THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
x
Quyển Thứ Ba Mươi Tám

NÓI RÕ PHẦN THỨ HAI CỦA 141 GIỚI BA-DẠ-ÐỀ.

72- GIỚI: CHO Y CHO TU SĨ NGOẠI ÐẠO.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có người tên là Kiệt Trụ xuất gia trong hàng ngũ ngoại đạo, còn cha mẹ ông thì xuất gia theo Phật pháp. Vào lúc trời đang mùa lạnh, Kiệt Trụ không có y phục, bèn đi đến chỗ mẹ, sống như loài cầm thú. Người mẹ thương tình, suy nghĩ: "Có y Uất-đa-la-tăng vừa mới giặt nhuộm ở đây", bèn cởi ra cho con. Khi được y rồi, anh ta liền mặc đi vào ngồi trong quán rượu. Do thế bị người đời chê cười rằng: "Kẻ tà kiến này là con lừa ăn bã rượu mà lại mặc biểu tượng của thánh nhân!"

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni kia đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi đem y cho kẻ ngoại đạo xuất gia? Từ nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho y cho ngoại đạo.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni tự tay cho y của Sa-môn cho người thế tục và ngoại đạo, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Người thế tục: Tức người tại gia.

Ngoại đạo: Chỉ cho hàng ngoại đạo xuất gia.

Tự tay cho: Tay mình cho, tay người kia nhận.

Y của Sa-môn: Biểu tượng của hiền Thánh.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Không được tự tay cho y của Sa-môn cho người thế tục và ngoại đạo. Nếu Tỉ-kheo-ni có giới đức, rồi phụ nữ, trẻ con muốn xin miếng y rách để cầu phước, tiêu tai, thì không được tự tay mình cho mà nên bảo tịnh nhân nữ đem cho.

(528b) Nếu Tỉ-kheo tự tay cho y của Sa-môn cho người thế tục, ngoại đạo thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu Tỉ-kheo có giới đức, mà người ta xin một miếng cà sa rách để cầu được tiêu tai thì nên bảo tịnh nhân đem cho, nhưng không được cho một miếng lớn mà nên cho một miếng nhỏ. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

73- GIỚI: MAY Y AN-ÐÀ-HỘI QUÁ CỠ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni mặc y giống như phụ nữ, bị người đời chê bai rằng: "Vì sao Tỉ-kheo-ni mặc y dài kéo lê tua vải mà đi giống như phụ nữ ngoài đời? Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!"

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Từ nay về sau Ta không cho phép để nguyên cả tua vải mà may y, mà phải đo may cho đúng cỡ. 

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni may y An-đà-hội thì phải đo rồi mới may, chiều dài bằng bốn gang tay Tu-già-đa, chiều rộng bằng hai gang tay. Nếu may quá mức đó thì cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

An-đà-hội: Y mà Thế Tôn cho phép.

May: Hoặc tự mình may hoặc sai người khác may.

Phải đo: Chiều dài 4 gang tay Tu-già-đà.

Tu-già-đà: Thiện Thệ (tức Phật). Chiều rộng hai gang tay, nếu qua số đó thì cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni may y chiều dài đúng lượng, chiều rộng quá lượng thì phạm tội Ba-dạ-đề, khi mặc thì phạm tội Việt-tì-ni. Cũng vậy, nếu chiều rộng đúng lượng, chiều dài quá lượng; ở ngoài biên đúng lượng; ở giữa quá lượng; ở giữa đúng lượng; ở ngoài biên quá lượng; khi gấp, khi nhăn đúng lượng; khi thấm nước đúng lượng; nhưng khi phơi khô lại dài rộng, thì phạm tội Ba-dạ-đề, khi dùng phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

74- GIỚI: MAY YẾM RỘNG QUÁ CỠ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni tuổi trẻ đoan chánh, mặc y đi đường, đôi vú nổi cộm lên, bọn con trai thấy thế liền cười. Các Tỉ-kheo-ni nghe rồi bèn thuật lại với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên đức Thế Tôn. Thế rồi, Phật dạy: "Từ nay về sau, Tỉ-kheo-ni nên may Tăng-kì-chi".

