| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
12-
GIỚI: KHUYÊN NGƯỜI LÀM ÐIỀU PHI PHÁP. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy đức Thế Tôn chế
giới không cho Tỉ-kheo-ni nhận y, bát, thức ăn uống, thuốc
trị bệnh của đàn ông có tâm nhiễm ô, nên Tỉ-kheo-ni Thọ-Ðề
không nhận y bố thí của trưởng giả. Thế rồi, Tỉ-kheo-ni
Thân-lan-nan-đà hỏi Thọ-Ðề rằng: "Vì sao cô không lấy
vật bố thí của người đàn ông này? Người đàn ông có
tâm ô nhiễm hay không đâu có liên quan gì đến việc của
cô, miễn là tâm cô không ô nhiễm thì có thể lấy rồi tùy
nghi sử dụng". Các
Tỉ-kheo-ni bèn khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Cô đừng nói
như sau: Ðàn ông có tâm ô nhiễm hay không đâu có liên quan
gì đến việc của cô, miễn là tâm cô không ô nhiễm, thì
có thể lấy rồi tùy nghi sử dụng". Họ khuyên can như vậy
đến lần thứ hai, thứ ba mà cô vẫn không bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy trình bày với Ðại Ái Ðạo.
Ðại Ái Ðạo lại đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc phi pháp. Vì sao ngươi bảo người kia nhận vật
bố thí của người có tâm ô nhiễm? Ðó là việc phi pháp,
phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để
nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Vương Xá phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Tỉ-kheo-ni khác rằng: "(521c) Nên nhận
vật bố thí của người đàn ông này dù họ có tâm ô nhiễm
hay không thì đâu có liên quan gì đến việc của cô, miễn
là tâm cô không ô nhiễm thì nên lấy rồi tùy nghi sử dụng",
thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên can
Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Cô đừng nói như sau: Nên nhận
vật bố thí ấy, dù người đàn ông ấy có tâm ô nhiễm
hay không thì có liên quan gì đến việc của cô, miễn là
tâm cô không ô nhiễm thì nên lấy rồi tùy nghi sử dụng".
Sau khi khuyên can như vậy đến lần thứ hai, thứ ba, nếu
bỏ việc ấy thì tốt, nếu không bỏ thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni
nói lời ấy:
Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà. Nhận
vật bố thí:
Như Tỉ-kheo-ni Thọ Ðề. Khi
các Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy bỏ việc đó, mà nếu
như không bỏ, rồi được khuyên can qua ba giai đoạn, thì
phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 13-
GIỚI: VÔ CỚ HỦY BÁNG TĂNG. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, có kẻ hỗ trợ người phá
Tăng như trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Thế nên đức
Thế Tôn nói: "Nếu Tỉ-kheo-ni muốn phá sự hòa hợp của
Tăng nên tìm phương tiện kiên trì phá công việc của Tăng
gây nên tranh cãi, thì các Tỉ-kheo-ni nên nói với Tỉ-kheo-ni
ấy như sau: "Thưa thánh giả! Người đừng phá sự hòa hợp
của Tăng, tìm phương tiện kiên trì phá công việc của Tăng,
gây nên tranh cãi, mà nên hòa đồng với Tăng. Vì sao vậy?
Vì Tăng có hòa hợp, hoan hỉ, không tranh cãi, cùng học một
giới pháp, như nước hòa với sữa, nói năng đúng pháp thì
mới sống an lạc". Nếu
Tỉ-kheo-ni ấy được các Tỉ-kheo-ni khác khuyên can mà vẫn
kiên trì không bỏ, thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ
ba. Sau ba lần khuyên can, nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ
rồi được khuyên can qua ba giai đoạn, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
khi các Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni phá Tăng ấy mà có
các Tỉ-kheo-ni đồng ý tương trợ hoặc một, hoặc hai, hoặc
nhiều người cùng nói, cùng ý kiến phản đối rằng: "Thưa
thánh giả, xin người đừng nói Tỉ-kheo-ni ấy tốt hay xấu.
Vì sao thế? Vì Tỉ-kheo-ni ấy nói đúng pháp, nói đúng luật.
Ðiều gì Tỉ-kheo-ni ấy nói ra chúng tôi đều hài lòng. Những
kiến giải của Tỉ-kheo-ni ấy là có thể chấp nhận được.
Chúng tôi cũng đều có thể chấp nhận. Tỉ-kheo-ni ấy biết
mới nói, chứ không phải không biết mà nói", thì các Tỉ-kheo-ni
nên khuyên can vị Tỉ-kheo-ni đồng ý ấy rằng: "Này thánh
giả, ngươi đừng bảo rằng vị Tỉ-kheo-ni kia nói đúng pháp,
nói đúng luật. Vì sao thế? Vì đó là Tỉ-kheo-ni nói phi pháp,
nói phi luật. Này thánh giả, người đừng hỗ trợ việc
phá Tăng, mà nên vui vẻ hỗ trợ việc Tăng hòa hợp. Vì sao
thế? Vì Tăng có hòa hợp, vui vẻ, không tranh cãi, cùng học
một giới pháp, như nước hòa với sữa, nói năng đúng pháp
thì mới sống an lạc". Khi
các Tỉ-kheo-ni khuyên can vị Tỉ-kheo-ni ấy (522a) mà vị ấy
vẫn kiên trì không bỏ thì nên khuyên can đến lần thứ hai,
thứ ba. Nếu bỏ việc ấy thì tốt, nếu không bỏ mà được
tiếp tục khuyên can qua ba giai đoạn thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
có việc tranh cãi, Tăng làm yết-ma cử tội cô đúng pháp,
đúng luật. Nhưng khi làm yết-ma xong, cô nổi giận, vô lý
hủy báng Tăng như sau: "Các thánh giả Tăng tùy ái, tùy sân,
tùy sợ, tùy si; Tăng vì ái, vì sân, vì sợ, vì si mà khiển
trách. Ðó là việc xử đoán phi pháp". Các
Tỉ-kheo-ni bèn khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh giả!
