốn
giao hoan, thì Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà không báo trước mà
đột ngột đi vào. Người chồng thấy thế nổi giận, vì
cuộc hành lạc của mình bị trở ngại, đồng thời nam căn
còn cương cứng, bèn đuổi theo định bắt Tỉ-kheo-ni. (531c)
Tỉ-kheo-ni hoảng sợ vội vàng bỏ chạy về lại trú xứ,
nói với các Tỉ-kheo-ni khác: "Hôm nay suýt chút nữa tôi bị
hủy hoại phạm hạnh". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
đem việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà
đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết thực gia, không nói trước
mà đi vào. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết thực gia, không nói trước mà đi vào,
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Biết:
Hoặc tự biết hoặc do nghe từ người khác mà biết. Thực:
Người nữ là thức ăn của người nam, người nam là thức
ăn của người nữ. Gia:
Như nhà Sát-lợi, nhà Bà-la-môn, nhà Tỳ-xá, nhà Thủ-đà-la,
đại loại các gia đình như thế, nếu không báo trước mà
đột ngột đi vào thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni không nói trước thì không
được đi vào. Nếu muốn đi vào thì nên nói với người
giữ cửa rằng tôi muốn đi vào. Nếu người giữ cửa thưa
với chủ nhà rồi họ bảo vào thì mới được vào. Nếu
người giữ cửa không ra báo lại thì không được vào. Nếu
nghe trong phòng có tiếng nói thì phải gảy móng tay, dậm chân
cho có tiếng động. Nếu họ vẫn im lặng thì không được
vào. Nếu họ ra nghênh tiếp thì được vào. Nếu
Tỉ-kheo không nói trước với gia chủ mà vào nhà họ thì
phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 86-
GIỚI: SỐNG THÂN CẬN VỚI NGƯỜI THẾ TỤC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Ca-lê độ
người con gái thứ ba của gia đình Li-xa xuất gia, rồi cô
ấy sống thân cận với người thế tục ngoại đạo. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem
việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép sống thân
cận như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni sống thân cận với người thế tục, ngoại
đạo - thậm chí sống thân cận với người làm vườn, Sadi
- trọn ngày hoặc trong khoảnh khắc, thì phạm tội Ba-dạ-đề GIẢI
THÍCH: (Một
số từ ngữ trên đã giải thích) Ban
ngày: Từ
lúc bình minh đến lúc mặt trời lặn. Cho
đến trong khoảnh khắc:
Chỉ trong chốc lát. Sống
thân cận:
Thân thể sống thân cận, miệng thân cận, thân miệng sống
thân cận, thậm chí sống với người làm vườn, Sadi (532a)
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni thích sống thân cận với
người này người kia thì Hòa thượng ni, A-xà-lê ni nên cho
họ sống cách ly ở chỗ khác. Nếu
Tỳ-kheo sống thân cận thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên
đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
gây lộn với Tỉ-kheo-ni khác rồi chỉ Phật, chỉ A-xà-lê,
chỉ y-cà-sa thề thốt như sau: "Nam mô Phật, nếu tôi làm
như thế thì khi chết tôi không được khoác áo cà sa, không
đoạn tận khổ đau.bị mang tội giết cha mẹ, bị mang tội
vong ân, bị mang tội hủy báng hiền thánh, rơi xuống địa
ngục, đọa vào quỷ đói, đọa vào súc sinh. Nếu tôi làm
như vậy, thì tôi sẽ rơi vào các cõi ấy. Nếu bạn làm như
vậy thì bạn cũng sẽ rơi vào trong các cõi ấy". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Ngươi là người xuất gia mà vì sao lại
thề thốt như thế? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời
ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp
được. Cuối
cùng Phật dạy: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni tự thề thốt và nguyền rủa người khác
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tự
thề thốt:
Như chỉ Phật, chỉ A-xà-lê thề thốt rằng: "Nam mô Phật,
nếu tôi làm như thế thì tôi sẽ bị tội như Ðề-bà-đạt-đa,
bị tội vọng ngữ, bị tội phản bội ân nhân, bị tội
nói hai lưỡi. Nếu tôi như vậy thì phạm hạnh không thành
tựu, khi chết không được khoác áo cà sa, bị rơi xuống
địa ngục, đọa vào súc sanh, ngạ quỹ. Nếu bạn hủy báng
tôi thì bạn cũng sẽ bị tội như thế". Nếu thề thốt như
thế thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỳ-kheo thề thốt như thế thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). 88-
GIỚI: HỜN DỖI TỰ ÐÁNH MÌNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
gây lộn với Tỉ-kheo-ni khác, rồi nổi giận, tự đánh, tự
cào, khóc rống lên tuôn lệ. Các Tỉ-kheo-ni khác nghe thế
bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến
bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến.
Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao ngươi nổi giận tự đánh mình, rồi khóc rống lên
tuôn rơi nước mắt? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái
lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện
pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, (532b) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni tự đánh mình rồi tuôn rơi nước mắt thì
phạm tội Ba-dạ-đề. GIẢI
THÍCH: Tự
đánh mình:
Nếu Tỉ-kheo-ni dùng tay nắm mình lại, rồi dùng cú đấm
mà đấm, hoặc dùng roi gậy đánh, hoặc dùng đất cục ném,
rồi khóc lóc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni tự đánh mình mà không khóc
thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu khóc mà không đánh, cũng phạm
tội Việt-tì-ni. Nếu vừa đánh vừa khóc thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu không đánh, không khóc thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo tự đánh mình rồi khóc thì phạm tội Việt-tì-ni,
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
đến nhà thế tục ca ngợi Tỉ-kheo-ni Thọ-đề là người
hiền lành, giữ giới, tinh tấn, cho đến có oai nghi ung dung
khi nhìn trái, trông phải, mặc y, cầm bát, nhìn ngó chỉnh
tề, ít nói năng được trời người cúng dường, đàn việt
trông thấy liền sinh tâm cung kính, chu cấp y bát, thức ăn,
thuốc trị bệnh. Thế nhưng, bản thân Thâu-lan-nan-đà thì
oai nghi khiếm khuyết, mặc y rách rưới bẩn thỉu, để lộ
cả cái bụng bự, nhũ hoa và hông ra ngoài, cử chỉ thì thô
tháo, nói năng búa xua. Vì thế đàn việt sanh tâm bất kính,
không mời về cúng dường y bát, thức ăn, thuốc trị bệnh.
Do vậy, Thâu-lan-nan-đà nói: "Tôi đến nhà đàn việt ca ngợi
Thọ-đề nên mới được các thứ cúng dường này. thế mà
Thọ-đề chỉ nói những chuyện không tốt của tôi, nên tôi
không được cúng dường". Thọ-đề liền trả lời: "Này
thánh giả, tôi không nói chuyện xấu của thánh giả, vì sao
lại bảo rằng tôi nói?". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Thâu-lan-nan-đà
đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi không xem xét cẩn thận mà
lại trách móc người khác?. Ðó là việc phi pháp, phi luật,
trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn
thiện pháp được. Từ nay về sau, không được không xét
nét cẩn thận mà trách móc người khác. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: Này Thánh giả,
cùng đến nhà mỗ giáp với tôi", sau đó không hài lòng Tỉ-kheo-ni
ấy mà không thẩm xét những gì được nghe, rồi vô cớ quở
trách, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà ở trên đã nói. Nhà:
Như nhà Sát-lợi, nhà Bà-la-môn, (532c) nhà Tì-xá, nhà Thủ-đà. Sau
đó không hài lòng:
Như trường hợp Tỉ-kheo-ni Thọ-đề. Việc
không hài lòng:
Chín việc ưu não, và việc thứ mười là nổi giận không
đúng chỗ. Vô
cớ: Không
thẩm xét kỹ những gì được nghe và quở trách người khác
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni không thẩm xét kỹ những
gì được nghe mà quở trách người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỳ-kheo không thẩm xét mà quở trách người khác thì phạm
tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
đến giờ bèn khoác y, cầm bát đi đến đứng trước cửa
một gia đình hào phú, bỗng thấy có Tỉ-kheo đến khất thực,
cô nói: "Tôn đức có thể vào nhà này, họ sẽ nấu thức
ăn cúng dường tôn đức, rồi họ mới ăn". Nếu thấy Tỉ-kheo-ni
đến thì cô nói: "Thánh giả hãy vào nhà này, đàn việt sẽ
nấu thức ăn cúng dường Thánh giả, rồi họ mới ăn". Hoặc
là cô nói: "Nhà khác cũng có thức ăn vậy, hà tất phải
tập trung tại đây?". Ðối với tất cả ngoại đạo khất
thực cô đều nói như thế với tâm keo kiệt nhằm bảo vệ
nhà ấy. Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Cho đến chỗ
cô đáp: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi dùng tâm keo kiệt giữ gìn
cho nhà người khác? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như
vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni dùng tâm keo kiệt để giữ gìn nhà người
khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tâm
keo kiệt tật đố:
Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được dùng tâm keo kiệt
tật đố để giữ gìn nhà người khác. Nếu Tỉ-kheo-ni khác
