THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Quyển Thứ Ba Mươi Sáu (Tiếp Theo)

NÓI RÕ PHẦN THỨ NHẤT CỦA 19 PHÁP TĂNG TÀN

1- GIỚI: NHẬN LÀM MAI MỐI.

Vấn đề nhận làm mai mối như trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Thế nên đức Thế Tôn dạy:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni nhận làm mai mối, tác hợp nam nữ, hoặc cưới vợ, hoặc tư thông với nhau, dù trong chốc lát thì đó là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

2- GIỚI: VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC.

Vu khống như trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Thế nên đức Thế Tôn dạy: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni vì sân hận không vui mà vô cớ vu khống Tỉ-kheo-ni thanh tịnh vô tội rằng phạm Ba-la-di, nhằm phá hoại sự thanh tịnh của Tỉ-kheo-ni ấy, rồi sau đó, hoặc bị thẩm vấn, hoặc không bị thẩm vấn, bèn nói rằng: "Việc đó không có căn cứ, vì tức giận nên tôi nói như thế", thì đó là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

3- GIỚI: XUYÊN TẠC NHẰM VU KHỐNG.

Thế nên đức Thế Tôn dạy: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni vì sân hận không vui rồi dùng một khía cạnh của một việc khác không phải Ba-la-di để vu khống người khác phạm tội Ba-la-di, nhằm phá hoại phạm hạnh của họ, sau đó, hoặc bị thẩm vấn, hoặc không bị thẩm vấn bèn nói rằng: "Chỉ vì tôi tức giận nên dùng một khía cạnh của một việc khác để vu khống", thì Tỉ-kheo-ni này phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

4- GIỚI: TRANH CHẤP VỚI NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ bức tường ngăn cách giữa Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni với ni ngoại đạo bị sụp đổ, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nói với ni ngoại đạo:

- Ngươi phải sửa chữa lại; bọn ngươi là những kẻ không biết xấu hổ, đồ chúng đi lại, ra vào đều trần truồng. Ni chúng của ta đây lương thiện tốt đẹp, biết hổ thẹn, khi thấy bọn ngươi thì tăng thêm phiền não.

- Lúc này đang mùa mưa không thể xây được, phải đợi qua khỏi mùa mưa rồi mới xây được.

- Phải sai người làm ngay bây giờ, không được đợi sau này mới làm.

- Tôi không thể làm được.

Tỉ-kheo-ni nổi giận mắng:

- Quân chết yểu! Con lừa ăn bã rượu. Ngươi dám không làm chăng, quân không biết hổ thẹn, tà kiến, không có niềm tin? Ngươi phải sửa chữa gấp.

Ni ngoại đạo cũng nổi giận mắng lại:

- Này Sa-môn ni bụng bự sinh nhiều con, dù ngươi có giết ta thì rốt cuộc ta cũng không làm.

Tỉ-kheo-ni bèn đi đến chỗ quan xử kiện trình bày đầy đủ sự việc trên: "Thưa Ðại quan! Xin ngài hãy vì tôi ra lệnh cho người kia xây lại bức tường ngăn cách".

Viên quan xử kiện lúc ấy vốn là người có niềm tin đối với Phật pháp, nên ông liền sai lính đi bắt ni ngoại đạo kia về. Khi bắt về rồi, ông mắng:

- Này kẻ ngoại đạo tà kiến! Quân tệ ác chết yểu, con lừa ăn bã rượu. Vì sao ngươi không xây lại bức tường? Các ngươi không biết xấu hổ, ở trần truồng đi ra đi vào, giả sử thánh giả phạm hạnh này trông thấy các ngươi thì càng tăng thêm phiền não. Ngươi phải xây lại gấp đi. Nếu không xây, ta sẽ gia tội ngươi.

Ni ngoại đạo bèn xây lại; nhưng ban ngày xây xong thì ban đêm bị mưa phá hỏng; do thế, ba tháng Hạ xây không thành tựu. Vì vậy, ngoại đạo than trách với các Ưu-bà-tắc:

- Hãy xem phước điền của các ngươi kìa! Ỷ thị vào thế lực của quan quyền, bắt ni của ta làm suốt ba tháng.

Những bà vợ của các Ưu-bà-tắc nghe thế (518a) liền nói với các Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Này Thâu-lan-nan-đà! Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi lại gây lộn với người khác? Ðấy là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì 10 lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo-ni, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni tranh tụng với người thế tục hoặc người xuất gia, ban ngày, trong khoảnh khắc, thậm chí đấu tranh với người làm vườn, Sa-di, thì đó là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa . 

Giải thích:

Tranh tụng: Tranh cãi bằng miệng.

Người thế tục: Tức người tại gia.

Người xuất gia: Hàng ngoại đạo xuất gia cho đến Xà-trí-la.

Ban ngày: (Từ lúc bình minh) cho đến khi mặt trời lặn.

Trong khoảnh khắc: Trong giây lát. Nếu Tỉ-kheo-ni gây sự - thậm chí với Sa-di, người làm vườn (thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa).

Sơ tội: Không đợi đến lần can gián thứ ba.

Tăng già: Chỉ cho tám Ba-la-di (?)

Bà-thi-sa: Vì tội này còn có dư tàn, Tăng phải làm yết-ma trị phạt, nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.

Lại nữa, vì tội này phải phát lồ giữa Tăng để sám hối, nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu Tỉ-kheo-ni đến tố cáo người khác với viên quan xử kiện của nhà vua thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu nói với ông về những việc phải quấy thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu Tỉ-kheo-ni đến nhà Ưu-bà-tắc, nhà của người có niềm tin nói chuyện phải trái với họ thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu có tâm hiềm khích họ, thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối.

Nếu Tỉ-kheo-ni đến tố cáo người khác với nhà vua thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu nói với nhà vua bằng những lời oán hận thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối.

Thế nên, đức Thế Tôn nói (như trên).

5- GIỚI: ÐI MỘT MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy người em gái của Tỉ-kheo-ni Lại-tra lấy chồng ở một thôn khác đang lâm bệnh, bèn sai người báo tin cho Lại-tra rằng: "Chị hãy đến sớm trước khi em chưa chết thì mới có thể thấy được nhau". Lại-tra liền đến thăm, nhưng chưa tới nơi thì người em gái đã mệnh chung. Khi cô tới đó, người em rể bèn nói với cô: "Em gái của chị đã qua đời rồi, ai sẽ chăm sóc việc nhà, trông nom con cái đây? Xin chị hãy thay thế, chăm sóc giùm em".

Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn suy nghĩ: "Người này thốt ra lời khả ố, y có thể cưỡng bách xâm phạm đến ta", liền cảm thấy hoảng sợ, rồi giả vờ đi ra ngoài. Ðoạn, cô trở về thành Xá-vệ, nói với các Tỉ-kheo-ni: "Quái thay! Kẻ kia sẽ phá hoại phạm hạnh tôi mất!". Các Tỉ-kheo-ni liền hỏi: "Có việc gì thế?" Cô bèn trình bày lại đầy đủ sự việc trên.

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế (518b) liền nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Lại-tra đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Vì sao ngươi đi đường một mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép đi đường một mình.

Lại nữa, khi các Tỉ-kheo-ni đi đường, có một Tỉ-kheo-ni trẻ mắc đi đại tiện nên rớt lại phía sau. Thế rồi, các khách buôn đi đến trông thấy cô đoan chính bèn chận lại, hỏi:

- Cô đang trẻ trung đoan chính, lẽ ra nên hưởng thụ dục lạc, vì sao lại xuất gia, xin nói rõ nguyên nhân?

- Ta xuất gia thì can gì các ngươi mà phải hỏi?

- Không phải vậy! Hình như cô có ý gì, hãy nói thử xem?

Cô vẫn đáp như trước. Bọn khách buôn đùa cợt một lúc rồi thả cô đi. Khi đến thôn xóm, lòng sinh nghi ngờ (mình phạm tội), cô bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: "Không có lòng dục thì không có tội".

Lại nữa, khi các Tỉ-kheo-ni cùng đi đường, có một Tỉ-kheo-ni lâm bệnh, đi không kịp bạn, phải đi sau một mình. Khi đến nơi, cô sinh nghi, bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: "Bị bệnh thì không có tội".

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không có Tỉ-kheo-ni khác để kết bạn cùng đi, thì không được ra khỏi ranh giới của thôn xóm, ngoại trừ khi khác; khi khác tức là khi không có lòng dục và bị bệnh, đó gọi là khi khác. Ðây là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Giải thích:

Không có Tỉ-kheo-ni bạn: Chỉ đi đường có một mình như trên đã nói rõ.

Trừ khi khác: Khi không có lòng dục, khi bệnh, đức Thế Tôn nói là không có tội.

Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ-kheo-ni đang đi trên đường mà chưa ra khỏi ranh giới thì không có tội. Nếu đi đến ranh giới của xóm làng, thành ấp, thì nên cách nhau trong vòng một cánh tay giang ra. Nếu cách nhau xa hơn một cánh tay giang ra mà đi quá một bước thì phạm tội Thâu-lan-giá; quá hai bước thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Một người đứng ở ranh giới trung gian thì phạm tội Thâu-lan-giá. Cũng vậy, những người khác cách quá (một bước) cũng phạm tội Thâu-lan-giá. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

6- GIỚI: SỐNG MỘT MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy trong thành Vương Xá có một người tên Yết-Mô tử cưới một Yết-Mô nữ làm vợ. Cô này đoan chính vô song, đang bưng cơm cho chồng. Khi đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, đi đến nhà ấy. Bấy giờ, người vợ suy nghĩ: "Nếu chồng ta thấy Phật, ắt sẽ đứng dậy xem, sẽ bỏ phế việc ăn uống, ta nên đứng chắn giữa cửa". Vì người ấy có duyên với Phật, nên đức Thế Tôn phóng ánh sáng (518c) chiếu vào trong nhà, khiến cho ông chồng nhìn ra, trông thấy Phật. Ông liền nói với bà vợ:

- Ngươi thật là kẻ chẳng có một chút thiện tâm nào, chỉ muốn làm tổn hại ta.

- Không phải tôi muốn làm tổn hại mà vì tôi sợ anh thấy Thế Tôn sẽ bỏ phế việc ăn uống mà thôi.

Ông chồng nổi giận, nói:

- Người nữ tình ý cạn cợt, muốn làm lợi ích một tí mà thành ra tổn hại quá nhiều.

- Xin đại gia cho phép tôi xuất gia.

- Cô muốn xuất gia theo đạo nào?

- Xuất gia theo Phật pháp.

- Tôi đồng ý.

Thế rồi, cô đi đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ưu-bát-la xin xuất gia. Ni sư liền độ xuất gia, cho thọ Cụ túc. Ðầu đêm, cuối đêm, cô tinh cần không biếng nhác, đến ngày thứ tám thì dứt hết lậu hoặc, tự biết mình đã chứng ngộ, được tam minh, lục thông, tâm tư tự tại, ngồi nương tựa dưới gốc cây. Lúc ấy, Thích-đề-hoàn-nhân đi đến chỗ cô ngồi, rồi đọc kệ:

"Ðế Thích từ thiên cung,
Giáng phàm xin đảnh lễ.
Thấy Yết-mô nữ này,
Xuất gia mới tám ngày,
Lậu hết chứng lục thông.
Hoa Ưu-bát Tỉ-kheo,
Việc làm đã thành tựu.
Ðức lực đều tự tại,
Chiết phục mọi tình tưởng,
Nhắm mắt ngồi dưới cây.
Thế nên tôi đảnh lễ,
Phước điền của thế gian".

Vị Tỉ-kheo-ni này có âm thanh trong trẻo, giỏi tán tụng kinh điển, được một Ưu-bà-tắc mời về nhà tụng kinh. Sau khi nghe tụng, ông rất hoan hỉ, cúng dường cho cô một tấm lụa lớn và đẹp. Lúc ấy, chư thiên ở trên không trung liền đọc kệ tán thán:

"Nay cô được lợi ích,
Phước đức đã tột vời.
Mọi nhiễm trước dứt hết,
Nhận y cúng thanh tịnh.
Các nam nữ cư sĩ,
Trong thành Vương Xá này,
Vì sao không mời cô,
Thuyết giảng vi diệu pháp?
Không mời thì không giảng,
Thân cận sẽ lìa khổ.
Nghe pháp rồi tu tập,
Ắt đến nơi thắng diệu".

Lúc ấy, mọi người, mọi nhà đều mời cô về tụng kinh; sau khi nghe tụng, họ rất hoan hỉ (phát tâm cúng dường), vì thế cô nhận được rất nhiều lợi dưỡng. Các Tỉ-kheo-ni thấy thế đều sinh tâm ganh tị, bèn nói rằng: "Ðây là những lời ca tụng ủy mị làm mê loạn lòng người". 

Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Có thật ngươi ca tụng theo kiểu thế gian (519a) chăng?

- Con không biết ca tụng theo kiểu thế gian.

Phật bèn nói với các Tỉ-kheo-ni: "Tỉ-kheo-ni này không phải ca tụng theo kiểu của thế gian. Trong thời quá khứ có vị vua cai trị thành Ba-la-nại tên là Cát-lợi. Ông có bảy người con gái: Người thứ nhất tên là Sa-môn; người thứ hai tên là Sa-môn-hữu; người thứ ba tên là Tỉ-kheo-ni; người thứ tư tên là Tỉ-kheo-ni-tì; người thứ năm tên là Ðạt-ma-chi; người thứ sáu tên là Tu-đạt-ma; người thứ bảy tên là Tăng-tì. Những người này từng phát nguyện trước Phật Ca-diếp như trong kinh Thất Nữ đã nói rõ".

Bấy giờ, có Tỉ-kheo-ni muốn tách rời Ni chúng cư trú một mình, rồi một Tỉ-kheo-ni khác đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi:

- Có phải ngươi định tách rời Ni chúng cư trú một mình không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

- Từ nay trở đi, Ta không cho phép tách rời chúng để sống một mình.

Lại nữa, khi vua Lưu Li chinh phạt nước Ca-duy-la-vệ nên được nói rộng; lúc ấy các Tỉ-kheo-ni sống một mình ở ngoài thành, cho đến... trừ nạn vua.

Lại nữa, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni đi đường, có người già cả bệnh hoạn theo không kịp chúng bạn phải nghỉ một mình, tâm sinh nghi, đến hỏi Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Người không có lòng dục thì không có tội". Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni sống tách rời Tỉ-kheo-ni khác trong một đêm - trừ khi khác, khi khác tức là lúc bệnh hoặc bị bọn giặc nổi loạn vây thành, đó gọi là khi khác - thì phạm sơ tội.

Giải thích:

Nghỉ một đêm: Từ lúc mặt trời chưa lặn đến bình minh hôm sau xuất hiện.

Trừ khi khác: Không có lòng dục, sống cách ly, già bệnh, bị bọn giặc nổi loạn vây thành, nếu lúc ấy đang ở trong thành thì không nên ra ngoài, hoặc đang ở ngoài thành thì không nên đi vào. Ðó gọi là khi khác. Ðây là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni tách rời Tỉ-kheo-ni khác mà ngủ từ khi mặt trời chưa lặn cho đến bình minh xuất hiện, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu tách rời Ni chúng từ khi mặt trời đã lặn cho đến bình minh xuất hiện, thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu Tỉ-kheo-ni ngủ chung với nhau trong phòng ở Tăng-già-lam thì nên nằm cách nhau trong vòng một cánh tay giang ra, rồi trong một đêm nên dùng tay sờ tìm người kia ba lần; nhưng không được sờ tìm ba lần trong một lúc, mà phải đầu đêm một lần, giữa đêm một lần và cuối đêm một lần. Nếu đầu đêm không sờ tìm người kia thì phạm tội Việt tì-ni; giữa đêm không sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni; cuối đêm không sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni. Nếu cả ba thời đều có tìm xem thì không có tội.

Nếu người ngủ trên gác, kẻ ngủ dưới gác khác chỗ nhau thì một đêm phải đi qua lại trông nom ba lần. Nếu ngủ trong trường hợp như vậy tại Tăng-già-lam thì phạm tội Thâu-lan-giá. (519b) Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

7- GIỚI: ÐỘ NGƯỜI CHỦ CHƯA CHO PHÉP.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy ở trong thành Vương Xá có một trưởng giả tên Tu-đề-na, ông có một cô vợ trẻ trung, đoan chính. Khi chồng chết, cô ta không thích cánh đàn ông, nhưng người chú muốn lấy cô, cô bèn nói với các phụ nữ khác:

- Tôi không thích bọn đàn ông, nhưng người chú muốn lấy tôi làm vợ

- Cô có muốn được thoát ly không?

- Muốn được thoát ly.

- Cô hãy đến thành Xá-vệ, chỗ Tỉ-kheo-ni Ca-lê, vị ấy sẽ độ cô xuất gia.

Người đàn bà này theo lời chỉ dẫn ấy đi đến thành Xá-vệ, hỏi dân chúng: "Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?" Họ bèn chỉ chỗ. Khi cô vào đến nơi, liền hỏi: "Tỉ-kheo-ni Ca-lê là ai vậy?". Họ bèn chỉ phòng. Cô vào phòng, rồi hỏi:

- Thánh giả có phải Ca-lê không?

- Phải! Hỏi để làm gì?

- Con muốn xuất gia.

Ca-lê bèn độ người này xuất gia cho thọ Cụ túc. Sau đó, người chú đi tìm nhưng không biết ở đâu, rồi có người mách với ông: "Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở thành Xá-vệ đã độ cho cô ấy xuất gia rồi". Ông bèn đi đến thành Xá-vệ, hỏi dân chúng: "Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?" Họ bèn chỉ chỗ. Ông đi vào đó, rồi hỏi: "Phòng nào là phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê?". Họ lại chỉ phòng. Ông vào phòng rồi hỏi: 

- Thánh giả có phải là Ca-lê không?

- Phải,nhưng ông hỏi để làm gì?

- Tôi không bỏ vợ, vì sao Ni sư độ vợ tôi xuất gia?

- Này lão trượng, ông từ đâu đến vậy?

- Từ thành Vương Xá đến.

Tỉ-kheo-ni liền mắng: "Quân chết tiệt! Ngươi là quân giặc. Người ở thành Vương Xá thường đến đây để làm gián điệp, dò la tin tức nước ta". Thế rồi, cô nói với đệ tử: "Lấy y Tăng-già-lê lại đây cho ta, rồi trói tên chết tiệt này đem giam vào trong ngục".

Ông ta nghe thế hoảng sợ, liền suy nghĩ: "Cặp mắt của người này thật đáng sợ, có thể bà làm thật chứ chẳng chơi!". Thế rồi đôi mắt vừa láo liên ngó chừng, ông vừa từ từ rút lui. Khi ra ngoài rồi, ông nổi giận mắng: "Tỉ-kheo-ni này đã độ vợ ta phi pháp, lại còn muốn bắt trói ta".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế liền nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô đến rồi, Phật hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Này Ca-lê! Ðó là việc sai trái. Vì sao ngươi độ người mà chủ không cho phép? Từ nay về sau, Ta không cho phép độ người mà chủ không đồng ý.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni độ người mà chủ không cho phép thì phạm sơ tội Tăng-già-(519c) bà-thi-sa.

Giải thích:

Không cho phép: Con gái chưa lấy chồng thì phải hỏi cha mẹ, nếu đã lấy chồng thì phải hỏi chồng, cha mẹ chồng và chú chồng; nếu họ không cho phép mà độ xuất gia, cho thọ Cụ túc, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói, thuộc về sơ tội.

Nếu Tỉ-kheo-ni độ người mà chủ của họ không cho phép thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu cho họ học giới thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu cho họ thọ Cụ túc thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

8- GIỚI: ÐỘ NGƯỜI PHẠM TỘI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có người vợ của lực sĩ ở ấp A-ma-la còn trẻ, đoan chính, tư thông với người khác. Chồng cô nói: "Em đừng làm như vậy nữa, nếu còn tiếp tục thì anh sẽ trị tội em như vậy, như vậy". Thế nhưng người vợ vẫn tiếp tục tư thông không bỏ. Người chồng bèn theo dõi bắt gặp hai người đang hành sự, trói lại đem đến quan xử kiện, nói: "Vợ tôi tư thông với người này, xin quan trên dùng pháp luật trị tội giúp tôi". Viên quan hình pháp nói: "Nếu người nữ tư thông với kẻ khác thì phải trình diện trước hai chúng trong bảy ngày. Sau khi trình diện bảy ngày, phải bị phanh thây trước hai gia đình". Ðoạn, viên quan nói với người vợ ấy: "Ngươi hãy trở về, nếu trong nhà có của thì phải chuẩn bị các dụng cụ bố thí ẩm thực. Nếu trong nhà không có của thì tùy ý. Sau khi đủ bảy ngày sẽ bị phanh thây trước hai chúng".

Thế rồi, cô ấy trở về nhà, sắm sửa các thứ ẩm thực bố thí cho hai chúng; rồi cô ngồi ở chỗ vắng khóc lóc. Các bà mẹ thấy thế hỏi:

- Vì sao mà con khóc?

- Sau bảy ngày nữa con sẽ bị phanh thây trước hai chúng mà không khóc sao được?

- Con có muốn được sống không?

- Muốn.

- Con hãy đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở thành Xá-vệ cầu xin xuất gia thì có thể được sống.

Vì mọi người đang say rượu nên cô này theo kế hoạch lặng lẽ lén đi, đến thành Xá-vệ, cô hỏi người ta: "Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở chỗ nào vậy?". Họ bèn chỉ chỗ. Cô đi vào đó, rồi hỏi người khác: "Phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở đâu vậy?". Họ bèn chỉ phòng. Cô liền vào phòng, bạch:

- Thưa thánh giả, con muốn xuất gia.

- Phu chủ đã cho phép con chưa?

- Cho phép như thế nào?

- Nếu chưa lấy chồng thì cha mẹ cho phép; nếu đã lấy chồng thì cha mẹ chồng, chồng và chú chồng cho phép. Ðó là cho phép.

- Nếu như vậy thì con phải tự cho phép, vì các người trong thân tộc đều muốn con phải bị phanh thây, đã vứt bỏ con rồi.

- Nếu quả như vậy thì họ đã quyết tâm bỏ con.

Thế là Ca-lê độ cô ấy xuất gia cho thọ Cụ túc. Chồng cô đi tìm kiếm để trị tội mà không thấy. Anh ta nghe nói có Tỉ-kheo-ni ở thành Xá-vệ đã độ cho xuất gia rồi, (520a) bèn đi đến thành Xá-vệ hỏi dân chúng: "Tinh xá Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?" Dân chúng chỉ chỗ. Rồi ông đi vào tinh xá hỏi: "Phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở đâu vậy?". Họ liền chỉ chỗ. Ông bước vào phòng hỏi:

- Thánh giả là Tỉ-kheo-ni Ca-lê phải không?

- Hỏi để làm gì?

- Tôi không bỏ vợ, vì sao Ni sư độ cho xuất gia?

- Này thiện sĩ, nhà ông ở đâu vậy?

- Ở tại ấp A-ma-lặc.

- Quân chết tiệt, ngươi là quân giặc, ngươi không biết sao? Người ấp A-ma-lặc thường đến đây dò la tin tức của nước ta để làm gián điệp.

Ðoạn, Ca-lê nói với đệ tử: "Lấy y của ta đưa đây, ta sẽ đi báo cho vua tóm cổ tên chết tiệt này".

Anh ta nghe thế, suy nghĩ: "Tỉ-kheo-ni này trương mắt ra nhìn hung tợ, có thể làm việc ác". Nghĩ thế, anh ta từ từ rút lui. Khi ra ngoài rồi, nổi giận mắng: "Vị Sa-môn ni này lén độ vợ ta mà còn muốn bắt trói ta".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni Ca-lê đến. Khi cô tới rồi, Phật liền quở trách: "Này Ca-lê, đó là việc phi pháp. Vì sao ngươi biết kẻ đó phạm tội, những người thân của họ muốn trị tội mà độ cho xuất gia? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy. Từ nay về sau, Ta không cho phép, khi biết người nữ kia phạm tội, mọi người muốn trị tội, mà độ cho xuất gia". 

Lại nữa, tại ấp Kiền-đề của dòng họ Thích Ca có người con gái - Như trên đã nói - cho đến, cô nói với Tỉ-kheo-ni:

- Xin độ con xuất gia?

- Trước đây con đã phạm tội như thế thì không thể xuất gia được.

Thế rồi, cô đi đến các Tỉ-kheo-ni khác, nhưng họ đều không độ. Cô bèn đi đến ngoại đạo xin xuất gia. Người chồng muốn tìm cô về trị tội, nhưng không biết ở đâu, thì nghe nói cô đã được ngoại đạo độ cho xuất gia tại thành Xá-vệ. Anh ta suy nghĩ: "Người này vốn là con của Ưu-bà-tắc mà nay bị rơi vào trong hàng ngũ ngoại đạo tà kiến, cần phải trị tội, nhưng không thể tìm ra".

Nếp sống của các ngoại đạo là uống nước vo gạo và nước rửa chảo, sống lõa thể vô liêm sỉ, mà còn đánh vợ không biết tiếc thương. Thế nên, người phụ nữ ấy chán ngán, tự nhủ: "Ðây không phải là phép tắc xuất gia", liền bỏ đi, đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni bạch rằng: "Con từ trên bờ vỡ rơi xuống hầm sâu, sắp sa vào địa ngục, xin hãy kéo con lên, cho con xuất gia".

Các Tỉ-kheo-ni đều không dám độ. Thế là, cô đến bạch với Ðại Ái Ðạo: "Thưa thánh giả, con vốn là con gái của dòng họ Thích, mà nay bị rơi xuống hầm sâu, xin độ con xuất gia". Ðại Ái Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Ðược phép độ. Nếu trước đó ngoại đạo đã độ, thì sau đó cho phép xuất gia".

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ (520b) phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội, những người thân thích muốn trị tội, mà độ họ - trừ khi khác; khi khác là khi ngoại đạo đã độ trước, đó gọi là khi khác - thì phạm sơ tội.

Giải thích:

(Một số từ trên đã giải thích).

Chúng: Hai chúng tập họp, nghĩa là gồm những người bên phía cha mẹ đẻ và những người bên nhà chồng.

Thân thích: Tức tộc họ Bà-la-môn, tộc họ Sát-lợi, tộc họ Tì-xá, tộc họ Thủ-đà-la.

Trị tội: Hoặc trói, bọc lại để thiêu; hoặc bỏ vào trong bao cát, cột miệng bao lại, thả chìm dưới nước; hoặc dùng lửa đốt đầu; hoặc cắt tai, cắt mũi; hoặc dùng thanh sắt đốt nóng áp vào âm hộ; hoặc đem phân thây, quốc pháp có các loại khác nhau như thế. Ngoại trừ trước đó họ đã xuất gia theo ngoại đạo, rồi độ họ xuất gia, thì Thế Tôn bảo là không có tội.

Ngoại đạo: Như Ni-kiền-đế-lê, Ðàn-trì-già, đại loại các ngoại đạo như thế.

Ðấy là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.

Nếu Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội đáng trị phạt mà độ cho xuất gia thì phạm tội Việt tì-ni.

Nếu cho họ học pháp thì phạm tội Thâu-lan-giá.

Nếu cho thọ Cụ túc thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

9- GIỚI: QUA SÔNG MỘT MÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có nhiều phụ nữ đang ở bờ bên kia của sông A-kì-la, còn bờ bên này thì Tỉ-kheo-ni tăng vân tập. Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà cởi y phục ném xuống đất, rồi bơi qua bên kia bờ sông. Các phụ nữ thấy thế bàn tán nhau: "Hãy xem Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà bơi trên mặt nước mà qua đây". Sau khi qua đến nơi, cô bèn ngồi trên chỗ đất trống một lát rồi lại bơi trở về. Khi ấy, các phụ nữ bèn chê bai rằng: "Vì sao mà Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà này làm như kẻ hung ác, bơi qua rồi lại bơi về!".

Các Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật quở trách: "Ðó là việc xấu. Vì sao tại chỗ có đò qua lại mà ngươi lại bơi qua? Từ nay về sau, Ta không cho phép một mình bơi qua chỗ bến đò".

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni một mình bơi qua sông tại chỗ bến đò thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Giải thích:

Bơi một mình: Rời khỏi bờ sông bên này đến bờ bên kia thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

10- GIỚI: TỰ Ý THA TỘI NGƯỜI KHÁC.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Ca-lê đi du hành trong thôn xóm. (520c) Sau khi cô đi, Ni tăng làm yết-ma cử tội đệ tử y chỉ của cô. Ðến khi cô trở về, đệ tử liền bạch: "Ni tăng làm yết-ma cử tội con, không cho con cùng hưởng pháp thực, vị thực". Cô bèn quở trách đệ tử: "Ngươi hãy giữ im lặng, nhưng phải bảo Ni tăng tập họp", bèn tập họp tăng. Các Tỉ-kheo-ni ai nấy đều suy nghĩ: "Vị Tỉ-kheo-ni này đi xa trở về rồi tập họp Tăng, thường thích có vật bố thí, không hiểu chúng ta hôm nay sẽ được vật gì đây?". Do suy nghĩ thế nên mọi người đều hoan hỷ tập họp nhanh chóng. Sau khi tập họp, cô bèn tuyên bố như sau:

- Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đã bị Tăng làm yết-ma cử tội. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay Tăng xả pháp yết-ma cử tội cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp. Ðây là lời tác bạch.

- Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đã bị Tăng làm yết-ma cử tội; nay Tăng xả pháp yết-ma cử tội cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp; thánh giả Tăng nào bằng lòng xả pháp yết-ma cử tội cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là lần yết-ma thứ nhất (lần thứ hai, thứ ba cũng làm như thế).

Các Tỉ-kheo-ni thấy đôi mắt của Tỉ-kheo-ni này đáng sợ nên không ai dám ngăn cản cả. Thế rồi, các Tỉ-kheo-ni bàn tán nhau: "Ðây là lời nói gì vậy?" Ðoạn, ai nấy đều bảo: "Tôi cũng chả hiểu lời nói này".

Các Tỉ-kheo-ni bèn bạch với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi:

- Ngươi có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Ðó là việc phi pháp. Vì sao ngươi biết Tỉ-kheo-ni Tăng đã làm yết-ma cử tội đúng pháp, đúng luật, người ấy chưa tùy thuận, chưa thi hành đúng pháp, ngươi không thưa trước với Tăng mà tự ý xả yết-ma? Từ nay về sau, Ta không cho phép làm như vậy.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: 

-- Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tỉ-kheo-ni Tăng hòa hợp làm yết-ma cử tội đúng pháp, đúng luật; người phạm tội chưa thi hành đúng pháp, mình không thưa trước với Tăng mà tự ý xả tội, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. 

Giải thích: 

(Một số từ đã giải thích ở trước).

Như pháp, như luật: Không thấy tội thì không vạch tội ba lần để cho thấy.

Chưa xả pháp yết-ma cử tội: Không được sống chung.

Chưa làm đúng pháp: Chưa tùy thuận, tâm chưa điều phục, Tăng chưa xả tội.

Không thưa trước: Chưa làm pháp yết-ma cầu thính trước Tăng mà tự ý xả tội giữa Tăng, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.

Nếu đệ tử bị Tăng hòa hợp làm yết-ma cử tội thì Hòa thượng ni hoặc A-xà-lê ni nên đến chỗ Tỉ-kheo-ni trưởng lão (521a) nói như sau: "Ai mà không ngu si, không có lỗi, lúc nào cũng có trí tuệ, vì không biết cho nên mới như vậy, người ấy sẽ không dám tái phạm nữa". Phải nói với tất cả mọi người như vậy để cho tâm họ nhu nhuyến, rồi mới làm yết-ma cầu thính ở giữa Tăng. Người làm yết-ma nên nói như sau: 

- Xin các thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp có việc ấy nên Tăng làm yết-ma cử tội. Nay người ấy đã tùy thuận, tâm đã nhu nhuyến. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay mỗ giáp muốn đến giữa Tăng xin xả pháp yết-ma cử tội.

Các thánh giả Tăng xin lắng nghe. Mỗ giáp muốn vào giữa Tăng xin xả pháp yết-ma cử tội. Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng; việc ấy cứ như thế mà thi hành.

Phải làm yết-ma như vậy xong rồi mới xin. Nếu có người ngăn cản thì Hòa thượng nên dùng lời nhỏ nhẹ khuyên họ thôi đi.

Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tăng hòa hợp làm yết-ma cử tội đúng pháp, đúng luật mà tự ý xả yết-ma thì phạm tội Việt tì-ni.

11- GIỚI: NHẬN VẬT CỦA NGƯỜI CÓ TÀ TÂM.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy có một trưởng giả vì lòng dục mà mời Tỉ-kheo-ni Thọ Ðề cúng dường y, bát, ẩm thực, thuốc trị bệnh, nói như sau:

- Thánh giả có biết tôi cúng vì lẽ gì không?

- Biết.

- Biết như thế nào?

- Vì muốn được phước đức.

- Ðương nhiên rồi, nhưng còn gồm cả lòng ái dục nữa.

Lúc ấy, Thọ Ðề là người đã ly dục nên nghe lời nói kia tâm cô vẫn thản nhiên không thèm để ý, do thế mà không ngăn cản. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo lại đem bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thọ Ðề đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi lại đầy đủ sự việc trên:

- Ngươi có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Ðó là việc xấu. Ngươi không làm mẫu mực cho người đời sau sao? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.

Thế rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang sống tại thành Vương Xá phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:

-- Nếu Tỉ-kheo-ni không có tâm ô nhiễm mà nhận y, bát, thức ăn uống, thuốc trị bệnh của người đàn ông có tâm ô nhiễm, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. 

Giải thích:

Tỉ-kheo-ni: Như Tỉ-kheo-ni Thọ-Ðề.

Không có tâm ô nhiễm: Không có tâm ái dục.

Bát: Gồm ba loại, thượng, trung và hạ.

Y: Gồm có y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, Tăng-kì-chi và y tắm mưa.

Thức ăn uống: Như thức ăn Khư-đà-ni, bồ-xà-ni.

Thuốc: Mật, đường phèn, sanh tô và mỡ; đây thuộc về sơ tội.

Nếu có người cúng dường cho Tỉ-kheo-ni y, bát, thức ăn uống, thuốc trị bệnh mà nói như sau: "Tôi vì lý do đó mà cúng dường", thì không nên nhận, mà nên nói: "Tôi không cần, (521b) đã có những nhà khác cung cấp rồi". Nếu như nhận thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.

Nếu họ không nói mà cử động tay chân, liếc mắt, khảy móng tay, viết chữ dưới đất, làm các dấu hiệu như vậy, thì biết họ có lòng dục đối với mình, mình không nên nhận. Nếu nhận thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu họ có lòng tin thanh tịnh, tình ý chân chính, thì mình nhận không có tội.

Nếu người nữ có lòng dục khi cúng dường cho Tỉ-kheo mà cử động chân tay, liếc mắt nhìn, thì biết là họ có lòng dục; không nên nhận. Nếu nhận thì phạm tội Việt tì-ni. Trái lại, nếu họ có lòng tin thanh tịnh, tình ý chân chính thì mình nhận không có tội.

Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên).

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ ba mươi sáu

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap