| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
Khi
Phật an trú tại vườn trúc Ca-lan-đà nơi thành Vương Xá,
lúc ấy có một Tỉ-kheo mang guốc gỗ đi kinh hành trước
một Tỉ-kheo khác đang ngồi thiền, khiến Tỉ-kheo này tâm
không được định. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi vị Tỉ-kheo ấy đến.
Khi thầy tới rồi, Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay trở đi phải đi kinh hành như sau: Không được đi
kinh hành trước Tỉ-kheo đang ngồi thiền, trước chúng Tăng,
trước đồ chúng, trước Hòa thượng, A-xà-lê và trước
Tỉ-kheo trưởng lão. Nhưng nếu có bệnh uống sữa, thuốc
xổ thì được đi kinh hành trước họ. Khi đi không được
quay lưng mà nên quay mặt, quay tay phải về phía họ. Nếu
cùng đi kinh hành với Hòa thượng, A-xà-lê thì không được
đi trước, không được đi ngang hàng mà phải đi sau. Khi trở
về, không được đi trước mà phải đi sau, hướng mặt và
tay phải về phía các ngài. Không được đi kinh hành trước
dâm nữ, trước kẻ đánh bạc, trước quán rượu, trước
lò mổ thịt, (507a) trước tù nhân, trước kẻ giết người.
Không được đi kinh hành những nơi âm u, mà nên đi kinh hành
những nơi không âm u, không trống trải quá. Phép đi kinh hành
phải như thế. Nếu không làm như thế thì vượt pháp oai
nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo ngồi
theo thế ngồi của lạc đà. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo
đến. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau không được ngồi theo kiểu lạc đà mà nên
ngồi kiết già. Nếu ngồi lâu mỏi mệt thì nên duỗi từng
chân một ra để thư giãn, chứ không được duỗi cả hai
chân cùng một lúc, hoặc là đứng dậy đi kinh hành. Khi ngồi
trong phòng thiền không được trùm đầu, nhưng nếu vì già
bệnh thì được trùm một nửa đầu và một bên tai. Nếu
ở nơi vắng vẻ, dưới gốc cây thì trùm đầu không có tội.
Khi ở trước Hòa thượng, A-xà-lê, Thượng tọa, Tỉ-kheo
trưởng lão đang ngồi hoặc đứng thì mình không được ngồi.
Không được ngồi trước dâm nữ cho đến ngồi nơi âm u
mà nên ngồi những nơi không âm u, không trống trải quá.
Tỉ-kheo nên ngồi như vậy. Nếu ai không ngồi như vậy thì
vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo nằm
sấp, nằm ngửa, nằm nghiêng bên trái. Các Tỉ-kheo bèn đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm
sáu Tỉ-kheo. Khi họ tới rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, phải nằm như thế này: Không được nằm
như ngạ quỉ, không nằm như a-tu-la, không được nằm như
kẻ tham dục. Nếu nằm ngửa tức là nằm như a-tu-la, nằm
sấp là nằm như ngạ quỉ, nằm nghiêng bên trái là nằm như
kẻ tham dục. Tỉ-kheo phải nằm như sư tử vua của loài thú,
quay đầu về hướng mình. Khi duỗi chân tay không được duỗi
về phía bên trái mà nên duỗi về phía bên phải, đầu hướng
về phía giá y. Không được hướng chân về phía Hòa thượng,
A-xà-lê, Tỉ-kheo trưởng lão. Ðầu đêm không được kêu
lên: "Mỏi mệt quá", rồi nằm, mà phải tư duy chân chánh
về đạo nghiệp của mình, đến lúc nửa đêm mới nằm.
Khi nằm nên nằm nghiêng về bên phải như sư tử chúa, đặt
chồng hai chân lên nhau, ngậm miệng lại, đặt lưỡi trên
nóc họng, gối đầu lên tay phải, tay trái để dọc theo thân
mình, không bỏ niệm tưởng tư duy hành đạo. Không được
ngủ cho tới lúc mặt trời mọc mà đến cuối đêm nên thức
dậy ngồi tư duy về đạo nghiệp của mình. Nếu trong đêm
ngủ say không trở mình thì không có tội. Nếu vì già yếu
hay bên phải có mụt nhọt nên không nằm nghiêng về bên phải
được thì không có tội. Cách thức nằm của Tỉ-kheo phải
như thế. Nếu ai không nằm như thế thì vượt pháp oai nghi. (507b)
Kệ tóm tắt: "Vá
y, rèm ngăn cách,
CÁCH
CƯ XỬ GIỮA CỰU VÀ KHÁCH TỈ-KHEO. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo đóng
cổng tinh xá, ngồi nói chuyện phiếm. Khách Tỉ-kheo đến
gõ cửa, gọi mà họ không nghe. Khách Tỉ-kheo bèn leo tường
vào. Cựu Tỉ-kheo liền hỏi khách Tỉ-kheo: -
Trưởng lão đi vào từ lối nào vậy? -
Leo tường vào. -
Vì sao thầy lại leo tường vào? -
Thế thì vì sao các vị đóng cửa, tôi gọi mà không trả
lời? Do
vậy, hai đàng cãi nhau, rồi họ cùng nhau đi đến bạch với
Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay về sau không được đóng
cổng ngồi nói chuyện phiếm, cũng không được leo tường
mà vào. Khách và cựu Tỉ-kheo nên xử sự như sau: Khách Tỉ-kheo
khi ra đi phải đem theo chìa khóa cửa, đãy lọc nước, ống
đựng kim, trong đoàn lữ hành có một người đem theo thì
tất cả không có tội. Trái lại, nếu không có ai đem theo
cả thì mọi người đều có tội. Trên đường đi, nếu có
người bệnh thì phải thay họ gánh giúp y bát, không được
bỏ đi trước mà phải giúp đỡ nhau cùng đi. Nếu người
bệnh không thể đi được thì nên thuê mướn xe cộ chở
đi. Nếu ở giữa đường có chỗ ẩm thấp thì người trẻ
nên đi trước. Nếu sợ quân giặc, cọp, sói thì nên để
người già ở giữa. Nếu muốn cho quân giặc sinh từ tâm
thì nên để người già đi trước. Khi đi ngang qua xóm làng,
nếu thấy có chùa tháp thì nên đi theo con đường mòn, không
được đi theo con đường tắt ngang qua bên trái, bên phải.
