| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
72-
GIỚI: CHO Y CHO TU SĨ NGOẠI ÐẠO. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có người tên là
Kiệt Trụ xuất gia trong hàng ngũ ngoại đạo, còn cha mẹ
ông thì xuất gia theo Phật pháp. Vào lúc trời đang mùa lạnh,
Kiệt Trụ không có y phục, bèn đi đến chỗ mẹ, sống như
loài cầm thú. Người mẹ thương tình, suy nghĩ: "Có y Uất-đa-la-tăng
vừa mới giặt nhuộm ở đây", bèn cởi ra cho con. Khi được
y rồi, anh ta liền mặc đi vào ngồi trong quán rượu. Do thế
bị người đời chê cười rằng: "Kẻ tà kiến này là con
lừa ăn bã rượu mà lại mặc biểu tượng của thánh nhân!" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni kia đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. Ðó
là việc xấu. Vì sao ngươi đem y cho kẻ ngoại đạo xuất
gia? Từ nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho y cho ngoại
đạo. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni tự tay cho y của Sa-môn cho người thế tục
và ngoại đạo, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Người
thế tục:
Tức người tại gia. Ngoại
đạo: Chỉ
cho hàng ngoại đạo xuất gia. Tự
tay cho: Tay
mình cho, tay người kia nhận. Y
của Sa-môn:
Biểu tượng của hiền Thánh. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Không được tự tay cho y của Sa-môn cho
người thế tục và ngoại đạo. Nếu Tỉ-kheo-ni có giới
đức, rồi phụ nữ, trẻ con muốn xin miếng y rách để cầu
phước, tiêu tai, thì không được tự tay mình cho mà nên bảo
tịnh nhân nữ đem cho. (528b)
Nếu Tỉ-kheo tự tay cho y của Sa-môn cho người thế tục,
ngoại đạo thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu Tỉ-kheo có giới
đức, mà người ta xin một miếng cà sa rách để cầu được
tiêu tai thì nên bảo tịnh nhân đem cho, nhưng không được
cho một miếng lớn mà nên cho một miếng nhỏ. Thế nên đức
Thế Tôn nói (như trên). 73-
GIỚI: MAY Y AN-ÐÀ-HỘI QUÁ CỠ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni mặc
y giống như phụ nữ, bị người đời chê bai rằng: "Vì sao
Tỉ-kheo-ni mặc y dài kéo lê tua vải mà đi giống như phụ
nữ ngoài đời? Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo
hạnh gì!" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau Ta không cho phép để nguyên cả tua vải mà
may y, mà phải đo may cho đúng cỡ. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni may y An-đà-hội thì phải đo rồi mới may,
chiều dài bằng bốn gang tay Tu-già-đa, chiều rộng bằng hai
gang tay. Nếu may quá mức đó thì cắt bớt rồi sám hối tội
Ba-dạ-đề. Giải
thích: An-đà-hội:
Y mà Thế Tôn cho phép. May:
Hoặc tự mình may hoặc sai người khác may. Phải
đo: Chiều
dài 4 gang tay Tu-già-đà. Tu-già-đà:
Thiện Thệ (tức Phật). Chiều rộng hai gang tay, nếu qua số
đó thì cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni may y chiều dài đúng lượng,
chiều rộng quá lượng thì phạm tội Ba-dạ-đề, khi mặc
thì phạm tội Việt-tì-ni. Cũng vậy, nếu chiều rộng đúng
lượng, chiều dài quá lượng; ở ngoài biên đúng lượng;
ở giữa quá lượng; ở giữa đúng lượng; ở ngoài biên
quá lượng; khi gấp, khi nhăn đúng lượng; khi thấm nước
đúng lượng; nhưng khi phơi khô lại dài rộng, thì phạm tội
Ba-dạ-đề, khi dùng phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức
Thế Tôn nói (như trên). 74-
GIỚI: MAY YẾM RỘNG QUÁ CỠ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni tuổi
trẻ đoan chánh, mặc y đi đường, đôi vú nổi cộm lên,
bọn con trai thấy thế liền cười. Các Tỉ-kheo-ni nghe rồi
bèn thuật lại với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem
việc ấy đến bạch lên đức Thế Tôn. Thế rồi, Phật dạy:
"Từ nay về sau, Tỉ-kheo-ni nên may Tăng-kì-chi". Lại
nữa, khi ấy có Tỉ-kheo-ni dùng vải rẻo may Tăng-kì-chi dài,
rộng, thế rồi Phật dạy: "Từ nay về sau cắt rẻo vải
nên ước lượng mà cắt". Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo
truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, (528c) dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: --
Nếu Tỳ-kheo-ni may Tăng-kì-chi nên ước lượng mà may, chiều
dài 4 gang tay Tu-già-đà, chiều rộng hai gang tay. Nếu may quá
mức đó thì cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Ba-dạ-đề:
Như ở phần An-đà-hội ở trên đã nói rõ. 75-
GIỚI: MAY ÁO TẮM RỘNG QUÁ CỠ. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la xuống
tắm dưới sông Tô thì có 5 đồng tử Li-xa đứng trên bờ
sông trông thấy, do thế phát sinh tâm dục. Tỉ-kheo-ni bèn
nói: -
Này các hiền sĩ, các vị hãy đi đi. -
Chúng tôi không đi, thích ở đây nhìn thân thể của Thánh
giả hơn. -
Các vị muốn xem cái thân thể có chín cửa hôi thối này
để làm gì? -
Không phải vậy. Chúng tôi rất thích nhìn. Họ
cứ ở đó hồi lâu không chịu đi, Tỉ-kheo-ni bèn suy nghĩ:
"Ðây là bọn phàm phu ngu si thiển cận", đoạn cô dùng hai
bàn tay che phía trước, phía sau rồi lên bờ. Những kẻ kia
thấy thế liền mê mẩn, miệng trào máu nóng, nằm lăn quay
trên đất. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo liền đem đến bạch lên Thế Tôn. Cho đến đoạn
các Tỉ-kheo-ni hỏi Phật: -
Bạch Thế Tôn! Vì sao 5 đồng tử Li-xa ấy do lòng dục mà
đến nỗi mê mẩn nằm lăn quay trên đất như vậy? -
Không những ngày nay họ có lòng dục như thế mà trong thời
quá khứ cũng đã từng có như vậy. -
Xin Thế Tôn thuật lại, chúng con muốn được nghe. -
Trong thời quá khứ xa xôi có một thiếu nữ đoan chính thù
thắng, đồng thời thuở ấy cũng có 5 vị thiên tử, người
thứ nhất tên Thích-ca-la, người thứ hai tên Ma-đa-lê, người
thứ ba tên Xà-tăng-da-đế, người thứ tư tên là Bỉ-xà-da-đế,
người thứ năm tên Ma-tra, khi trông thấy thiên nữ ai nấy
đều sinh dục tâm, bèn suy nghĩ: "Ðây không phải là vật
có thể dùng chung, hễ ai có lòng dục mạnh nhất thì cho kẻ
ấy". Thế rồi, họ đồng thanh nói: "Ðồng ý". Kế đến,
Thích-ca-la bèn đọc kệ: "Tôi
nhớ khi dâm dục,
Tiếp
theo Ma-đa-lê lại đọc kệ: "Thích-ca,
khi bạn ngủ,
Xà-tăng-da-đế
cũng đọc kệ: "Ma-đa,
dụ trống thúc,
Tiếp
đến, Bỉ-xà-da-đế lại đọc kệ: "Bạn
ví cây nổi trôi,
Thế
rồi Ma-tra lại đọc kệ: "Những
điều các vị nói,
Khi
ấy, các thiên tử liền nói: "Bạn là người mãnh liệt nhất",
rồi đồng lòng nhường thiên nữ cho người này. Ðoạn,
Phật nói với các Tỉ-kheo-ni: -
Năm thiên tử thuở ấy nay chính là năm chàng trai Li-xa: -
Bạch Thế Tôn, Vị Tỉ-kheo-ni ấy nhờ có hạnh nghiệp gì
mà được đoan chính như vậy? Lại được sinh vào nhà danh
giá, có lòng tin xuất gia chứng đắc vô lậu? -
Này các Tỉ-kheo-ni, trong thời quá khứ có một thành phố
tên Ba-la-nại. Nơi này có một trưởng giả, ông cưới một
bà vợ. Bà này lúc mới về thường có một người lo việc
chải đầu và cung cấp thức ăn. Khi ấy có vị Bích-Chi-Phật
tên Tuyên-Hi đi đến cửa nhà bà khất thực. Bà thấy Ngài
không được đoan nghiêm lắm nên không có lòng cung kính, do
thế không cho thức ăn cũng không bảo ngài đi. Người chải
đầu thấy vậy liền nói ; -
Thưa bà chủ! Bà nên cúng dường thức ăn cho vị khất sĩ. -
Ngài xấu xí không đẹp, ta không cúng dường. -
Thế thì bà hãy đưa phần thực phẩm của tôi để tôi cúng
dường cho Ngài. -
Tùy ý người lấy, người cũng có thể đem vứt xuống nước. Người
ấy được thức ăn rồi, liền đem cúng dường cho Bích-Chi-Phật.
