| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI RÕ
PHẦN ÐẦU CỦA TÁM BA-LA-DI. Ðức
Thế Tôn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác từ lúc ban đầu
phát tâm tu đạo nay đã thành tựu, đang an trú tại tinh xá
của dòng họ Thích, nơi thành Ca-duy-la-vệ, được chư Thiên,
người đời tôn kính cúng dường, như trên đã nói rõ. Lúc
ấy, Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di cùng với năm trăm cô gái dòng
họ Thích như: Xiển-đà-di, Xiển-đà-ba-la, Ðà-bà-xiển-đà,
mẹ Xiển-đà v.v..., (514b) đi đến chỗ Phật, cúi đầu, đảnh
lễ đứng hầu một bên. Thế rồi, Ðại Ái Ðạo bạch với
Phật: "Bạch Thế Tôn! Phật ra đời khó gặp, được nghe
pháp cũng khó, nay gặp đức Như Lai xuất hiện trên đời,
diễn thuyết diệu pháp cam lồ, khiến cho các chúng sinh chứng
được đạo quả tịch diệt". Như trong Kinh Ðại Ái Ðạo
xuất gia đã nói rõ. Thế rồi, Phật dạy: "Từ nay về sau,
Tỉ-kheo ni Ðại Ái Ðạo là bậc Thượng tọa của Ni Tăng,
phải tuân thủ như thế". Lúc
ấy, Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di bạch với Phật: "Bạch Thế
Tôn! Thế Tôn đã chế định bốn trọng giới cho các Tỉ-kheo,
vậy chúng con có được phép nghe hay không?" Phật
dạy: "Ðược! Này Cù-đàm-di, nếu một thiện nữ có lòng
tin, muốn được 5 việc lợi ích, cần phải thọ trì hết
giới bổn này. Năm việc lợi ích đó là: 1-
Nếu một thiện nữ có lòng tin muốn xây dựng Phật pháp,
phải giữ gìn trọn vẹn giới bổn này. 2-
Nếu muốn cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài, phải giữ
gìn trọn vẹn giới bổn này. 3-
Nếu muốn không còn nghi ngờ, phải thưa hỏi người khác,
phải giữ gìn trọn vẹn giới bổn này. 4-
Nếu muốn làm chỗ nương tựa cho các Tỉ-kheo-ni do phạm tội
mà đâm ra sợ hãi, phải giữ gìn trọn vẹn giới bổn này. 5-
Nếu muốn du hóa 4 phương mà không gặp trở ngại, phải giữ
gìn trọn vẹn giới bổn này. Ðó
gọi là người thiện nữ có lòng tin vững chải được 5
điều lợi ích khi giữ gìn giới bổn này. Ngoài ra, như ở
phần đầu trong 5 nhân duyên của Tỉ-kheo trên kia đã nói
rõ: --
Nếu Tỉ-kheo-ni không trả giới, giới yếu kém, không ra khỏi
Ni chúng mà thọ (hành) dâm, thậm chí hành dâm với loài súc
sinh, thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di, không được sống
chung với Ni chúng. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Là người nữ đủ 20 tuổi chứ không phải không đủ, đã
thọ Cụ-túc một cách hoàn hảo giữa hai bộ Tăng, đúng pháp
chứ không phải không đúng pháp, hòa hợp chứ không phải
hòa hợp, một lần bạch, ba lần yết-ma, không có ai cản
trở. Ðó gọi là Tỉ-kheo-ni. Không
trả giới, giới yếu kém, không ra khỏi Ni chúng:
Như ở phần Tỉ-kheo ở trên đã nói rõ. Thọ:
Thụ hưởng với lòng dục. Dâm:
phi phạm hạnh. Nếu Tỉ-kheo-ni cùng với người nam, bất năng
nam, phi nhân nam, súc sinh giống đực đang thức hoặc ngủ,
hoặc thây chết hành dâm tại ba chỗ là miệng, đường tiểu
tiện hay đường đại tiện, mà trong mỗi trường hợp đều
thọ lạc, thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di, không được
sống chung với Ni chúng. Ba-la-di:
Ðối với Pháp trí bị thoái hóa, đọa lạc, không được
đạo quả, đó gọi là Ba-la-di. Cũng thế, cho đến đối với
Tận trí, Vô sinh trí mà thoái hóa, đọa lạc, không được
đạo quả, đó gọi là Ba-la-di. Ba-la-di
còn có nghĩa là: Ðối với Niết-bàn bị thoái hóa, đọa
lạc, không được đạo quả, (514c) đó gọi là Ba-la-di. Ba-la-di
còn có nghĩa là: Ðối với phạm hạnh bị thoái hóa, đọa
lạc, đó gọi là Ba-la-di. Ba-la-di
còn có nghĩa là: Loại tội mà khi vi phạm không thể phát
lồ sám hối được, đó gọi là Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni có tâm nhiễm ô muốn nhìn nam giới thì phạm tội
Việt tì-ni tâm hối. Nếu dùng mắt nhìn họ, dùng tai nghe
tiếng họ, thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
khỏa thân hướng vào nhau thì phạm tội Thâu-lan; thậm chí,
nếu hai căn chạm vào nhau chỉ bằng hạt mè, thì phạm tội
Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni không nói mình trả giới, không nói mình không trả
giới, vì giới yếu kém mà làm người thế tục, thì tùy
theo mức độ phạm mà kết tội. Nếu làm ngoại đạo thì
cũng như thế. Nếu người này lõa thể, người kia mặc y
phục, hoặc người kia lõa thể, người này mặc y phục; hoặc
cả hai cùng mặc y phục; hoặc cả hai cùng lõa thể; mà hễ
hai căn chạm vào nhau chừng một hạt mè thì đều phạm tội
Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni không trả giới, giới yếu kém, không ra khỏi Ni
chúng, rồi mặc đồ thế tục mà phạm giới, thì tùy theo
mức độ vi phạm mà kết tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni cưỡng dâm Tỉ-kheo thì Tỉ-kheo-ni phạm tội Ba-la-di.