Nếu muốn nghỉ lại thì trước hết nên sai hai Tỉ-kheo trẻ
đi vào thôn xóm xin chỗ tạm trú, xin nước giải khát, dầu
thoa chân, bữa ăn trước, bữa ăn sau. Khi ra đi các Tỉ-kheo
ấy phải buộc lại đai y, bạch về việc mình đi vào thôn
xóm phi thời. Khi đã xin được chỗ trú phải trở về báo
lại rằng: "Ðã xin được chỗ trú". Nếu có ao nước, giếng
nước thì nên tắm rửa, buộc lại đai y, thưa hỏi lẫn nhau
rồi mới vào. Nếu muốn uống nước đường phèn thì nên
uống ở ngoài thôn xóm, đừng để người ta trông thấy,
họ sẽ nghi ngờ người xuất gia mà ăn phi thời. Không được
gồng gánh đi vào mà nên chia y vật ra cùng cầm đi vào. Nếu
được người ta tuyên bố rằng: "Tùy ý mà an trú", thì người
đi sau không bạch, vào không có tội. Khi vào không được
đi con đường khác. nhưng nếu con đường trước bị trở
ngại thì đi con đường khác không có tội. Nếu trong xóm
làng có tinh xá thì nên đến đó trú. Nếu tại A-luyện-nhã
có ao nước, giếng nước thì cũng nên tắm rửa rồi mới
vào. Không được gồng gánh cồng kềnh mà nên chia y vật
giày dép, tháo đòn gánh cùng nhau cầm đi. Nếu thấy có chùa
tháp thì nên đi vòng bên phải, không được nói năng lớn
tiếng khi đi vào. (507c) Nếu thấy Tỉ-kheo quen biết từ trước
thì không được la lên: "Ôi
chao, thầy vẫn còn ở đây ư? Thầy sống nơi đây rồi
chết nơi đây, mà không rời khỏi thức ăn của dã can này". Cựu
Tỉ-kheo cũng không được nói: "Ôi chao, giống như tù nhân
vừa thoát khỏi gông cùm, đã 4, 5 năm rồi chúng ta không gặp
nhau". Khách
Tỉ-kheo cũng không được hỏi: "Thầy bao nhiêu tuổi? Tôi
phải ở phòng này", cũng không được hỏi: "Ngày mai ai làm
bữa ăn trước, bữa ăn sau? Có thức ăn gì ngon không?" Cựu
Tỉ-kheo không được đóng cổng ngồi nói chuyện. Nếu muốn
tô tường ở sau nhà hay làm các việc khác thì nên sai người
làm vườn, Sadi hay Duy na giữ cửa. Nếu cửa đóng thì khách
Tỉ-kheo không được leo tường vào mà nên cầm chìa khóa
mở cửa vào. Nếu đã gọi mở cửa vào rồi thì cựu Tỉ-kheo
nên hỏi: "Thầy bao nhiêu tuổi?". Nên đáp: "Tôi chừng ấy
tuổi". Cựu Tỉ-kheo nên nói: "Nếu chừng ấy tuổi thì được
giường nệm như vậy". Thế
rồi, khách Tỉ-kheo nên hỏi chỗ đại tiểu tiện, không nên
để đến khi bức bách rồi mới hỏi. Tiếp đến nên hỏi
xem chúng Tăng có những hạn chế gì. Cựu Tỉ-kheo nên trình
bày tất cả những hạn chế của chúng tăng như: "Nhà mỗ
giáp kia Tăng đã làm Yết-ma phú bát chớ nên đến. Nhà mỗ
giáp có chó dữ. Nhà mỗ giáp không có niềm tin". Khách
Tỉ-kheo sáng thức dậy không nên đi khất thực liền mà nên
hỏi xem trú xứ ấy có bữa ăn trước, bữa ăn sau hay không,
Cựu Tỉ-kheo nên nói: "Trưởng lão chớ đi khất thực, khất
thực vất vả, hoặc không vừa ý, ở đây có bữa ăn trước,
bữa ăn sau". Nếu thấy bạn mình muốn ra đi thì không nên
nói: "Trưởng lão, những người khách buôn đã đi rồi, đi
theo vẫn còn kịp", mà nên nói: "Trưởng lão hãy nghĩ lại
ít lâu rồi sẽ có bạn". Nếu bạn có việc gấp phải ra
đi thì nên cung cấp lương thực, chúc bạn lên đường. Khách
Tỉ-kheo, cựu Tỉ-kheo phải xử sự như thế. Nếu ai không
làm như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo vừa
rửa chân vừa nói chuyện thế tục và dùng nước đùa giỡn.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Từ nay trở đi, khi rửa chân nên làm như Xá-lợi-phất". Khi
Phật an trú tại vườn Trúc Ca-lan-đà nơi thành Vương Xá,
lúc ấy Xá-lợi-phất khoác y, cầm bát vào thành tuần tự
khất thực, oai nghi tề chỉnh, đi đứng nghiêm trang, nhìn
ngó đoan chính, co duỗi cúi ngửa mặc y cầm bát, gìn giữ
các căn tâm không tán loạn, giống như tướng trạng của
người đã được diệu pháp nhiệm mầu. Có một người Bà-la-môn
thấy thế thầm nhủ: "Ông samôn Thích tử này ở nơi nhân
gian hiện ra tướng giữ gìn oai nghi, nhưng khi đến nơi vắng
vẻ ắt hẳn sẽ không giữ phép tắc. Ta sẽ theo dõi, nếu
thấy ông ta phóng túng, ta sẽ dùng tay tát vào đầu". (508a)
Nghĩ thế rồi, y bèn đi theo tôn giả. Khi
ấy, Xá-lợi-phất ở trong thôn xóm cũng như nơi hoang vắng
đều không thay đổi oai nghi. Lúc về lại trú xứ, thầy liền
cầm bát cất một chỗ, đập giũ y Tăng-già-lê xếp lại
cất vào chỗ cũ, sắp đặt giường ghế, cầm tấm ván rửa
chân đặt bên cạnh lu nước, đến ngồi tại đó. Ðoạn,
thầy lấy đôi dép đập giũ, đặt xuống đất. Tiếp đến,
lấy khăn lau ống chân, cầm đôi dép lót cái đế vào, rồi
dùng khăn lau qua. Tiếp theo, nhúng nước cái khăn, cầm một
chiếc dép lau từ mũi, thân rồi đến gót, đoạn lau chiếc
thứ hai cũng thế. Thế rồi, lau lại chiếc thứ nhất ở
phần đế phía trước, rồi phần đế phía sau, tiếp theo
lau chiếc thứ hai cũng tuần tự như vậy. Kế đến, thầy
giặt cái khăn, vắt ráo nước rồi đem phơi. Tiếp đến,
thầy rửa tay, dùng tay phải xối nước, lấy tay trái rửa
ống chân trái, rồi rửa ống chân phải, kế đến rửa đôi
bàn chân. Ông Bà-la-môn thấy vậy sinh tâm hoan hỷ thầm nhủ:
"Tôn giả sạch sẽ như vậy, thứ nước còn thừa kia dùng
để uống cũng được nữa, phép thờ nước sạch của Bà-la-môn
chúng ta không thể sánh kịp". Lúc ấy, Xá-lợi-phất nhân
thấy Bà-la-môn phát tâm hoan hỷ, liền thuyết pháp cho ông
nghe, khiến ông được pháp nhãn thanh tịnh. Các
Tỉ-kheo bèn đem việc đó bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn,
ông Bà-la-môn này rất là hiền thiện, nhân thấy Xá-lợi-phất
rửa chân có oai nghi thanh tịnh mà phát tâm hoan hỷ đến như
thế". Phật
liền dạy: "Không những ngày nay ông sinh tâm hoan hỷ mà trong
thời quá khứ cũng đã từng có như thế, như trong kinh Bổn
Sinh đã nói rõ. Con ông trưởng giả thuở ấy thì nay là Xá-lợi-phất,
còn tên giặc lúc ấy thì nay là ông Bà-la-môn. Lúc bấy giờ,
chư Thiên thấy vậy liền đọc kệ: "Thanh
khiết oai nghi đẹp,
Khi
Tỉ-kheo từ thôn xóm trở về phải cởi y mặc vào thôn xóm
đập giũ, xếp lại rồi cất vào chỗ cũ, mặc y làm vườn,
sắp giường ghế, trải tấm ván rửa chân, múc nước đổ
đầy lu, tới ngồi tại đó, dùng khăn lau bụi đất trên
chân. Kế đến, cầm đôi dép đặt cái lót đế vào, lấy
khăn lau qua, rồi nhúng nước cái khăn lau từng chiếc một
từ mũi, thân cho đến đế giày, đoạn lau chiếc thứ hai
cũng thế. Tiếp đến, lau lại chiếc thứ nhất ở phần chân
đế phía trước rồi phần chân đế phía sau, đoạn lau chiếc
thứ hai cũng như vậy. Kế đến, giặt khăn vắt ráo nước
rồi đem phơi chớ để bụi dính và côn trùng gặm nhắm,
rồi mới rửa tay. (508b) Nếu lu nước ở phía bên phải thì
nên rửa ống chân trái trước rồi rửa ống chân phải sau.