Lại nữa, khi ấy có Tỉ-kheo-ni dùng vải rẻo may Tăng-kì-chi dài, rộng, thế rồi Phật dạy: "Từ nay về sau cắt rẻo vải nên ước lượng mà cắt". Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, (528c) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỳ-kheo-ni may Tăng-kì-chi nên ước lượng mà may, chiều dài 4 gang tay Tu-già-đà, chiều rộng hai gang tay. Nếu may quá mức đó thì cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Ba-dạ-đề: Như ở phần An-đà-hội ở trên đã nói rõ.

75- GIỚI: MAY ÁO TẮM RỘNG QUÁ CỠ.

Khi Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la xuống tắm dưới sông Tô thì có 5 đồng tử Li-xa đứng trên bờ sông trông thấy, do thế phát sinh tâm dục. Tỉ-kheo-ni bèn nói:

- Này các hiền sĩ, các vị hãy đi đi.

- Chúng tôi không đi, thích ở đây nhìn thân thể của Thánh giả hơn.

- Các vị muốn xem cái thân thể có chín cửa hôi thối này để làm gì?

- Không phải vậy. Chúng tôi rất thích nhìn.

Họ cứ ở đó hồi lâu không chịu đi, Tỉ-kheo-ni bèn suy nghĩ: "Ðây là bọn phàm phu ngu si thiển cận", đoạn cô dùng hai bàn tay che phía trước, phía sau rồi lên bờ. Những kẻ kia thấy thế liền mê mẩn, miệng trào máu nóng, nằm lăn quay trên đất.

Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem đến bạch lên Thế Tôn. Cho đến đoạn các Tỉ-kheo-ni hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao 5 đồng tử Li-xa ấy do lòng dục mà đến nỗi mê mẩn nằm lăn quay trên đất như vậy?

- Không những ngày nay họ có lòng dục như thế mà trong thời quá khứ cũng đã từng có như vậy.

- Xin Thế Tôn thuật lại, chúng con muốn được nghe.

- Trong thời quá khứ xa xôi có một thiếu nữ đoan chính thù thắng, đồng thời thuở ấy cũng có 5 vị thiên tử, người thứ nhất tên Thích-ca-la, người thứ hai tên Ma-đa-lê, người thứ ba tên Xà-tăng-da-đế, người thứ tư tên là Bỉ-xà-da-đế, người thứ năm tên Ma-tra, khi trông thấy thiên nữ ai nấy đều sinh dục tâm, bèn suy nghĩ: "Ðây không phải là vật có thể dùng chung, hễ ai có lòng dục mạnh nhất thì cho kẻ ấy". Thế rồi, họ đồng thanh nói: "Ðồng ý". Kế đến, Thích-ca-la bèn đọc kệ:

"Tôi nhớ khi dâm dục, 
Ngồi nằm chẳng được yên.
Mãi cho đến khi ngủ, 
Dục lui mới được yên". 

Tiếp theo Ma-đa-lê lại đọc kệ:

"Thích-ca, khi bạn ngủ, 
Còn tạm thời thanh thản.
Tôi nhớ khi dâm dục, 
Như trống thúc xông trận".

Xà-tăng-da-đế cũng đọc kệ:

"Ma-đa, dụ trống thúc, 
Vẫn còn có gián đoạn.
Khi tâm tôi nhiễm dục, 
Như cây trôi dòng chảy".

Tiếp đến, Bỉ-xà-da-đế lại đọc kệ:

"Bạn ví cây nổi trôi, 
Có lúc còn dừng lại.
(529a) Tôi nhớ lúc tưởng dục, 
Như nhặng không chớp mắt".

Thế rồi Ma-tra lại đọc kệ:

"Những điều các vị nói, 
Toàn niệm tưởng an lạc.
Khi tôi đam mê dục, 
Chẳng còn biết sống chết".

Khi ấy, các thiên tử liền nói: "Bạn là người mãnh liệt nhất", rồi đồng lòng nhường thiên nữ cho người này.

Ðoạn, Phật nói với các Tỉ-kheo-ni: 

- Năm thiên tử thuở ấy nay chính là năm chàng trai Li-xa:

- Bạch Thế Tôn, Vị Tỉ-kheo-ni ấy nhờ có hạnh nghiệp gì mà được đoan chính như vậy? Lại được sinh vào nhà danh giá, có lòng tin xuất gia chứng đắc vô lậu?