Người đừng có vô lý hủy báng Tăng. Tăng không tùy ái,
tùy sân, tùy sợ và tùy si; Tăng không vì ái, vì sân, vì sợ,
vì si mà xử đoán phi pháp". Họ khuyên can như vậy đến lần
thứ hai, thứ ba mà cô ta vẫn không bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo lại đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Ngươi hãy đến khuyên can ở chỗ vắng ba lần khuyên can
ở chỗ nhiều người ba lần, khuyên can ở giữa chúng Tăng
ba lần cho bỏ việc ấy. Khi khuyên can ở chỗ vắng nên hỏi:
"Có thật cô nổi sân vô lý hủy báng Tăng rằng: Tăng tùy
ái, tùy sân, tùy sợ và tùy si; Tăng vì ái, vì sân, vì sợ
và vì si chăng?". Nếu đáp: "Ðúng như vậy", thì nên khuyên
can ở chỗ vắng như sau: "Cô đừng có nổi sân vô lý hủy
báng Tăng, vì Tăng không tùy ái, tùy sân, tùy sợ và tùy si;
Tăng cũng không vì ái, vì sân, vì sợ, vì si mà xử đoán
phi lý. Nay tôi vì lòng từ khuyên can cô là muốn cho cô được
lợi ích, một lần khuyên can đã xong còn hai lần khuyên can
nữa, vậy cô có bỏ việc đó không?". Nếu đáp: "Không bỏ",
thì tiếp tục khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba cũng như
vậy. Ðồng thời khuyên can ở chỗ nhiều người cũng như
vậy. Thế
rồi đến giữa Tăng làm pháp yết-ma cầu thính: -
Xin các thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
nổi sân vô lý hủy báng Tăng rằng: "Tăng tùy ái, tùy sân,
tùy sợ và tùy si; Tăng vì ái, vì sân, vì sợ và vì si". Tăng
đã khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều
người ba lần để cho bỏ việc ấy mà cô không bỏ. Nếu
thời gian của Tăng đã đến, nay Tăng cũng khuyên can ba lần. Thế
rồi, nên hỏi ở giữa Tăng: "Có thật cô nổi sân vô lý
hủy báng Tăng rằng: "Tăng tùy ái, tùy sân, tùy sợ và tùy
si, cho đến nói: "Ðó là việc xử đoán phi pháp", rồi được
Tăng khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người
ba lần mà vẫn không bỏ phải không?". Nếu đáp: "Ðúng như
vậy", thì nên khuyên can ở giữa Tăng như sau: "Cô chớ có
nổi sân vô lý phỉ báng Tăng, vì Tăng không tùy ái, tùy sân,
tùy sợ và tùy si, cho đến phi lý xử đoán. Nay Tăng vì lòng
từ muốn cho cô được lợi ích, cô nên nghe lời Tăng. Một
lần khuyên can đã xong, còn
hai lần khuyên can nữa, cô có bỏ việc đó không?" Nhưng
cô đáp: "Không bỏ". Thế rồi, Tăng khuyên can đến lần thứ
hai, thứ ba (522b) cô vẫn không bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
hỏi lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Này Thâu-lan-nan-đà, đó là việc phi pháp. Ngươi không từng
nghe Ta dùng vô lượng phương tiện quở trách tính bướng
bỉnh, khen ngợi sự nhu nhuyến hay sao? Vì sao ngươi lại bướng
bỉnh? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không
thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nổi sân vô lý hủy báng Tăng như sau: "Tăng
tùy ái, tùy sân, tùy sợ và tùy si; Tăng vì ái, vì sân, vì
sợ và si. Cho nên quở trách", thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên
can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh giả, người chớ có nói
rằng Tăng tùy ái, tùy sân, tùy sợ và tùy si; Tăng vì ái,
sân, sợ và si. Vì sao thế? Vì Tăng không tùy ái, sân, sợ
và si. Người đừng nổi giận vô lý hủy báng Tăng". Khi các
Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy mà Tỉ-kheo-ni ấy vẫn
kiên trì không bỏ thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ
ba. Nếu bỏ thì tốt, nếu không bỏ, rồi được tiếp tục
khuyên can hết ba giai đoạn thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nổi sân vô lý hủy báng Tăng. Khuyên
can ở chỗ vắng ba lần mà không bỏ:
Cứ mỗi lần khuyên can phạm một tội Việt tì-ni, khuyên
can ở chỗ nhiều người cũng vậy. Trong
trường hợp khuyên can ở giữa chúng Tăng thì lần thứ nhất
bắt đầu khuyên can phạm tội Việt tì-ni, khuyên can xong phạm
tội Thâu-lan-giá. Lần thứ hai bắt đầu khuyên can cũng phạm
tội Việt tì-ni, khuyên can xong phạm tội Thâu-lan-giá. Lần
thứ ba bắt đầu khuyên can phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên
can xong phạm tội
Tăng-già-bà-thi-sa. Tội Tăng-già-bà-thi-sa
được hình thành do ba giai đoạn khuyên can ở chỗ vắng,
ở chỗ nhiều người, ở giữa chúng Tăng gồm tất cả các
tội Việt tì-ni, Thâu-lan-giá - trừ tám tội Thâu-lan-giá hủy
báng Tăng - họp các tội này thành một tội Tăng-già-bà-thi-sa
để mà trị phạt. Nếu nửa chừng mà đình chỉ thì tùy
theo đình chỉ ở chỗ nào trị phạt theo mức độ đó. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). 14-
GIỚI: BAO CHE LỖI LẦM CHO NHAU. Khi
Phật an trú tại Câu-diệm-di, Tỉ-kheo-ni mẹ của Xiển-đà
được các Tỉ-kheo-ni căn cứ theo pháp, theo luật dạy bảo
cô phải học tập chớ có phạm tội, thì cô tự làm cho mình
trở thành người không ai nói chuyện được, như trong câu
chuyện Xiển-đà bướng bỉnh đã nói rõ. Cho đến: Nếu Tỉ-kheo-ni
nói bướng bỉnh, rồi được các Tỉ-kheo-ni khác căn cứ
theo pháp, theo luật chỉ bảo, mà nói một cách ngoan cố rằng:
"Ngươi đừng nói ta tốt hay xấu. Ta cũng không nói ngươi
tốt hay xấu", thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên can Tỉ-kheo-ni
ấy như sau: "(522c) Này thánh giả! Các Tỉ-kheo-ni sống chung
trong chánh pháp, căn cứ theo pháp, theo luật chỉ bảo cô thì
cô đừng có bướng bỉnh mà phải vâng lời. Ðồng thời,
cô cũng nên căn cứ theo pháp, theo luật mà chỉ bảo các Tỉ-kheo
khác. Vì sao thế? Vì trong hàng đệ tử của đức Như Lai
có chỉ bảo lẫn nhau, khuyên can lẫn nhau, cùng xuất tội
cho nhau, thì thiện pháp mới tăng trưởng". Khi
các Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy mà Tỉ-kheo-ni ấy kiên
trì không bỏ thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba.