Không được dùng cái tay bưng nước kỳ cọ dưới chân mà
nên dùng một tay xối nước, một tay kỳ cọ. Nếu có hai
người thì một người xối nước, một người rửa. Không
được dùng nước nhiều hao phí mà nên trù tính dùng vừa
đủ. Không được trùm đầu, trùm vai phải mà nên trật vai
áo khi ngồi. Khi rửa chân, không được ngồi thiền, ngồi
ngủ, không được quán bất tịnh và tụng kinh. Khi rửa xong
nên dời đi để khỏi trở ngại người khác. Nhưng nếu mình
là người sau cùng thì có thể tụng kinh không có tội. Nếu
thấy hết nước thì không được làm thinh để yên như vậy
mà phải báo cho người lo việc múc nước đổ nước đầy
vào. Nếu không thể làm được như vậy thì ít nhất tự
mình cũng đổ vào chừng một ca nước cho đủ một người
dùng. Phép tắc rửa chân phải làm như vậy. Nếu ai không
làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-Vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo rửa
chân, chân còn ướt mà họ mang dép vào khiến cho màu của
dép thấm vào chân, làm cho giường nệm của chúng Tăng bị
dơ bẩn. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ tới
rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay trở đi, khi rửa chân phải làm như sau:
Phải để đôi dép dựng đứng rồi chờ cho chân khô mới
mang vào. Nếu có đông người chờ đợi thì dùng tay vuốt
nước, lấy khăn lau khô rồi mới mang dép. Không được dùng
chân ướt dẫm lên nền nhà của Tăng khô ráo sạch sẽ mà
phải làm cho chân khô rồi mới đi vào. Nếu chỗ rửa chân
chỉ có một người thì không cần lau chân mà nên chờ cho
chân khô rồi mới mang dép và phải giữ gìn bụi đất. Nếu
vì gấp gáp muốn ngồi thiền, tụng kinh, kinh hành thì có
thể dùng khăn lau lau sạch bụi đất mà đi. Phép tắc rửa
chân phải làm như thế. Nếu ai không làm như thế thì vượt
pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo lấy nước
mà Tăng dùng để làm phép rửa chân, tay, mặt và bát, sau
khi dùng xong bèn lấy dây ràng lại trên miệng, niêm phong,
rồi vào thôn xóm khất thực. Sau đó, khách Tỉ-kheo đến,
thấy vậy nổi giận trách móc: "Vì sao lại đóng cửa nhà
chứa nước niêm phong rồi bỏ đi?". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật dạy: "Từ nay trở đi, vào tháng xuân nên bố trí nước
như sau: Nếu là lu lớn, lu nhỏ thì nên lấy vật gì sạch
sẽ phủ lên miệng, rồi dùng gạch, đá hoặc gỗ đè lên
trên, bên trong để cái ca múc nước, trong nước nên bỏ các
thứ hoa như ba-đa-lê, chiêm-ba, tu-ma-na, (508c) đại loại các
thứ hoa như thế để nước có mùi thơm. Có các loại nước
nổi tiếng như ở ấp Ba-liên-phất có nước Thâu-nô, ở
thành Vương Xá có nước Ôn tuyền, thành Ba-la-nại có nước
ao chỗ Phật đi kinh hành, ở nước Chiêm-bà có nước sông
Hằng, ở thành Xá-vệ có nước Thạch-mật, ở nước Sa-kỳ
có nước Huyền-chú, ở nước Tăng-gìa-thi có nước Thạch-mật,
ở nước Ma-thâu-la có nước Diêm-phù-na, đại loại các thứ
nước như thế không được dùng để rửa chân, tay, mặt
và bát. Nếu người bệnh cần nước thì nên cho một bát
đầy. Nếu khi ăn muốn rót nước thì trước hết nên dùng
nước sạch rửa tay, rửa chén rồi mới rót. Người nhận
nước nên giữ tay trái cho sạch khi lấy nước, nếu tay bẩn
phải rửa, hoặc dùng lá lót dưới chén, hoặc dùng lá chùi
sạch bẩn rồi mới lấy. Khi uống, không được chạm môi
vào chén nước, không được để cho mép chén chạm vào trán
mà phải để đứng môi khi uống, hơn nữa, không được uống
hết mà nên chừa một ít nước súc miệng rồi nhổ đi. Người
rót nước phải khéo giữ chén nước cho sạch. Nếu thấy
chén nước đã bị chạm môi, đụng trán vào thì nên để
một chỗ rồi lấy cỏ làm dấu để người khác biết là
chén nước không sạch. Nếu có thể dùng nước rửa sạch
thì nên làm. Nếu rót nước uống phi thời thì người rót
nước trước hết phải rửa tay, rửa chén sạch rồi mới
rót. Ðồng thời người nhận nước cũng phải rửa tay sạch
để nhận. Nếu tay không sạch thì nên dùng lá hoặc chéo
y sạch lót dưới chén để nhận như trên đã nói, cho đến
súc miệng rồi nhổ ra. Nếu uống nước trong phòng tắm thì
nên dùng lá lót dưới chén kê môi dựng đứng mà uống, ngoài
ra như trên đã nói. Nếu uống nước trong phòng thiền mà
dưới nền nhà có lót thảm thì nên dùng cái mâm bưng nước.
Nếu hai người ngồi cách nhau thì một người bưng chén, một
người rót nước, ngoài ra như trên đã nói. Các loại nước
có tiếng mà như trên đã kể không được dùng để rửa
chân, tay, mặt và bát, cũng không được uống thừa rồi đem
đổ. Nếu khi làm các việc về y bát cần đến nước thì
có thể mượn dùng tạm rồi trả lại. Nếu nước cho dùng
thả ga thì tùy ý dùng không có tội. Khi dùng nước phải
theo cách thức đó. Nếu ai không làm như vậy thì vượt pháp
oai nghi. Khi
Phật an trú tại vườn xoài của đồng tử Kỳ-Vức nơi thành
Vương Xá, lúc ấy đồng tử Kỳ-Vức đi đến chỗ Phật,
cúi đầu, đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên bạch
với Phật: "Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn cho phép các Tỉ-kheo
tắm nước nóng, vì tắm nước nóng có thể trừ được bệnh
nhiễm lạnh và sống an lạc". Phật
dạy: "Vâng, Ta cho phép các Tỉ-kheo tắm nước nóng". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài cho phép
các Tỉ-kheo tắm nước nóng, rồi đến giờ tắm, nghe tiếng
bảng đánh, nhóm sáu Tỉ-kheo liền đi vào trước trong phòng
tắm, lập tức chất củi đốt lửa, đóng cửa lại, đứng
đợi cho mồ hôi ra. Các (509a) Tỉ-kheo ở bên ngoài gọi mở
cửa thì họ không chịu mở mà nói: "Các trưởng lão hãy
đợi đốt lửa đã". Thế rồi, họ dùng hết sạch củi đốt
và nước rồi mới mở cửa, gọi: "Các trưởng lão có thể
vào được rồi". Khi
các Tỉ-kheo vào xong, họ bèn đóng cửa bên ngoài lại. Các
Tỉ-kheo bị nóng bức, gọi mở cửa, thì họ đáp: "Này các
trưởng lão, hãy đứng cho ra mồ hôi thì có thể trừ được
bệnh ghẻ chóc". Thế rồi, họ ở ngoài dùng hết lu nước,
bèn úp lu xuống đất, đoạn mở cửa, nói: "Các trưởng lão
có thể ra được rồi". Khi
các Tỉ-kheo ra rồi bị nóng bức tìm nước, thì họ bảo:
"Này các trưởng lão, hãy dùng ít ít nước như Thế Tôn đã
dạy", cho đến: "Nước cũng phải dùng một cách tiết kiệm". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật dạy: "Cách làm nhà tắm và cách tắm phải áp dụng
như sau: Nhà tắm nên làm vuông hoặc tròn, đặt cửa và chừa
lỗ thông gió. Lỗ thông gió nên làm bên trong rộng, bên ngoài
hẹp, làm một hay hai cái, để khai thông đường khói. Trong
phòng, nên dùng gạch, đá lót ở dưới rồi đặt ông táo
lên trên. Ông táo phải kê ở dưới rộng, ở trên hẹp, cách
đất chừng nửa khuỷu tay, thông đường khói, bên cạnh để
một cái gắp lửa. Nếu đặt ông táo ở bên phải thì trổ
cánh cửa ở bên trái. Nếu đặt ông táo ở bên trái, thì
trổ cánh cửa ở bên phải, đồng thời nên làm một cái
chốt cửa ngắn để dễ đóng mở. Ở trước nên làm cái
nhà để áo, đặt móc áo để móc áo. Khi muốn tắm, trước
hết nên bảo người làm vườn quét dọn bụi bặm, màn nhện
trong phòng, dùng nước rưới trên mặt đất, quét cho sạch,
đem củi than, nồi nấu nước, để trước vào trong đó rồi
mới đánh bảng. Cũng không được đốt lửa sớm quá khiến
cháy hết rồi mới đánh bảng. Khi nghe tiếng bảng đánh,
nên phân biệt xem đó là hiệu lệnh tắm tất cả Tăng chúng
hay chỉ dành cho đồ chúng, hoặc dành cho phòng riêng, tùy
theo trường hợp mà đi. Nếu tất cả đều tắm thì nên lần
lượt mà đi; và khi đến nơi, mỗi người nên dùng đai lưng
buộc áo làm dấu, rồi móc vào giá áo. Khi đi vào không được
đánh đàng xa hai tay mà đi, mà nên dùng một tay che phía trước
mà vào. Một người vào thì một người đi ra. Khi người
sau vào thì người trước phải nhường chỗ. Không được
băng ngang qua các vật dụng hay qua mặt các Tỉ-kheo trưởng
lão, mà phải vào từ từ. Nếu Hòa thượng, A-xà-lê đang
ở trong thì không được đứng đợi ở ngoài, hỏi: "Chừng
nào ra?", mà nên cởi y vào kỳ cọ cho các ngài. Nếu muốn
kỳ cọ cho người khác thì nên bạch với Hòa thượng, A-xà-lê;
nhưng nếu trước đó đã bạch rồi, thì không có tội. Nếu
trường hợp bếp lửa cháy mạnh thì nên để người trẻ
ở gần bếp lửa. Nếu lửa yếu thì nên để người già
ở gần. Phải dùng nước từ từ, không được làm văng bẩn
người ở gần đó. Nếu được đệ tử kỳ cọ, thì không
đưa cả hai tay lên một lúc, mà trước hết nên kỳ cọ một
tay còn một tay che đàng trước. Xong rồi mới kỳ cọ tay
thứ hai. Khi đổ nước vào lu tắm xong rồi, nên đóng cửa
lại (509b) mà ngồi cho thân ra mồ hôi. Khi rót dầu thì nên
dùng chén đong hoặc là dùng tay đo lường mức độ; dùng
bột tắm cũng như vậy. Nếu đàn việt nói: "Cho dùng thả
cửa", thì cũng phải trù tính mà dùng nước. Nếu trong lu
đã chia mức độ dùng cho từng người, thì nên dùng ngang
mức độ đã qui định, không được dùng thâm phần người
khác. Nếu được qui định mỗi người phải tự xách nước
mà dùng, thì ai có nước được vào, ai không có nước, không
được vào. Nếu có đệ tử nói: "Hòa thượng, A-xà-lê cứ
vào, để con xách nước cho", thì cũng phải trù tính mà dùng.