hỏi thì phải nói thật. Nếu ngoại đạo hỏi mà mình sợ
tiêm nhiễm tà kiến của ngoại đạo nên quở trách, thì không
có tội. Nếu
Tỳ-kheo dùng tâm keo kiệt tật đố tiếc của nhà người
ta thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên) Kệ
tóm tắt: "Tự
tay cho thức ăn,
Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người
kia xuất gia, rồi người chồng già đi đến thăm. Bà vợ
đem cho thức ăn rồi đứng một bên. Ông chồng bèn đem những
chuyện xấu trước kia của vợ mình ra nói. Bà vợ nghe thế
không vui, liền nói: "Lão già chết yểu! Không biết ân nghĩa,
những chuyện không nên nói lại đem ra nói". Các Tỉ-kheo-ni
bèn quở trách cô ấy: "Này Thánh giả, đây là vị tôn túc,
không được mắng mỏ như vậy". Cô ta liền nói với các
Tỉ-kheo-ni: "Ðây là lão già chết yểu, không biết ân nghĩa,
những chuyện không nên nói lại đem ra nói". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni
đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỳ-kheo. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỳ-kheo thì
phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ðối
diện: Bốn
mắt nhìn nhau. Mắng
mỏ: Như nói:
"Ðồ lão già chết yểu, bất thiện, không biết ân nghĩa",
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được đối diện trực
tiếp mắng mỏ Tỉ-kheo. Nếu là anh em thân thích xuất gia
mà không giữ giới hạnh cũng không được mắng mỏ, mà chỉ
nên dùng lời nhỏ nhẹ để khuyên bảo. Nếu người ấy còn
trẻ tuổi thì nên nói: "Này Sa-lộ-ê-đa, đừng có làm việc
đó. Nếu nay ngươi không học thì đợi lúc nào mới học?
Sau này đệ tử của ngươi cũng sẽ bắt chước ngươi làm
điều bất thiện". Nếu người ấy già cả thì nên nói: "Này
Sa-lộ-ê-đa, nay ông không học đợi đến lúc già chết rồi
mới học sao?" Tỉ-kheo
cũng không được đối diện trực tiếp mắng mỏ Tỉ-kheo-ni
rằng: "Ðồ con mụ trọc đầu! Con mụ dâm dật", thậm chí
nói: "Này mụ già, bà là kẻ bất thiện, không biết ân nghĩa",
mà nên dùng lời nhỏ nhẹ khuyên bảo, như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo đối diện mắng mỏ Tỉ-kheo-ni thì phạm tội Việt-tì-ni.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 92-
GIỚI: CHƯA ÐỦ 12 HẠ MÀ NUÔI ÐỆ TỬ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có những Tỉ-kheo-ni
một tuổi, hai tuổi, ba tuổi (hạ) bèn nuôi đệ tử mà không
biết dạy dỗ, để họ buông lung như dê trời, trâu trời,
tịnh giới không đầy đủ, oai nghi không đầy đủ, không
biết cung phụng Hòa thượng ni, A-xà-lê ni, không biết cung
phụng Tỉ-kheo-ni trưởng lão, không biết phép tắc vào thôn
xóm, phép tắc ở A-luyện-nhã, không biết phép tắc vào trong
Tăng, không biết mặc y, cầm bát. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa
mưa mà nuôi đệ tử. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa (533b) mà nuôi đệ tử
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Chưa
đủ 12 mùa mưa:
Chưa đủ 12 năm gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni chưa
đủ 12 mùa mưa mà đủ 12 năm cũng gọi là chưa đủ 12 mùa
mưa. Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà quá 12 năm cũng gọi
là chưa đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni
thọ cụ túc vào mùa Ðông, nhưng chưa qua lần Tự tứ của
mùa Ðông thứ 12 thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Nếu
thọ cụ túc vào mùa xuân, nhưng chưa qua lần tự tứ của
mùa xuân thứ 12 thì cũng gọi là chưa đủ 12 nùa mưa. Nếu
tiền an cư thọ cụ túc, trải qua tiền an cư thứ 12, nhưng
chưa thọ Tự tứ thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Nếu
hậu an cư thọ cụ túc, trải qua hậu an cư lần thứ 12, nhưng
chưa Tự tứ thì cũng gọi là chưa đủ 12 mùa mưa. Tỉ-kheo-ni
đủ 12 mùa mưa mà chưa đủ 12 năm, thì gọi là đủ 12 mùa
mưa. Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa, đủ 12 năm, hoặc quá 12 năm,
thì gọi là đủ 12 mùa mưa (12 Hạ lạp) Tỉ-kheo-ni
thọ cụ túc vào mùa Ðông trải qua an cư xong, thọ Tự tứ
xong, thì gọi là đủ 12 mùa mưa. Nếu thọ cụ túc vào mùa
Xuân, trải qua an cư xong, thọ Tự tứ xong cũng vậy. Tiền
an cư thọ cụ túc trải qua tiền an cư xong thọ Tự tứ. Hậu
an cư thọ cụ túc, trải qua hậu an cư xong thọ Tự tứ, đó
gọi là 12 mùa mưa (12 tuổi hạ) Nếu