Nếu khi ấy Tỉ-kheo thọ lạc thì cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni cùng hành dâm thì cả hai đều phạm tội
Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni hành dâm với Sa-di thì Tỉ-kheo-ni phạm tội Ba-la-di,
còn Sa-di phải bị trục xuất. Nếu Tỉ-kheo-ni hành dâm với
người thế tục thì cũng như thế. Nếu
Tỉ-kheo-ni cùng với ba loài: người, phi nhân, súc sinh, hành
dâm tại ba chỗ là miệng, đường tiểu tiện và đại tiện,
trong ba trường hợp: đang thức, ngủ, hoặc là đã chết thì
đều phạm tội Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni ngủ hoặc bị cuồng trí hay nhập định mà có
người đến leo lên mình hành dâm, lúc ấy Tỉ-kheo-ni hay biết
mà giai đoạn đầu, giữa và cuối thọ lạc thì phạm tội
Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni ngủ, bị cuồng trí hay nhập định, rồi có người
đến leo lên mình hành dâm, lúc ấy Tỉ-kheo-ni hay biết, nhưng
lúc đầu không thọ lạc mà lúc giữa và cuối có thọ lạc,
thì cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni đang ngủ, cuồng trí hay nhập định, rồi có người
đến leo lên mình hành dâm, lúc ấy Tỉ-kheo-ni hay biết, nhưng
lúc đầu, lúc giữa không thọ lạc mà cuối thọ lạc thì
cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni đang ngủ, cuồng trí hay nhập định, rồi có người
đến
leo lên mình hành dâm, lúc ấy Tỉ-kheo-ni hay biết, nhưng giai
đoạn đầu, giữa và cuối đều không thọ lạc, thì không
có tội. Thế
nào là thọ lạc? Thế nào là không thọ lạc? Thọ
lạc: Ví như người đói mà được các thức ăn mỹ vị,
người ấy lấy việc ăn làm lạc thú; lại như người đang
khát mà được các thức uống ngon lành; người ấy lấy việc
uống làm thú vị; người thọ dục lạc cũng như vậy. Không
thọ lạc: Ví như người ưa sạch sẽ mà phải dùng các thứ
thây chết quàng vào cổ, hoặc là phải dùng thanh sắt nóng
áp vào mụt nhọt bị vỡ; không thọ lạc cũng như vậy. Nếu
Tỉ-kheo-ni thọ dâm do mua được, do thuê được, do ân nghĩa
mà được, do quen biết mà được, do đùa bỡn mà được,
do thí nghiệm mà được, (515a) do tò mò mà được, đều phạm
tội Ba-la-di. Nhưng nếu vì cuồng trí hay không biết, thì không
có tội. Thế nên nói: -
Nếu Tỉ-kheo-ni không trả giới, giới yếu kém, không ra khỏi
Ni chúng mà thọ dâm, thậm chí với cả súc sinh, thì Tỉ-kheo-ni
ấy phạm tội Ba-la-di; không được sống chung với Ni chúng. Ngoài
ra, các giới thứ hai, thứ ba, thứ tư thì giống như trong
giới của Tỉ-kheo đã nói rõ. --
Nếu Tỉ-kheo-ni lấy vật mà người ta không cho tại thôn xóm
hay nơi hoang dã, rồi tùy theo vật đã lấy mà nhà vua hoặc
bắt, hoặc giết, hoặc trói, hoặc trục xuất, nói: "Ôi kẻ
nữ nhân! Ngươi là quân trộm cướp, là kẻ ngu si", thì Tỉ-kheo-ni
lấy trộm này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung với
Ni chúng. --
Nếu Tỉ-kheo-ni tự tay mình giết người, hoặc đi tìm dao
đưa cho họ tự sát, bảo họ chết, khen ngợi sự chết, nói:
"Ôi, người ta sống mà xấu xa như thế để làm gì! Thà chết
còn hơn sống". Suy nghĩ như thế, tưởng tượng như thế,
tìm phương tiện khen ngợi rằng chết là khoái trá. Nhân đó