Nếu Ưu-bà-tắc hay người làm vườn nói: "Thầy cứ vào,
để con múc nước cho", tuy vậy, cũng phải dùng một cách
tiết kiệm. Nếu chỗ tắm ở gần hồ nước thì được dùng
thả cửa, không có tội. Không được tắm lõa thể ở chỗ
trống, nhưng nếu nước ngập đến rún, đến nách thì được
tắm, không có tội; hoặc ngồi tắm mà nước ngang rún thì
cũng được tắm. Khi ra khỏi phòng tắm, thì mặc áo mới,
sửa soạn chỉnh tề, rồi cầm đồ cũ mà trở về. Khi tắm
xong, nếu muốn đi liền thì phải bảo người làm vườn dẹp
cất thùng tắm. Nếu Tỉ-kheo đến sau nói: "Trưởng lão cứ
đi đi, để con dẹp cất cho", thì hãy đi. Người tắm sau
cùng phải thu dọn và dùng vật gì dập tắt lửa. Khi
tắm phải áp dụng như thế. Nếu ai không làm như vậy thì
vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, đức Thế Tôn cứ
năm hôm đi thị sát phòng ốc các Tỉ-kheo một lần; trông
thấy các vật dụng bỏ bừa bãi đó đây dưới nhà bếp,
tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo: "Ðây là vật dụng
của ai mà bỏ ngổn ngang thế này?" Cuối cùng, Phật dạy:
"Từ nay về sau không được bỏ các vật dụng lung tung như
thế. Thầy tri sự hay thầy trực nguyệt khi thấy các vật
dụng bỏ bừa bãi thì phải bảo người làm vườn hoặc Sa-di
thu dọn. Nếu thầy tri sự hay thầy trực nguyệt không để
ý đến thì ai thấy như vậy phải bảo tịnh nhân thu dọn.
Nếu là nồi niêu, soong chảo bằng đồng, thiếc thì nên bảo
tịnh nhân đem rửa sạch, dùng bùn trét lên trên, rồi úp
trên nền nhà bếp. Nếu nồi, niêu, soong bằng đất thì cũng
làm như vậy. Khi úp chúng xuống đất rồi, nên dùng gạch,
ngói đằng lên trên. Nếu thùng, gáo bằng gỗ thì cũng phải
rửa sạch rồi đem cất. Nếu là chiếu đan thì phải đem
phơi nắng rồi treo lên cất. Nếu là nong, nia, giần, sàng
bằng tre cũng phải đem treo lên cất đừng để mối mọt
gặm nhấm. Cái rá đựng cơm, cái thìa xới cơm cũng phải
rửa sạch rồi treo cất. Cái rây và đãy lọc nước cũng
phải treo cất đừng để côn trùng cắn phá. Chày giã thuốc
và cối không được dùng xong rồi vất dưới đất mà phải
đem rửa sạch rồi cất lại chỗ cũ. Không được trông thấy
nhà bếp, nhà kho bị dột nát mà không sửa chữa. Nếu nó
được lợp bằng cỏ thì dùng cỏ giọi lại, cho đến nếu
nó được tô bằng đất thì dùng đất tô lại. Nếu nó bị
nứt nẻ, vỡ bể thì phải sửa chữa lại. Ðồng thời phải
thường quét dọn sạch sẽ. Nếu đem củi vào trong nhà bếp
để đốt thì phải chất cho gọn gàng tại một chỗ. Thùng
nấu thuốc nhuộm và thau dùng nhuộm đồ không được dùng
rồi vất bừa bãi mà phải rửa sạch, đem cất vào chỗ cũ.
(509c) Cái thùng giặt y bằng gỗ khi dùng xong cũng phải đem
rửa sạch rồi cất lại chỗ cũ. Dây phơi y cũng không được
dùng rồi bỏ bừa bãi trên đất mà phải quấn lại đem cất
vào chỗ cũ. Rìu, búa, cưa, đục, mai, xẻng, thang gỗ, những
thứ này đều là vật dụng của Tăng 4 phương, khi dùng rồi
phải thu dọn đem cất vào chỗ cũ, để cho người sau khi
cần lấy dùng dễ dàng không phải tìm kiếm vất vả. Nếu
ai cần dùng thì nên đưa cho họ. Nếu hai người cùng đòi
một lúc thì nên đưa cho Thượng tọa trước. Nếu Thượng
tọa dùng lâu, còn người trẻ dùng ít, thì nên đưa cho người
trẻ trước. Nếu hai người đều dùng ít thì nên đưa cho
Thượng tọa trước. Phép
dùng vật dụng phải như thế. Nếu ai không làm như thế thì
vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có nhiều Tỉ-kheo ở
chung một phòng. Bấy giờ có một Tỉ-kheo lấy y của mình
trên giá, lôi y của người khác rơi xuống đất. Các Tỉ-kheo
khác ban đêm dậy đi đại, tiểu, dẫm lên y ấy. Người chủ
y khi tìm y không thấy, chung cục lại tìm được y dưới đất.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Từ nay trở đi, vấn đề y phải xử sự như
sau: Nếu nhiều người cùng ở chung một phòng thì y của ai
người ấy phải tự xếp lấy, rồi lấy lá để làm dấu
bên trong. Nếu móc y trên giá thì phải lấy dây lưng buộc
lại; không được đem y của Hòa thượng, y của A-xà-lê gói
y của mình, mà phải dùng y của mình gói y của Hòa thượng,
A-xà-lê. Nếu mùa Xuân nhiều bụi bặm thì phải dùng y của
mình tủ lên trên y của Hòa thượng, A-xà-lê. Nếu vào mùa
Hạ đất ẩm ướt, thì nên lấy y của mình lót dưới y của
Hòa thượng, A-xà-lê. Không được để cho trong phòng có bụi
bặm mà phải thường thường rưới nước rồi lau sàn nhà.
Không được dùng y lót trong tay để cầm ống nhổ, bô đựng
đại tiểu tiện, giày dép, cũng không được dùng y để đựng
rác rưới hoặc giẻ lau. Nếu y bị dơ bẩn thì nên đem giặt,
nhuộm lại. Phải xem y như da thịt của mình. Phép
sử dụng y phải làm như thế. Nếu ai không làm như thế thì
vượt pháp oai nghi. Kệ
tóm tắt: "Khách
và cựu Tỉ-kheo,
CÁCH
XỬ SỰ GIỮA TỈ-KHEO Ở A-LUYỆN-NHÃ VÀ Ở THÔN XÓM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, Tỉ-kheo ở thôn
xóm và Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã cùng thọ trai chung một chỗ.
Lúc ấy, các Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã thường đúng giờ đến
trai đường, thì các Tỉ-kheo ở thôn xóm bỗng nhiên đánh
bảng sớm rồi ăn trước. Các Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã khi
đúng giờ đi đến, liền hỏi các Tỉ-kheo ở thôn xóm: -
Ðã đánh bảng chưa? -
Ðã ăn xong rồi. Lúc
ấy, các Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã (510a) bèn trở về. Ngày hôm
sau, họ liền đến sớm, lấy hết đồ ăn rồi mang đi. Các
Tỉ-kheo ở thôn xóm đến đòi đồ ăn, thì tịnh nhân nói:
"Các Tỉ-kheo a-luyện-nhã đã đem đi hết rồi". Các
Tỉ-kheo ở thôn xóm bèn hỏi các Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã:
"Các trưởng lão vì sao lại đến sớm rồi mang thức ăn đi
hết?" Các
Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã nói: "Thế thì vì sao các vị lại
dậy sớm đánh bảng rồi ăn hết mà không đợi chúng tôi". Hay
đàng tranh cãi nhau, rồi cùng dẫn đến chỗ Phật, trình bày
đầy đủ sự việc kể trên với Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Từ nay trở đi, Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã và Tỉ-kheo ở thôn
xóm phải xử sự như sau: "Nếu Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã và
Tỉ-kheo ở thôn xóm cùng thọ trai một chỗ thì Tỉ-kheo ở
thôn xóm không được dậy sớm đánh bảng báo tin bữa ăn
trước, bữa ăn sau và bữa ăn được mời mà phải đợi
Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã. Và Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã cũng không
được nói: "Ta từ từ đến, họ sẽ phải đợi ta" mà phải
đến trước, hoặc là nhờ người nhận phần, hoặc dặn
để dành chỗ. Ðồng thời Tỉ-kheo ở thôn xóm nên hỏi xem
Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã đã đến chưa. Nếu có người lấy
phần giúp hay chừa chỗ thì hãy chỉ cho họ biết. Nếu Ưu-bà-tắc
mời Tăng thì Tỉ-kheo ở thôn xóm nên nói với Tỉ-kheo ở
a-luyện-nhã: "Trưởng lão ngày mai hãy đến sớm, có mỗ giáp
mời bữa ăn trước, bữa ăn sau, đừng khất thực chỗ khác".
Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã nghe vậy, ngày mai nên đến sớm. Khi
tới rồi, nếu đồ ăn chưa chín thì không nên ngồi đợi
mà nên lễ tháp, tụng kinh, vấn đạo. Tỉ-kheo ở thôn xóm
nên đổ nước vào trong nồi trước, chụm lửa, đợi Tỉ-kheo
ở a-luyện-nhã đến rồi mới bỏ gạo vào. Nếu trường
hợp Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã vì bị nạn quỉ, nạn nước
lửa, hoặc nạn giặc không đến được mà phải bỏ gạo,
hoặc khi thức ăn đã chín đàn việt muốn đánh bảng, thì
nên khuyên: "Này lão trượng, mặt trời vẫn còn sớm, nên
đợi Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã đến đã". Nếu mặt trời gần
đứng bóng thì nên đánh bảng. Tỉ-kheo ở a-luyện-nhã nên
dùng bóng cây hay tường vách làm dấu mức thời gian để
biết mặt trời sớm hay muộn mà đi đến. Giả sử các Tỉ-kheo
ở a-luyện-nhã chưa đến kịp, thì phải để dành chỗ ngồi.
Nếu bữa ăn được nấu tại a-luyện-nhã cũng phải làm như
vậy. Tỉ-kheo
ở a-luyện-nhã không được khinh Tỉ-kheo ở thôn xóm rồi
nói rằng: "Các vị chắc là có đầu lưỡi sắc bén, ít mùi
vị nên mới ở nơi đó", mà nên tán thán: "Các vị ở nơi
thôn xóm thuyết pháp giáo hóa, vì pháp mà che chở, bảo vệ
cho chúng tôi". Các
Tỉ-kheo ở thôn xóm cũng không được khinh thường Tỉ-kheo
ở a-luyện-nhã rồi nói: "Các vị ở a-luyện-nhã có ý hy
vọng danh lợi, hươu nai cầm thú cũng ở a-luyện-nhã. Các
vị ở a-luyện-nhã từ sớm đến chiều chỉ lo đếm năm,
đếm tháng mà thôi", mà nên tán thán: "Các vị xa rời thôn
xóm ở a-luyện-nhã nhàn tĩnh tư duy về đạo nghiệp cao quí.
Ðó quả thực là nơi rất khó sống (510b) mà các vị có thể
ở đó để lắng đọng tâm tư". Tỉ-kheo
ở a-luyện-nhã và Tỉ-kheo ở thôn xóm đều phải làm như
vậy. Nếu ai không làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
XỬ SỰ GIỮA KHÁCH VÀ CỰU TỈ-KHEO. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các cựu Tỉ-kheo đang
cãi lộn với nhau thì có khách Tỉ-kheo đi đến, ôm chân đảnh
lễ. Mấy hôm sau, thầy trở lại, đảnh lễ lần nữa, thì
cựu Tỉ-kheo hỏi: -
Thầy đến mấy ngày rồi? -
Ðộ 4, 5 ngày. -
Thầy tới đã chừng ấy ngày mà sao không đến gặp tôi? -
Tôi đã tham kiến và đảnh lễ rồi, nhưng vì trưởng lão
mắc cãi lộn nên không trông thấy tôi. -
Vì sao thầy thấy tôi đang cãi lộn mà lại đảnh lễ? -
Vậy thì tại sao thầy lo cãi lộn mà không thấy tôi đảnh
lễ? Thế
rồi hai người cãi nhau rồi cùng dẫn đến chỗ Phật. Cuối
cùng Phật dạy: "Từ nay trở đi nên đảnh lễ và thưa hỏi
như sau: Khi người ấy đang tranh cãi, đang nói chuyện thì
không được đảnh lễ, mà chỉ nên cúi đầu tỏ sự cung
kính. Nếu người ấy hết cãi thì nên đảnh lễ. Khi vị
ấy đang làm nhà, tô tường thì không nên đảnh lễ. Cũng
vậy, khi vị ấy đang làm các việc như: đun bát, giặt y,
nấu nước nhuộm để nhuộm y, vá y, tắm rửa, thoa dầu vào
mình, rửa chân tay, rửa mặt, rửa bát, lễ tháp, đang ngậm
cơm, nhỏ thuốc vào mắt, đọc kinh, tụng kinh, chép kinh, đi
kinh hành, đang xuống gác, lên gác, đang đại tiện, lúc không
mặc y, lúc chỉ mặc có quần đùi, đều không nên đảnh
lễ. Hoặc lúc đang ở trong bóng tối thì không nên đảnh
lễ. Lúc dạy kinh không nên đảnh lễ. Lúc mặc quần cụt,
lúc đang mặc y, lúc đang đi gấp, đều không nên đảnh lễ.
Khi đảnh lễ không được trùm đầu, choàng kín vai phải,
mang giày dép. Không được đảnh lễ nơi đầu gối, ống
chân, gót chân, mà phải ôm lấy bàn chân mà đảnh lễ. Nếu
trên chân vị ấy có mụt nhọt thì phải bảo vệ chớ có
chạm đến. Người thọ lễ không được làm thinh như dê
câm, mà phải hỏi han. Khi hỏi, không nên hỏi như thế này:
"Ở nơi nào có nhiều thức ăn uống ngon?" mà nên hỏi: "Thầy
có ít bệnh, ít phiền não, được an lạc không? Ði đường
không vất vả đấy chứ?" Còn
khách Tỉ-kheo thì nên hỏi: "Ai là vị Thượng tọa của chúng
Tăng? Ai là đệ nhị, đệ tam Thượng tọa?" Rồi nên đảnh
lễ dưới chân. Cựu
Tỉ-kheo nên hỏi: "Trưởng lão bao nhiêu tuổi?" Nếu khách
Tỉ-kheo còn nhỏ thì nên đưa ghế bảo ngồi. Nếu có khả
năng thì nên cung cấp bữa ăn trước, bữa ăn sau, dầu thoa
chân, nước uống phi thời. Khách
Tỉ-kheo và cựu Tỉ-kheo phải xử sự như thế. Nếu ai không
làm như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo gọi
nhau theo cách của người thế tục như: cha, mẹ, anh, em. Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến (510c) bạch lên Thế Tôn. Phật
liền hỏi nhóm sáu Tỉ-kheo: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay trở đi, khi nói chuyện nên gọi như sau: Khi nói chuyện
với cha, không được gọi là ông, cha, ông lão, mà nên gọi
là Bà-lộ-ê-đa. Khi nói chuyện với mẹ, không được gọi
là mẹ, bà, mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đế. Khi nói chuyện
với anh không được gọi là anh mà nên gọi là Bà-lộ-ê-đa.
Khi nói chuyện với chị không được gọi là chị mà nên
gọi là Bà-lộ-ê-đế. Khi nói chuyện với Hòa thượng, không
được gọi là Bạt-đàn-đế, mà nên gọi là Ưu-ba-thượng.
Khi nói chuyện với A-xà-lê (thầy) không được gọi là Bạt-đàn-đế,
mà nên gọi là A-xà-lê. Nếu có nhiều A-xà-lê thì nên gọi
là A-xà-lê mỗ giáp. Khi nói chuyện với Hạ tọa thì được
gọi tên, gọi là Cự-đế, gọi là tuế. Khi nói chuyện với
Thượng tọa thì nên gọi là Bạt-đàn-đế, hoặc là Tuệ
mạng, hoặc là A-xà-lê. Khi có người gọi thì không được
hỏi trổng trổng: "Nói gì đó? Việc gì đó?". Nếu Hòa thượng
gọi thì nên đáp: "Dạ". Nếu A-xà-lê gọi thì nên đáp: "Dạ".
Nếu Thượng tọa gọi cũng nên đáp: "Dạ".
Nếu người trẻ gọi thì nên hỏi: "Vì sao mà gọi?".
Nếu mẹ hay đàn ông gọi thì nên hỏi: "Vì sao mà gọi?".
