| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ NHẤT CỦA 19 PHÁP TĂNG TÀN Vấn
đề nhận làm mai mối như trong giới của Tỉ-kheo đã nói
rõ. Thế nên đức Thế Tôn dạy: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nhận làm mai mối, tác hợp nam nữ, hoặc cưới
vợ, hoặc tư thông với nhau, dù trong chốc lát thì đó là
sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Vu
khống như trong giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. Thế nên đức
Thế Tôn dạy: --
Nếu Tỉ-kheo-ni vì sân hận không vui mà vô cớ vu khống Tỉ-kheo-ni
thanh tịnh vô tội rằng phạm Ba-la-di, nhằm phá hoại sự
thanh tịnh của Tỉ-kheo-ni ấy, rồi sau đó, hoặc bị thẩm
vấn, hoặc không bị thẩm vấn, bèn nói rằng: "Việc đó
không có căn cứ, vì tức giận nên tôi nói như thế", thì
đó là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. 3-
GIỚI: XUYÊN TẠC NHẰM VU KHỐNG. Thế
nên đức Thế Tôn dạy: --
Nếu Tỉ-kheo-ni vì sân hận không vui rồi dùng một khía cạnh
của một việc khác không phải Ba-la-di để vu khống người
khác phạm tội Ba-la-di, nhằm phá hoại phạm hạnh của họ,
sau đó, hoặc bị thẩm vấn, hoặc không bị thẩm vấn bèn
nói rằng: "Chỉ vì tôi tức giận nên dùng một khía cạnh
của một việc khác để vu khống", thì Tỉ-kheo-ni này phạm
sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. 4-
GIỚI: TRANH CHẤP VỚI NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ bức tường ngăn
cách giữa Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni với ni ngoại đạo
bị sụp đổ, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà nói với ni ngoại
đạo: -
Ngươi phải sửa chữa lại; bọn ngươi là những kẻ không
biết xấu hổ, đồ chúng đi lại, ra vào đều trần truồng.
Ni chúng của ta đây lương thiện tốt đẹp, biết hổ thẹn,
khi thấy bọn ngươi thì tăng thêm phiền não. -
Lúc này đang mùa mưa không thể xây được, phải đợi qua
khỏi mùa mưa rồi mới xây được. -
Phải sai người làm ngay bây giờ, không được đợi sau này
mới làm. -
Tôi không thể làm được. Tỉ-kheo-ni
nổi giận mắng: -
Quân chết yểu! Con lừa ăn bã rượu. Ngươi dám không làm
chăng, quân không biết hổ thẹn, tà kiến, không có niềm
tin? Ngươi phải sửa chữa gấp. Ni
ngoại đạo cũng nổi giận mắng lại: -
Này Sa-môn ni bụng bự sinh nhiều con, dù ngươi có giết ta
thì rốt cuộc ta cũng không làm. Tỉ-kheo-ni
bèn đi đến chỗ quan xử kiện trình bày đầy đủ sự việc
trên: "Thưa Ðại quan! Xin ngài hãy vì tôi ra lệnh cho người
kia xây lại bức tường ngăn cách". Viên
quan xử kiện lúc ấy vốn là người có niềm tin đối với
Phật pháp, nên ông liền sai lính đi bắt ni ngoại đạo kia
về. Khi bắt về rồi, ông mắng: -
Này kẻ ngoại đạo tà kiến! Quân tệ ác chết yểu, con lừa
ăn bã rượu. Vì sao ngươi không xây lại bức tường? Các
ngươi không biết xấu hổ, ở trần truồng đi ra đi vào,
giả sử thánh giả phạm hạnh này trông thấy các ngươi thì
càng tăng thêm phiền não. Ngươi phải xây lại gấp đi. Nếu
không xây, ta sẽ gia tội ngươi. Ni
ngoại đạo bèn xây lại; nhưng ban ngày xây xong thì ban đêm
bị mưa phá hỏng; do thế, ba tháng Hạ xây không thành tựu.
Vì vậy, ngoại đạo than trách với các Ưu-bà-tắc: -
Hãy xem phước điền của các ngươi kìa! Ỷ thị vào thế
lực của quan quyền, bắt ni của ta làm suốt ba tháng. Những
bà vợ của các Ưu-bà-tắc nghe thế (518a) liền nói với các
Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến.
Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Này Thâu-lan-nan-đà! Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi lại gây lộn với người
khác? Ðấy là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không
thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
vì 10 lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo-ni, dù ai nghe rồi
cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni tranh tụng với người thế tục hoặc người
xuất gia, ban ngày, trong khoảnh khắc, thậm chí đấu tranh
với người làm vườn, Sa-di, thì đó là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa
. Giải
thích: Tranh
tụng: Tranh
cãi bằng miệng. Người
thế tục:
Tức người tại gia. Người
xuất gia:
Hàng ngoại đạo xuất gia cho đến Xà-trí-la. Ban
ngày: (Từ
lúc bình minh) cho đến khi mặt trời lặn. Trong
khoảnh khắc:
Trong giây lát. Nếu Tỉ-kheo-ni gây sự - thậm chí với Sa-di,
người làm vườn (thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa). Sơ
tội: Không
đợi đến lần can gián thứ ba. Tăng
già: Chỉ
cho tám Ba-la-di (?) Bà-thi-sa:
Vì tội này còn có dư tàn, Tăng phải làm yết-ma trị phạt,
nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa. Lại
nữa, vì tội này phải phát lồ giữa Tăng để sám hối,
nên gọi là Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
Tỉ-kheo-ni đến tố cáo người khác với viên quan xử kiện
của nhà vua thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
nói với ông về những việc phải quấy thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni đến nhà Ưu-bà-tắc, nhà của người có niềm
tin nói chuyện phải trái với họ thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
có tâm hiềm khích họ, thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối. Nếu
Tỉ-kheo-ni đến tố cáo người khác với nhà vua thì phạm
tội Việt tì-ni. Nếu
nói với nhà vua bằng những lời oán hận thì phạm tội Việt
tì-ni tâm hối. Thế
nên, đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy người em gái của
Tỉ-kheo-ni Lại-tra lấy chồng ở một thôn khác đang lâm bệnh,
bèn sai người báo tin cho Lại-tra rằng: "Chị hãy đến sớm
trước khi em chưa chết thì mới có thể thấy được nhau".
Lại-tra liền đến thăm, nhưng chưa tới nơi thì người em
gái đã mệnh chung. Khi cô tới đó, người em rể bèn nói
với cô: "Em gái của chị đã qua đời rồi, ai sẽ chăm sóc
việc nhà, trông nom con cái đây? Xin chị hãy thay thế, chăm
sóc giùm em". Tỉ-kheo-ni
nghe thế bèn suy nghĩ: "Người này thốt ra lời khả ố, y
có thể cưỡng bách xâm phạm đến ta", liền cảm thấy hoảng
sợ, rồi giả vờ đi ra ngoài. Ðoạn, cô trở về thành Xá-vệ,
nói với các Tỉ-kheo-ni: "Quái thay! Kẻ kia sẽ phá hoại phạm
hạnh tôi mất!". Các Tỉ-kheo-ni liền hỏi: "Có việc gì thế?"
Cô bèn trình bày lại đầy đủ sự việc trên. Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế (518b) liền nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Lại-tra đến. Khi cô tới
rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ngươi đi đường một mình? Từ nay về sau, Ta không
cho phép đi đường một mình. Lại
nữa, khi các Tỉ-kheo-ni đi đường, có một Tỉ-kheo-ni trẻ
mắc đi đại tiện nên rớt lại phía sau. Thế rồi, các khách
buôn đi đến trông thấy cô đoan chính bèn chận lại, hỏi: -
Cô đang trẻ trung đoan chính, lẽ ra nên hưởng thụ dục lạc,
vì sao lại xuất gia, xin nói rõ nguyên nhân? -
Ta xuất gia thì can gì các ngươi mà phải hỏi? -
Không phải vậy! Hình như cô có ý gì, hãy nói thử xem? Cô
vẫn đáp như trước. Bọn khách buôn đùa cợt một lúc rồi
thả cô đi. Khi đến thôn xóm, lòng sinh nghi ngờ (mình phạm
tội), cô bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:
"Không có lòng dục thì không có tội". Lại
nữa, khi các Tỉ-kheo-ni cùng đi đường, có một Tỉ-kheo-ni
lâm bệnh, đi không kịp bạn, phải đi sau một mình. Khi đến
nơi, cô sinh nghi, bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
dạy: "Bị bệnh thì không có tội". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không có Tỉ-kheo-ni khác để kết bạn cùng
đi, thì không được ra khỏi ranh giới của thôn xóm, ngoại
trừ khi khác; khi khác tức là khi không có lòng dục và bị
bệnh, đó gọi là khi khác. Ðây là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Không
có Tỉ-kheo-ni bạn:
Chỉ đi đường có một mình như trên đã nói rõ. Trừ
khi khác: Khi
không có lòng dục, khi bệnh, đức Thế Tôn nói là không có
tội. Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo-ni đang đi trên đường mà chưa ra khỏi ranh giới
thì không có tội. Nếu đi đến ranh giới của xóm làng, thành
ấp, thì nên cách nhau trong vòng một cánh tay giang ra. Nếu
cách nhau xa hơn một cánh tay giang ra mà đi quá một bước
thì phạm tội Thâu-lan-giá; quá hai bước thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Một người đứng ở ranh giới trung gian thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Cũng vậy, những người khác cách quá (một bước) cũng phạm
tội Thâu-lan-giá. Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy trong thành Vương
Xá có một người tên Yết-Mô tử cưới một Yết-Mô nữ
làm vợ. Cô này đoan chính vô song, đang bưng cơm cho chồng.