mà họ chết chứ không có lý do nào khác, thì Tỉ-kheo-ni ấy
phạm tội Ba-la-di không được sống chung với Ni chúng. --
Nếu Tỉ-kheo-ni chưa biết, chưa tỏ rõ, mà tự xưng mình được
pháp hơn người, có tri kiến thù thắng của bậc thánh, rằng
mình thấy như vậy, biết như vậy, rồi sau đó, hoặc bị
thẩm tra, hoặc không bị thẩm tra về việc phạm tội, nhưng
muốn được thanh tịnh bèn nói như sau: "Thưa thánh giả! Con
không biết mà tự nói là biết, không thấy mà tự nói là
thấy. Ðó là lời nói hư dối không thật", thì Tỉ-kheo-ni
này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung với Ni chúng;
ngoại trừ sự tăng thượng mạn. 5-
GIỚI: NHIỄM TÂM XÚC CHẠM NAM TỬ. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, bên cây Ni-câu-loại,
nước Ca-duy-la-vệ, đức Thế Tôn chế giới không cho phép
Tỉ-kheo-ni ở a-luyện-nhã. Nhưng lúc này tại thôn xóm chưa
có tinh xá nên Tỉ-kheo-ni Lại-tra đến tạm trú nơi nhà của
người họ Thích, rồi dạy kinh cho người con trai của họ.
Thân sắc của Tỉ-kheo-ni Lại-tra đoan chính nhưng chưa ly dục,
chàng thanh niên kia cũng đoan chính mà chưa ly dục, mỗi ngày
chàng đến học kinh ba lần. Lúc ấy, Tỉ-kheo-ni thường thường
trông thấy anh ta nên sinh dục tâm nhiễm trước, đến nỗi
sinh bệnh, nhan sắc vàng vọt. Các Tỉ-kheo-ni bèn đến vấn
an cô: -
Thưa thánh giả, người đau bệnh gì vậy? Có cần thuốc gì
không? Nếu cần sữa, dầu, mật, đường phèn thì chúng con
sẽ cung cấp. -
Không cần, tự nhiên sẽ khỏi thôi. Các
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di cũng đến vấn an như thế. Ðồng thời
chàng thanh niên họ Thích kia cũng hỏi cô: -
Thưa thánh giả, người đau bệnh gì vậy? Có cần thuốc gì
không thì con sẽ cung cấp cho. Nếu trong nhà có thì con sẽ
đưa, nếu không có thì con sẽ đi tìm nơi khác đem về đưa
cho thánh giả. -
Này hiền hữu, không phải những thứ thuốc ấy có thể chữa
khỏi. -
Thưa thánh giả, thế thì bệnh này không phải là thân bệnh
mà là tâm bệnh chăng? -
(515b) Ðúng như ngươi nói. -
Thế thì bệnh này làm sao cho khỏi? -
Ngươi có muốn cho ta khỏi không? -
Muốn cho khỏi, nhưng người cần thứ gì con sẽ đi tìm về
đưa cho? -
Hãy đến đây cùng làm việc ấy với ta. -
Con không dám. Những người xuất gia khác mặc áo cà-sa, con
còn không dám sinh tâm như thế, huống gì Ni sư, người mà
con tôn trọng? -
Nếu không thể làm như thế, thì chỉ cần ôm ta nói lời
âu yếm, ôm chặt ta vuốt ve từ trên xuống dưới. -
Nếu chỉ cần có vậy thì con có thể làm được. Ðoạn,
chàng ta đến ôm cô bày tỏ tình cảm, nắm hai cái vú rờ
rẫm vuốt ve từ trên xuống dưới, khiến cô thích ý; rồi
sau đó cứ thường thường làm như thế. Như đức Thế Tôn
đã dạy: "Nghĩ về sắc đẹp luôn luôn thì tâm nhiễm ô sẽ
sinh khởi, giống như người nữ tưởng nhớ người nam hay
người nam tưởng nhớ người nữ". Từ
đó trở đi, hai người cứ tiếp tục làm như thế không ngừng.
Các Tỉ-kheo-ni khác liền đến khuyên can cô: -
Thánh giả đừng làm như thế. Ðiều đó không được làm. -
Nhưng tôi làm việc ấy lại cảm thấy thích thú. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem việc ấy trình bày với Ðại Ái Ðạo.