Tỉ-kheo-ni (chưa đủ 12 mùa mưa mà) nuôi đệ tử, cho thọ
cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni chưa đủ 12 mùa mưa mà độ
người thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu cho họ thọ cụ túc
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo chưa đủ 12 mùa mưa mà độ người, cho thọ cụ túc
thì phạm tội Việt-tì-ni (?). Thế nên đức Thế Tôn nói
(như trên). 93-
GIỚI: CHƯA ÐỦ 10 PHÁP MÀ NUÔI ÐỆ TỬ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau lúc ngài chế giới không
cho người chưa đủ 12 mùa mưa nuôi đệ tử, thì nhóm sáu
Tỉ-kheo-ni và cac Tỉ-kheo-ni khác đủ 12 mùa mưa nhưng chưa
đủ 10 pháp, nuôi đệ tử mà không dạy bảo, để họ giống
như trâu trời, dê trời, thậm chí không biết mặc y cầm
bát. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy trình bày với Ðại
Ái Ðạo. Cuối cùng, họ đáp với Phật: "Ðúng như vậy,
bạch Thế Tôn". Phật dạy: "Từ nay về sau, ta không cho phép
người chưa đủ 10 pháp mà nuôi đệ tử". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa nhưng chưa đủ 10 pháp mà nuôi
đệ tử thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni: Như
trên đã nói. (533c)
Ðủ
12 mùa mưa: Như trên đã nói. Chưa
đủ mười pháp:
Nghĩa là 10 pháp chưa thành tựu. Mười pháp đó là: 1)
Giữ giới.
Ðó
gọi là 10 pháp. Nếu
chưa đủ 10 pháp mà độ đệ tử thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu cho họ thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo chưa đủ 10 pháp mà độ người thì phạm tội Việt-tì-ni.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 94-
GIỚI: CHƯA XIN PHÉP MÀ NUÔI ÐỆ TỬ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi ngài cho phép người
nào đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp được nuôi đệ
tử thì các Tỉ-kheo-ni đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp
bèn nuôi đệ tử, thế rồi các Tỉ-kheo-ni khác than phiền:
"Ai biết là bà đủ 12 mùa mưa và thành tựu 10 pháp?" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
lại đem việc đó bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, người ấy
đáp lời Phật hỏi: -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, muốn nuôi đệ tử phải làm pháp Yết-ma cầu
thính, rồi mới xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Người làm
Yết-ma nên bạch như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thành tựu
10 pháp muốn vào trước Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử,
nếu thời gian của Tăng đã đến (Xin Tăng hứa khả). Xin
Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thành tựu 10
pháp muốn vào trước Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ tử; vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như
vậy. Vị
Tỉ-kheo-ni này phải vào trước Tăng quỳ gối, chắp tay, xin
như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tôi là mỗ giáp, đủ 12 mùa
mưa, thành tựu 10 pháp, nay theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ
tử. Kính mong Tăng cho tôi pháp Yết-ma nuôi đệ tử. (Xin như
vậy ba lần). Rồi người làm Yết-ma nên nói như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đủ 12 mùa
mưa, thành tựu 10 pháp, đã theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi đệ
tử. Nếu thời gian của tăng đã đến, nay Tăng cho Tỉ-kheo-ni
mỗ giáp - thành tựu 10 pháp - pháp Yết-ma nuôi đệ tử. Ðây
là lời tác bạch. -
Xin Thánh giả tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp - đủ 12
mùa mưa, thành tựu 10 pháp - đã theo Tăng xin pháp Yết-ma nuôi
đệ tử. Nay Tăng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp pháp Yết-ma nuôi
đệ tử, thánh giả nào bằng lòng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp
pháp Yết-ma nuôi đệ tử thì im lặng; (534a) ai không bằng
lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần thứ nhất, (lần thứ hai,
lần thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp pháp Yết-ma nuôi đệ
tử xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni thành tựu 10 pháp nhưng không làm Yết-ma mà
nuôi đệ tử thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Thành
tựu mười pháp:
Như trên đã nói. Không
làm Yết-ma:
Không làm Yết-ma giữa Tăng thì gọi là không làm Yết-ma.