- Này các Tỉ-kheo-ni, trong thời quá khứ có một thành phố tên Ba-la-nại. Nơi này có một trưởng giả, ông cưới một bà vợ. Bà này lúc mới về thường có một người lo việc chải đầu và cung cấp thức ăn. Khi ấy có vị Bích-Chi-Phật tên Tuyên-Hi đi đến cửa nhà bà khất thực. Bà thấy Ngài không được đoan nghiêm lắm nên không có lòng cung kính, do thế không cho thức ăn cũng không bảo ngài đi. Người chải đầu thấy vậy liền nói ;

- Thưa bà chủ! Bà nên cúng dường thức ăn cho vị khất sĩ.

- Ngài xấu xí không đẹp, ta không cúng dường.

- Thế thì bà hãy đưa phần thực phẩm của tôi để tôi cúng dường cho Ngài.

- Tùy ý người lấy, người cũng có thể đem vứt xuống nước.

Người ấy được thức ăn rồi, liền đem cúng dường cho Bích-Chi-Phật. Thế rồi, khi thọ trai xong, Ngài bèn vọt lên hư không mà đi. Thấy Ngài bay đi, người cúng dường tâm rất hoan hỉ, liền phát thệ nguyện: "Con nguyện thân sau được sinh vào nhà hào quý, thân thể đoan chính, thấy Phật, nghe Pháp, diệt hết lậu hoặc". Thế rồi, người ấy liền mệnh chung, sinh lên cõi trời, hưởng được năm điều vượt trội hơn trăm nghìn thiên nữ, đó là: thọ mạng, nhan sắc, sức lực danh tiếng và biện tài. Sau khi mệnh chung ở cõi trời bèn sinh vào nhà Bà-la-môn tại thành Ba-la-nại. Bấy giờ nhằm lúc đức Phật Ca-diếp ra đời, Ngài vào thành khất thực, tuần tự đến nhà ấy thì gặp lúc cha mẹ đi du ngoạn, cô ở nhà một mình. Do gieo công đức trong đời trước, nên khi thấy Ngài, cô rất hoan hỷ, đem rửa sạch cái thố bằng đồng, đựng đầy thức ăn thượng hạng và đem y Kiều-xá-da dâng lên đức Thế Tôn Ca-diếp, rồi đọc kệ:

"Nay cúng y, thức ăn, 
Vật cúng dường tối thắng.
Nay cúng đức Mâu-ni.
Kiết sử hết, chứng ngộ.
Như bậc lậu tận chứng, 
Mong con cũng như vậy".

Người con gái này về sau được gả cho gia đình Bà-la-môn, nhưng vì cha mẹ chồng quá nghiêm khắc khó phụng sự, cuối cùng cô phải thốt ra: "Ta dùng cái thân này sống để làm gì, chi bằng tự sát!", bèn cầm chuỗi anh lạc, hương thoa mình (529b) và dây thòng lọng định tìm chỗ tự vẫn. Nhưng khi trông thấy ngôi tháp của Phật Ca-diếp, cô bèn đem các dụng cụ trang sức kia đến cúng dường tháp Phật rồi mới treo cổ. Và sau khi mệnh chung liền sinh vào gia đình Bà-la-môn, cho đến tự đọc kệ:

"Anh lạc, y, hương hoa, 
Cúng dường tháp Ca-diếp.
Nương nhờ phước báo này, 
Nay lễ chân Thế Tôn".

Phật dạy: Từ nay về sau nên may áo tắm. Cho đến, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni may áo tắm mưa nên lượng định mà may, chiều dài 4 gang tay Tu-già-đà, chiều rộng 2 gang tay. Nếu may quá mức ấy thì phải cắt bớt rồi sám hối tội Ba-dạ-đề, như trường hợp y Tăng-kì-chi đã nói rõ.

76- GIỚI: XIN Y TẠI NHÀ KHÔNG TIN PHẬT.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni tăng nói với Thâu-lan-nan-đà:

- Cô có thể xin y Ca-hi-na cho Tăng được không?

- Ðược.