Ðại Ái Ðạo nghe thế liền đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Lại-tra đến. Khi cô đến rồi,
Phật liền hỏi: -
Ngươi đem tâm ô nhiễm cùng với người nam tử có tâm ô
nhiễm, xúc chạm, vuốt ve từ vai xuống, từ đầu gối trở
lên để tìm lạc thú phải không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Này Lại-tra! Ðó là việc xấu. Ngươi không từng nghe Ta dùng
vô lượng phương tiện chê trách dâm dục, rằng dục là thứ
rượu mê, dục giống như ngọn lửa dữ đốt hết thiện
căn của người, dục là tai họa lớn hay sao? Ðồng thời,
Ta cũng dùng các phương tiện để khen ngợi ly dục, đoạn
dục, vượt qua dục. Vì sao nay ngươi lại làm việc xấu xa
ấy? Ðó là việc phi pháp, phi luật, không thể dùng việc
ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Ðoạn,
Phật bảo Ðại Ái Ðạo Kiều-đàm-di truyền lệnh cho các
Tỉ-kheo-ni đang sống tại Ca-duy-la-vệ phải tập họp lại
tất cả. Sau khi họ đã tập họp xong, đức Thế Tôn bèn
đem sự việc vừa rồi nói với các Tỉ-kheo-ni, nhấn mạnh
về những tai họa do việc xảy ra vừa rồi. Ðồng thời,
Ngài tùy thuận thuyết pháp, tuyên bố về 10 lợi ích mà đức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, vì các đệ tử, chế định
việc tụng Ba-la-đề-mộc-xoa. Mười lợi ích đó là: 1-
Vì để nhiếp phục Tăng chúng.
Ðó
là 10 việc lợi ích. Vì 10 việc này mà đức Như Lai Ứng
Cúng Chánh Biến Tri chế định việc tụng Ba-la-đề-mộc-xoa
cho các đệ tử. Thế nên, những ai chưa nghe thì hãy nghe,
những ai đã nghe rồi thì phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni có tâm ô nhiễm rờ rẫm vuốt ve người đàn
ông với tâm ô nhiễm, từ vai trở xuống, từ đầu gối trở
lên để thọ lạc thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di, không
được sống chung. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Người
đàn ông có tâm ô nhiễm:
Tức là tâm ái dục. Từ
vai trở uống:
Từ vú trở xuống. Từ
đầu gối trở lên:
Từ bắp vế trở lên đến rún. Vuốt
ve: Di chuyển
bàn tay rờ rẫm. Thọ
lạc: Hưởng
thụ khoái lạc. Nhiễm
trước: Tỉ-kheo-ni
này phạm tội Ba-la-di. Ba-la-di:
Như trên đã nói. Không
được sống chung: Không được sống với Tỉ-kheo-ni để
hưởng pháp thực và vị thực, hễ trước thế nào thì sau
cũng thế ấy, hễ sau thế nào thì trước kia cũng thế. Vì
phạm tội Ba-la-di nên không được sống chung. Nếu
Tỉ-kheo-ni có tâm ô nhiễm rờ rẫm, vuốt ve người nam cũng
có tâm ô nhiễm, từ vai trở xuống, từ đầu gối trở lên
để tìm lạc thú, thì phạm tội Ba-la-di, không được sống
chung. Nếu làm như vậy với người bất năng nam và phụ nữ
thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni dùng tâm ô nhiễm vuốt ve người nam không có tâm
ô nhiễm, cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu làm như vậy với người
bất năng nam và phụ nữ thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni không có tâm ô nhiễm mà vuốt ve người nam có
tâm ô nhiễm thì phạm tội Thâu-lan-giá. Ðối với người
bất năng nam và phụ nữ thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
Tỉ-kheo-ni không có tâm ô nhiễm mà xúc chạm người nam cũng
không có tâm ô nhiễm thì phạm tội Việt tì-ni. Ðối với
người bất năng nam và phụ nữ thì phạm tội Việt tì-ni
tâm hối. Nếu
Tỉ-kheo-ni bảo người nam cạo đầu thì nên nhờ hai người
nữ vịn vào đầu để có cảm giác cái đau do người nữ
chứ không phải người nam. Cũng vậy, khi bảo người nam lể
đầu chảy máu, hay lể ở tay, ở chân thì nên nhờ người
nữ cầm chỗ đó, để có cảm giác cái đau do người nữ
chứ không phải do người nam. Nếu từ vai trở lên, từ đầu
gối trở xuống có mụt nhọt, nên bảo người nữ cầm giữ
rồi nhờ người nam nặn mủ thì không có tội. Nhưng nếu
mụt nhọt ở chỗ kín thì không được làm như vậy. Chỗ
kín nghĩa là từ vai trở xuống, từ đầu gối trở lên. Nếu
tại nơi ấy có bệnh thì nên nhờ người nữ chữa trị.