Nếu bỏ việc ấy thì tốt, nếu không bỏ rồi được khuyên
can hết ba giai đoạn thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, như
trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có hai Tỉ-kheo-ni, người
thứ nhất tên Chân-đàn là con gái của nhà họ Thích, người
thứ hai tên Uất-đa-la, hai người thân thường thân cận,
miệng thường thân cận, thân miệng thường thân cận và
thường che giấu lỗi lầm cho nhau. Thân
thường thân cận: Cùng ngủ một giường, cùng ngồi một
giường, cùng ăn một bát, cùng mặc chung y phục và cùng đi
cùng về. Miệng
thường thân cận: Nói những lời với tâm ô nhiễm, cùng
che giấu tội cho nhau. Người này phạm tội thì người kia
che giấu, người kia phạm tội thì người này che giấu. Thân
miệng thường thân cận: Gồm đủ cả hai việc thân và miệng. Tỉ-kheo-ni
khuyên can họ rằng: "Này thánh giả, người đừng có thân
thường thân cận, miệng thường thân cận, thân miệng thường
thân cận, đừng có che giấu lỗi lầm cho nhau. Vì sao vậy?
Vì làm như thế thì thiện pháp không sinh". Họ khuyên một
lần, hai lần, ba lần nhưng hai cô kia vẫn không từ bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại
đem đến trình bày với Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi họ tới rồi, Phật hỏi: -
Các ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao các ngươi lại dùng thân miệng thân
cận, cùng che giấu tội lỗi cho nhau? Ðó là việc phi pháp,
phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để
nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu hai Tỉ-kheo-ni sống thân cận, che giấu tội cho nhau thì
các Tỉ-kheo-ni nên khuyên can họ rằng: "Này các thánh giả,
các vị chớ có sống thân cận, che giấu tội cho nhau. Vì
sống thân cận thì thiện pháp không sinh". Nếu
các Tỉ-kheo-ni khuyên can hai Tỉ-kheo-ni ấy như vậy mà họ
vẫn kiên trì không bỏ, thì nên khuyên đến lần thứ hai,
thứ ba. Nếu họ bỏ việc đó thì tốt, nếu như không bỏ,
rồi được tiếp tục khuyên can hết ba giai đoạn, thì phạm
tội Tăng-già-bà-thi-sa. 15-
GIỚI: KHUYÊN NGƯỜI SỐNG QUAN HỆ MẬT THIẾT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Thế Tôn chế giới không
cho sống thân cận nhau thì hai Tỉ-kheo-ni Chân-đàn con gái
nhà họ Thích và Uất-đa-la mỗi người ở một chỗ. (523a)
Bấy giờ, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà bèn khuyên họ: "Này thánh
giả, người cứ việc sống thân cận, che giấu tội cho nhau,
đừng sống xa cách; vì sống như thế không phương hại gì
đến việc sinh thiện pháp. Những người khác cũng sống thân
cận như vậy mà Tăng không thể ngăn cản, nhưng vì Tăng khinh
thường cô nên mới cấm chế như vậy". Các
Tỉ-kheo-ni bèn khuyên can Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà: "Này thánh
giả, cô đừng nói như sau: Cứ việc sống thân cận, che giấu
tội cho nhau, đừng sống xa cách; vì làm như vậy không phương
hại gì đến việc tăng trưởng thiện pháp. Vì Tăng khinh
thường cô nên mới cấm chế". Các
Tỉ-kheo-ni khuyên can Thâu-lan-nan-đà một lần, hai lần, ba
lần như vậy mà cô vẫn không bỏ. Do thế, họ nói với Ðại
Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc ấy đến bạch lên
Thế Tôn. Phật liền dạy: "Hai Tỉ-kheo-ni Chân-đàn con nhà
họ Thích và Uất-đa-la sống xa nhau mà Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
khuyên họ sống gần nhau, bảo rằng sống như vậy không phương
hại gì đến việc tăng trưởng thiện pháp, thì nên khuyên
cô ấy ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần
và ở giữa chúng Tăng ba lần cho bỏ việc ấy. Khi khuyên
can ở chỗ vắng, nên nói như sau: "Này Thâu-lan-nan-đà, cô
khuyên Tỉ-kheo-ni Chân-đàn và Uất-đa-la rằng: "Cứ việc
sống thân cận, che giấu tội cho nhau, đừng sống xa cách;
vì làm như vậy không phương hại gì đến việc tăng trưởng
thiện pháp. Những người khác cũng sống thân cận như vậy
mà Tăng không thể ngăn cản được, vì Tăng khinh thường
hai cô nên mới cấm chế", có phải thế không?" Nếu
đáp: "Ðúng như vậy", thì nên khuyên can:
"Cô chớ nên nói rằng: "Hãy sống thân cận, che giấu tội
cho nhau, đừng sống xa nhau; vì làm như vậy không phương hại
gì đến việc tăng trưởng thiện pháp. Những người khác
cũng sống thân cận như vậy mà Tăng không thể ngăn cản
được họ. Nhưng vì Tăng khinh thường các cô nên mới cấm
chế". Nay tôi vì lòng từ muốn được lợi ích nên khuyên
can cô. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can
nữa, cô có bỏ việc đó không?".