Ngoài ra, nếu 10 pháp không đầy đủ cũng gọi là không làm
Yết-ma. Tuy nhiên, nếu làm Yết-ma mà bạch không đúng cách,
chúng Tăng không thành tựu, Yết-ma không thành tựu, cũng gọi
là không làm Yết-ma. Người nuôi đệ tử muốn cho đệ tử
thọ cụ túc mà không làm Yết-ma thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 95-
GIỚI: CHO NGƯỜI PHẠM TỘI THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, bấy giờ Tỉ-kheo-ni Ca-lê độ
con gái thứ ba của dòng họ Li-xa, rồi cho thọ học pháp.
Thế là cô ta lấy chìa khóa mở cửa phòng người khác, cùng
sống chung với người thế tục, ngoại đạo. Tỉ-kheo-ni bèn
khiển trách Ca-lê rằng: "Kẻ này phạm giới, lấy chìa khóa
mở cửa phòng người khác, cùng sống chung với đàn ông,
mà vì sao cho thọ cụ túc? (?)". Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với
Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc đó đến bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Ca-lê đến. Khi cô
tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi biết kẻ phạm giới lấy
chìa khóa mở cửa phòng người khác, sống chung với ngoại
đạo mà cho thọ cụ túc? Từ nay về sau, Ta không cho phép
Tỉ-kheo-ni cho kẻ phạm giới thọ cụ túc. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, dù
ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết người kia phạm giới, cầm chìa khóa
mở cửa phòng người khác, cùng sống chung với đàn ông mà
cho thọ cụ túc, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Phạm
giới: Giới
không đầy đủ, vượt qua giới. Cầm
chìa khóa mở cửa phòng:
Mở cửa phòng người khác. Ðàn
ông: Người
thế tục hoặc là hàng ngoại đạo xuất gia. Sống
chung: Sống
gần gũi bên nhau. Nếu cho người như vậy thọ cụ túc thì
phạm Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu kẻ ấy sống chung với người thế
tục, ngoại đạo thì không được cho thọ cụ túc. Nếu có
thể làm cho người này phạm hạnh được toàn vẹn thì trước
hết nên làm cho họ sống cách ly rồi mới cho thọ cụ túc. Nếu
Tỉ-kheo biết Sadi phạm giới, sống thân cận với phụ nữ,
(534b) nhưng không cho xuất gia lại mà cho thọ cụ túc thì
phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 96-
GIỚI: CHO NGƯỜI THIẾU TUỔI THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỉ-kheo-ni độ
những đồng nữ 10 tuổi, 12 tuổi xuất gia, thọ cụ túc.