Thế nên nói (như trên). 6-
GIỚI: NHIỄM TÂM THÂN CẬN NAM TỬ. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, được chư Thiên, người đời
cung kính, cúng dường, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỉ-kheo-ni
Lại-tra-ba-la dạy kinh cho đồng tử Li-xa, cho đến đồng tử
nói: -
Những người xuất gia khác mặc áo cà-sa, con còn không dám
sinh tâm như thế, huống gì Ni sư là người mà con tôn trọng. -
Nếu không làm như vậy, thì hãy đến đứng gần nói chuyện
với tôi, nắm tay tôi, nắm y tôi, lại gần vui vẻ, mời ngồi,
gập mình xuống, (516a) hẹn cùng đi chung. -
Nếu chỉ có như vậy thì có thể được. Thế
rồi, anh ta làm cho cô thích ý, và thường xuyên làm như vậy
không ngừng, đúng như đức Thế Tôn nói: "Nếu nghĩ đến
sắc đẹp không quên thì tâm ô nhiễm phát sinh, như trường
hợp người nữ tưởng nhớ người nam, người nam tưởng
nhớ người nữ". Bấy
giờ, các Tỉ-kheo-ni bèn đem việc đó trình bày với Ðại
Ái Ðạo, Ðại Ái Ðạo lại đem nó bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo-ni Lại-tra-ba-la đến. Khi cô tới rồi,
Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc trên: -
Ngươi có làm việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Vì sao ngươi đem tâm ô nhiễm đưa tay ra
kéo người nam có tâm ô nhiễm vào sát bên mình và hò hẹn
cùng đi chung? Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng tâm ô nhiễm
đưa tay ra kéo người nam có tâm ô nhiễm lại kề bên mình,
cho đến hẹn nhau cùng đi chung. Ðoạn,
Phật bảo Ðại Ái Ðạo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, vì
10 lợi ích mà chế giới cho các Tỉ-kheo-ni, dù ai nghe rồi
cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni đem tâm ô nhiễm, đưa tay ra đụng vào người
nam cũng có tâm ô nhiễm, cùng nói chuyện, để cho họ cầm
tay, cầm y, họ đến hoan hỉ, mời ngồi, khom mình xuống,
hẹn nhau cùng đi chung, thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di,
không được sống chung. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo-ni
có tâm ô nhiễm, người nam có tâm ô nhiễm: Cả
hai đều có tâm dâm dục. Ðưa
tay ra đụng vào người nam:
Ðưa cánh tay ra tới chỗ họ. Nói:
Cùng nói thủ thỉ. Ðể
cho họ cầm tay:
Hoặc nắm bàn tay, hoặc nắm cổ tay, hoặc nắm ngón tay cái,
hoặc nắm ngón tay út. Hoặc
để cho họ cầm y:
Như y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, áo lót, áo
che mưa. Họ
đến tỏ vẻ hoan hỷ:
Họ đi đến mình tỏ ra vui vẻ, và thường thường đi đến. Mời
ngồi: Như
nói: "Tôi đã trải giường nệm, mời anh ngồi". Khòm
mình xuống:
Gập mình xuống sát vào họ. Hẹn
cùng đi: Nếu
Tỉ-kheo-ni hò hẹn với người nam tại trước quán xá, nơi
vườn ao, hoặc chỗ thường đi lại, thì phạm tội Ba-la-di,
không được sống chung. Ba-la-di:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni có tâm ô nhiễm, cùng với
người đàn ông có tâm ô nhiễm, đưa tay ra cho họ, cùng nói
chuyện, để cho họ cầm tay, cầm y, họ đến tỏ ra hoan hỷ,
mời ngồi, gập mình xuống, hò hẹn cùng đi chung, thì Tỉ-kheo-ni
ấy phạm tội Ba-la-di, không được sống chung. Nếu
Tỉ-kheo-ni đối xử với người bất năng nam hay người nữ
như trên thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni có tâm ô nhiễm cùng với người đàn ông không
có tâm ô nhiễm làm những việc như trên thì cũng phạm tội
Ba-la-di. Nhưng nếu xử sự như thế đối với người bất
năng nam và phụ nữ thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni không có tâm ô nhiễm cùng với người đàn ông
có tâm ô nhiễm làm những việc như trên, thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Nếu làm như vậy với người bất năng nam, với phụ nữ
thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
cả hai đều không có tâm ô nhiễm, thì phạm tội Việt tì-ni.
Ðối với người bất năng nam và phụ nữ thì phạm tội
Việt tì-ni tâm hối. Nếu
Tỉ-kheo-ni có tâm ô nhiễm cùng với người đàn ông có tâm
ô nhiễm, đưa tay cho họ cầm cho đến hò hẹn cùng đi chung,
thì phạm tội Ba-la-di. (516b)
Nếu lần lượt phạm từng việc một, đủ tám việc thì
thành tội Ba-la-di. Nếu phạm gián cách mà khi đủ tám việc
cũng thành tội Ba-la-di. Nếu phạm một khoản liền sám hối
tội Thâu-lan-giá, sau khi sám hối lại phạm nữa, cho đến
bảy lần cũng thuộc Thâu-lan-giá, nhưng khi đủ tám lần thì
thành tội Ba-la-di. Thế nên nói (như trên). Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, nói rộng như trên. Bấy giờ, có
gia đình Li-xa kia, lúc đầu sinh được hai bé trai, sau đó
sinh một bé gái. Họ cho thế là điềm không tốt nên thầm
nhủ: "Ngày nay đứa bé gái không tốt này không biết có ai
lấy không?" Thế rồi có người hỏi: -
Bà có muốn gởi đứa bé gái này đến chỗ an ổn không? -
Muốn. -
Nếu vậy thì nên đem đến cho Tỉ-kheo-ni Ca-lê nhờ cô ấy
nuôi dưỡng. Gia
đình ấy nghe thế liền cho mời Ca-lê đến, thưa: "Thưa thánh
giả! Nay tôi sinh đứa bé gái không tốt lành này không có
ai lấy, nhờ cô nuôi lớn, độ nó xuất gia, tôi sẽ cung cấp
y thực". Tỉ-kheo-ni
liền nhận đem về nuôi, cho xuất gia. Và gia đình ấy cứ
hằng ngày đưa thức ăn, hằng năm gởi đến y phục. Khi đứa
bé lớn, Ni sư cho học giới, rồi cho thọ Cụ túc. Nhưng bản
chất của người nữ vốn nhiều dâm tính, cho nên càng lớn
thì dục tình càng mạnh mẽ không thể kiềm chế được.