Nếu đáp: "Không bỏ", thì nên khuyên can tiếp lần thứ
hai, thứ ba, rồi ở chỗ nhiều người cũng khuyên can như
vậy. Nếu như không bỏ thì đến giữa Tăng làm yết-ma cầu
thính, nói như sau: -
Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà khuyên
Tỉ-kheo-ni Chân-đàn con gái nhà họ Thích và Tỉ-kheo-ni Uất-đa-la
rằng: "Cứ việc sống thân cận, che giấu tội cho nhau, vì
làm như vậy không phương hại gì đến việc tăng trưởng
thiện pháp", rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở
chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của
Tăng đã đến, nay Tăng cũng khuyên can ba lần cho bỏ việc
ấy. Thế
rồi, nên hỏi Thâu-lan-nan-đà ở giữa Tăng:
"Có thật cô khuyên hai người kia hãy sống thân cận, rồi
được Tăng khuyên cô rằng: "Nay Tăng vì lòng từ nên khuyên
cô, vì muốn cô được lợi ích. Một lần khuyên can đã xong,
còn hai lần khuyên nữa, cô có bỏ việc đó không?" nhưng
cô vẫn đáp: "Không bỏ", rồi được khuyên đến lần thứ
hai, thứ ba, cô vẫn không bỏ phải không?" Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật
hỏi: -
(523b) Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni thấy Tỉ-kheo-ni khác sống xa nhau mà khuyên
can rằng: "Hãy sống gần nhau, cùng che giấu tội cho nhau, đừng
sống xa nhau; vì làm như vậy không phương hại gì đến việc
tăng trưởng thiện pháp. Những người khác cũng sống gần
nhau như vậy mà Tăng không thể ngăn cản; vì Tăng khinh thường
các vị nên mới cấm chế", thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên
Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh giả, mỗ giáp, mỗ giáp sống
xa nhau, cô đừng khuyên bảo họ sống gần nhau, cùng giấu
tội cho nhau; sống gần nhau không phương hại gì đến việc
tăng trưởng thiện pháp. Những người khác cũng sống gần
nhau mà Tăng không thể ngăn cản, vì Tăng khinh thường các
vị nên mới cấm chế các vị như vậy". Khi
các Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy mà cô vẫn kiên trì
không bỏ, thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu
bỏ thì tốt, nếu không bỏ, rồi được khuyên can hết ba
giai đoạn thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Ở
cách xa nhau:
Như Chân-đàn con gái nhà họ Thích và Tỉ-kheo-ni Uất-đa-la. Khuyên:
Như Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà (khuyên hai người kia). Sống
thân cận:
Như thân sống thân cận, miệng thân cận, thân miệng thân
cận. Che
giấu: Khi
thân miệng người này có lỗi thì người kia che giấu, khi
thân miệng người kia có lỗi thì người này che giấu. Tỉ-kheo-ni
ấy: Như Tỉ-kheo-ni
Thâu-lan-nan-đà. Các
Tỉ-kheo-ni:
Như Tăng, nhiều người hoặc một người. Ba
lần khuyên can:
Ba lần khuyên can ở chỗ vắng, ba lần khuyên can ở chỗ nhiều
người và ba lần khuyên can ở giữa chúng Tăng. Khi khuyên
can ở chỗ vắng nên hỏi: "Có thật cô khuyên Tỉ-kheo-ni mỗ
giáp, mỗ giáp chớ có sống xa nhau hay không?". Nếu đáp: "Có
thật như vậy", thì nên khuyên can: "Này thánh giả, cô đừng
làm như vậy. Mỗ giáp, mỗ giáp sống xa nhau, cô đừng bảo
họ sống gần nhau". Nếu khuyên can một lần không bỏ, rồi
khuyên can lần thứ hai, thứ ba cũng không bỏ, thì phải khuyên
can ở chỗ nhiều người cũng như vậy. Cuối cùng, khuyên
can ở giữa chúng Tăng ba lần. Nếu sau ba lần khuyên can mà
không bỏ thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo-ni được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, thì cứ
mỗi lần khuyên can phạm một tội Việt tì-ni. Khi khuyên can
ở chỗ nhiều người, thì mỗi lần khuyên can cũng phạm một
tội Việt tì-ni. Khi khuyên ở giữa Tăng thì lần thứ nhất
bắt đầu khuyên can phạm tội Việt tì-ni; khuyên can xong,
phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ hai bắt đầu khuyên can phạm
tội Việt tì-ni, khuyên can xong, phạm tội Thâu-lan-giá; lần
thứ ba bắt đầu khuyên can phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên
can xong phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tội Tăng-già-bà-thi-sa
được hình thành sau khi khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều
người và ở giữa chúng Tăng, gồm tất cả các tội Việt
tì-ni, Thâu-lan-giá hợp thành một tội (523c) Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu giữa chừng mà đình chỉ thì tùy theo sự đình chỉ
ở chỗ nào trị tội ở khoản đó. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, dưới cây Ni-câu-luật,
ở Ca-duy-la-vệ, lúc ấy hai mẹ con của người họ Thích đều
xuất gia. Người mẹ xuất gia trong hàng ngũ ngoại đạo nói
với con gái: -
Nay mẹ con ta vì sao sống mà xa lìa nhau? Con nên đến đây
sống với ta. -
Con không thể vô cớ mà đến đây, phải đợi có nguyên nhân
gì mới đến được. Thế
rồi, cô ta trở về tỏ ra giận dữ gây lộn với Tỉ-kheo-ni
khác, nói: "Nay tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, bỏ thuyết
giới, bỏ sống chung, ăn chung, bỏ kinh luận. Tôi không phải
là Tỉ-kheo-ni, không phải là dòng họ Thích. Trong hàng ngũ
ngoại đạo cũng có pháp thù thắng, có chỗ tu phạm hạnh.
Tôi làm Sa-môn ni theo dòng họ Thích để làm gì? Tôi sẽ đến
chỗ ngoại đạo tu phạm hạnh". Các
Tỉ-kheo-ni bèn khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh giả,
chớ có bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, chớ bỏ dòng họ Thích.