- Thế là cô đi đến một gia đình không có niềm tin, nói:

- Ðại phước đức, thí chủ có thể cúng dường y Ca-hi-na cho Tăng được không?

- Ðược.

Sau khi Tự tứ xong, Tăng hỏi Thâu-lan-nan-đà:

- Ðã xin được y Ca-hi-na chưa?

- Tôi biết rồi.

Thế là cô đi đến gia đình kia, hỏi:

- Này hiền sĩ, đã chuẩn bị y Ca-hi-na xong chưa?

- Tôi biết rồi.

Sau đó, Tăng đến hỏi Thâu-lan-nan-đà, thì cô đáp: "Tôi biết rồi". Cứ như thế cho đến khi thời gian của y đã trôi qua (mà không có y). Các Tỉ-kheo-ni bèn trình bày việc này với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Vì sao ngươi đến nhà người không thể sắm y để xin y Ca-hi-na cho Tăng? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni đến nhà người không thể cúng y để xin y Ca-hi-na cho Tăng thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Không có niềm tin: Không có khả năng cho, rất ít hy vọng.

Y: Như y Khâm-bà-la, y Chiên, cho đến y Khu-mâu-đề.

Xin: Xin y Ca-hi-na cho Tăng. Nhưng nếu quá thời gian của y mà không xin được thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni đi xin y Ca-hi-na cho Tăng thì nên đi xin với tấm lòng nhiệt thành, nhưng không nên đến xin những nhà không có niềm tin, mà nên đến những nhà có niềm tin và nhiều bà con mà xin. Nếu người đó nói: "Tôi tự biết", thì phải hỏi lại: "Bà có định cho không? Chớ nên để quá thời gian của y". Ðồng thời cũng phải xem xét người ấy, nếu thấy (529c) họ không có khả năng sắm được thì nên đi xin chỗ khác. Hơn nữa, cũng phải tự lượng sức mình, nếu không thể làm được thì không nên hứa đi xin cho Tăng. Nếu đã hứa xin y cho Tăng, mà không siêng năng đi xin, không nhờ người khác xin, cũng không nói cho Tăng biết, để quá thời gian của y, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Nếu Tỉ-kheo đến gia đình không có niềm tin xin y Ca-hi-na cho Tăng thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

77- GIỚI: KHÔNG ÐEM Y THEO BÊN MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni mặc y thượng, hạ đến đảnh lễ chân Thế Tôn, sau đó bị hỏa hoạn cháy mất y. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Vì sao những y phục cần sử dụng mà ngươi không đem theo bên mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép không đem theo bên mình những y phục cần sử dụng.

Lại nữa, bấy giờ có Tỉ-kheo-ni con gái dòng họ Thích và con gái dòng họ Ma-la, trước kia vốn là nhạc sĩ, nay xuất gia khoác y Tăng-già-lê nặng nề trông rất vất vả. Thế rồi, Phật dạy: "Từ nay về sau Ta cho phép khi bệnh thì được châm chước". Ðoạn, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà không đem theo bên mình những y phục cần mặc thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Những y phục cần mặc: Như y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, Tăng-kỳ-chi và y tắm mưa.

Bệnh: Nếu có bệnh mà không đem y theo bên mình thì đức Thế Tôn bảo là không có tội. Nếu không bệnh mà không đem theo thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu lễ tháp, đi kinh hành, ban ngày ngồi thiền trong trú xứ thì - không mang y theo - không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

78- GIỚI: NẤU LẠI ÐỒ ĂN ÐỂ ĂN.

Khi Phật an trú tại thành Tì-xá-li, bấy giờ gia đình Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la thường mang thức ăn đến cho cô. Khi được thức ăn rồi, cô bèn xào nấu biến chế. Các anh em chú bác đến thấy thức ăn bèn hỏi:

- Tôi muốn ăn.

- Ðược thôi.

Thế là họ lấy thức ăn rồi ăn, nhưng nghe có mùi vị khác thường, liền hỏi:

- Ở đâu mà được thức ăn ngon thế này?

- Ðó là thức ăn ở nhà đem đến đấy.