Thế rồi, khi thọ trai xong, Ngài bèn vọt lên hư không mà
đi. Thấy Ngài bay đi, người cúng dường tâm rất hoan hỉ,
liền phát thệ nguyện: "Con nguyện thân sau được sinh vào
nhà hào quý, thân thể đoan chính, thấy Phật, nghe Pháp, diệt
hết lậu hoặc". Thế rồi, người ấy liền mệnh chung, sinh
lên cõi trời, hưởng được năm điều vượt trội hơn trăm
nghìn thiên nữ, đó là: thọ mạng, nhan sắc, sức lực danh
tiếng và biện tài. Sau khi mệnh chung ở cõi trời bèn sinh
vào nhà Bà-la-môn tại thành Ba-la-nại. Bấy giờ nhằm lúc
đức Phật Ca-diếp ra đời, Ngài vào thành khất thực, tuần
tự đến nhà ấy thì gặp lúc cha mẹ đi du ngoạn, cô ở
nhà một mình. Do gieo công đức trong đời trước, nên khi
thấy Ngài, cô rất hoan hỷ, đem rửa sạch cái thố bằng
đồng, đựng đầy thức ăn thượng hạng và đem y Kiều-xá-da
dâng lên đức Thế Tôn Ca-diếp, rồi đọc kệ: "Nay
cúng y, thức ăn,
Người
con gái này về sau được gả cho gia đình Bà-la-môn, nhưng
vì cha mẹ chồng quá nghiêm khắc khó phụng sự, cuối cùng
cô phải thốt ra: "Ta dùng
cái thân này sống để làm gì, chi bằng tự sát!", bèn
cầm chuỗi anh lạc, hương thoa mình (529b) và dây thòng lọng
định tìm chỗ tự vẫn. Nhưng khi trông thấy ngôi tháp của
Phật Ca-diếp, cô bèn đem các dụng cụ trang sức kia đến
cúng dường tháp Phật rồi mới treo cổ. Và sau khi mệnh chung
liền sinh vào gia đình Bà-la-môn, cho đến tự đọc kệ: "Anh
lạc, y, hương hoa,
Phật
dạy: Từ nay về sau nên may áo tắm. Cho đến, dù ai nghe rồi
cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni may áo tắm mưa nên lượng định mà may, chiều
dài 4 gang tay Tu-già-đà, chiều rộng 2 gang tay. Nếu may quá
mức ấy thì phải cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề,
như trường hợp y Tăng-kì-chi đã nói rõ. 76-
GIỚI: XIN Y TẠI NHÀ KHÔNG TIN PHẬT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni tăng nói
với Thâu-lan-nan-đà: -
Cô có thể xin y Ca-hi-na cho Tăng được không? -
Ðược. -
Thế là cô đi đến một gia đình không có niềm tin, nói: -
Ðại phước đức, thí chủ có thể cúng dường y Ca-hi-na
cho Tăng được không? -
Ðược. Sau
khi Tự tứ xong, Tăng hỏi Thâu-lan-nan-đà: -
Ðã xin được y Ca-hi-na chưa? -
Tôi biết rồi. Thế
là cô đi đến gia đình kia, hỏi: -
Này hiền sĩ, đã chuẩn bị y Ca-hi-na xong chưa? -
Tôi biết rồi. Sau
đó, Tăng đến hỏi Thâu-lan-nan-đà, thì cô đáp: "Tôi biết
rồi". Cứ như thế cho đến khi thời gian của y đã trôi qua
(mà không có y). Các Tỉ-kheo-ni bèn trình bày việc này với
Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới
rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao ngươi đến nhà người không thể sắm y để xin y Ca-hi-na
cho Tăng? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đến nhà người không thể cúng y để xin
y Ca-hi-na cho Tăng thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Không
có niềm tin:
Không có khả năng cho, rất ít hy vọng. Y:
Như y Khâm-bà-la, y Chiên, cho đến y Khu-mâu-đề. Xin:
Xin y Ca-hi-na cho Tăng. Nhưng nếu quá thời gian của y mà không
xin được thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni đi xin y Ca-hi-na cho Tăng thì
nên đi xin với tấm lòng nhiệt thành, nhưng không nên đến
xin những nhà không có niềm tin, mà nên đến những nhà có
niềm tin và nhiều bà con mà xin. Nếu người đó nói: "Tôi
tự biết", thì phải hỏi lại: "Bà có định cho không? Chớ
nên để quá thời gian của y". Ðồng thời cũng phải xem xét
người ấy, nếu thấy (529c) họ không có khả năng sắm được
thì nên đi xin chỗ khác. Hơn nữa, cũng phải tự lượng sức
mình, nếu không thể làm được thì không nên hứa đi xin
cho Tăng. Nếu đã hứa xin y cho Tăng, mà không siêng năng đi
xin, không nhờ người khác xin, cũng không nói cho Tăng biết,
để quá thời gian của y, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo đến gia đình không có niềm tin xin y Ca-hi-na cho Tăng
thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 77-
GIỚI: KHÔNG ÐEM Y THEO BÊN MÌNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni mặc
y thượng, hạ đến đảnh lễ chân Thế Tôn, sau đó bị hỏa
hoạn cháy mất y. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo.
Ðại Ái Ðạo liền đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi,
Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao những y phục cần sử dụng mà ngươi không đem theo
bên mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép không đem theo bên
mình những y phục cần sử dụng. Lại
nữa, bấy giờ có Tỉ-kheo-ni con gái dòng họ Thích và con
gái dòng họ Ma-la, trước kia vốn là nhạc sĩ, nay xuất gia
khoác y Tăng-già-lê nặng nề trông rất vất vả. Thế rồi,
Phật dạy: "Từ nay về sau Ta cho phép khi bệnh thì được
châm chước". Ðoạn, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền
lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải
tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà không đem theo bên mình những
y phục cần mặc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Những
y phục cần mặc:
Như y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, Tăng-kỳ-chi
và y tắm mưa. Bệnh:
Nếu có bệnh mà không đem y theo bên mình thì đức Thế Tôn
bảo là không có tội. Nếu không bệnh mà không đem theo thì
phạm tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu lễ tháp, đi kinh hành, ban
ngày ngồi thiền trong trú xứ thì - không mang y theo - không
có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 78-
GIỚI: NẤU LẠI ÐỒ ĂN ÐỂ ĂN. Khi
Phật an trú tại thành Tì-xá-li, bấy giờ gia đình Tỉ-kheo-ni
Bạt-đà-la thường mang thức ăn đến cho cô. Khi được thức
ăn rồi, cô bèn xào nấu biến chế.
Các anh em chú bác đến thấy thức ăn bèn hỏi: -
Tôi muốn ăn. -
Ðược thôi. Thế
là họ lấy thức ăn rồi ăn, nhưng nghe có mùi vị khác thường,
liền hỏi: -
Ở đâu mà được thức ăn ngon thế này? -
Ðó là thức ăn ở nhà đem đến đấy. Người
nhà bèn nổi giận trách (người làm công): "Nhà ta lâu nay
làm thức ăn chỉ uổng phí tiền bạc mà chẳng ngon lành gì!",
bèn trở về nhà dùng roi đánh đứa nô tỳ, rồi mắng: "Chỉ
mất tiền bạc vô ích mà chẳng được ăn". Thế là kẻ sai
đi đưa thức ăn nổi giận, nói: "Tại vì Tỉ-kheo-ni mà ta
(530a) bị khổ não như thế này". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép tự nấu
nướng pha chế thức ăn. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni
vốn là con gái dòng họ Thích và con gái dòng họ Ma-la đi
khất thực được cơm nguội, canh nguội và rau để cách đêm,
ăn vào liền bị ói mửa. Các Tỉ-kheo-ni nói với Ðại Ái
Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đi đến bạch với Thế Tôn rằng: -
Bạch Thế Tôn, có cho phép chúng con được hâm nóng thức
ăn không? -
Ðược. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Tỳ-xá-li phải tập họp lại
tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà được các thức ăn như Khư-đà-ni,
Bồ-xà-ni, rồi tự mình nấu lại, sai người nấu lại; tự
mình chiên lại, sai người chiên lại; tự mình hâm lại, sai
người hâm lại để ăn, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Khư-đà-ni:
Năm thức ăn Khư-đà-ni. Bồ-xà-ni:
Năm thức ăn Bồ-xà-ni. Nấu
lại: Tự
mình nấu lại hoặc sai người nấu lại. Chiên:
Tự mình chiên hoặc sai người chiên. Hâm:
Tự mình hâm hoặc sai người hâm. Bệnh:
Nếu vì già bệnh suy yếu nên ăn đồ ăn nguội lạnh vào
bị ói mửa không an lạc (mà hâm lại đồ ăn để ăn) thì
Thế Tôn nói là không có tội. Trái lại, nếu Tỉ-kheo-ni không
bệnh mà nấu lại đồ ăn để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói Phật không cho phép vì muốn ăn ngon mà chiên
lại, hâm lại đồ ăn.Nhưng nếu thức ăn lạnh thì được
hâm lại cho nóng, nhưng không được dùng xoong chảo để nấu,
mà chỉ nên dùng chén bằng đồng hoặc là tô hoặc là thố
để hâm cho nóng. Nếu
Tỉ-kheo vì thích ngon mà tự nấu lại, chiên lại, hâm lại
đồ ăn để ăn thì phạm tội Việt-tì-ni. Nhưng nếu bảo
tịnh nhân làm thì không có tội. Nếu đi khất thực mà gặp
thức ăn lạnh rồi hâm lại cho nóng để ăn thì không có
tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 79-
GIỚI: ÐỨNG HẦU TỈ-KHEO THỌ TRAI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người
kia xuất gia theo dòng họ Thích. Trong khi ông chồng già cả
đang ăn thì bà vợ Tỉ-kheo-ni đứng bên cạnh rót nước và
cầm quạt quạt. Ông chồng già nhắc lại chuyện dĩ vãng.
Tỉ-kheo-ni nổi giận liền lấy nước tạt vào mặt, cầm
quạt gõ trên đầu, mắng: "Ông là kẻ không biết ân nghĩa,
chuyện dĩ vãng không nên nói mà đem nói". Tỉ-kheo-ni khác
thấy thế bèn khuyên: -
Này Thánh giả, vị này là bậc đáng tôn trọng, không được
làm như thế. -
Ông già ấy là kẻ bất thiện, không biết ân nghĩa, chuyện
dĩ vãng không nên nói mà nay đem ra nói. Các
Tỉ-kheo-ni nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo (530b) gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao trong lúc Tỷ-kheo ăn mà ngươi hầu
nước và quạt? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời
Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp
được. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu trong khi Tỳ-kheo đang ăn mà Tỉ-kheo-ni hầu nước và
quạt thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Tỳ-kheo
đang ăn: Gồm
5thức ăn chính và 5 thức ăn phụ. Hầu
nước và quạt:
Xách bình nước, rót nước, cầm quạt mà quạt, thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni xách bình nước mà không
cầm quạt thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu cầm quạt mà không
xách bình nước cũng phạm tội Việt-tì-ni. Nếu làm cả hai
việc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu không cầm cả hai thì
không có tội. Tội này cấu thành trong trường hợp chỉ có
một tỉ-kheo và một Tỉ-kheo-ni. Nếu có nhiều Tỉ-kheo thì
hầu nước, quạt không có tội. Hoặc là trong chúng có cha,
anh thì dùng quạt quạt không có tội. Thế nên đức Thế
Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một thương gia
chuyên nghề trồng tỏi mời Tỉ-kheo-ni tăng cúng dường tỏi.
Thế rồi, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đến vườn ăn tỏi, dẫm đạp
bừa bãi; khi thương nhân đến vườn thăm, thấy tỏi bị
tơi tả liền hỏi người làm vườn: -
Vì sao mà tỏi bị tơi tả thế này? -
Trước đây có mời Tỉ-kheo-ni đến cúng dường tỏi nên
họ vào vườn lấy ăn hoặc mang đi mà dẫm đạp như vậy. Thương
nhân nghe thế bèn chê trách: "Ta mời đến cúng dường tỏi
thì chỉ nên ăn mà thôi, vì sao lại đem đi và dẫm đạp
như vậy?" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Cho
đến Tỉ-kheo-ni đáp: "Có thật như vậy". Rồi Phật khiển
trách:- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép
ăn tỏi. (cho đến) Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni ăn tỏi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỏi:
Gồm có loại tỏi trồng và tỏi trên núi, đại loại các
thứ tỏi như vậy đều không được phép ăn; loại chín hay
loại sống đều không cho phép ăn ; loại nấu lại, loại
được đốt thành tro cũng không cho phép ăn. Nhưng nếu thân
thể có ghẻ thì cho phép dùng tỏi thoa. Và khi thoa thì phải
ở chỗ vắng đến lúc ghẻ lành, phải tắm rửa sạch sẽ
rồi mới được vào trong chúng. Thế nên, đức Thế Tôn nói
(như trên). Kệ
tóm tắt: "Y
khác, y ngoại đạo,
81-
GIỚI: ÐEM THỨC ĂN CHO NGƯỜI THẾ TỤC. (530c)
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy người chị của
Lại-tra-ba-la qua đời, cô bèn đi xin các thức ẩm thực cho
đứa con của bà chị. Vì vậy bị người đời chê cười
rằng: "Vì sao Sa-môn ni nhận thức ăn của người có niềm
tin cúng dường rồi đem cho người thế tục?" Cac
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. Từ
nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho thức ăn cho người
thế tục. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy ngoại đạo
Kiệt-trụ đến chỗ mẹ. Người mẹ thấy ông đến, liền
lấy bát múc đầy các thức ăn đưa cho ông. Người con được
thức ăn rồi bèn đem vào trong quán rượu ngồi ăn, đồng
thời cho người khác ăn. Có người hỏi: -
Ông được thức ăn ngon này ở đâu vậy? -
Ông im đi. Người đời xem Sa-môn ni là phước điền, Sa-môn
ni lại coi ta là phước điền. Do
thế bị người đời chê cười rằng: "Vì sao Sa-môn ni lại
dùng thức ăn của thí chủ cúng cho mình đem cho kẻ không
tăng trưởng phước đức?" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni kia đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì sao tự tay ngươi cho thức ăn cho ngoại
đạo? Từ nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho thức ăn
cho ngoại đạo. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni tự tay cho thức ăn cho người thế tục, ngoại
đạo thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: (Một
số từ ngữ ở trên đã giải thích). Nếu
Tỉ-kheo-ni có thân nhân đến chơi, mình muốn cho thức ăn
cho họ thì không được tự tay đưa cho, mà phải bảo tịnh
nhân nữ cho. Nếu không có tịnh nhân nữ thì nên bảo: "Nên
tự tay lấy thức ăn trong đó mà ăn". Nếu sợ họ lấy nhiều
thì nên bảo: "Lấy chừng ấy thức ăn đưa đây, còn bao nhiêu
đem cất". Khi mình nhận thức ăn rồi, nên để dưới đất,
bảo họ tự lấy. Nếu ngoại đạo đến thì không được
tự tay cho thức ăn mà phải bảo tịnh nhân nữ cho họ. Nếu
không có tịnh nhân nữ thì nên nói: "Hãy tự lấy thức ăn
trong đó mà ăn". Nếu sợ họ lấy nhiều thì nên bảo: "Lấy
chừng ấy thức ăn đưa đây, còn bao nhiêu đem cất". Rồi
mình tự tay để thức ăn dưới
đất cho họ. Nếu người bà con mình trách rằng: "Ngươi
dùng lối Chiên-đà-la để đối xử với ta sao?" thì nên nói:
"Ông đã xuất gia (531a) vào chỗ không tốt. Ðức Thế Tôn
chế giới không cho phép tôi cho thức ăn. Phật cũng dạy:
"Ðược sai ngoại đạo nấu thức ăn rồi bảo họ: "Ngươi
đưa cho ta còn bao nhiêu thì hãy ăn". Ðó là những gì mà đức
Thế Tôn đã dạy". 82-
GIỚI: LÀM THẦY THUỐC ÐỂ SINH SỐNG. Khi
Phật an trú tại Câu-diệm-di, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni mẹ của
Xiển-đà chữa bệnh rất giỏi, thường đem theo rễ, lá,
quả cây thuốc vào các nhà hoàng tộc, đại thần, cư sĩ
trị bệnh cho các thai phụ. Cô chữa bệnh mắt, thổ tả,
xông đầu, nhỏ thuốc mũi, dùng kim lể, rồi bôi thuốc vào.
Do chữa bệnh nên cô được cúng dường rất nồng hậu. Các
Tỉ-kheo-ni bèn khiển trách cô: -
Ðó không phải là phép tắc xuất gia mà là nghề làm thầy
thuốc. Thế
rồi, họ trình bày việc đó với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái
Ðạo lại đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau ta không cho phép làm nghề
thầy thuốc để nuôi sống. Ðoạn
Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Câu-diệm-di phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại. --
Nếu Tỉ-kheo-ni làm nghề thầy thuốc để nuôi sống thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni: Như
trên đã nói. Thầy
thuốc: Người
dùng rễ, lá, trái cây thuốc để chữa bệnh. Lại có thầy
thuốc chú nguyện thuốc độc, chú nguyện rắn, cho đến chú
nguyện lửa, chú nguyện tinh tú, mặt trời, mặt trăng. Nếu
ai dùng những phương pháp ấy để nuôi sống như mẹ của
Xiển-đà thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề: Như
trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được làm nghề thầy thuốc
để sinh sống. Nếu mình bị bệnh thì được bảo người
khác dùng phương thuốc để chữa trị. Nếu
Tỉ-kheo làm nghề thầy thuốc để sinh sống thì phạm tội
Việt-tì-ni. Thế nên, đức Thế Tôn nói (như trên). 83-
GIỚI: TRAO TOA THUỐC CHO NGƯỜI THẾ TỤC VÀ NGOẠI ÐẠO. Khi
Phật an trú tại Câu-diệm-di, sau khi ngài chế giới không
cho làm nghề thầy thuốc để nuôi sống, thì có người mời
mẹ của Xiển-đà chữa bệnh, Tỉ-kheo-ni liền nói: "Ðức
Thế Tôn chế giới không cho phép chữa bệnh". Họ lại nói:
"Nếu không cho chữa bệnh thì xin cho tôi toa thuốc". Thế là
cô bèn đưa toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo.
các Tỉ-kheo-ni liền nói: "Chỉ lo nghiền ngẫm các phương
thuốc, thì không phải là phép tắc xuất gia". Thế
rồi, họ trình bày với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem
việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật bèn hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. Từ
nay về sau, Ta không cho phép trao toa thuốc cho người thế tục
và ngoại đạo. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Câu-diệm-di phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni trao cho người thế tục và ngoại đạo toa
thuốc, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Người
thế tục:
Người tại gia. Ngoại
đạo: Chỉ
hàng ngoại đạo xuất gia. (531b)
Trao
toa thuốc: Nếu như chú nguyện rắn, chú nguyện thuốc
độc, cho đến chú nguyện lửa, chú nguyện tinh tú, mặt trời,
mặt trăng, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni
không được trao toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo,
cũng không được chỉ vẽ phương thuốc cho họ. Nếu
Tỉ-kheo trao toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo
thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên).
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||