Bỏ Phật là điều không tốt, thậm chí bỏ dòng họ Thích
cũng là điều không tốt". Họ khuyên can lần thứ nhất, cô
không bỏ, khuyên can lần thứ hai cho đến lần thứ ba, cô
cũng không bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: "Trước hết ngươi hãy đến chỗ vắng khuyên can ba
lần, rồi đến chỗ nhiều người khuyên can ba lần, đến
giữa chúng Tăng khuyên can ba lần cho
bỏ việc đó. Khi khuyên can ở chỗ vắng nên hỏi: "Có
thật cô nổi giận nói rằng tôi bỏ giới, bỏ Phật, thậm
chí... nói: "Làm Sa-môn ni dòng họ Thích để làm gì? Tôi sẽ
đến chỗ tối thắng khác để tu phạm hạnh", đúng thế
không?" Nếu đáp: "Có thật như vậy", thì nên khuyên can: "Cô
chớ có bỏ giới, bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, thậm chí
bỏ Sa-môn ni dòng họ Thích. Vì bỏ Phật là điều không tốt,
bỏ Sa-môn ni dòng họ Thích cũng là điều không tốt. Nay tôi
vì lòng từ muốn cô được lợi ích nên khuyên can. Một lần
khuyên can đã xong, còn hai
lần khuyên can nữa, vậy cô có bỏ việc ấy không?"
Nếu đáp: "Không bỏ", thì nên khuyên can đến lần thứ hai,
thứ ba cũng như vậy; rồi ở chỗ nhiều người cũng khuyên
can như vậy. Nếu không bỏ thì hãy đến giữa chúng Tăng
làm pháp yết-ma cầu thính, hỏi như trường hợp ở chỗ
vắng. Nhưng cô vẫn nhất quyết không bỏ. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
liền hỏi lại đầy đủ sự việc trên: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu, là điều phi pháp, phi luật, trái lời Ta
dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Ca-duy-la-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nổi sân muốn bỏ (524a) giới, nói như sau:
"Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, bỏ thuyết giới, bỏ sống
chung, ăn chung, bỏ kinh luận, bỏ Sa-môn ni dòng họ Thích,
làm Sa-môn ni dòng họ Thích để làm gì? Nơi khác cũng có
pháp tối thắng. Tôi sẽ đến đó để tu phạm hạnh", thì
các Tỉ-kheo-ni nên khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh
giả, chớ có nổi sân bỏ giới, nói rằng tôi bỏ Phật,
cho đến bỏ Sa-môn ni dòng họ Thích; vì bỏ Phật là điều
không tốt". Khi các Tỉ-kheo-ni khuyên can như vậy mà vẫn kiên
trì không bỏ thì nên khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba.
Nếu bỏ việc đó thì tốt, nếu không bỏ rồi được khuyên
can đủ ba trường hợp thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như người nữ dòng họ Thích muốn bỏ giới, bỏ Phật cho
đến bỏ Sa-môn ni. Chư
Tỉ-kheo-ni:
Một người, nhiều người, Tăng. Ba
lần can gián:
Trường hợp ở chỗ vắng, trường hợp ở chỗ đông người,
chỗ Tăng. Bỏ thì tốt, không bỏ sau ba lần can gián thì phạm
Tăng-già-bà-thi-sa. (Một
số từ ở trên đã giải thích). Khi
khuyên can ở chỗ vắng mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì
cứ mỗi lần khuyên can phạm một tội Việt tì-ni. Khi khuyên
can ở chỗ nhiều người cũng thế. Khi khuyên can ở giữa
chúng Tăng thì lần thứ nhất bắt đầu khuyên can, phạm tội
Việt tì-ni, khuyên can xong, phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ
hai bắt đầu khuyên can cũng phạm tội Việt tì-ni, khuyên
can xong phạm tội Thâu-lan-giá; lần thứ ba bắt đầu khuyên
can phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên can xong phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Tội Tăng-già-bà-thi-sa khởi đầu từ lúc khuyên can ở chỗ
vắng, ở chỗ nhiều người, ở giữa chúng Tăng kết thành
một tội nặng và phải trị phạt theo tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu như nửa chừng mà đình chỉ thì tùy theo đình chỉ ở
chỗ nào trị tội ở khoản đó. Thế nên, đức Thế Tôn
nói (như trên). KẾT
THÚC GIỚI TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA. -
Xin các thánh giả Tăng lắng nghe. Tôi đã thuyết xong 19 pháp
Tăng-già-bà-thi-sa. Mười hai pháp đầu hễ bắt đầu phạm
là thành tội, còn bảy pháp sau phải trải qua ba lần khuyên
can (mà không bỏ mới thành tội). Nếu Tỉ-kheo-ni phạm mỗi
một tội thì phải hành pháp Ma-na-đỏa ở giữa hai bộ chúng
trong nửa tháng. Kế đến, cho xuất tội trước hai bộ chúng,
mỗi bộ hai mươi người, để cho vừa ý mọi người. Nếu
Tăng số hai mươi người mà thiếu một người... thì việc
xuất tội Tỉ-kheo-ni này không thành, mà các Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni
còn đáng khiển trách. Thế nên, khi xuất tội cần phải hỏi:
"Các vị ở trong đây có thanh tịnh không?", lần thứ hai,
thứ ba cũng hỏi: "Các vị ở trong đây có thanh tịnh không?
Các vị ở trong đây thanh tịnh nên im lặng. Tôi ghi nhận
việc này như vậy". Kệ
tóm tắt: "Làm
mai mối, vu khống,
PHẦN
ÐẦU CỦA NI-TÁT-KÌ (giống như Tỉ-kheo) Mười
giới đầu giống như giới của Tỷ kheo. Phần
đầu của 30 việc.