Những người này thân thể yếu đuối không làm nổi những
việc nhọc nhằn, chưa biết giữ sạch sẽ, oai nghi khiếm
khuyết, không biết phụng sự Hòa thượng ni, A-xà-lê ni, không
biết vào thôn xóm, không biết A-luyện-nhã, không biết phép
tắc khi vào trong chúng, không biết khoác y, cầm bát. Các Tỉ-kheo-ni
bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại bạch lên
Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô
tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép cho đồng nữ chưa đủ 20
tuổi thọ cụ túc. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa thọ Cụ
túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Chưa
đủ 20 mùa mưa:
Chưa đủ 20 năm gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Nhưng đồng
nữ chưa đủ 20 mùa mưa, mà đủ 20 năm cũng gọi là chưa
đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa mà hơn 20 năm
vẫn gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Nếu sinh vào mùa Ðông,
tính đến mùa Ðông năm thứ 20 mà chưa qua lần Tự tứ cũng
gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ sinh vào mùa Xuân cũng
vậy. Nếu đồng nữ sinh vào lúc tiền an cư, tính đến tiền
an cư năm thứ 20 nhưng chưa qua lần Tự tứ, sinh vào lúc hậu
an cư, tính đến hậu an cư năm thứ 20, nhưng chưa qua lần
Tự tứ, cũng gọi là chưa đủ 20 mùa mưa. Nếu
đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, tất cả giới sư đều tưởng
là chưa đủ mà cho thọ cụ túc thì tất cả phạm tội Ba-dạ-đề.
Người đó không được gọi là thọ cụ túc. Nếu
đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, một nửa giới sư tưởng
là chưa đủ, một nửa tưởng là đã đủ mà cho thọ cụ
túc thì những người tưởng là chưa đủ phạm tội Ba-dạ-đề,
những người tưởng là đã đủ không có tội, và người
này được gọi là đã thọ cụ túc. Nếu
đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa, mà tất cả giới sư đều
tưởng là đã đủ rồi cho thọ cụ túc, thì tất cả đều
không có tội, và người này được gọi là đã thọ cụ
túc. Ðủ
20 mùa mưa mà chưa đủ 20 năm cũng gọi là đủ 20 mùa mưa.
Ðồng nữ đủ 20 mùa mưa, đủ 20 năm hoặc đủ 20 mùa mưa
mà quá 20 năm cũng gọi là đủ 20 mùa mưa. Ðồng nữ sinh
vào mùa Ðông, đến năm thứ 20, sau khi an cư, tự tứ xong,
được cho thọ cụ túc. Trường hợp sinh vào mùa xuân cũng
như vậy. Ðồng nữ sinh vào lúc tiền an cư, sau 20 năm, trải
qua tiền an cư xong, Tự tứ xong, sinh vào lúc hậu an cư, sau
20 năm, trải qua hậu an cư xong, Tự tứ xong (được cho thọ
cụ túc). (534c)
Nếu đồng nữ đủ 20 mùa mưa mà một nửa giới sư tưởng
là chưa đủ, một nửa tưởng là đã đủ (rồi cho thọ cụ
túc), thì những người tưởng là chưa đủ phạm tội Việt-tỳ-ni,
những người tưởng là đã đủ không có tội. Người này
được gọi là đã thọ cụ túc. Ðồng
nữ đủ 20 mùa mưa mà tất cả giới sư tưởng là chưa đủ
rồi cho thọ cụ túc, thì tất cả đều phạm tội Việt-tì-ni.
Người này không được gọi là thọ cụ túc. Nếu tất cả
giới sư đều tưởng là đã đủ thì tất cả không có tội.
Người này được gọi là đã khéo thọ cụ túc. Ðồng
nữ: Người mà phạm hạnh chưa bị hủy hoại. (Nếu cho đồng
nữ chưa đủ 20 mùa mưa) thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
đồng nữ muốn thọ cụ túc trong giáo pháp của đức Như
Lai thì giới sư nên hỏi: "Ngươi sinh vào lúc nào?". Nếu họ
không biết thì nên xem tấm ván ghi năm sinh. Nếu không có
tấm ván thì phải hỏi cha mẹ thân nhân của họ. Nếu cũng
không biết, thì phải hỏi xem sinh vào thời vua nào, năm được
mùa hay năm mất mùa. Nếu cũng không biết thì nên xem tướng
trạng (để suy đoán). Nếu họ là con gái của nhạc sĩ thì
tuy tuổi nhỏ mà hình vóc lớn, nên xem tướng tay chân xương
cốt (mà suy đoán). Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 97-
GIỚI: CHO NGƯỜI CHƯA HỌC GIỚI THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài chế giới không
cho phép Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ chưa đủ 20 mùa mưa thọ
cụ túc, thì các Tỉ-kheo-ni cho các đồng nữ đủ 20 mùa mưa
thọ cụ túc. Thế nhưng các Tỉ-kheo-ni khác dị nghị: "Ngươi
đủ 20 mùa mưa hay chưa đủ 20 mùa mưa ai mà biết được". Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy:
"Từ nay về sau, đồng nữ 18 tuổi muốn thọ cụ túc trong
giáo pháp của Như Lai phải theo tăng xin hai năm học giới.