Khi có người hỏi: "Hòa thượng, A-xà-lê của ông tên gì?",
thì không được nói thẳng tên của Hòa thượng, A-xà-lê,
mà nên nói nghĩa, nói rằng vì nhân duyên như vậy mà có tên
là mỗ giáp. Khi
nói năng phải vận dụng như thế, nếu ai không làm như thế
thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
TẮC VÀO TRONG CHÚNG SÁT-LỢI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, chúng Sát-lợi tập
họp để bàn luận, thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà bèn đến ngồi
trước tại hội trường. Do đó, bọn họ chê trách rằng:
"Hôm nay chúng ta tập họp để bàn luận mà ông Sa-môn này
làm phương hại đến việc nghị luận của chúng ta". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật liền dạy: "Từ nay trở đi, khi đi vào trong chúng Sát-lợi
phải xử sự như sau: Nếu có lý do thì mới đến, và trước
khi đến nên nói rõ lý do mà mình cần đến với người lớn
nhất trong chúng ấy. Nếu họ nói rằng có thể đến được,
thì mình mới đến. Khi đến, không được cầm dù, lọng,
giày, dép. Khi vào rồi nên cởi các thứ ấy để một chỗ.
Không được hỏi: "Nam tử có vui không?". Nếu họ chỉ chỗ
ngồi thì nên ngồi. Không được chê bai về đấu pháp quân
trận. Nếu thấy họ bắn giỏi, không được khen ngợi, mà
nên nói: "Dòng dõi Sát-lợi là vọng tộc. Ðức Như Lai Ứng
Cúng, Chánh Biến Tri thường sinh vào hai gia đình này: Nhà
Sát-lợi và Bà-la-môn. Có hai loại bánh xe: Bánh xe pháp và
bánh xe quyền lực. Các người xuất gia (511a) nhờ sự bảo
vệ của bánh xe quyền lực mà được yên ổn". Nếu có việc
gì cần bàn luận, thì nói xong liền ra về. Phép
tắc đi vào trong chúng Sát-lợi phải như vậy. Nếu ai không
làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
TẮC VÀO TRONG CHÚNG BÀ-LA-MÔN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy chúng Bà-la-môn đang
tập họp thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến ngồi trước tại
nơi đó. Các Bà-la-môn bèn trách cứ: "Chúng ta có việc phải
bàn luận mà vị Sa-môn này đến phá hỏng công việc của
chúng ta". Thế rồi, Phật dạy: "Từ nay trở đi, khi vào trong
chúng Bà-la-môn phải xử sự như sau: Nếu có duyên sự muốn
đi đến đó, thì trước hết nên trình bày lý do mình muốn
đến với người lãnh đạo trong bọn họ. Nếu họ đồng
ý thì mình mới đi đến. Lúc sắp đến nơi, nên xếp dù
lọng, cởi giày dép, không được thấy họ rồi mới cởi.
Cũng không được mượn ô dù, giày dép mang đi đến. Không
được hỏi: "Nam tử có vui không?". Không được khen chê đền
thờ trời của họ. Không
được chê bai với hình tướng cụ thể rằng: "Chủng
tộc Bà-la-môn do ngã mạn nên phải sinh vào trong sáu loài:
hoặc gà, heo, chó, dã can, lạc đà, địa ngục", mà nên nói:
"Ðức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri thường sinh vào trong
hai gia tộc: hoặc gia tộc Sát-lợi, hoặc gia tộc Bà-la-môn".
Nếu có điều chi bàn luận thì khi nói xong nên ra về. Phép
tắc vào trong chúng của Bà-la-môn nên làm như thế. Nếu ai
không làm như thế thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
TẮC VÀO TRONG CHÚNG CƯ SĨ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, cho đến Phật dạy: "Từ nay
trở đi, khi có nhân duyên thì mới nên đi đến chúng cư sĩ.
Và khi họ chỉ chỗ cho mình ngồi rồi, không được nói:
"Ngươi rửa tay chân sạch sẽ, ngồi ở quán xá, dùng cân
nhẹ, đấu non lừa gạt người ta, còn quá hơn bọn trộm
cướp", mà nên nói: "Có hai loại bánh xe: Bánh xe pháp và bánh
xe thức ăn. Có bánh xe thức ăn mới vận chuyển được bánh
xe pháp, như Thế Tôn đã nói với các Tỉ-kheo: "Bà-la-môn,
cư sĩ cung cấp y thực, ngọa cụ, thuốc trị bệnh, làm lợi
ích rất nhiều, đó là việc khó làm". Ta nhờ các ngươi mà
được tu phạm hạnh trong giáo pháp của đức Như Lai, vượt
qua dòng sinh tử. Tất cả đều nhờ công ơn và lòng tin của
các ngươi". Nếu có điều chi bàn luận thì nói xong rồi ra
về. Khi
vào trong chúng cư sĩ nên làm như thế, nếu ai không làm như
thế thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
VÀO TRONG CHÚNG NGOẠI ÐẠO. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, cho đến Phật nói: "Khi vào
trong chúng ngoại đạo nên xử sự như sau: Khi họ chỉ chỗ
ngồi rồi thì nên ngồi. Không được khen chê kiến giải
của họ. Cũng không được chê bai bằng hình ảnh cụ thể
rằng: "Các ngươi tà kiến, không có niềm tin, không biết
hổ thẹn", mà nên khen ngợi bằng những sự thật: "Các ngươi
có thể xuất gia, cởi mở trói buộc, vứt bỏ phục sức
thế tục, ở nơi thanh vắng, suy nghĩ sâu xa, thật là một
việc làm rất khó khăn". Ðược ca ngợi tất cả các sự
thật như vậy, nhưng không được (511b) nói những lỗi lầm
của họ. Nếu muốn bàn luận điều gì thì nói xong rồi liền
ra đi. Phép
tắc đi vào trong chúng ngoại đạo phải làm như vậy. Nếu
ai không làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, cho đến Phật nói: "Từ nay
trở đi, phép nhập chúng phải làm như sau: Nếu muốn luận
bàn việc gì ở giữa Tăng thì lúc còn ở ngoài nên quyết
đoán cho dứt khoát, không được vào trong Tăng rồi mới quyết
đoán. Nếu sự việc khó khăn thì nên thưa với Hòa thượng,
A-xà-lê. Nếu việc ấy không cần Tăng quyết đoán thì nên
khuyên họ chấm dứt. Nếu việc ấy cần phải thông qua Tăng,
và người nêu vấn đề đáng tin cậy thì nên giải quyết
cho hòa hợp, đúng pháp, đúng luật. Khi đã được Hòa thượng,
A-xà-lê cho phép thì nên
đến trước vị Thượng tọa của Tăng hỏi: "Con có
việc muốn nói, Thượng tọa có cho phép không?". Thế rồi,
Thượng tọa nên xem xét lời nói của người ấy. Khi
vào trong chúng không được mang giày dép, trùm đầu, che kín
vai phải, mà nên cởi giày dép, trật vai áo mà vào. Phép
đi vào trong chúng phải làm như vậy. Nếu ai không làm như
vậy thì vượt pháp oai nghi. Kệ
tóm tắt: "A-luyện-nhã,
thôn xóm,
Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo cởi
nội y mặc trong chùa rồi ở trần đi tìm nội y mặc đi vào
thôn xóm. Sau khi từ trong thôn xóm trở ra, họ lại cởi nội
y mặc vào thôn xóm, ở trần đi tìm nội y mặc ở tại chùa.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế
rồi, Phật dạy: "Phép mặc y phải làm như sau: Khi muốn vào
thôn xóm, không được cởi nội y mặc ở trong chùa rồi ở
trần đi tìm nội y mặc vào thôn xóm; cũng như không được
cởi nội y mặc đi vào thôn xóm rồi ở trần đi tìm nội
y mặc ở trong chùa; mà khi muốn vào thôn xóm, trước hết
nên lấy nội y mặc đi vào thôn xóm để gần một bên. Cũng
không được mặc y vào thôn xóm rồi ở bên dưới mới cởi
nội y ở chùa ra, mà nên một bên mặc vào, một bên cởi
ra. Khi ra khỏi thôn xóm, cởi nội y đi vào thôn xóm, mặc
nội y ở chùa cũng làm như vậy. Phép mặc nội y phải làm
như vậy. Nếu ai không làm như vậy thì vượt pháp oai nghi". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo muốn
vào thôn xóm bèn cởi y mặc trong chùa rồi mặc một nội
y đi tìm y mặc đi vào thôn xóm. Khi ra khỏi thôn xóm, họ
lại cởi y đi vào thôn xóm, rồi mặc một nội y đi tìm y
mặc ở trong chùa. Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến (511c)
bạch lên Thế Tôn. Cuối cùng, Phật dạy: "Từ nay trở đi,
phép mặc y phải làm như sau: Không được cởi y mặc trong
chùa rồi mặc một nội y đi tìm y mặc vào thôn xóm, mà trước
hết nên lấy y mặc đi vào thôn xóm để gần một bên, cởi
y mặc trong chùa xếp lại ngay ngắn, cất vào chỗ cũ, rồi
mới mặc y đi vào thôn xóm. Khi từ thôn xóm đi ra cũng phải
lấy y mặc ở trong chùa để gần một bên, đập giũ y đi
vào thôn xóm, cất vào chỗ cũ, rồi mặc y ở trong chùa. Phép
mặc y phải làm như vậy. Nếu ai không làm như vậy thì vượt
pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ưu-ba-nan-đà đi vào
thôn xóm, kéo lê y mà đi, khiến bùn đất làm bẩn y, chỗ
móc y bị rách, chỗ chắp lại bị lủng, đường đột đi
qua nơi đường hẻm chật hẹp, khiến đệ tử than phiền
rằng: "Chúng ta giặt nhuộm may vá khổ sở mà thầy không
biết thương tiếc gìn giữ". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật dạy: "Từ nay trở đi, khi vào thôn xóm phải mặc y như
sau: Không được kéo lê y đi trong thôn xóm để cho lủng rách.
Nếu vào mùa Xuân, khi còn ở cách xa thôn xóm, nên xếp y lại
để trên vai mà đi. Lúc đến gần thôn xóm, nếu gặp hồ
nước, đầm nước, nên rửa chân tay, mặc y, buộc lại rồi
mới đi vào. Nếu không có nước thì nên dùng lá cây hoặc
cỏ chùi đất bụi trên chân, mặc y rồi mới đi vào. Nếu
vào mùa Ðông thì nên mặc y mà đi. Nếu gặp voi, ngựa, xe
cộ chạy nhanh, thì nên đi ở phía trên gió, kẻo bụi bặm
bám vào làm bẩn y. Nếu bị vướng gai làm rách thì không
được kéo lê y rách mà đi. Nếu đường xóm chật hẹp thì
không được đường đột đi qua. Nếu gặp cửa nhỏ hẹp
thì nên nghiêng mình mà đi qua. Nếu cửa thấp thì khom lưng
xuống đi qua. Khi
mặc y đi vào thôn xóm phải làm như vậy, nếu ai không làm
như vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
MẶC Y NGỒI TRONG NHÀ CƯ SĨ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
không trải tọa cụ mà ngồi, lại dùng y gói trái cây hư,
bánh có chất dầu mỡ làm bẩn y, nên đệ tử than phiền
rằng: "Ta khó nhọc giặt nhuộm sửa chữa mà thầy không biết
thương tiếc, giữ gìn". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật dạy: "Từ nay trở đi, mặc y đi vào nhà cư sĩ phải
làm như sau: Nếu giường có bụi đất dơ bẩn mà không có
vật trải lên thì không được ngồi. Nếu thấy có người
quen biết cũ thì nên bảo họ trải đồ lên. Nếu họ nói:
"Vị Sa-môn này kiêu căng, coi thường người khác khó mà phục
vụ", thì tự mình nên lau chỗ ngồi, trải tọa cụ, rửa
tay rồi mới ngồi. Không được dùng y gói tất cả các loại
bánh trái, hoa ướt, hoặc lau miệng. Khi
ngồi trong nhà cư sĩ phải giữ gìn y như vậy, nếu ai không
làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
TẮC CỦA TIỀN VÀ HẬU SA-MÔN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ưu-ba-nan-đà nói với
đệ tử đồng hành của Nan-đà như sau: "Ta muốn đi với
ngươi vào thôn xóm khất thực. Nếu ở nơi đó ta có làm
điều gì trái oai nghi thì ngươi đừng đem nói với người
khác. Vì ta là thúc phụ của ngươi". Người
đệ tử nói: "Giả sử cha của tôi hay ông nội tôi có làm
điều gì trái oai nghi thì tôi cũng phải nói", như trên đã
nói rõ, cho đến thầy đáp: "Có thật như vậy, bạch Thế
Tôn". Thế
rồi, Phật dạy: "Từ nay trở đi, tiền Sa-môn và hậu Sa-môn
phải cư xử như sau: Nếu tiền Sa-môn được thức ăn thì
nên ăn chung với hậu Sa-môn. Nếu không có thì nên bảo hậu
Sa-môn trở về lấy thức ăn. Hậu Sa-môn không được đi
cách quá xa với người đi trước, khiến cho không trông thấy
nhau; cũng không được đi quá gần chạm gót nhau, mà nên cách
nhau chừng hơn một cánh tay. Nếu thấy ở trước voi, ngựa,
bò dữ thì nên nói: "Thưa Hòa thượng, A-xà-lê, ở trước
có ác thú nên tránh qua một chỗ". Nếu vị Sa-môn đi trước
già yếu thì nên đi trước để che chở. Nếu ở trước có
người muốn đảnh lễ thì nên thưa: "Có mỗ giáp đảnh lễ".
Nếu có người mời thọ trai, thì hậu Sa-môn phải ghi nhớ
để lúc về lại trú xứ thưa lại rằng: "Vừa rồi nhà mỗ
giáp có mời thọ trai". Nếu tiền Sa-môn không có thể chú
nguyện được thì nên bảo người nào có thể chú nguyện
được chú nguyện. Người được sai chú nguyện không được
nói: "Thầy ngồi trước, lấy nước trước, ăn trước mà
lại bảo tôi chú nguyện". Phép
tắc cư xử của tiền Sa-môn và hậu Sa-môn phải như thế.
Nếu ai không làm như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ-kheo nhờ
người khác lấy thức ăn giúp, thầy đưa bát xong rồi bỏ
đi. Vị Tỉ-kheo đi lấy thức ăn, mang thức ăn đến, đi tìm
mà không biết ở đâu, bèn để cái bát trong nhà thiền rồi
bỏ đi. Ðến hôm sau, vị Tỉ-kheo nhờ lấy thức ăn hỏi
vị kia: -
Hãy trả cái bát lại cho tôi. -
Tôi đã để cái bát ở trên thiền đường rồi. -
Vì sao thầy đem cái bát của tôi bỏ nơi thiền đường trống
không? -
Vậy thì tại sao thầy nhờ tôi đi lấy thức ăn rồi lại
bỏ đi? Hai
người cãi nhau, rồi cùng dẫn đến chỗ Phật trình bày lại
đầy đủ sự việc trên với Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ
nay trở đi, khi nhờ người lấy thức ăn và lấy thức ăn
giúp người khác phải làm như sau: Không được nhờ người
lấy thức ăn rồi bỏ đi, và không được lấy thức ăn giúp
cho người, rồi đem cái bát để trong nhà thiền trống không
rồi bỏ đi. Người lấy thức ăn giúp trước hết nên nói:
"Trưởng lão, nay tôi lấy thức ăn thầy đừng có đi đâu
mà hãy chuẩn bị đợi tôi". (512b)
Người đi lấy thức ăn nên để ý giờ giấc. Nếu thì giờ
gấp, thì nên đem đưa trước thức ăn lấy giúp. Nếu thì
giờ còn sớm, thì nên ngồi theo thứ tự để nhận lấy phần
ăn. Khi lấy, không được trộn chung lại mà mỗi thứ phải
để riêng ra, ăn phần mình xong rồi mang đến. Nếu thì giờ
gấp rút thì không được ăn tại trai đường mà phải mang
cả hai phần ăn trở về. Khi trở về, phải xem chừng mặt
trời, thấy tới giờ nên mang đến cho người kia. Nếu như
không kịp giờ, thì nên ăn tại trai đường, đừng để cả
hai người đều bị mất ăn. Người
nhờ người khác lấy thức ăn không được nghĩ: "Ta đã nhờ
được người", rồi bỏ đi, mà trước hết phải tìm tăm
xỉa răng, xách nước, trải giường ghế, rửa tay, rồi ngồi
chờ. Thỉnh thoảng nên xem mặt trời, nếu thì giờ đã đến,
thì phải xách bình nước đến lấy phần. Nếu gặp người
kia ở dọc đường thì cùng nhau ăn. Nếu như thì giờ vẫn
còn sớm thì nên đợi đến giờ rồi ăn. Nếu thức ăn còn
thừa thì nên cho người đi lấy thức ăn mà không nên cho
người khác. Nếu người ấy không cần thì có thể cho người
khác. Nguyên
tắc đi lấy thức ăn phải làm như thế. Nếu ai không làm
như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vê, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo vào
thành khất thực; họ lầm lũi cúi đầu đi qua mặt người
khác để vào nhà bạch y, bị người đời chê cười rằng:
"Sa-môn Thích tử mà giống như dê con, vượt qua mặt, đụng
vào người khác!" Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: "Từ nay trở đi, phép tắc khất thực phải làm như
sau: Không được làm như dê con, cứ gầm đầu đi thẳng tới
trước. Cũng không được đứng ở quá xa khiến thí chủ
không trông thấy, mà nên đứng ở chỗ vừa tầm thấy của
họ. Không được nói: "Cúng dường thức ăn cho tôi, bà sẽ
được phước đức lớn", mà chỉ nên đứng im lặng. Không
được ngó bên trái, bên phải, khiến người ta nghi ngờ mình
là kẻ gian phi, mà nên thu nhiếp sáu căn, quán tưởng lẽ
vô thường. Cũng không được đứng đợi quá lâu. Nếu phụ
nữ nhà ấy đang giã gạo, chưa trông thấy mình, thì có thể
đứng chờ một lát. Nếu họ thấy rồi mà vẫn tiếp tục
giã gạo, thì nên đi. Nếu thấy phụ nữ đang may vá, họ
nhìn thấy mình mà vẫn tiếp tục may vá, thì biết là ý họ
không muốn cúng dường, nên đi. Nếu người phụ nữ thấy
mình rồi, họ vào trong nhà rồi trở ra tay không thì nên đi.
Nếu nhà ấy giàu có, họ để bảo vật rải rác đó đây,
thì không nên đi liền, mà phải chỉ cho họ thấy rồi mới
ra đi. Phép
tắc đi khất thực phải làm như vậy. Nếu ai không làm như
vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
TẮC MÀ VỊ SA-MÔN ÐI KHẤT THỰC SAU PHẢI LÀM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ưu-ba-nan-đà cùng với
đệ tử đồng hành vào thôn khất thực, khi thầy mang thức
ăn từ trong thôn đi ra, tìm đệ tử thì không thấy; thầy
bực bội, nói: "Ta đem thức ăn đến, mà hắn lại bỏ ta
mà đi!". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: "Từ nay trở đi, khi khất thực, vị Sa-môn đi sau phải
làm như sau: (512c) Khi vị Sa-môn trước khất thực, không được
đứng cách quá xa, cũng không được đứng quá gần để nhìn,
khiến chủ nhân nghĩ rằng: "Vị này không biết đi khất thực
mà chỉ mong được thức ăn thừa của người khác", mà nên
đứng ở một khoảng cách vừa phải. Nếu được mời ăn
thì nên ăn. Nếu không được mời thì nên đi khất thực.
Sau đó, đem thức ăn đến bên giếng hay bên ao nước mà ăn,
ăn xong, rửa bát rồi đi, thì không có tội. Khi ăn phải đợi
nhau như vậy, nếu ai không làm như vậy thì vượt pháp oai
nghi. Kệ
tóm tắt: "Nội
y, y tụ lạc,
PHÉP
ÐỐT VÀ TẮT ÐÈN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo đi vào
phòng thiền trong bóng tối, bị té ngã xuống đất. Các Tỉ-kheo
bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Từ nay trở đi, Ta cho phép thắp đèn". Khi
ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo dùng miệng thổi; hoặc dùng tay quạt,
hoặc dùng y quạt cho tắt ngọn đèn đang cháy, rồi hạ phong
làm nhiễu loạn các Tỉ-kheo đang ngồi thiền. Các Tỉ-kheo
bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Từ nay trở đi, khi đốt đèn phải làm như sau: Theo thứ
tự từ người thấp nhất trở lên phải chuẩn bị gỗ lấy
lửa hoặc phân bò nhóm lửa để dưới nhà bếp. Không được
đốt đèn một cách đột ngột mà phải để lửa tại một
chỗ rồi đốt dần dần. Khi đốt đèn, trước hết nên đốt
những cây đèn trước xá-lợi và các hình tượng, lễ bái
xong rồi tắt đi. Kế đến, đốt đèn trong nhà vệ sinh. Nếu
đến giờ ngồi thiền, thì nên đốt đèn trong phòng thiền,
đồng thời nên loan báo: Xin các đại đức tùy hỷ chú nguyện
đèn. Kế đến, đốt đèn nơi chỗ đi kinh hành. Kế đến,
đốt đèn nơi đầu đường lên gác. Nếu có nhiều dầu thì
nên đốt đèn nơi nhà vệ sinh suốt đêm. Nếu dầu ít, thì
người đi cầu xong nên tắt đèn. Khi tắt đèn nơi nhà vệ
sinh xong, tiếp đến, tắt đèn nơi chỗ đi kinh hành; tiếp
đến, tắt đèn ở đầu thang lên gác; tiếp đến, tắt đèn
trong phòng ngồi thiền. Khi tắt đèn trong phòng ngồi thiền
không được tắt đột ngột mà phải nói: "Tôi sắp tắt
đèn, các đại đức hãy trải mền ra", rồi dùng tay che đèn,
nói: "Ðèn sắp tắt, đèn sắp tắt". Khi tắt, không được
dùng miệng thổi, dùng tay quạt hay dùng y quạt, mà phải cắt
đầu tim đang cháy. Ðến cuối đêm, khi thức dậy, trước
hết nên đốt đèn trong nhà vệ sinh; tiếp đến, đốt đèn
nơi đi kinh hành; tiếp đến, đốt đèn nơi đầu cầu thang
lên gác; tiếp đến, đốt đèn trong phòng thiền. Khi đốt
đèn trong phòng thiền, không nên đột ngột vào đốt liền,
(513a) mà phải nói: "Thưa các đại đức, đèn sắp đem vào,
đèn sắp đem vào", rồi sau đó đọc kệ. Ðến lúc mờ sáng,
muốn tắt đèn, thì trước hết nên tắt đèn ở đầu cầu
thang lên gác; kế đến, tắt đèn ở lối đi; kế đến, tắt
đèn trong nhà vệ sinh; kế đến, tắt đèn trong phòng thiền. Phép
đốt và tắt đèn phải làm như vậy. Nếu ai không làm như
vậy thì vượt pháp oai nghi. PHÉP
VÁC THIỀN TRƯỢNG ÐI TUẦN HÀNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo ngồi
thiền mà ngủ gà ngủ gật trong phòng thiền. Các Tỉ-kheo
bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Từ nay trở đi (trong khi ngồi thiền) nên vác thiền trượng
đi tuần hành". Khi
nhóm sáu Tỉ-kheo vác thiền trượng đi tuần hành, (thấy người
ngủ gục) liền đâm thiền trượng vào xương sườn bên hông
của Tỉ-kheo ấy, khiến vị ấy kinh hoảng kêu lên: "Chết
tôi rồi trưởng lão!" Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi,
Phật dạy: "Từ nay trở đi, khi vác thiền trượng đi tuần
hành phải làm như sau: Trước hết nên dùng tre, nứa làm thiền
trượng, dài chừng 8 khuỷu tay, rồi bọc kín hai đầu. Hạ
tọa nên làm việc này. Khi đi tuần hành, không được trùm
kín đầu, kín vai, mang giày dép, mà phải để hở vai áo bên
phải. Nếu thấy có người ngủ gật, không được đột ngột
gọi họ dậy, không được đâm vào hông, mà phải đến đứng
bên cạnh, dựng đứng thiền trượng ở trước mặt, rồi
lay chuyển chừng ba lần. Nếu họ không tỉnh giấc, mà mình
đang đứng ở bên trái, thì nên dựng thiền trượng ở bên
đầu gối phải của họ. Nếu mình đang đứng bên phải thì
nên dựng thiền trượng ở bên đầu gối trái của họ. Khi
hay biết, họ phải đứng dậy vác thiền trượng đi tuần
hành. Khi đi, cũng không được trùm đầu, trùm kín vai phải
mà nên để hở vai mà đi. Nếu nhiều người ngủ, thì không
được đánh thức tất cả cùng một lúc giống như bò đứng
dậy mà nên đánh thức một lúc chừng hai người, ba người.
Người trẻ nên vác thiền trượng đi tuần hành; nếu thấy
Hòa thượng, A-xà-lê ngủ cũng phải đánh thức dậy. Vì tôn
trọng nguyên tắc, nên khi thức dậy Hòa thượng cũng phải
cầm lấy thiền trượng, nhưng đệ tử không được trao thiền
trượng cho Hòa thượng mà phải tiếp tục đi tuần hành.
Người đi tuần hành không được tùy tiện thiên vị hay giận
dữ tìm lỗi lầm kẻ khác mà phải thu nhiếp lục tình, nhất
tâm tư duy. Nếu thấy có người ngủ thì nên trao thiền trượng
cho họ. Người nhận thiền trượng không được oán hận
mà phải suy nghĩ: "Vị ấy nay trừ khử tăm tối che mờ, giúp
cho ta, làm lợi ích cho ta không ít". Nghĩ thế rồi, nên đứng
dậy đi tuần hành, nếu thấy ai ngủ thì lại trao thiền trượng
cho họ. Phép
vác thiền trượng đi tuần hành phải làm như thế. Nếu ai
không làm như thế thì vượt pháp oai nghi. |