Khi đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác y, cầm bát
vào thành tuần tự khất thực, đi đến nhà ấy. Bấy giờ,
người vợ suy nghĩ: "Nếu chồng ta thấy Phật, ắt sẽ đứng
dậy xem, sẽ bỏ phế việc ăn uống, ta nên đứng chắn giữa
cửa". Vì người ấy có duyên với Phật, nên đức Thế Tôn
phóng ánh sáng (518c) chiếu vào trong nhà, khiến cho ông chồng
nhìn ra, trông thấy Phật. Ông liền nói với bà vợ: -
Ngươi thật là kẻ chẳng có một chút thiện tâm nào, chỉ
muốn làm tổn hại ta. -
Không phải tôi muốn làm tổn hại mà vì tôi sợ anh thấy
Thế Tôn sẽ bỏ phế việc ăn uống mà thôi. Ông
chồng nổi giận, nói: -
Người nữ tình ý cạn cợt, muốn làm lợi ích một tí mà
thành ra tổn hại quá nhiều. -
Xin đại gia cho phép tôi xuất gia. -
Cô muốn xuất gia theo đạo nào? -
Xuất gia theo Phật pháp. -
Tôi đồng ý. Thế
rồi, cô đi đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ưu-bát-la xin xuất gia. Ni
sư liền độ xuất gia, cho thọ Cụ túc. Ðầu đêm, cuối
đêm, cô tinh cần không biếng nhác, đến ngày thứ tám thì
dứt hết lậu hoặc, tự biết mình đã chứng ngộ, được
tam minh, lục thông, tâm tư tự tại, ngồi nương tựa dưới
gốc cây. Lúc ấy, Thích-đề-hoàn-nhân đi đến chỗ cô ngồi,
rồi đọc kệ: "Ðế
Thích từ thiên cung,
Vị
Tỉ-kheo-ni này có âm thanh trong trẻo, giỏi tán tụng kinh điển,
được một Ưu-bà-tắc mời về nhà tụng kinh. Sau khi nghe
tụng, ông rất hoan hỉ, cúng dường cho cô một tấm lụa
lớn và đẹp. Lúc ấy, chư thiên ở trên không trung liền
đọc kệ tán thán: "Nay
cô được lợi ích,
Lúc
ấy, mọi người, mọi nhà đều mời cô về tụng kinh; sau
khi nghe tụng, họ rất hoan hỉ (phát tâm cúng dường), vì
thế cô nhận được rất nhiều lợi dưỡng. Các Tỉ-kheo-ni
thấy thế đều sinh tâm ganh tị, bèn nói rằng: "Ðây là những
lời ca tụng ủy mị làm mê loạn lòng người". Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật
liền hỏi: -
Có thật ngươi ca tụng theo kiểu thế gian (519a) chăng? -
Con không biết ca tụng theo kiểu thế gian. Phật
bèn nói với các Tỉ-kheo-ni: "Tỉ-kheo-ni này không phải ca
tụng theo kiểu của thế gian. Trong thời quá khứ có vị vua
cai trị thành Ba-la-nại tên là Cát-lợi. Ông có bảy người
con gái: Người thứ nhất tên là Sa-môn; người thứ hai tên
là Sa-môn-hữu; người thứ ba tên là Tỉ-kheo-ni; người thứ
tư tên là Tỉ-kheo-ni-tì; người thứ năm tên là Ðạt-ma-chi;
người thứ sáu tên là Tu-đạt-ma; người thứ bảy tên là
Tăng-tì. Những người này từng phát nguyện trước Phật
Ca-diếp như trong kinh Thất Nữ đã nói rõ". Bấy
giờ, có Tỉ-kheo-ni muốn tách rời Ni chúng cư trú một mình,
rồi một Tỉ-kheo-ni khác đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo.