Trước hết phải làm Yết-ma cầu thính rồi mới xin. Người
làm Yết-ma nên tác bạch như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn
thọ cụ túc trong giới luật của đức Như Lai, nếu thời
gian của Tăng đã đến, xin Tăng cho phép mỗ giáp vào trước
tăng xin hai năm học giới. -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn
vào trước Tăng xin hai năm học giới, vì Tăng đã bằng lòng
nên im lặng. Tôi ghi nhận như vậy. Thế
rồi, đồng nữ này phải vào trước Tăng xin như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Con là đồng nữ mỗ giáp 18
tuổi muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai,
nay theo Tăng xin hai năm học giới. Kính mong Tăng thương xót
cho con hai năm học giới (Xin như vậy ba lần). Người
làm Yết-ma nên nói như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi muốn
thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, đã theo Tăng
xin hai năm học giới, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng
cho mỗ giáp pháp Yết-ma hai năm học giới. Ðây là lời tác
bạch. Xin
Thánh giả (535a) Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 18 tuổi
muốn thọ cụ túc trong pháp luật của đức Như Lai, đã theo
Tăng xin hai năm học giới, Thánh giả nào bằng lòng cho mỗ
giáp hai năm học giới thì im lặng, ai không bằng lòng hãy
nói. Ðây là lần Yết-ma thứ nhất (lần thứ hai, lần thứ
ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho mỗ giáp hai năm học giới xong, vì im lặng,
tôi ghi nhận như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni chưa cho đồng nữ đủ 20 tuổi học giới
mà cho thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ðủ
20 tuổi: Tức
đủ 20 mùa mưa. Nếu đủ 20 mùa mưa mà chưa đủ 20 tuổi
cũng gọi là đủ 20 mùa mưa. Thậm chí, nếu hậu an cư sinh,
sau 20 năm hậu an cư thọ tự tứ xong, cũng gọi là đủ 20
tuổi. Không
cho học giới:
Nếu không làm Yết-ma mà cho học giới cũng gọi là không
cho học giới. Hoặc 10 pháp không đầy đủ cũng gọi là không
cho học giới. Tuy có làm Yết-ma nhưng chúng không thành tựu,
bạch không đúng pháp, Yết-ma không đúng pháp - nếu một
pháp nào không thành tựu - mà cho thọ cụ túc, thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 98-
GIỚI: CHO NGƯỜI HỌC GIỚI CHƯA XONG THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni cho người
đang thọ học giới học chưa hoàn tất thọ cụ túc; thế
rồi, đức Thế Tôn bảo: Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni cho người đang thọ học giới học chưa hoàn
tất thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Thọ
học giới:
Cho thọ học giới, đủ 10 pháp, chúng thành tựu, bạch thành
tựu, Yết-ma thành tựu, tất cả mọi pháp đều thành tựu,
đó gọi là thọ học giới. Học
chưa hoàn tất:
Trong hai năm thọ học giới phải tùy thuận học 18 việc.
Ðó là: Khi ăn uống phải ngồi dưới tất cả Tỉ-kheo-ni,
trên tất cả Sa-di-ni, đối với họ không thanh tịnh nhưng
đối với Tỉ-kheo-ni thì thanh tịnh; đối với Tỉ-kheo-ni
không thanh tịnh thì đối với họ cũng không thanh tịnh, được
ngủ chung cùng phòng với Tỉ-kheo-ni ba hôm, cũng được ngủ
chung với Sa-di-ni trong ba hôm, được Tỉ-kheo-ni trao cho thức
ăn, ngoại trừ năm loại thực phẩm được hỏa tịnh; theo
Sa-di-ni nhận thức ăn; Tỉ-kheo-ni không được hướng đến
họ nói về Ba-la-đề-mộc-xoa, từ Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni,
mà chỉ được nói: không được dâm, không được trộm cắp,
không được giết người, đại loại được dạy bảo như
vậy, không được nghe Bố-tát, Tự-tứ. Ðến ngày Bố-tát
(535b) Tự tứ, phải đến trước Thượng tọa, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Tăng, nói như sau: "Con là mỗ giáp thanh tịnh,
xin thượng tọa ghi nhớ cho", nói như vậy ba lần, rồi lui
ra. Nếu phạm một trong bốn giới Ba-la-di sau cùng thì ngay
trong ngày ấy phải thọ học pháp trở lại. Nếu phạm 19
giới Tăng-già-bà-thi-sa trở về sau thì tất cả đều sám
hối tội Ðột-cát-la. Nếu phá năm giới như ăn phi thời,
cất thức ăn để ăn, nhận vàng bạc và tiền mặt, uống
rượu, mang hương hoa, thì tùy phạm vào ngày nào phải bắt
đầu thọ học lại hai năm kể từ ngày đó, còn thời gian
trước bị hủy bỏ. Ðó gọi là học giới chưa hoàn tất. Nếu
ai cho người học chưa hoàn tất thọ cụ túc thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên) 99-
GIỚI: KHÔNG CHO NGƯỜI ÐÃ HỌC XONG THỌ GIỚI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Thế Tôn chế giới
không cho phép Tỉ-kheo-ni cho người chưa học giới hai năm
hoàn tất thọ cụ túc, thế nên Tỉ-kheo-ni cho đồng nữ 18
mùa mưa (tuổi) học giới hai năm, đến lúc đủ 20 mùa mưa
cho thọ cụ túc. Tuy vậy, các Tỉ-kheo-ni vẫn chê trách rằng:
"Người học giới hoàn tất hay chưa hoàn tất ai mà biết". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến trình bày với Ðại Ái
Ðạo. Cho đến Phật dạy: "Từ nay về sau, đồng nữ đã
học giới đủ 20 mùa mưa muốn thọ cụ túc trong pháp luật
của Như Lai để làm Tỉ-kheo-ni, thì trước hết phải làm
Yết-ma cầu thỉnh, rồi đến trước Tăng xin pháp Yết-ma
đã học giới hoàn tất để thọ cụ túc. Người làm Yết-ma
nên nói như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 20 tuổi đã
học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc trong pháp luật của
đức Như Lai; nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho mỗ
giáp vào trước Tăng xin thọ cụ túc vì đã học giới hoàn
tất. -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp 20 tuổi đã
học giới hoàn tất muốn vào trước Tăng xin thọ cụ túc
vì đã học giới hoàn tất. Tăng đã bằng lòng nên im lặng,
tôi ghi nhận việc này như vậy. Thế
rồi, người này phải vào giữa Tăng quỳ gối, chắp tay,
xin như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Con là đồng nữ mỗ giáp 20
tuổi, đã học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc trong pháp
luật của đức Như Lai, nay theo Tăng xin thọ cụ túc vì đã
học giới hoàn tất. Kính mong Tăng thương xót cho con thọ
cụ túc vì đã học giới hoàn tất, (xin như vậy ba lần). Người
làm Yết-ma nên nói như sau: -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp đủ 20 mùa
mưa, đã học giới hoàn tất, muốn thọ cụ túc trong pháp
luật của đức Như Lai làm Tỉ-kheo-ni, nay theo Tăng xin thọ
cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Nếu thời gian của Tăng
đã đến, nay tăng cho mỗ giáp pháp Yết-ma thọ cụ túc vì
đã học giới hoàn tất. Ðây là lời tác bạch. -
Xin Thánh giả Tăng lắng nghe. Ðồng nữ mỗ giáp đủ 20 mùa
mưa, đã học giới hoàn tất muốn thọ cụ túc làm Tỉ-kheo-ni
trong pháp luật của đức Như Lai, (535c) đã theo Tăng xin thọ
cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Nay Tăng cho mỗ giáp thọ
cụ túc vì đã học giới hoàn tất. Thánh giả nào bằng lòng
cho mỗ giáp thọ cụ túc vì đã học giới hoàn tất thì im
lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần thứ
nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho mỗ giáp pháp Yết-ma thọ cụ túc xong, vì
Tăng im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu học ni đã học giới hoàn tất mà Tỉ-kheo-ni không làm
Yết-ma cho thọ cụ túc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Học
giới hoàn tất:
Trong hai mùa mưa tùy thuận làm 18 việc. Không
làm Yết-ma:
Không tác pháp Yết-ma cho thọ cụ túc thì (Tỉ-kheo-ni bổn
sư) phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ ba mươi tám
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||