11-
GIỚI: XIN TIỀN MUA GIƯỜNG RỒI MUA THỨ KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
sống trong thôn xóm, đi lạc quyên tiền sắm giường, nệm,
gối, câu chấp cho Tăng, nói với những người phụ nữ rằng:
"Này Ưu-bà-di, các người nên cúng dường giường, nệm, gối,
câu chấp cho Tăng". Lúc ấy, những người phụ nữ vốn có
lòng tin, hoan hỉ liền cúng dường tiền sắm giường, nệm,
gối, câu chấp. Khi được tiền rồi, cô bèn đem mua y, bát,
thức ẩm thực, thuốc men. Lúc Tỉ-kheo-ni tuần tự khất thực
đến gia đình ấy, các người phụ nữ liền hỏi: "Thưa thánh
giả, con cúng dường tiền mua giường, nệm, gối, câu chấp
cho Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà, không biết cô ấy đã sắm
chưa?". Tỉ-kheo-ni nói: "Ðâu có sắm gì đâu! Chỉ thấy mua
y, bát, thức ẩm thực và thuốc men mà thôi!" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật
hỏi: -
Có thật ngươi xin tiền mua giường, nệm, gối, câu chấp
rồi đem mua sắm thứ khác không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Ngươi không từng nghe Ta dùng vô lượng
phương tiện chê trách đa dục, khen ngợi thiểu dục hay sao?
Vì sao ngươi làm việc xấu, bất thiện như thế. Ðây là
điều phi pháp, phi luật, chẳng phải đúng lời Ta dạy, không
thể dùng nó để nuôi lớn thiện pháp. Từ nay về sau, Ta
không cho phép xin tiền mua giường nệm rồi đem sắm thứ
khác. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni xin tiền mua giường nệm mà đem sắm y bát,
thức ẩm thực, thuốc trị bệnh thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Giường
nệm gối câu chấp:
Như trong giới của Tỉ-kheo trên kia đã nói rõ. Xin:
Khuyến hóa cầu xin (Nếu xin mua giường nệm) mà sau đó dùng
mua y bát, thức ẩm thực, thuốc men thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Vật ấy nên đem xả giữa Tăng rồi sám hối tội Ba-dạ-đề.
(524c) Nếu không xả mà sám hối thì phạm tội Việt tì-ni. Ba-dạ-đề:
Như trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Nếu
Tỉ-kheo-ni xin tiền sắm giường nệm mà dùng mua y bát, thức
ăn uống, thuốc men thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Nếu
xin mua thứ này thì không được dùng mua thứ khác. Nếu xin
mua giường mà dùng mua nệm, xin mua nệm mà dùng mua gối, xin
mua gối mà dùng mua câu chấp thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
đi khuyến hóa xin được nhiều tiền mua giường nệm thì
phải mỗi mỗi thứ chỉ cho người ta biết: khoản này là
tiền mua giường, khoản này là tiền mua nệm, khoản này là
tiền mua gối, khoản này là tiền mua câu chấp. Nếu không
làm như vậy thì mỗi khoản phạm mỗi tội Việt tì-ni. Nhưng
được dùng số tiền kể trên để sửa chữa phòng ốc và
mua sắm nồi chảo thì vẫn đúng pháp. Nếu
Tỉ-kheo-ni xin tiền mua giường nệm mà mua sắm các thứ khác
thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng được đem đổi chác dùng
một cách đúng pháp. Thế nên nói (như trên). 12-
GIỚI: TIỀN CÚNG THỨ NÀY ÐEM MUA THỨ KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
mặc y bẩn thỉu, rách rưới đi khất thực có người phụ
nữ thấy thế, nói: "Thưa thánh giả, con xin cúng dường tiền
may y để cô sắm y". Lại có người khác nói: "Con xin cúng
tiền sắm bát để cô mua bát". Khi được tiền rồi, cô chỉ
mua thức ẩm thực dùng hết mà không sắm y bát. Thế rồi,
có Tỉ-kheo-ni đi khất thực, người phụ nữ kia bèn hỏi:
"Trước đây con có cúng tiền sắm y bát không biết Thâu-lan-nan-đà
đã mua chưa?" Ðáp: "Chỉ thấy mua thức ăn, đâu có thấy
mua sắm y bát gì đâu!" Tỉ-kheo-ni
nghe câu chuyện ấy bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
lại đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Ngươi không từng nghe Ta dùng vô lượng
phương tiện khen ngợi thiểu dục, chê trách đa dục hay sao?
Vì sao ngươi được tiền sắm y bát mà lại đem dùng vào
việc khác? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như thế. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni được người ta cúng dường để mua thứ
này mà đem mua thứ khác thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Cúng
dường để mua thứ này:
Cúng dường tiền để mua y bát. Ðem
mua thứ khác:
Mua thức ăn uống, thuốc men. Nếu làm như vậy thì phạm tội
Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Vật ấy phải đem xả giữa Tăng rồi
sám hối tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo-ni được người ta cúng dường tiền mua y, tiền mua
bát, tiền mua dầu sữa thì tiền mua y phải dùng để mua y,
tiền mua bát phải dùng để mua bát, tiền mua sữa phải dùng
để mua sữa, tiền mua dầu phải dùng để mua dầu. Nếu dùng
sắm thứ khác thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Nếu đàn
việt nói tùy ý dùng thì tùy ý dùng không có tội. Nếu (525a)
không có chủ đích trước thì tùy ý mua không có tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni được người ta cúng dường tiền mua y, tiền mua
bát, tiền mua sữa, tiền mua dầu, thì tiền mua y phải dùng
mua y, cho đến tiền mua sữa phải dùng mua sữa. Nếu dùng
mua thứ khác thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu đàn việt cúng
dường tùy ý thì tùy ý mua không có tội. Hoặc không có chủ
đích trước thì tùy ý mua không có tội. Thế nên đức Thế
Tôn nói (như trên). 13-
GIỚI: ÐEM TIỀN MUA THỨC ĂN SẮM Y BÁT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
đi khuyến hóa để mua thức ăn, nói với người phụ nữ:
"Này Ưu-bà-di, tôi muốn sắm thức ăn cho Tăng". Các Ưu-bà-di
có niềm tin hoan hỉ liền cúng dường tiền mua thức ăn, rồi
nói: "Thưa Thánh giả, đến ngày làm thức ăn cho con biết
để con đến nấu nướng". Tỉ-kheo-ni
này được tiền rồi bèn dùng mua thức ăn và sắm y bát cho
mình. Số còn lại đem mua thức ăn thô sơ. Ðến ngày kỳ
hẹn, Ưu-bà-di đến để nấu thức ăn, thấy thế liền hỏi:
"Thưa thánh giả, trước kia con cúng tiền mua thức ăn rất
nhiều vì sao chỉ có thức ăn thô sơ như thế này?". Các Tỉ-kheo-ni
liền nói: "Lấy đâu mà mua thức ăn ngon?
Ðã mua y bát và thức ăn riêng ăn hết cả rồi!". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni xin tiền mua thức ăn (cho Tăng) mà đem sắm
y bát, thức ăn, thuốc men để dùng riêng thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Mua
thức ăn:
Mua thức ăn cho Tăng. Xin:
Ði khuyến hóa cầu xin. Dùng
vào việc khác:
Dùng sắm y bát và thức ăn cho mình. Nếu làm như vậy thì
phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni đi xin tiền mua thức ăn
cho Tăng mà đem mua y bát, thức ăn cho mình thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề.
Phải tùy theo lúc đầu muốn làm việc gì thì phải làm việc
đó. Nếu
dùng tiền sắm thức ăn bữa trước mà mua thức ăn bữa sau,
hoặc dùng tiền sắm thức ăn bữa sau mà mua thức ăn bữa
trước thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
dùng tiền sắm thức ăn mà mua giường nệm (thì phạm tội
Ni-tát-kì-ba-dạ-đề). Nếu
dùng tiền sắm y vào mùa Xuân, Hạ, Ðông, hoặc tiền mua thức
ăn mà mua sắm không xứng đáng với bản tâm của thí chủ
thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
Tỉ-kheo-ni đi khuyến hóa về mua thức ăn cho Tăng thì phải
mua cho hết. Nếu còn thừa thức ăn, dầu sữa, thì phải chỉ
cho đàn việt thấy. Nếu đàn việt mang đi thì nên để yên
cho họ mang đi. Nếu họ nói: "Con xin cúng cho thánh giả", thì
nên bảo: "Nên cúng dường cho Tăng". Nếu họ nói: "Con đã
cúng dường cho Tăng rồi, phần này xin cúng dường cho thánh
giả", thì khi ấy lấy không có tội. Thế nên nói (như trên). (525b)
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo-ni khách
đến, theo thứ tự nhận được phòng. Tỉ-kheo-ni ở trước
vốn là Hạ tọa, nói: "Thưa thánh giả, đợi con di chuyển
bát đã". Ðến sáng hôm sau, vị khách lại hỏi: -
Ðã di chuyển bát xong chưa? -
Con di chuyển chưa xong. -
Cô muốn mang bát đem gởi ở cửa hàng bán đồ gốm sao? Dùng
đến chừng ấy bát để làm gì? Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
lại đem đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi chứa bát dư? Từ nay về sau, Ta không cho phép
chứa bát dư. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni chứa bát dư thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Chứa
bát dư: Bát
gồm có các loại như bát Tung-bà, bát Ô-bà-tung-bà, bát Ưu-cưu-tra-dạ,
bát Bà-kì-dạ, đại loại có các loại bát sắt, bát đất
như thế đó gọi là bát. Có các loại bát thuộc thượng,
trung, hạ, quá bát, giảm bát, tùy bát, nếu cất chứa thì
phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Tỉ-kheo-ni được chứa 16
cái bát (?), một cái để dùng, 3 cái để tịnh thí, 4 quá
bát, 4 giảm bát, 4 tùy bát. Nếu chứa quá số lượng thì
phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni
chứa bát thừa phải có giới hạn nhất định. Nếu Tỉ-kheo
chứa nhiều đem tịnh thí cho mình, thì sử dụng không có
tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên, cho đến
chỗ nói: "Cô muốn mở cửa hàng bán y phục sao?" Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi chứa y dư? Từ nay về sau, Ta không cho phép chứa
y dư. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni chứa y dư thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Y:
Gồm các loại: y Khâm-bà-la, y Chiên, y Kiều-xá-da, y Sô-ma,
y Xá-na, y Ma, y Khu-mâu-đề. Chứa:
Nếu chứa quá giới hạn thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni
được phép chứa 20 y, 5 chiếc để dùng, (525c) còn 15 chiếc
đem tịnh thí rồi sử dụng. Nếu chứa quá số đó thì phạm
tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Nếu Tỉ-kheo có y thừa đem tịnh
thí, thì Tỉ-kheo-ni dùng không có tội. Thế nên đức Thế
Tôn nói (như trên). 16-
GIỚI: GIẬT LẠI Y MÀ MÌNH ÐÃ BỎ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
có chiếc y Tăng-già-lê bị rách, không giặt nhuộm sửa chữa,
đem ném dưới chân tường, rồi tuyên bố rằng: "Ai muốn
lấy thì lấy". Lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Thọ-đề mặc chiếc y
rách, các Tỉ-kheo-ni thấy thế, nói: "Này thánh giả, có thể
lấy chiếc y này đem giặt nhuộm vá lại rồi dùng". Cô bèn
lấy vá lại, giặt nhuộm rồi mặc. Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
thấy thế, nói: "Hãy trả y lại
cho tôi". Thọ-đề bèn phân bua với các Tỉ-kheo-ni: "Hãy
xem kìa, chuyện lạ chưa! Phàm y vật đều không được ném
dưới đất trong chốc lát rồi bỏ đi. Trong phòng của cô
hết chỗ rồi sao?" Thâu-lan-nan-đà bèn giật lại y Tăng-già-lê. Các
Tỉ-kheo-ni thấy thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái
Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo
gọi Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đem vứt y Tăng-già-lê cũ của mình tại trú
xứ rồi tuyên bố: "Ai muốn lấy thì lấy", sau đó (có người
lấy dùng) rồi mình giật lại, thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Trú
xứ: Tức
trong tinh xá. Vứt:
Ném bỏ dưới đất. Nếu có người lấy dùng rồi mình giật
lại thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni vứt bỏ vật gì, rồi có
người lấy dùng thì không được giật lại. Nếu không ai
lấy mà sau đó mình cần, thì lấy không có tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni trong tinh xá đem vứt y bát, giày dép và các vật
lặt vặt khác, có người lấy, rồi sau đó mình giật lại
thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu không ai lấy, sau đó
mình lấy thì không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như
trên). 17-
GIỚI: CÓ Y HƯ KHÔNG VÁ LẠI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo-ni lấy
y Tăng-già-lê dơ bẩn của cô ra chùi, rồi đem phơi nắng
bị gió bay đi. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi đem y Tăng-già-lê cũ ra chùi mà không tự vá
hay nhờ người vá lại? Từ nay về sau, Ta không cho phép (chùi?)
y thay vì đem giặt. Lại
nữa, khi ấy (526a) có người nữ dòng họ Thích, người nữ
Ma-la vốn là nhạc sĩ, đem giặt y Tăng-già-lê, vì y Tăng-già-lê
dày và nặng nên khó giặt, bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo liền đến trình lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay
về sau, Ta cho phép đến năm, sáu ngày". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho
các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp
lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni có y Tăng-già-lê cũ rồi tự khâu tạm lại,
hoặc sai người khâu tạm lại rồi để quá năm, sáu ngày
mà không tự vá hay sai người vá - ngoại trừ có bệnh - thì
phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Y
Tăng-già-lê cũ:
Y cần phải giặt. Hoặc
tự mình khâu hoặc sai người khác khâu trong vòng năm, sáu
ngày: Trong phạm vi sáu ngày, nếu không tự vá hoặc sai người
vá thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo-ni giặt y Tăng-già-lê cũ vừa nhẹ vừa mỏng thì
không được phép khâu. Nếu dày và nặng thì được phép
khâu. Khi khâu xong, phải giặt, giặt xong nên đem căng ra trên
tấm sạp hoặc trên chiếu, rồi lấy đá đằng 4 góc, đến
khi khô nên gọi đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ, hoặc
Tỉ-kheo-ni quen biết cùng Hòa thượng, cùng A-xà-lê vá lại
cho nhanh chóng. Nếu vì già bệnh không có người giúp đỡ
thì không có tội. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 18-
GIỚI: HỨA CHO THỌ GIỚI MÀ KHÔNG CHO THỌ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có cô ni đang học
giới nói với Thâu-lan-nan-đà: "Thưa thánh giả! Cho con thọ
Cụ túc". Thâu-lan-nan-đà
nói: "Ngươi cúng dường y cho ta, ta sẽ cho ngươi thọ Cụ
túc". Cô kia liền cúng dường y. Nhưng sau đó Thâu-lan-nan-đà
không cho cô ta thọ Cụ túc. Học giới Ni bèn nhắc: "Cho con
thọ Cụ túc đi", nhắc đi, nhắc lại nhiều lần như vậy. Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Thâu-lan-nan-đà
đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nói với Thức-xoa-ma-ni rằng: "Ngươi cúng dường
y cho ta rồi ta sẽ cho ngươi thọ Cụ túc", nhưng khi lấy y
rồi không cho thọ Cụ túc thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Giải
thích: Thức-xoa-ma-ni:
Người phụ nữ đang học giới. Y:
Gồm có bảy loại như trên đã nói. Lại có y tên Tăng-già-lê
cho đến y tắm mưa. Hứa
thọ Cụ túc:
Nếu sau đó tự mình không cho thọ, không nhờ người khác
cho thọ thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Ni-tát-kì-ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. (526b)
Nếu Tỉ-kheo-ni lấy y của Thức-xoa-ma-ni, hứa cho họ thọ
Cụ túc, thì sau đó phải cho họ thọ. Nếu vì già bệnh không
đủ sức, không thể cho thọ được thì nên nói với người
khác rằng: "Ngươi lấy chiếc y này rồi cho người kia thọ
Cụ túc". Nếu người xin thọ không muốn thọ giới nữa mà
đòi y lại, thì phải trả lại. Nếu
Tỉ-kheo hứa với Sa-di mà không cho thọ Cụ túc thì phạm
tội Việt tì-ni. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, bấy giờ có một thương nhân ở
phương Bắc mang vải Khâm-bà-la quí giá tối hảo đi bán,
người ta hỏi: -
Cái này đòi giá bao nhiêu vậy? -
Một trăm nghìn. Lúc
ấy, quốc vương, vương tử, đại thần và đại thương nhân
đều chê đắt không mua. Vị thương nhân này ngồi ủ rũ
nơi cửa hàng, người ta hỏi ông: -
Vì sao mà trông ông có vẻ buồn rầu? -
Tôi mua tấm vải Khâm-bà-la này rất có giá trị, tiền thuế
cũng nhiều mà nay bán không được, cho nên không vui. -
Ông có muốn bán không? -
Muốn bán. -
Ông nên mang đến chỗ Sa-môn ni Bạt-dà-la, cô ấy sẽ mua
nó. Ông
bèn mang đến đó, hỏi người ta: "Tinh xá của Tỉ-kheo-ni
ở đâu vậy?". Người ta liền chỉ chỗ. Khi tới đó, ông
lại hỏi: "Phòng của Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la ở chỗ nào vậy?".
Người ta lại chỉ chỗ. Khi tới nơi, ông liền hỏi: "Ai là
Tỉ-kheo-ni Bạt-đà-la?". Bạt-đà-la bèn hỏi lại: -
Vì sao mà hỏi tôi? -
Có muốn mua áo Khâm-bà-la này không? -
Ông đòi bao nhiêu? -
Một trăm nghìn, không thêm không bớt. Bạt-đà-la
liền bảo đệ tử: "Ngươi đến cửa hàng Bà-lộ-ê lấy
một trăm nghìn đưa cho ông ấy". Thế rồi, có người hỏi
ông: -
Ông đã bán được Khâm-bà-la chưa? |