Ðại Ái Ðạo lại đem bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật hỏi: -
Có phải ngươi định tách rời Ni chúng cư trú một mình không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay trở đi, Ta không cho phép tách rời chúng để sống
một mình. Lại
nữa, khi vua Lưu Li chinh phạt nước Ca-duy-la-vệ nên được
nói rộng; lúc ấy các Tỉ-kheo-ni sống một mình ở ngoài
thành, cho đến... trừ nạn vua. Lại
nữa, lúc ấy các Tỉ-kheo-ni đi đường, có người già cả
bệnh hoạn theo không kịp chúng bạn phải nghỉ một mình,
tâm sinh nghi, đến hỏi Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo bèn
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Người
không có lòng dục thì không có tội". Thế rồi, Phật bảo
Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni đang
sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, dù ai
nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni sống tách rời Tỉ-kheo-ni khác trong một đêm
- trừ khi khác, khi khác tức là lúc bệnh hoặc bị bọn giặc
nổi loạn vây thành, đó gọi là khi khác - thì phạm sơ tội. Giải
thích: Nghỉ
một đêm:
Từ lúc mặt trời chưa lặn đến bình minh hôm sau xuất hiện. Trừ
khi khác: Không
có lòng dục, sống cách ly, già bệnh, bị bọn giặc nổi
loạn vây thành, nếu lúc ấy đang ở trong thành thì không
nên ra ngoài, hoặc đang ở ngoài thành thì không nên đi vào.
Ðó gọi là khi khác. Ðây là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni tách rời Tỉ-kheo-ni khác
mà ngủ từ khi mặt trời chưa lặn cho đến bình minh xuất
hiện, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
tách rời Ni chúng từ khi mặt trời đã lặn cho đến bình
minh xuất hiện, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni ngủ chung với nhau trong phòng ở Tăng-già-lam thì
nên nằm cách nhau trong vòng một cánh tay giang ra, rồi trong
một đêm nên dùng tay sờ tìm người kia ba lần; nhưng không
được sờ tìm ba lần trong một lúc, mà phải đầu đêm một
lần, giữa đêm một lần và cuối đêm một lần. Nếu đầu
đêm không sờ tìm người kia thì phạm tội Việt tì-ni; giữa
đêm không sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni; cuối đêm không
sờ tìm cũng phạm tội Việt tì-ni. Nếu cả ba thời đều
có tìm xem thì không có tội. Nếu
người ngủ trên gác, kẻ ngủ dưới gác khác chỗ nhau thì
một đêm phải đi qua lại trông nom ba lần. Nếu ngủ trong
trường hợp như vậy tại Tăng-già-lam thì phạm tội Thâu-lan-giá.
(519b) Thế nên đức Thế Tôn nói (như trên). 7-
GIỚI: ÐỘ NGƯỜI CHỦ CHƯA CHO PHÉP. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy ở trong thành Vương
Xá có một trưởng giả tên Tu-đề-na, ông có một cô vợ
trẻ trung, đoan chính. Khi chồng chết, cô ta không thích cánh
đàn ông, nhưng người chú muốn lấy cô, cô bèn nói với
các phụ nữ khác: -
Tôi không thích bọn đàn ông, nhưng người chú muốn lấy
tôi làm vợ -
Cô có muốn được thoát ly không? -
Muốn được thoát ly. -
Cô hãy đến thành Xá-vệ, chỗ Tỉ-kheo-ni Ca-lê, vị ấy sẽ
độ cô xuất gia. Người
đàn bà này theo lời chỉ dẫn ấy đi đến thành Xá-vệ,
hỏi dân chúng: "Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?"
Họ bèn chỉ chỗ. Khi cô vào đến nơi, liền hỏi: "Tỉ-kheo-ni
Ca-lê là ai vậy?". Họ bèn chỉ phòng. Cô vào phòng, rồi hỏi: -
Thánh giả có phải Ca-lê không? -
Phải! Hỏi để làm gì? -
Con muốn xuất gia. Ca-lê
bèn độ người này xuất gia cho thọ Cụ túc. Sau đó, người
chú đi tìm nhưng không biết ở đâu, rồi có người mách
với ông: "Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở thành Xá-vệ đã độ cho cô
ấy xuất gia rồi". Ông bèn đi đến thành Xá-vệ, hỏi dân
chúng: "Tăng-già-lam của Tỉ-kheo-ni ở nơi nào vậy?" Họ bèn
chỉ chỗ. Ông đi vào đó, rồi hỏi: "Phòng nào là phòng của
Tỉ-kheo-ni Ca-lê?". Họ lại chỉ phòng. Ông vào phòng rồi
hỏi: -
Thánh giả có phải là Ca-lê không? -
Phải,nhưng ông hỏi để làm gì? -
Tôi không bỏ vợ, vì sao Ni sư độ vợ tôi xuất gia? -
Này lão trượng, ông từ đâu đến vậy? -
Từ thành Vương Xá đến. Tỉ-kheo-ni
liền mắng: "Quân chết tiệt! Ngươi là quân giặc. Người
ở thành Vương Xá thường đến đây để làm gián điệp,