Người nhà bèn nổi giận trách (người làm công): "Nhà ta lâu nay làm thức ăn chỉ uổng phí tiền bạc mà chẳng ngon lành gì!", bèn trở về nhà dùng roi đánh đứa nô tỳ, rồi mắng: "Chỉ mất tiền bạc vô ích mà chẳng được ăn". Thế là kẻ sai đi đưa thức ăn nổi giận, nói: "Tại vì Tỉ-kheo-ni mà ta (530a) bị khổ não như thế này".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép tự nấu nướng pha chế thức ăn.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni vốn là con gái dòng họ Thích và con gái dòng họ Ma-la đi khất thực được cơm nguội, canh nguội và rau để cách đêm, ăn vào liền bị ói mửa. Các Tỉ-kheo-ni nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đi đến bạch với Thế Tôn rằng:

- Bạch Thế Tôn, có cho phép chúng con được hâm nóng thức ăn không?

- Ðược.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Tỳ-xá-li phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà được các thức ăn như Khư-đà-ni, Bồ-xà-ni, rồi tự mình nấu lại, sai người nấu lại; tự mình chiên lại, sai người chiên lại; tự mình hâm lại, sai người hâm lại để ăn, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Khư-đà-ni: Năm thức ăn Khư-đà-ni.

Bồ-xà-ni: Năm thức ăn Bồ-xà-ni.

Nấu lại: Tự mình nấu lại hoặc sai người nấu lại.

Chiên: Tự mình chiên hoặc sai người chiên.

Hâm: Tự mình hâm hoặc sai người hâm.

Bệnh: Nếu vì già bệnh suy yếu nên ăn đồ ăn nguội lạnh vào bị ói mửa không an lạc (mà hâm lại đồ ăn để ăn) thì Thế Tôn nói là không có tội. Trái lại, nếu Tỉ-kheo-ni không bệnh mà nấu lại đồ ăn để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói Phật không cho phép vì muốn ăn ngon mà chiên lại, hâm lại đồ ăn.Nhưng nếu thức ăn lạnh thì được hâm lại cho nóng, nhưng không được dùng xoong chảo để nấu, mà chỉ nên dùng chén bằng đồng hoặc là tô hoặc là thố để hâm cho nóng.

Nếu Tỉ-kheo vì thích ngon mà tự nấu lại, chiên lại, hâm lại đồ ăn để ăn thì phạm tội Việt-tì-ni. Nhưng nếu bảo tịnh nhân làm thì không có tội. Nếu đi khất thực mà gặp thức ăn lạnh rồi hâm lại cho nóng để ăn thì không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

79- GIỚI: ÐỨNG HẦU TỈ-KHEO THỌ TRAI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai vợ chồng người kia xuất gia theo dòng họ Thích. Trong khi ông chồng già cả đang ăn thì bà vợ Tỉ-kheo-ni đứng bên cạnh rót nước và cầm quạt quạt. Ông chồng già nhắc lại chuyện dĩ vãng. Tỉ-kheo-ni nổi giận liền lấy nước tạt vào mặt, cầm quạt gõ trên đầu, mắng: "Ông là kẻ không biết ân nghĩa, chuyện dĩ vãng không nên nói mà đem nói". Tỉ-kheo-ni khác thấy thế bèn khuyên:

- Này Thánh giả, vị này là bậc đáng tôn trọng, không được làm như thế.

- Ông già ấy là kẻ bất thiện, không biết ân nghĩa, chuyện dĩ vãng không nên nói mà nay đem ra nói.

Các Tỉ-kheo-ni nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo (530b) gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Vì sao trong lúc Tỷ-kheo ăn mà ngươi hầu nước và quạt? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu trong khi Tỳ-kheo đang ăn mà Tỉ-kheo-ni hầu nước và quạt thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Tỳ-kheo đang ăn: Gồm 5thức ăn chính và 5 thức ăn phụ.

Hầu nước và quạt: Xách bình nước, rót nước, cầm quạt mà quạt, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni xách bình nước mà không cầm quạt thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu cầm quạt mà không xách bình nước cũng phạm tội Việt-tì-ni. Nếu làm cả hai việc thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu không cầm cả hai thì không có tội. Tội này cấu thành trong trường hợp chỉ có một tỉ-kheo và một Tỉ-kheo-ni. Nếu có nhiều Tỉ-kheo thì hầu nước, quạt không có tội. Hoặc là trong chúng có cha, anh thì dùng quạt quạt không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

80- GIỚI: ĂN TỎI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một thương gia chuyên nghề trồng tỏi mời Tỉ-kheo-ni tăng cúng dường tỏi. Thế rồi, nhóm sáu Tỉ-kheo-ni đến vườn ăn tỏi, dẫm đạp bừa bãi; khi thương nhân đến vườn thăm, thấy tỏi bị tơi tả liền hỏi người làm vườn:

- Vì sao mà tỏi bị tơi tả thế này?

- Trước đây có mời Tỉ-kheo-ni đến cúng dường tỏi nên họ vào vườn lấy ăn hoặc mang đi mà dẫm đạp như vậy.

Thương nhân nghe thế bèn chê trách: "Ta mời đến cúng dường tỏi thì chỉ nên ăn mà thôi, vì sao lại đem đi và dẫm đạp như vậy?"

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Cho đến Tỉ-kheo-ni đáp: "Có thật như vậy". Rồi Phật khiển trách:- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn tỏi. (cho đến) Dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni ăn tỏi thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỏi: Gồm có loại tỏi trồng và tỏi trên núi, đại loại các thứ tỏi như vậy đều không được phép ăn; loại chín hay loại sống đều không cho phép ăn ; loại nấu lại, loại được đốt thành tro cũng không cho phép ăn. Nhưng nếu thân thể có ghẻ thì cho phép dùng tỏi thoa. Và khi thoa thì phải ở chỗ vắng đến lúc ghẻ lành, phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới được vào trong chúng. Thế nên, đức Thế Tôn nói (như trên).

Kệ tóm tắt:

"Y khác, y ngoại đạo, 
Kì-chi, An-đà-hội.
Y tắm, Ca-hi-na.
Y dùng không đem theo.
Nấu lại, hầu quạt nước, 
Ăn tỏi, hết phần tám".

81- GIỚI: ÐEM THỨC ĂN CHO NGƯỜI THẾ TỤC.

(530c) Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy người chị của Lại-tra-ba-la qua đời, cô bèn đi xin các thức ẩm thực cho đứa con của bà chị. Vì vậy bị người đời chê cười rằng: "Vì sao Sa-môn ni nhận thức ăn của người có niềm tin cúng dường rồi đem cho người thế tục?"

Cac Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy bạch đầy đủ lên đức Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Từ nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho thức ăn cho người thế tục.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy ngoại đạo Kiệt-trụ đến chỗ mẹ. Người mẹ thấy ông đến, liền lấy bát múc đầy các thức ăn đưa cho ông. Người con được thức ăn rồi bèn đem vào trong quán rượu ngồi ăn, đồng thời cho người khác ăn. Có người hỏi:

- Ông được thức ăn ngon này ở đâu vậy?

- Ông im đi. Người đời xem Sa-môn ni là phước điền, Sa-môn ni lại coi ta là phước điền.

Do thế bị người đời chê cười rằng: "Vì sao Sa-môn ni lại dùng thức ăn của thí chủ cúng cho mình đem cho kẻ không tăng trưởng phước đức?"

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni kia đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Vì sao tự tay ngươi cho thức ăn cho ngoại đạo? Từ nay về sau, Ta không cho phép tự tay cho thức ăn cho ngoại đạo.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni tự tay cho thức ăn cho người thế tục, ngoại đạo thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

(Một số từ ngữ ở trên đã giải thích).