Do thế, cô ta bạch với sư phụ: -
Kiết sử của con sinh khởi, con không thích xuất gia, nay con
muốn hoàn tục. -
Quái lạ thay! Ở trong cõi tục cũng giống như hầm lửa, làm
sao mà có thể vui được! Từ
đó trở đi, dần dần cô thông dâm với người thế tục
và các ngoại đạo, rồi mang thai. Tỉ-kheo-ni bèn trục xuất,
và nói với sư phụ cô: -
Ni sư không biết đệ tử mình thông dâm với người thế
tục và ngoại đạo sao? -
Tôi cũng đã biết từ sớm, nhưng gia đình ấy hằng ngày
đưa thức ăn đến, hằng năm cung cấp y phục; nếu tôi bạch
với Tăng thì Tăng sẽ trục xuất. Vì ham hai món lợi kia,
nên tôi không bạch. Tỉ-kheo-ni
bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền đem việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ca-lợi
đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Này Ca-lợi, vì sao ngươi biết Tỉ-kheo-ni
phạm trọng tội mà che giấu? Ðấy là việc phi pháp, phi luật,
không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật bảo Ðại Ái Ðạo truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Tì-xá-li phải tập họp lại tất cả, (cho
đến) dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni biết Tỉ-kheo-ni kia phạm trọng tội mà không
nói với người khác, sau đó, Tỉ-kheo-ni kia hoặc rời khỏi
trú xứ, hoặc chết, hoặc hoàn tục, mới nói với người
khác rằng: "Trước đây tôi đã biết Tỉ-kheo-ni ấy phạm
trọng tội, nhưng tôi không nói với người khác, vì không
muốn cho người khác biết", thì Tỉ-kheo-ni này phạm tội
Ba-la-di, không được sống chung. Giải
thích: Tỉ-kheo-ni:
Như trên đã nói. Biết:
Hoặc tự biết, hoặc nghe từ người khác mà biết. (516c) Trọng
tội: Nếu
phạm một trong tám tội Ba-la-di tức là trọng tội. Không
nói với người khác:
Không nói với một người, nhiều người hoặc là chúng Tăng. Rời
khỏi trú xứ:
Tức bị trục xuất. Chết:
Sự vô thường xảy đến (qua đời). Hoàn
tục: Rời
khỏi pháp luật đang hành trì, làm người thế tục, ngoại
đạo. Nếu đến lúc ấy mới nói: "Trước đây tôi đã biết
người ấy phạm tội, nhưng không muốn cho người khác biết",
thì Tỉ-kheo-ni này phạm tội Ba-la-di, không được sống chung. Ba-la-di:
Như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni lúc bình minh thấy Tỉ-kheo-ni
khác phạm tội mà không có tâm che giấu, đến lúc mặt trời
mọc lại khởi tâm che giấu cho đến bình minh hôm sau, thì
Tỉ-kheo-ni này phạm tội Ba-la-di. Ðó gọi là hai thời. Cũng
vậy cho đến tám thời, như trong vấn đề che giấu của Tỉ-kheo
trên kia đã nói rõ. Nếu
Tỉ-kheo-ni thấy Tỉ-kheo-ni phạm trọng tội thì phải nói
với người khác. Nếu thấy đệ tử cùng sống chung, đệ
tử y chỉ phạm trọng tội, mà vì yêu thương
cố tình che giấu tội lỗi của đệ tử, nghĩ rằng:
"Nếu ta nói với các Tỉ-kheo-ni thì họ sẽ trục xuất nó",
thì phạm tội Ba-la-di. Trong
trường hợp, Tỉ-kheo-ni ấy nghe lời nói kia, rồi đem nói
với Tỉ-kheo-ni quen biết rằng: "Mỗ giáp phạm trọng tội,
nếu tôi đem nói với người khác thì Tỉ-kheo-ni tăng sẽ
trục xuất người ấy; vì thế mà tôi che giấu", Tỉ-kheo-ni
ấy nghe thế lại suy nghĩ: "Nếu ta nói ra thì cả hai người
đều bị trục xuất", liền che giấu, thì tất cả đều phạm
tội Ba-la-di. Cũng vậy, nếu tất cả đều che giấu thì tất
cả đều phạm tội Ba-la-di. Nếu
Tỉ-kheo-ni thấy người khác phạm trọng tội rồi đem nói
với Tỉ-kheo-ni khác rằng: "Tôi thấy mỗ giáp phạm trọng
tội", mà Tỉ-kheo-ni này quở trách rằng: "Nay ngươi làm việc
ác, vì sao lại đem nói với ta, chớ có nói nữa", thì phạm
tội Thâu-lan-giá. Nếu
Tỉ-kheo-ni thấy có người phạm trọng tội thì phải nói
với người khác. Nếu kẻ phạm tội ấy hung ác đáng sợ,
có thế lực, e họ sẽ giết mình hoặc làm tổn thương phạm
hạnh, thì nên suy nghĩ: "Hễ gây nghiệp thì có quả báo, họ
tự biết lấy. Ví như hỏa hoạn xảy ra cháy nhà, ta chỉ
nên tự cứu mình, hơi đâu mà lo việc người khác". Nếu
tâm tương ưng như thế thì không có tội. Thế nên nói (như
trên). 8-
GIỚI: THEO TỈ-KHEO PHẠM TỘI. Khi
Phật an trú tại vườn Cù-sư-la, tại Câu-diệm-di, lúc ấy
Xiển-đà phạm một hoặc hai trọng tội trong 5 thiên tội;
các Tỉ-kheo hỏi: -
Trưởng lão Xiển-đà, thầy có thấy tội ấy không? -
Ông muốn hỏi tôi có thấy hay không thấy, nhưng tôi không
thấy. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: "Ông Xiển-đà này thường phạm
một, hai tội trong 5 thiên tội mà nói không thấy, thì Tăng
nên làm (517a) yết-ma cử tội không thấy tội". Sau
khi Tăng làm yết-ma cử tội không thấy tội rồi, thầy bèn
đi đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni, nói với mẹ mình: -
Bà-lộ-ê-đế, Tăng làm yết-ma cử tội tôi, không cho tôi
hưởng chung pháp thực, vị thực. -
Quái lạ thay, thế thì nay hãy hưởng chung pháp thực, vị
thực với ta. Thế
rồi, người mẹ tùy thuận Xiển-đà, Tỉ-kheo-ni bèn can bà
rằng: -
Này mẹ của Xiển-đà, Tỉ-kheo Xiển-đà này đã được Tăng
hòa hợp làm yết-ma cử tội đúng pháp, nhưng thầy chưa làm
đúng pháp, cô chớ có tùy thuận. -
Tôi là mẹ, ông ta do tôi sinh ra, nếu tôi không tùy thuận
thì ai sẽ tùy thuận? Các
Tỉ-kheo-ni bèn nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại Ái Ðạo liền
đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Nếu
Xiển-đà đã được Tăng làm yết-ma cử tội đúng pháp mà
Tỉ-kheo-ni mẹ của Xiển-đà lại tùy thuận ông ấy, thì
các ngươi nên can gián ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều
người ba lần và ở giữa chúng Tăng ba lần cho bỏ việc
ấy. Khi can gián ở chỗ vắng nên hỏi như sau: "Có thật cô
biết Xiển-đà đã được Tăng làm yết-ma cử tội đúng
pháp mà vẫn tùy thuận không?" Nếu đáp: "Có thật như vậy",
thì nên khuyên can: "Này mẹ của Xiển-đà, Tăng đã làm yết-ma
cử tội đúng pháp mà chưa thực hiện đúng thì đừng có
tùy thuận. Nay tôi vì lòng từ khuyên can là muốn cho cô được
lợi ích. Một lần khuyên đã xong, còn hai lần khuyên can nữa,
cô có bỏ việc đó không?" Khuyên can lần thứ hai, thứ ba
cũng làm như vậy. Rồi khuyên can ba lần ở giữa nhiều người
cũng làm như vậy mà nếu như không bỏ thì nên làm pháp yết-ma
cầu thính (xin nghe sự trình bày) giữa chúng Tăng. Người
làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin các thánh giả Tăng lắng nghe. Tăng đã làm yết-ma cử
tội Xiển-đà đúng pháp, nhưng Xiển-đà chưa thực hiện
đúng, mà mẹ của Xiển-đà lại tùy thuận thầy. Thế rồi,
đã được khuyên can ba lần ở chỗ vắng, khuyên can ba lần
ở chỗ nhiều người để cô bỏ việc ấy mà cô không bỏ.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay Tăng cũng nên khuyên
can ba lần để cho bỏ việc ấy. Thế
rồi, nên hỏi mẹ của Xiển-đà ở giữa chúng Tăng: "Có
thật cô biết Tăng đã hòa hợp làm yết-ma cử tội Xiển-đà,
song Xiển-đà chưa thực hiện đúng mà cô tùy thuận, thế
rồi, Tăng đã khuyên can cô ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ
nhiều người ba lần, cho cô bỏ việc ấy mà cô vẫn không
bỏ phải không?' Nếu đáp: "Có thật như vậy", thì nên khuyên
can: "Tăng đã hòa hợp làm yết-ma cử tội Xiển-đà đúng
pháp, cô chớ nên tùy thuận (Xiển-đà). Nay Tăng muốn cho
cô được lợi ích nên khuyên can, cô nên tùy thuận lời khuyên
của Tăng. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên
can nữa, cô có bỏ việc đó không?' Nhưng cô đáp: "Không
bỏ". Rồi Tăng tiếp tục khuyên can như vậy đến lần thứ
hai, thứ ba, cô vẫn nói: "Không bỏ". Tỉ-kheo-ni
bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi cô đến. Khi cô tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ngươi có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc xấu. Ngươi không từng nghe Ta dùng vô lượng
phương tiện chê trách tính bướng bỉnh khó khuyên bảo, ca
ngợi sự dễ khuyên bảo hay sao? Ðó là việc phi pháp, phi
luật, (517b) trái lời Ta dạy. Không thể dùng việc ấy để
nuôi lớn thiện pháp được. Vì sao ngươi lại tùy thuận
Tỉ-kheo bị cử tội? Từ nay về sau, Ta không cho phép tùy
thuận Tỉ-kheo bị cử tội. Thế
rồi, Phật bảo Cù-đàm-di truyền lệnh cho các Tỉ-kheo-ni
đang sống tại Câu-diệm-di phải tập họp lại tất cả,
dù cho ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo-ni nào biết Tăng đã hòa hợp, như pháp, như
luật làm yết-ma cử tội Tỉ-kheo, song vị Tỉ-kheo ấy chưa
thi hành đúng mà tùy thuận, thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên
can Tỉ-kheo-ni ấy rằng: "Này thánh giả, vị Tỉ-kheo ấy đã
được Tăng hòa hợp, như pháp, như luật, làm yết-ma cử
tội, song thầy ấy chưa thi hành đúng, cô chớ có tùy thuận".
Nếu khi các Tỉ-kheo-ni khuyên can mà nói như sau: "Tôi không
tùy thuận thì ai tùy thuận", thì các Tỉ-kheo-ni nên khuyên
can đến lần thứ hai thứ ba cho bỏ việc ấy. Nếu bỏ thì
tốt, nếu không bỏ thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di,
không được sống chung. Giải
thích: (Một
số từ ngữ ở trên đã giải thích). Hòa
hợp: Không
biệt chúng. Như
pháp như luật:
Khi thấy không có tội thì không vạch tội về việc không
bỏ ba ác kiến là: hủy báng khế kinh, tà kiến và biên kiến. Bị
cử (tội):
Không được sống chung. Chưa
thi hành đúng pháp:
Chưa tùy thuận Tăng, Tăng chưa giải tội. Tùy
thuận: Cùng
hưởng pháp thực và vị thực. Khi
các Tỉ-kheo-ni khuyên can Tỉ-kheo-ni ấy như sau: "Này thánh
giả, vị Tỉ-kheo ấy đã được Tăng làm yết-ma cử tội
đúng pháp, đúng luật mà thầy chưa thi hành đúng, vậy cô
chớ có tùy thuận hưởng chung pháp thực và vị thực", mà
Tỉ-kheo-ni ấy nói: "Tôi không tùy thuận thì ai tùy thuận",
thì nên khuyên can tiếp cho đến ba lần. Sau ba lần nếu bỏ
thì tốt, nếu không bỏ thì Tỉ-kheo-ni ấy phạm tội Ba-la-di. Ba-la-di:
Như trên đã nói. Khi
khuyên can ở chỗ vắng ba lần mà bỏ thì tốt, nếu không
bỏ thì phạm tội Việt tì-ni. Khi khuyên can ở chỗ nhiều
người cũng như vậy. Khi
khuyên can ở giữa chúng Tăng, lúc bắt đầu khuyên can thì
phạm tội Việt tì-ni, khuyên can xong thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Khi bắt đầu khuyên can lần thứ hai thì phạm tội Việt tì-ni,
khuyên can xong thì phạm tội Thâu-lan-giá. Khi bắt đầu khuyên
can lần thứ ba thì phạm tội Thâu-lan-giá, khuyên can xong thì
phạm tội Ba-la-di. Sau
khi được khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều người,
ở giữa chúng Tăng, gồm tất cả các tội Việt tì-ni, tất
cả các tội Thâu-lan-giá thành một trọng tội là Ba-la-di.
Nếu đang lúc khuyên can mà bỏ thì tùy theo bỏ ở chỗ nào
trị tội ở khoản đó. Kệ
tóm tắt: "Dâm,
trộm và giết người,
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||