dò la tin tức nước ta". Thế rồi, cô nói với đệ tử: "Lấy
y Tăng-già-lê lại đây cho ta, rồi trói tên chết tiệt này
đem giam vào trong ngục". Ông
ta nghe thế hoảng sợ, liền suy nghĩ: "Cặp mắt của người
này
thật đáng sợ, có thể bà làm thật chứ chẳng chơi!". Thế
rồi đôi mắt vừa láo liên ngó chừng, ông vừa từ từ rút
lui. Khi ra ngoài rồi, ông nổi giận mắng: "Tỉ-kheo-ni này
đã độ vợ ta phi pháp, lại còn muốn bắt trói ta". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế liền nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái
Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi Tỉ-kheo-ni ấy đến. Khi cô đến rồi, Phật hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Này Ca-lê! Ðó là việc sai trái. Vì sao ngươi độ người
mà chủ không cho phép? Từ nay về sau, Ta không cho phép độ
người mà chủ không đồng ý. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni độ người mà chủ không cho phép thì phạm
sơ tội Tăng-già-(519c) bà-thi-sa. Giải
thích: Không
cho phép: Con
gái chưa lấy chồng thì phải hỏi cha mẹ, nếu đã lấy chồng
thì phải hỏi chồng, cha mẹ chồng và chú chồng; nếu họ
không cho phép mà độ xuất gia, cho thọ Cụ túc, thì phạm
tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói, thuộc về sơ tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni độ người mà chủ của họ không cho phép thì
phạm tội Việt tì-ni. Nếu
cho họ học giới thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
cho họ thọ Cụ túc thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có người vợ của
lực sĩ ở ấp A-ma-la còn trẻ, đoan chính, tư thông với người
khác. Chồng cô nói: "Em đừng làm như vậy nữa, nếu còn
tiếp tục thì anh sẽ trị tội em như vậy, như vậy". Thế
nhưng người vợ vẫn tiếp tục tư thông không bỏ. Người
chồng bèn theo dõi bắt gặp hai người đang hành sự, trói
lại đem đến quan xử kiện, nói: "Vợ tôi tư thông với người
này, xin quan trên dùng pháp luật trị tội giúp tôi". Viên
quan hình pháp nói: "Nếu người nữ tư thông với kẻ khác
thì phải trình diện trước hai chúng trong bảy ngày. Sau khi
trình diện bảy ngày, phải bị phanh thây trước hai gia đình".
Ðoạn, viên quan nói với người vợ ấy: "Ngươi hãy trở
về, nếu trong nhà có của thì phải chuẩn bị các dụng cụ
bố thí ẩm thực. Nếu trong nhà không có của thì tùy ý.
Sau khi đủ bảy ngày sẽ bị phanh thây trước hai chúng". Thế
rồi, cô ấy trở về nhà, sắm sửa các thứ ẩm thực bố
thí cho hai chúng; rồi cô ngồi ở chỗ vắng khóc lóc. Các
bà mẹ thấy thế hỏi: -
Vì sao mà con khóc? -
Sau bảy ngày nữa con sẽ bị phanh thây trước hai chúng mà
không khóc sao được? -
Con có muốn được sống không? -
Muốn. -
Con hãy đến chỗ Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở thành Xá-vệ cầu xin
xuất gia thì có thể được sống. Vì
mọi người đang say rượu nên cô này theo kế hoạch lặng
lẽ lén đi, đến thành Xá-vệ, cô hỏi người ta: "Tăng-già-lam
của Tỉ-kheo-ni ở chỗ nào vậy?". Họ bèn chỉ chỗ. Cô đi
vào đó, rồi hỏi người khác: "Phòng của Tỉ-kheo-ni Ca-lê
ở đâu vậy?". Họ bèn chỉ phòng. Cô liền vào phòng, bạch: -
Thưa thánh giả, con muốn xuất gia. -
Phu chủ đã cho phép con chưa? -
Cho phép như thế nào? -
Nếu chưa lấy chồng thì cha mẹ cho phép; nếu đã lấy chồng
thì cha mẹ chồng, chồng và chú chồng cho phép. Ðó là cho
phép. -
Nếu như vậy thì con phải tự cho phép, vì các người trong
thân tộc đều muốn con phải bị phanh thây, đã vứt bỏ
con rồi. -
Nếu quả như vậy thì họ đã quyết tâm bỏ con. Thế
là Ca-lê độ cô ấy xuất gia cho thọ Cụ túc. Chồng cô đi
tìm kiếm để trị tội mà không thấy. Anh ta nghe nói có Tỉ-kheo-ni
ở thành Xá-vệ đã độ cho xuất gia rồi, (520a) bèn đi đến
thành Xá-vệ hỏi dân chúng: "Tinh xá Tỉ-kheo-ni ở nơi nào
vậy?" Dân chúng chỉ chỗ. Rồi ông đi vào tinh xá hỏi: "Phòng
của Tỉ-kheo-ni Ca-lê ở đâu vậy?". Họ liền chỉ chỗ. Ông
bước vào phòng hỏi: -
Thánh giả là Tỉ-kheo-ni Ca-lê phải không? -
Hỏi để làm gì? -
Tôi không bỏ vợ, vì sao Ni sư độ cho xuất gia? -
Này thiện sĩ, nhà ông ở đâu vậy? -
Ở tại ấp A-ma-lặc. -
Quân chết tiệt, ngươi là quân giặc, ngươi không biết sao?
Người ấp A-ma-lặc thường đến đây dò la tin tức của
nước ta để làm gián điệp. Ðoạn,
Ca-lê nói với đệ tử: "Lấy y của ta đưa đây, ta sẽ đi
báo cho vua tóm cổ tên chết tiệt này". Anh
ta nghe thế, suy nghĩ: "Tỉ-kheo-ni này trương mắt ra nhìn hung
tợ, có thể làm việc ác". Nghĩ thế, anh ta từ từ rút lui.
Khi ra ngoài rồi, nổi giận mắng: "Vị Sa-môn ni này lén độ
vợ ta mà còn muốn bắt trói ta". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
liền đem việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
bảo gọi Tỉ-kheo-ni Ca-lê đến. Khi cô tới rồi, Phật liền
quở trách: "Này Ca-lê, đó là việc phi pháp. Vì sao ngươi
biết kẻ đó phạm tội, những người thân của họ muốn
trị tội mà độ cho xuất gia? Ðó là việc phi pháp, phi luật,
trái lời Ta dạy. Từ nay về sau, Ta không cho phép, khi biết
người nữ kia phạm tội, mọi người muốn trị tội, mà
độ cho xuất gia". Lại
nữa, tại ấp Kiền-đề của dòng họ Thích Ca có người
con gái - Như trên đã nói - cho đến, cô nói với Tỉ-kheo-ni: -
Xin độ con xuất gia? -
Trước đây con đã phạm tội như thế thì không thể xuất
gia được. Thế
rồi, cô đi đến các Tỉ-kheo-ni khác, nhưng họ đều không
độ. Cô bèn đi đến ngoại đạo xin xuất gia. Người chồng
muốn tìm cô về trị tội, nhưng không biết ở đâu, thì
nghe nói cô đã được ngoại đạo độ cho xuất gia tại thành
Xá-vệ. Anh ta suy nghĩ: "Người này vốn là con của Ưu-bà-tắc
mà nay bị rơi vào trong hàng ngũ ngoại đạo tà kiến, cần
phải trị tội, nhưng không thể tìm ra". Nếp
sống của các ngoại đạo là uống nước vo gạo và nước
rửa chảo, sống lõa thể vô liêm sỉ, mà còn đánh vợ không
biết tiếc thương. Thế nên, người phụ nữ ấy chán ngán,
tự nhủ: "Ðây không phải là phép tắc xuất gia", liền bỏ
đi, đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni bạch rằng: "Con từ trên
bờ vỡ rơi xuống hầm sâu, sắp sa vào địa ngục, xin hãy
kéo con lên, cho con xuất gia". Các
Tỉ-kheo-ni đều không dám độ. Thế là, cô đến bạch với
Ðại Ái Ðạo: "Thưa thánh giả, con vốn là con gái của dòng
họ Thích, mà nay bị rơi xuống hầm sâu, xin độ con xuất
gia". Ðại Ái Ðạo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật dạy: "Ðược phép độ. Nếu trước đó ngoại
đạo đã độ, thì sau đó cho phép xuất gia". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ (520b) phải tập họp lại tất
cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội, những người
thân thích muốn trị tội, mà độ họ - trừ khi khác; khi
khác là khi ngoại đạo đã độ trước, đó gọi là khi khác
- thì phạm sơ tội. Giải
thích: (Một
số từ trên đã giải thích). Chúng:
Hai chúng tập họp, nghĩa là gồm những người bên phía cha
mẹ đẻ và những người bên nhà chồng. Thân
thích: Tức
tộc họ Bà-la-môn, tộc họ Sát-lợi, tộc họ Tì-xá, tộc
họ Thủ-đà-la. Trị
tội: Hoặc
trói, bọc lại để thiêu; hoặc bỏ vào trong bao cát, cột
miệng bao lại, thả chìm dưới nước; hoặc dùng lửa đốt
đầu; hoặc cắt tai, cắt mũi; hoặc dùng thanh sắt đốt nóng
áp vào âm hộ; hoặc đem phân thây, quốc pháp có các loại
khác nhau như thế. Ngoại trừ trước đó họ đã xuất gia
theo ngoại đạo, rồi độ họ xuất gia, thì Thế Tôn bảo
là không có tội. Ngoại
đạo: Như
Ni-kiền-đế-lê, Ðàn-trì-già, đại loại các ngoại đạo
như thế. Ðấy
là sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo-ni biết người nữ phạm tội đáng trị phạt mà
độ cho xuất gia thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
cho họ học pháp thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
cho thọ Cụ túc thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có nhiều phụ nữ
đang ở bờ bên kia của sông A-kì-la, còn bờ bên này thì
Tỉ-kheo-ni tăng vân tập. Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
cởi y phục ném xuống đất, rồi bơi qua bên kia bờ sông.
Các phụ nữ thấy thế bàn tán nhau: "Hãy xem Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà
bơi trên mặt nước mà qua đây". Sau khi qua đến nơi, cô bèn
ngồi trên chỗ đất trống một lát rồi lại bơi trở về.
Khi ấy, các phụ nữ bèn chê bai rằng: "Vì sao mà Tỉ-kheo-ni
Thâu-lan-nan-đà này làm như kẻ hung ác, bơi qua rồi lại bơi
về!". Các
Tỉ-kheo-ni nghe thế bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo
lại đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo-ni Thâu-lan-nan-đà đến. Khi cô tới rồi, Phật
quở trách: "Ðó là việc xấu. Vì sao tại chỗ có đò qua
lại mà ngươi lại bơi qua? Từ nay về sau, Ta không cho phép
một mình bơi qua chỗ bến đò". Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni một mình bơi qua sông tại chỗ bến đò thì
phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Bơi
một mình:
Rời khỏi bờ sông bên này đến bờ bên kia thì phạm sơ
tội Tăng-già-bà-thi-sa. 10-
GIỚI: TỰ Ý THA TỘI NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỉ-kheo-ni Ca-lê đi
du hành trong thôn xóm. (520c) Sau khi cô đi, Ni tăng làm yết-ma
cử tội đệ tử y chỉ của cô. Ðến khi cô trở về, đệ
tử liền bạch: "Ni tăng làm yết-ma cử tội con, không cho
con cùng hưởng pháp thực, vị thực". Cô bèn quở trách đệ
tử: "Ngươi hãy giữ im lặng, nhưng phải bảo Ni tăng tập
họp", bèn tập họp tăng. Các Tỉ-kheo-ni ai nấy đều suy nghĩ:
"Vị Tỉ-kheo-ni này đi xa trở về rồi tập họp Tăng, thường
thích có vật bố thí, không hiểu chúng ta hôm nay sẽ được
vật gì đây?". Do suy nghĩ thế nên mọi người đều hoan hỷ
tập họp nhanh chóng. Sau khi tập họp, cô bèn tuyên bố như
sau: -
Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đã bị Tăng
làm yết-ma cử tội. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay
Tăng xả pháp yết-ma cử tội cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp. Ðây
là lời tác bạch. -
Xin thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp đã bị Tăng
làm yết-ma cử tội; nay Tăng xả pháp yết-ma cử tội cho
Tỉ-kheo-ni mỗ giáp; thánh giả Tăng nào bằng lòng xả pháp
yết-ma cử tội cho Tỉ-kheo-ni mỗ giáp thì im lặng, ai không
bằng lòng hãy nói. Ðây là lần yết-ma thứ nhất (lần thứ
hai, thứ ba cũng làm như thế). Các
Tỉ-kheo-ni thấy đôi mắt của Tỉ-kheo-ni này đáng sợ nên
không ai dám ngăn cản cả. Thế rồi, các Tỉ-kheo-ni bàn tán
nhau: "Ðây là lời nói gì vậy?" Ðoạn, ai nấy đều bảo:
"Tôi cũng chả hiểu lời nói này". Các
Tỉ-kheo-ni bèn bạch với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Tỉ-kheo-ni
ấy đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc phi pháp. Vì sao ngươi biết Tỉ-kheo-ni Tăng đã
làm yết-ma cử tội đúng pháp, đúng luật, người ấy chưa
tùy thuận, chưa thi hành đúng pháp, ngươi không thưa trước
với Tăng mà tự ý xả yết-ma? Từ nay về sau, Ta không cho
phép làm như vậy. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tỉ-kheo-ni Tăng hòa hợp làm yết-ma cử
tội đúng pháp, đúng luật; người phạm tội chưa thi hành
đúng pháp, mình không thưa trước với Tăng mà tự ý xả
tội, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: (Một
số từ đã giải thích ở trước). Như
pháp, như luật:
Không thấy tội thì không vạch tội ba lần để cho thấy. Chưa
xả pháp yết-ma cử tội:
Không được sống chung. Chưa
làm đúng pháp:
Chưa tùy thuận, tâm chưa điều phục, Tăng chưa xả tội. Không
thưa trước:
Chưa làm pháp yết-ma cầu thính trước Tăng mà tự ý xả
tội giữa Tăng, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tăng-già-bà-thi-sa:
Như trên đã nói. Nếu
đệ tử bị Tăng hòa hợp làm yết-ma cử tội thì Hòa thượng
ni hoặc A-xà-lê ni nên đến chỗ Tỉ-kheo-ni trưởng lão (521a)
nói như sau: "Ai mà không ngu si, không có lỗi, lúc nào cũng
có trí tuệ, vì không biết cho nên mới như vậy, người ấy
sẽ không dám tái phạm nữa". Phải nói với tất cả mọi
người như vậy để cho tâm họ nhu nhuyến, rồi mới làm
yết-ma cầu thính ở giữa Tăng. Người làm yết-ma nên nói
như sau: -
Xin các thánh giả Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo-ni mỗ giáp có việc
ấy nên Tăng làm yết-ma cử tội. Nay người ấy đã tùy thuận,
tâm đã nhu nhuyến. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay
mỗ giáp muốn đến giữa Tăng xin xả pháp yết-ma cử tội. Các
thánh giả Tăng xin lắng nghe. Mỗ giáp muốn vào giữa Tăng
xin xả pháp yết-ma cử tội. Vì Tăng đã bằng lòng nên im
lặng; việc ấy cứ như thế mà thi hành. Phải
làm yết-ma như vậy xong rồi mới xin. Nếu có người ngăn
cản thì Hòa thượng nên dùng lời nhỏ nhẹ khuyên họ thôi
đi. Nếu
Tỉ-kheo-ni biết Tăng hòa hợp làm yết-ma cử tội đúng pháp,
đúng luật mà tự ý xả yết-ma thì phạm tội Việt tì-ni. 11-
GIỚI: NHẬN VẬT CỦA NGƯỜI CÓ TÀ TÂM. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy có một trưởng
giả vì lòng dục mà mời Tỉ-kheo-ni Thọ Ðề cúng dường
y, bát, ẩm thực, thuốc trị bệnh, nói như sau: -
Thánh giả có biết tôi cúng vì lẽ gì không? -
Biết. -
Biết như thế nào? -
Vì muốn được phước đức. -
Ðương nhiên rồi, nhưng còn gồm cả lòng ái dục nữa. Lúc
ấy, Thọ Ðề là người đã ly dục nên nghe lời nói kia tâm
cô vẫn thản nhiên không thèm để ý, do thế mà không ngăn
cản. Các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo.
Ðại Ái Ðạo lại đem bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Thọ Ðề đến. Khi
cô tới rồi, Phật hỏi lại đầy đủ sự việc trên: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Ngươi không làm mẫu mực cho người đời
sau sao? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không
thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại thành Vương Xá phải tập họp lại tất cả,
dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không có tâm ô nhiễm mà nhận y, bát, thức
ăn uống, thuốc trị bệnh của người đàn ông có tâm ô
nhiễm, thì phạm sơ tội Tăng-già-bà-thi-sa. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như Tỉ-kheo-ni Thọ-Ðề. Không
có tâm ô nhiễm:
Không có tâm ái dục. Bát:
Gồm ba loại, thượng, trung và hạ. Y:
Gồm có y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, Tăng-kì-chi
và y tắm mưa. Thức
ăn uống:
Như thức ăn Khư-đà-ni, bồ-xà-ni. Thuốc:
Mật, đường phèn, sanh tô và mỡ; đây thuộc về sơ tội. Nếu
có người cúng dường cho Tỉ-kheo-ni y, bát, thức ăn uống,
thuốc trị bệnh mà nói như sau: "Tôi vì lý do đó mà cúng
dường", thì không nên nhận, mà nên nói: "Tôi không cần,
(521b) đã có những nhà khác cung cấp rồi". Nếu như nhận
thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nếu
họ không nói mà cử động tay chân, liếc mắt, khảy móng
tay, viết chữ dưới đất, làm các dấu hiệu như vậy, thì
biết họ có lòng dục đối với mình, mình không nên nhận.
Nếu nhận thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu họ có lòng tin
thanh tịnh, tình ý chân chính, thì mình nhận không có tội. Nếu
người nữ có lòng dục khi cúng dường cho Tỉ-kheo mà cử
động chân tay, liếc mắt nhìn, thì biết là họ có lòng dục;
không nên nhận. Nếu nhận thì phạm tội Việt tì-ni. Trái
lại, nếu họ có lòng tin thanh tịnh, tình ý chân chính thì
mình nhận không có tội. Thế
nên đức Thế Tôn nói (như trên). LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ ba mươi sáu
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||