Nếu Tỉ-kheo-ni có thân nhân đến chơi, mình muốn cho thức ăn cho họ thì không được tự tay đưa cho, mà phải bảo tịnh nhân nữ cho. Nếu không có tịnh nhân nữ thì nên bảo: "Nên tự tay lấy thức ăn trong đó mà ăn". Nếu sợ họ lấy nhiều thì nên bảo: "Lấy chừng ấy thức ăn đưa đây, còn bao nhiêu đem cất". Khi mình nhận thức ăn rồi, nên để dưới đất, bảo họ tự lấy. Nếu ngoại đạo đến thì không được tự tay cho thức ăn mà phải bảo tịnh nhân nữ cho họ. Nếu không có tịnh nhân nữ thì nên nói: "Hãy tự lấy thức ăn trong đó mà ăn". Nếu sợ họ lấy nhiều thì nên bảo: "Lấy chừng ấy thức ăn đưa đây, còn bao nhiêu đem cất". Rồi mình tự tay để thức ăn dưới đất cho họ. Nếu người bà con mình trách rằng: "Ngươi dùng lối Chiên-đà-la để đối xử với ta sao?" thì nên nói: "Ông đã xuất gia (531a) vào chỗ không tốt. Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép tôi cho thức ăn. Phật cũng dạy: "Ðược sai ngoại đạo nấu thức ăn rồi bảo họ: "Ngươi đưa cho ta còn bao nhiêu thì hãy ăn". Ðó là những gì mà đức Thế Tôn đã dạy".

82- GIỚI: LÀM THẦY THUỐC ÐỂ SINH SỐNG.

Khi Phật an trú tại Câu-diệm-di, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni mẹ của Xiển-đà chữa bệnh rất giỏi, thường đem theo rễ, lá, quả cây thuốc vào các nhà hoàng tộc, đại thần, cư sĩ trị bệnh cho các thai phụ. Cô chữa bệnh mắt, thổ tả, xông đầu, nhỏ thuốc mũi, dùng kim lể, rồi bôi thuốc vào. Do chữa bệnh nên cô được cúng dường rất nồng hậu. Các Tỉ-kheo-ni bèn khiển trách cô:

- Ðó không phải là phép tắc xuất gia mà là nghề làm thầy thuốc. 

Thế rồi, họ trình bày việc đó với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

- Ðó là việc xấu. Từ nay về sau ta không cho phép làm nghề thầy thuốc để nuôi sống.

Ðoạn Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Câu-diệm-di phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại.

-- Nếu Tỉ-kheo-ni làm nghề thầy thuốc để nuôi sống thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Thầy thuốc: Người dùng rễ, lá, trái cây thuốc để chữa bệnh. Lại có thầy thuốc chú nguyện thuốc độc, chú nguyện rắn, cho đến chú nguyện lửa, chú nguyện tinh tú, mặt trời, mặt trăng. Nếu ai dùng những phương pháp ấy để nuôi sống như mẹ của Xiển-đà thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni không được làm nghề thầy thuốc để sinh sống. Nếu mình bị bệnh thì được bảo người khác dùng phương thuốc để chữa trị. 

Nếu Tỉ-kheo làm nghề thầy thuốc để sinh sống thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên, đức Thế Tôn nói (như trên).

83- GIỚI: TRAO TOA THUỐC CHO NGƯỜI THẾ TỤC VÀ NGOẠI ÐẠO.

Khi Phật an trú tại Câu-diệm-di, sau khi ngài chế giới không cho làm nghề thầy thuốc để nuôi sống, thì có người mời mẹ của Xiển-đà chữa bệnh, Tỉ-kheo-ni liền nói: "Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép chữa bệnh". Họ lại nói: "Nếu không cho chữa bệnh thì xin cho tôi toa thuốc". Thế là cô bèn đưa toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo. các Tỉ-kheo-ni liền nói: "Chỉ lo nghiền ngẫm các phương thuốc, thì không phải là phép tắc xuất gia".

Thế rồi, họ trình bày với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật bèn hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.

Từ nay về sau, Ta không cho phép trao toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại Câu-diệm-di phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni trao cho người thế tục và ngoại đạo toa thuốc, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như trên đã nói.

Người thế tục: Người tại gia.

Ngoại đạo: Chỉ hàng ngoại đạo xuất gia.

(531b) Trao toa thuốc: Nếu như chú nguyện rắn, chú nguyện thuốc độc, cho đến chú nguyện lửa, chú nguyện tinh tú, mặt trời, mặt trăng, thì phạm tội Ba-dạ-đề.

Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.

Tỉ-kheo-ni không được trao toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo, cũng không được chỉ vẽ phương thuốc cho họ.

Nếu Tỉ-kheo trao toa thuốc cho người thế tục và ngoại đạo thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

Xem Tiếp 38B

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Tvhs

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap