| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
TÁC
PHONG CỦA THƯỢNG TỌA THỨ NHẤT. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Tăng tập
hợp để bố tát; trong lúc mọi người tập trung đông đủ,
thì vị Thượng tọa của Tăng là Nan-đà không đến. Khi ấy
có đàn việt đem phẩm vật đến chờ chư Tăng tập hợp
đông đủ để cúng dường, liền hỏi các Tỉ-kheo: -
Dạ thưa Tăng đã tập hợp đông đủ chưa? -
Tập hợp chưa đông đủ. -
Ai không đến vậy? -
Vị Thượng tọa của Tăng không đến. Ðàn
việt liền chê trách: "Ta chờ Tăng tập họp đông đủ để
cúng dường nhưng Thượng tọa lại không đến". Vì đã chờ
đợi lâu, nên thí chủ đem phẩm vật cúng dường, rồi ra
về. (499b)
Ðến lúc chiều tối, Thượng tọa mới tới, nên không phát
thẻ, không hỏi việc các Tỉ-kheo không đến hãy thuyết dục
thanh tịnh, liền nói tóm tắt 4 việc (4 Ba-la-di) rồi giải
tán. Bấy
giờ vị Tỉ-kheo trẻ tuổi bèn hỏi chư Tăng: -
Thưa, Thượng tọa đã đến chưa? -
Thượng tọa đến rồi lại về. Tỉ-kheo
trẻ tuổi liền trách móc: "Vì sao Thượng tọa đến cũng
không cho ai biết, đi cũng chẳng nói ai hay?" Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Nan-đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền
hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, vị Thượng tọa của chúng Tăng phải biết
các việc sau đây: Phải biết về phép tắc của Thượng tọa,
kỳ này Bố-tát vào ngày 14 hay ngày 15, hay trung gian Bố-tát,
Bố-tát ban ngày hay ban đêm; đồng thời phải biết nơi chốn,
hoặc tại phòng sưởi, giảng đường hay trong rừng. Phải
tụng đầy đủ 5 thiên giới bổn, tối thiểu là tụng 4 Ba-la-di
và các bài kệ, rồi tuyên bố: "Ngoài ra các giới khác chư
Tăng đã thường nghe". Nếu trong thành ấp xóm làng có Tỉ-kheo
thì Thượng tọa nên sai người loan báo: Kỳ này Tăng Bố-tát
vào ngày 14, hoặc ngày 15, hoặc trước bữa ăn, sau bữa ăn,
vào lúc bóng người ngang chừng ấy sẽ Bố-tát tại mỗ xứ.
Trước hết nên sai người quét tước giới trường, rải
đất bằng phẳng, rải các loại hoa. Thượng tọa còn phải
dự liệu xem ai nên chú nguyện, tụng giới, ai phát thẻ. Nếu
lúc tụng giới Tăng chưa tập họp mà có đàn việt đến
thì Thượng tọa nên thuyết pháp rồi ủy lạo họ. Nếu Thượng
tọa không thể làm được, thì nên mời Thượng tọa thứ
hai, hoặc pháp sư thuyết pháp. Khi đến giờ Bố-tát nên hỏi
đàn việt muốn ở lại hay đi về. Nếu họ nói rằng đi
về, thì nên chú nguyện rồi tiễn họ ra đi. Nếu họ nói
"ở lại" thì nên bảo họ rời khỏi giới trường rồi mới
Bố-tát. Nếu có khả năng thì nên dùng nước thơm nấu nóng
rửa thẻ rồi mới phát. Nếu đại chúng ngồi trong giới
trường thưa thớt thì nên một người phát thẻ, rồi một
người thâu lại. Khi đưa thẻ không được trùm đầu, choàng
khăn trên vai, đồng thời phải bỏ giày dép, trật vai áo
phải mà phát thẻ. Người nhận thẻ cũng phải làm như thế.
Khi phát thẻ phải phát cho người thọ Cụ túc trước rồi
mới phát cho Sa-di. Khi phát xong phải bạch: Chừng ấy người
thọ Cụ túc, chừng ấy Sa-di, cộng tất cả được chừng
ấy người. Vị Thượng tọa của Tăng phải tụng giới; nếu
không thể tụng, thì vị Thượng tọa thứ hai phải tụng;
nếu cũng không tụng được thì lần lượt đến người nào
tụng được, phải tụng. Khi tụng, nếu trời sắp tối, mưa
gió xảy đến, hoặc có người già bệnh không thể ngồi
lâu, trú xứ ở xa, hoặc có nạn vua, nạn giặc, thì bấy
giờ được phép tụng tóm lược. Nếu thời giờ còn sớm
không có các nạn kể trên thì phải tụng đầy đủ, hoặc
Thượng tọa tự tụng, hoặc người khác tụng, hoặc hòa
hợp thuyết pháp, bàn luận, hỏi đáp, chú nguyện cả đêm.
Phép tắc Bố-tát của Thượng tọa phải như thế. Nếu không
làm như vậy (499c) thì vượt pháp oai nghi. TÁC
PHONG CỦA THƯỢNG TỌA THỨ HAI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo tập họp
để Bố-tát, thì Thượng tọa thứ nhất đến, nhưng Thượng
tọa thứ hai không đến; lúc ấy, có đàn việt đem phẩm
vật đến định cúng dường, bèn hỏi các Tỉ-kheo: -
Dạ thưa chúng Tăng đã tập họp đầy đủ chưa? -
Tập hợp chưa đầy đủ. -
Vị nào không đến vậy? -
Thượng tọa thứ hai không đến. Ðàn
việt liền trách móc: "Ta định cúng dường ít phẩm vật,
nhưng Thượng tọa thứ hai lại không đến". Ðợi
hồi lâu không thấy đến, đàn việt bèn đem phẩm vật cúng
dường, rồi ra về. Ðến chiều tối, Thượng tọa thứ hai
mới tới, Thượng tọa thứ nhất bèn chê trách: "Thế Tôn
chỉ chế định riêng tôi còn Thượng tọa thứ hai không hỏi
đến chăng?" Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật
liền hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, khi Bố-tát thì Thượng tọa thứ hai cũng phải
biết tất cả mọi việc như Thượng tọa thứ nhất đã được
nói rõ ở trên chỉ có tên gọi Thượng tọa thứ hai là khác
mà thôi. Nếu Thượng tọa thứ nhất của Tăng không thể
chu toàn, thì Thượng tọa thứ hai phải đảm trách. Nếu không
làm được như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Tăng tập
họp để Bố-tát, thì đệ nhất Thượng tọa, đệ nhị Thượng
tọa đến, nhưng các người khác thì lề mề không tập họp
đúng giờ. Ðệ nhất và đệ nhị Thượng tọa liền chê
trách: "Phải chăng đức Thế Tôn chỉ chế định riêng chúng
tôi, không chế định cho những người khác?" Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi các Tỉ-kheo ấy đến. Khi họ tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, việc Bố-tát tất cả chúng Tăng đều phải
biết. Ðó là các việc như sau: Hôm nay là ngày mồng một,
mồng hai trong tháng cho đến ngày 14, ngày 15 Bố-tát đều
phải biết, hoặc Bố-tát chính thức, Bố-tát trung gian, Bố-tát
tại nơi nào đều phải biết. Nếu có người hỏi "Hôm nay
là ngày thứ mấy", thì không được hỏi ngược lại "Hôm
qua là ngày thứ mấy" mà cần phải biết. Nếu sợ quên thì
phải làm thẻ xâu lại, treo trước giảng đường, hay trước
nhà bếp. Người trực nguyệt, tri sự cứ mỗi ngày qua đếm
một thẻ. Ngày Bố-tát phải tụng đầy đủ 5 thiên giới;
nếu có nạn tai thì tụng 4 Ba-la-di và các bài kệ, rồi nói:
"Ngoài ra các giới khác như Tăng đã thường nghe". Tất cả
mọi việc trong phần Thượng tọa ở trên đã nói rõ chỉ
khác là chữ tất cả mà thôi. Nếu đệ nhất, đệ nhị Thượng
tọa không biết thì tất cả những người khác đều phải
biết. Nếu không biết như thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt đến
tinh xá Kỳ Hoàn cúng dường trai phạn cho Tỉ-kheo Tăng, thì
vị Thượng tọa thứ nhất (là Nan-đà) không đến, khiến
cho cơm canh nguội lạnh, đàn việt bèn hỏi các Tỉ-kheo: -
(500a) Tỉ-kheo Tăng đã tập họp chưa? -
Chưa tập họp. -
Ai không đến. -
Thượng tọa đệ nhất không đến. Ðàn
việt bèn than phiền: "Ta bỏ cả việc nhà đến đây để
cúng dường trai phạn cho chư Tăng, thế mà Tỉ-kheo không tập
trung". Ðến giờ Thượng tọa mới tới không tán thán thức
ăn, cũng không chú nguyện, vội vã ăn xong rồi bỏ đi. Vị
trẻ tuổi hỏi: - Thượng tọa đến chưa? -
Ðã đến, nhưng ăn rồi bỏ đi. Lúc
ấy, vị trẻ tuổi liền trách móc: "Thượng tọa đến cũng
không cho ai biết, đi cũng chẳng nói ai hay". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Nan-đà đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, vị Thượng tọa của Tăng phải biết các
việc sau đây: Hôm nay ai cúng dường thức ăn, cúng cho hai
bộ chúng hay một bộ chúng, hay mời từng phòng riêng, tại
thôn xóm hay tại tinh xá, đều phải biết. Nếu có người
mời ngày mai cúng dường cơm cho chúng Tăng, thì vị Thượng
tọa trong Tăng không nên nhận liền mà phải biết người
đến mời đó tên họ là gì, người quen hay lạ, nhà ở con
đường nào. Vì e có kẻ đùa bỡn Tỉ-kheo cho nên không được
nhận liền. Nếu có người biết rõ người đàn ông, đàn
bà mời kia là ai thì được nhận lời mời. Sau khi nhận lời
mời, không được tùy tiện đi đến, mà sáng sớm hôm sau
nên sai người trực nguyệt, hoặc người làm vườn, hoặc
Sa-di đến đó xem, xem họ có bị quan huyện, nước lửa, trộm
cướp, sinh đẻ, tử vong mà không chuẩn bị được chăng.
Nếu có các tai nạn như thế thì Tăng nên tự lo việc ăn
uống. Nếu không thể lo được thì nên bảo mọi người đi
khất thực. Khi sứ giả đến hỏi chủ nhân đã chuẩn bị
thức ăn xong chưa, nếu họ hỏi: "Người nào? Thức ăn gì?",
thì biết đó là kẻ điên cuồng. Bấy giờ, nếu tăng-già-lam
có thức ăn thì nên sửa soạn để ăn. Còn nếu như không
có thì nên tuyên bố rằng Tỉ-kheo Tăng bị kẻ điên cuồng
lừa gạt, mỗi người nên tự đi khất thực lấy. Trái lại,
nếu người chủ mời nói: "Thưa tôn giả, con đang sửa soạn
đây", thì lúc ấy, Thượng tọa phải biết thời giờ. Nếu
vào mùa Ðông thì mọi người nên tập họp đông đủ rồi
cùng đi. Nếu vào mùa Xuân, mùa Hạ thì nên kẻ trước, người
sau mà đi. Nếu đến nhà người đã mời mà còn sớm, cơm
chưa dọn, muốn đi tới chỗ nào thì phải thưa với Tỉ-kheo
khác rằng: "Tôi muốn đến nhà mỗ giáp, khi cơm dọn xong
đừng đợi tôi". Ði rồi, phải trở về sớm. Khi vào nhà
đàn việt, Thượng tọa phải biết ngồi ở bên phải hay
bên trái. Nếu đàn việt tổ chức ngày lễ Khánh tiết, đặt
ghế ngồi ở bên phải thì nên ngồi. Nếu họ mở hội cúng
thí thực ngạ quỉ, đặt ghế ngồi ở bên trái thì cũng
nên ngồi. Nếu họ trải tọa cụ dài còn mới, có vẻ gấp
gáp, thì nên dùng tay ra hiệu bảo phải từ từ, rồi ngồi
xuống chầm chậm kẻo bị hư hỏng. Nếu không có việc gì
gấp thì không được ngồi xuống liền, vì e ở dưới có
khí cụ gì khác, hoặc là trẻ con đang ngủ. Cho nên trước
hết nên dùng một bàn tay sờ vào chỗ ngồi. Không được
đem bình bát cấu bẩn và bánh trái đặt lên trên đó. Không
được dùng tay mà chùi. Thượng tọa phải biết ai coi chừng
phòng, ai bệnh, để bảo (500b) đàn việt đưa thức ăn. Nếu
đàn việt tiếc của thì nên bảo: "Này lão trượng, theo phép
thì phải cho, không được không cho". Nếu ngày còn sớm thì
nên xếp hàng mà nhận lấy vật cúng dường. Nếu ngày giờ
đã trễ mà họ đưa ai trước thì nhận trước rồi bảo
họ đi tiếp. Vị Thượng tọa của Tăng phải biết thí chủ
cúng dường vì mục đích gì mà chú nguyện đúng chuyện.
Khi đàn việt dọn thức ăn, nếu dọn cho Thượng tọa nhiều,
thì Thượng tọa nên hỏi: "Tất cả chúng Tăng đều được
như thế chăng?". Nếu đáp: "Chỉ có Thượng tọa được như
vậy", thì nên bảo họ cúng dường tất cả bình đẳng. Nếu
họ nói: "Tất cả đều được như vậy", thì nên nhận. Nếu
cần ít thì lấy ít, những người ngồi dưới thì nên bảo
đưa nhiều hơn. Nếu có các món ăn ngon như sữa, sữa chua,
bánh, thịt, sữa đóng váng, thì nên bảo thí chủ dọn bình
đẳng cho tất cả. Phép tắc của vị Thượng tọa trong chúng
Tăng là không được nhận xong liền ăn, mà phải đợi dọn
đủ tất cả, rồi tuyên bố rằng "cúng dường bình đẳng",
bấy giờ mới được ăn. Cách ăn của Thượng tọa là phải
ăn từ từ, không được ăn vội vàng cho xong rồi ngồi nhìn,
khiến những người trẻ phải vội vã ăn không no, nên trông
chừng nhau mà ăn. Không được ăn xong rồi bỏ đứng dậy
trước, mà nên đợi họ đưa nước uống, tùy thuận chú
nguyện xong rồi mới đứng dậy. Nếu thí chủ cúng dường
cầu phúc cho người chết, thì không nên chúc lành bằng câu: "Lành
thay đã vô thường,
mà
nên chú nguyện như sau: "Tất
cả mọi chúng sinh
Nếu
họ sinh con, thiết lễ ăn mừng thì không nên chú nguyện như
sau: "Ðồng
tử bỏ nghĩa địa,
mà
nên chú nguyện như sau: "Ðồng
tử qui y Phật,
Nếu
thí chủ về nhà mới, thiết trai cúng dường, thì không nên
chú nguyện rằng: "Khi
nhà bị lửa thiêu,
mà
nên chú nguyện như sau: "Cửa
nhà che nắng mưa,
Nếu
thương khách sắp khởi hành, thiết lễ cúng dường cầu phước,
thì không nên chú nguyện thế này: "Tất
cả mọi phương diện,
mà
nên chú nguyện như sau: "Mọi
nơi đều an ổn,
Ở
phương Ðông có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian, làm
cho họ được như nguyện, đó là: Ngôi thứ nhất tên Cát-lợi-đế;
ngôi thứ hai tên Lộ-ha-ni; ngôi thứ ba tên Tăng-đà-na; ngôi
thứ tư tên Phân-bà-tủy; (501a) ngôi thứ năm tên Phất-thi;
ngôi thứ sáu tên Bà-la-na; ngôi thứ bảy tên A-xá-lợi. Ðó
gọi là bảy ngôi sao ở phương Ðông thường bảo hộ thế
gian. Nay chúng sẽ bảo hộ ông khiến cho an ổn, được lợi
ích và trở về sớm; tất cả tinh tú đều góp phần bảo
hộ ông. Lại
nữa, phương Ðông có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên
Lại-xa-ma-đề; người thứ hai tên Thi-sa-ma-đề; người thứ
ba tên Danh Xưng; người thứ tư tên Da-thâu-đà-la; người
thứ năm tên Hảo Giác; người thứ sáu tên Bà-la-thấp-ma;
người thứ bảy tên Bà-la-phù-đà; người thứ tám tên A-tì-ha-la.
Ðó là tám Thiên nữ ở phương Ðông thường bảo hộ thế
gian. Lại có Thiên Vương tên Ðề-đầu-lại-tra vua của Kiền-thát-bà
và tất cả Chư Thiên thường hộ trì các ngươi, khiến tất
cả đều được an ổn, lợi ích mà trở về sớm. Phương
Ðông có Chi-đề tên Cung trượng thường tỏa ánh sáng, chư
thiên cung kính cúng dường. Tất cả các vị Thiên cúng dường
ấy sẽ hộ trì ngươi khiến được tài lợi, an ổn mà trở
về sớm. Phương
Nam có bảy ngôi sao thường hộ trì thế gian: Ngôi thứ nhất
tên Ma-già; ngôi thứ hai và thứ ba cùng tên là Phả-cầu-ni;
ngôi thứ tư tên Dung-đế; ngôi thứ năm tên Chất-đa-la; ngôi
thứ sáu tên Tư-bà-đế; ngôi thứ bảy tên Tì-xá-khư. Ðó
là bảy ngôi sao ở phương Nam thường bảo hộ thế gian, nay
sẽ bảo hộ ngươi khiến được an ổn, lợi ích mà trở
về sớm. Ðồng thời tất cả tinh tú đều sẽ hộ trì ngươi. Ở
phương Nam có tám thiên nữ: Người thứ nhất tên Lại-xa-ma-đế;
người thứ hai tên Thi-sư-ma-đế; người thứ ba tên Danh Xưng;
người thứ tư tên Danh Xưng Trì; người thứ năm tên Hảo
Giác; người thứ sáu Hảo Gia; người thứ bảy tên Hảo Lực;
người thứ tám tên Phi Ðoạn, thường bảo hộ thế gian.
Ðồng thời, có Thiên Vương tên
Tì-lưu-đồ vua của Quỉ
Thần Câu-ma-đồ, cùng bảo hộ ngươi được lợi ích mà
trở về sớm. Phương
Nam có Chi-đề tên A-tì-bát-thi thường phóng ra ánh sáng, chư
Thiên cung kính cúng dường. Tất cả chư Thiên cúng dường
Chi-đề sẽ hộ trì ngươi được an ổn, lợi ích mà trở
về sớm. Ở
phương Tây có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian: Ngôi
thứ nhất tên Bất diệt; ngôi thứ hai tên Thệ-tra; ngôi thứ
ba tên Mâu-ra; ngôi thứ tư tên Kiên Cường tinh tấn; ngôi
thứ năm và thứ sáu cùng tên là A-sa-đồ; ngôi thứ bảy
tên A-tì-xà-ma, bảy ngôi sao này thường bảo hộ thế gian,
sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm. Ðồng
thời tất cả tinh tú cũng đều bảo hộ ngươi. Ở
phương Tây có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên A-lam-phù-bà;
người thứ hai tên Tạp-phát; người thứ ba tên A-lợi-tra;
người thứ tư tên Hảo-quang; người thứ năm tên Y-ca-đề-xá;
người thứ sáu tên Na-bà-tư-ca; người thứ bảy tên Ký-sắc-ni;
người thứ tám tên Sa-đà-la. Ðó gọi là tám Thiên nữ. Ðồng
thời có Thiên Vương tên Tì-lưu-bác-xoa thường hộ trì thế
gian. Lại có Long Vương tên Bà-lưu-ni và tất cả loài rồng
(501b) sẽ hộ trì ngươi được lợi ích mà trở về sớm. Phương
Tây có núi tên Nhiêu Ích, nhật, nguyệt ở trong đó. Nếu
ai có mong cầu điều chi thì sẽ được mãn nguyện. Ở
phương Bắc có bảy ngôi sao thường bảo hộ thế gian: Ngôi
thứ nhất tên Ðàn-ni-tra; ngôi thứ hai và thứ ba cùng tên
là Thế-đà-đế; ngôi thứ tư tên Bất-lỗ-cụ-đà-ni; ngôi
thứ năm tên Li-bà-đế; ngôi thứ sáu tên A-thấp-ni; ngôi
thứ bảy tên Bà-la-ni; bảy ngôi sao này thường bảo hộ thế
gian, sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích và trở về sớm.
Nói chung, tất cả tinh tú đều bảo hộ ngươi. Phương
Bắc có tám Thiên nữ: Người thứ nhất tên Ni-la-đề-tì;
người thứ hai tên Tu-la-đề-tì; người thứ ba tên Câu-tra-tì;
người thứ tư tên Ba-đầu-ma; người thứ năm tên Ha-ni; người
thứ sáu tên Ba-lợi; người thứ bảy tên Già-la-ni; người
thứ tám tên Ca-ma. Ðó gọi là tám Thiên nữ. Ðồng thời
có Thiên vương tên Bà-lưu-na, thường bảo hộ thế gian, sẽ
bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở về sớm. Phương
Bắc có núi tên Chỉ-la-tô, quỉ thần ở trong đó. Tất cả
các quỉ thần sẽ bảo hộ ngươi được lợi ích mà trở
về sớm. Hai
mươi tám ngôi sao cùng nhật nguyệt, ba mươi hai Thiên nữ
và Tứ Ðại Thiên Vương thống trị thế gian đều có danh
tiếng. Ở phương Ðông có Ðê-đầu-la-tra Vương, ở phương
Tây có Tì-lưu-bác-xoa Vương, ở phương Nam có Tỳ-lưu-đồ-vương,
ở phương Bắc có Bà-lưu-na Vương, tám Sa-môn, tám Bà-la-môn,
tám vị Sát-lợi của tám nước lớn, tám con gái của Ðế
thích sẽ hộ trì ngươi khiến được lợi ích mà trở về
sớm". Nếu
thí chủ cưới vợ mở hội cúng dường, thì không nên chú
nguyện thế này: "Sông
khô không có nước,
mà
nên chú nguyện như sau: "Tín
nữ chăm trì giới,
Nếu
người xuất gia cúng dường thì không nên chú nguyện thế
này: "Mong
cháu con đông đúc
mà
nên chú nguyện như sau: "(501c)
Cầm bát xin nhà nhà,
Vị
Thượng tọa của Tăng phải biết các việc như vậy. Nếu
không biết như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, đàn việt đến
cúng dường trai phạn, Nan-đà là hàng Thượng tọa đến ngồi
trước. Thế nhưng, Ưu-ba-nan-đà và các Tỉ-kheo khác không
đến đúng giờ. Thượng tọa bèn khiển trách: "Ðức Thế
Tôn chỉ chế định riêng tôi, không chế định cho những
người khác chăng?'. Cho đến Phật nói: "Từ nay về sau, tất
cả phải tập trung đầy đủ rồi thọ trai. Thượng tọa
phải biết các việc như trên đã nói. Ở trong đây chỉ có
tên gọi Thượng tọa thứ hai và tất cả là khác thôi. Cuối
cùng nên để dành chỗ ngồi ở kề bên. Nếu thấy người
dọn cơm đi qua, không được im lặng ngồi nhìn, mà người
ngồi chỗ ấy nên nói: "Ðể xuống chỗ này". Khi được thức
ăn, không được ăn liền mà phải chờ dọn đủ tất cả
rồi mới ăn. Nếu thì giờ đã trễ thì dọn tới đâu ăn
tới đó không có tội. Thượng
tọa nên chú nguyện, nếu không thể chú nguyện được thì
vị Thượng tọa thứ hai nên chú nguyện. Nếu Thượng tọa
thứ hai cũng không chú nguyện được thì các vị ngồi dưới
ai chú nguyện được nên chú nguyện. Như vậy tất cả vấn
đề ăn uống Thượng tọa cần phải biết. Nếu không biết
như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ưu-ba-nan-đà độ người
xuất gia cho thọ Cụ túc rồi không dạy dỗ để nghinh ngang
như trâu trời, dê trời, không đủ oai nghi, không biết phép
phụng sự Hòa thượng, A-xà-lê và các trưởng lão Tỉ-kheo,
lại không biết phép tắc vào xóm làng, vào nơi rừng vắng,
nhập chúng, mặc y, cầm bát. Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Này Tỉ-kheo! Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Hòa thượng phải dạy đệ tử đồng hành
như sau: Khi thọ Cụ túc rồi phải dạy đọc hai bộ Luật.
Nếu không thể dạy đọc hai bộ thì dạy đọc một bộ.
Nếu một bộ cũng không thể dạy được thì nên dạy đọc
kỹ năm thiên giới. Nếu cũng không thể dạy được, thì
nên dạy đọc bốn thiên, ba thiên, hai thiên, ít nhất là dạy
đọc bốn việc (Ba-la-di). Mỗi ngày dạy ba lần: sáng sớm,
buổi trưa và buổi chiều. Những vấn đề cần phải dạy
là A-tì-đàm, Tì-ni. A-tì-đàm tức là chín bộ Kinh, Tì-ni
tức là giới bổn, hoặc dạy đầy đủ, hoặc tóm lược.
Nếu không thể dạy được, thì nên dạy họ biết tội nặng
nhẹ, biết ý nghĩa của Kinh, của Luật, của ấm, giới, nhập,
của nhân duyên, dạy về oai nghi, nếu trái oai nghi thì nên
ngăn cản, đồng thời nên dạy giờ nào đọc kinh, giờ nào
tụng chung, giờ nào ngồi thiền. Ðó gọi là dạy. Nếu không
đọc kinh, cùng tụng kinh, ngồi thiền thì ít nhất cũng nên
dạy họ đừng phóng dật. Nếu Hòa thượng không thể dạy
(502a) đệ tử đồng hành như vậy thì vượt pháp oai nghi. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, đệ tử
đồng hành của Ưu-ba-nan-đà ít khi đến chỗ Hòa thượng,
do đó Ưu-ba-nan-đà than phiền: "Ðức Thế Tôn chỉ chế định
cho riêng ta mà không chế định cho đệ tử. Ðệ tử có đến
thì ta mới dạy, còn đệ tử không đến thì ta dạy ai đây?" Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo gọi vị Tỉ-kheo đệ tử ấy đến. Khi thầy đến rồi,
Phật liền hỏi: -
Này Tỉ-kheo! Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, đệ tử đồng hành phải phụng sự Hòa thượng
như thế này: Buổi sáng phải dậy sớm, trước hết bước
chân phải vào cửa phòng của Hòa thượng. Khi vào xong, cúi
đầu, đảnh lễ dưới chân, hỏi xem Hòa thượng ngủ có
ngon giấc không. Rồi nhận Kinh, hỏi han công việc, đem đổ
bô tiểu tiện, ống nhổ, xong rồi để lại chỗ cũ. Tiếp
đến, lấy nước rảy trên nền nhà, rồi quét, lau nền nhà.
Ðoạn, rửa tay sạch, rồi trao nước, bàn chải đánh răng,
cầm bát đi lấy cháo cho thầy. Khi thầy ăn xong, rửa bát,
cất lại chỗ cũ. Nếu có nhà nào mời thầy thọ trai, thì
đến đó lấy thức ăn. Khi thầy muốn vào thôn xóm, thì trao
y thường mặc vào thôn xóm, rồi xếp y thầy mặc trong viện
lại, treo vào chỗ cũ. Lúc vào thôn xóm, nên đi theo sau thầy.
Nếu muốn khất thực, nên bạch với Hòa thượng. Hòa thượng
nên nhắc nhở đệ tử phải làm đúng pháp, đừng có phóng
dật. Nếu mình về trước, nên trải giường ngồi cho Hòa
thượng, rồi lấy nước sạch, rải cỏ lá đợi Hòa thượng
về. Khi Hòa thượng về, nên đưa y mặc trong Thiền viện
cho Hòa thượng, rồi lấy chiếc y mặc vào thôn xóm đập
giũ, xếp lại, treo vào chỗ cũ. Nếu trời nóng thì nên đưa
nước tắm cho thầy. Nếu trời lạnh, thì nên đốt lò lửa.
Nếu được thức ăn ngon thì nên dâng cho Hòa thượng. Hòa
thượng xem xong nên hỏi: "Ông được thức ăn ngon này ở
đâu vậy?". Nếu đáp: "Con được tại nhà dâm nữ mỗ giáp,
nhà quả phụ, nhà đại đồng nữ, nhà người bất năng nam,
tại chỗ Tỉ-kheo ni, Sa-di ni mang tiếng xấu", thì Hòa thượng
nên nói: "Ðấy là những nơi không nên đến, chẳng nên lấy
thức ăn của họ". Nếu nói: "Do thuyết pháp mà được", thì
Hòa thượng nên nói: "Không được lấy thức ăn của người
ta bằng việc tà mạng". Khi
Hòa thượng ăn, nên đưa nước rửa tay rồi đưa thức ăn.
Nếu thời tiết nóng thì nên đưa nước lạnh, rồi cầm quạt
quạt cho thầy. Khi Hòa thượng ăn xong, dọn bát, nhặt cỏ
lá, rửa bát rồi cất lại chỗ cũ. Nếu
Hòa thượng muốn vào rừng ngồi thiền thì nên lấy tọa
cụ vác lên vai, mang bình nước rửa đi theo Hòa thượng. Ðến
nơi rồi, hoặc học kinh, hoặc hỏi nghĩa. Khi đã được chỉ
dạy, nên tìm một chỗ ngồi tu tập. Nếu muốn tụng đọc
với người khác thì nên bạch với Hòa thượng. Hòa thượng
nên hỏi: "Ông tụng đọc với ai? Nếu đáp: "Tụng đọc với
mỗ giáp", thì Hòa thượng nên xem xét, nếu thấy người ấy
giữ luật lỏng lẻo thì nên nói: "Ðừng đi, không (502b) nên
giao du với kẻ ấy". Nếu thấy người ấy giữ luật nghiêm
chỉnh thì nên cho phép cùng tụng đọc chung. Khi về nên mang
tọa cụ trên vai, cầm bình nước theo Hòa thượng trở về. Khi
Hòa thượng muốn lễ tháp, nên đưa nước rửa tay, đưa hoa.
Khi lễ tháp xong, nên trải giường ngồi, đưa nước rửa
chân và dầu thoa chân. Khi Hòa thượng muốn ngủ thì nên lau
chùi giường nệm, trải gối, đốt đèn, đem ống nhổ, bô
đựng nước tiểu vào để dưới giường. Khi Hòa thượng
đã yên ổn thì mới học kinh, hỏi nghĩa. Khi được chia phòng
theo thứ tự, nên hỏi trước Hòa thượng, rồi mới nhận. Nếu
hai người cùng nhận một phòng thì Hòa thượng nên hỏi:
"Ông được ở chung phòng với ai?" Nếu đáp: "Cùng ở với
mỗ giáp", thì Hòa thượng nên xem xét người ấy, nếu thấy
giữ giới lỏng lẻo, thì nên bảo đừng ở chung mà sinh ra
rắc rối. Nếu thấy người ấy hiền thiện thì nên bảo
cứ ở chung. Sau đó, nếu có Thượng tọa nào đến, rồi
ra đi, thì nên bạch với Hòa thượng. Ðối
với Hòa thượng, đệ tử đồng hành phải thực hiện những
việc kể trên. Nếu không làm thì vượt pháp oai nghi. Nếu
Hòa thượng có nhiều đệ tử, thì mỗi người tối thiểu
cũng phải lau giường Hòa thượng một lần. Ðó gọi là phận
sự của đệ tử. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
nhận đệ tử y chỉ mà không dạy bảo, để họ buông lung
như trâu hoang, dê hoang. Phận sự đệ tử phải làm các việc
như ở phần Hòa thượng trên đây đã nói rõ, chỉ có tiếng
gọi thầy y chỉ là khác thôi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
nhận đệ tử y chỉ mà đệ tử không đến, họ bèn than
phiền: "Ðức Thế Tôn chỉ chế định cho riêng ta mà không
chế định cho đệ tử. Ðệ tử không đến thì ta biết dạy
ai đây?" Như trường hợp đệ tử đồng hành ở trên đã
nói rõ, ở đây chỉ có đệ tử y chỉ là khác mà thôi. Kệ
tóm tắt: "Việc
Bố-tát, ẩm thực,
VẤN
ÐỀ BẢO QUẢN GIƯỜNG NỆM. Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn ở thành Xá-vệ; lúc ấy,
đức Như Lai cứ năm hôm đi quan sát phòng của các Tỉ-kheo
một lần, thấy giường bỏ ngổn ngang trên đất, bị gió
thổi xiêu vẹo, nắng táp mưa sa, mối mọt gặm nhấm và chim
chóc ỉa lên trên, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo:
"Ðây là giường của ai mà để ngổn ngang trên đất, khiến
chim chóc ỉa lên trên thế này?". Ðoạn, Phật nói với các
Tỉ-kheo: "Kể từ hôm nay, vấn đề giường nệm cần phải
biết như thế này: Không được thấy giường chõng bỏ ngổn
ngang dưới đất, (502c) bị mối mọt ăn, nắng táp mưa sa,
gió thổi xiêu vẹo, chim chóc ỉa lên trên mà cứ để mặc
như thế. Nếu thấy bỏ ngổn ngang đây đó thì nên đem chất
lại một chỗ. Nếu nghiêng thì sửa cho ngay lại. Nếu bị
nắng táp, mưa gió xiêu vẹo thì phải đem cất vào trong phòng.
Nếu bị mối mọt ăn thì phải tra chăn lại cho vững. Nếu
bị chim chóc ỉa trên đó thì phải đập giũ rồi cất vào
trong phòng. Không được thấy phòng ốc bị dột mà không
sửa chữa. Nếu phòng được lợp bằng cỏ thì nên dùng cỏ
giọi (lợp) lại. Nếu được lợp bằng ngói, thì nên dùng
ngói giọi lại. Nếu được lợp bằng xi-măng thì nên dùng
xi-măng giọi lại. Nếu được phủ bằng đất, thì nên dùng
đất phủ lên. Nếu tường vách bị hỏng hóc thì nên sửa
chữa rồi tô đất lại. Giường nệm của chúng Tăng không
được để yên như thế mà sử dụng, vì chúng chỉ được
bọc có một lớp mỏng, cho nên phải dùng hai lớp tọa cụ
phủ lên trên. Khi ngủ, nên dùng vật gì lót ngọa cụ, đừng
để nó chạm vào thân mình. Nếu tấm nệm dày thì không được
gấp lại, khiến hư hỏng vật của chúng Tăng. Nệm gối được
xếp lại, nếu có dơ bẩn thì nên đem giặt. Nếu nó bị
rách thì nên vá lại cho lành. Cần phải giữ gìn, bảo quản
giường nệm, ngọa cụ của chúng Tăng như vậy. Nếu không
làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn ở thành Xá-vệ, bấy giờ
vào tháng cuối mùa Xuân mà các Tỉ-kheo không sửa chữa phòng
ốc. Ðức Như Lai vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đi
tuần hành qua phòng các Tỉ-kheo một lần. Năm việc lợi ích
đó là: 1- Xem các đệ tử Thanh văn có tham luyến các việc
hữu vi hay không; 2- Xem họ có bàn phiếm chuyện đời hay không;
3- Xem họ có ham mê ngủ nghỉ hay không; 4- Vì để thăm viếng
các Tỉ-kheo bệnh; 5- Ðể cho các Tỉ-kheo trẻ tuổi có niềm
tin trông thấy oai nghi đĩnh đạc của đức Như Lai mà phát
tâm hoan hỷ. Ðó gọi là vì năm việc mà đi tuần hành các
phòng. Khi thấy các phòng xá bị hỏng hóc mà không sửa chữa,
tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo: -
Phòng này của ai bị hư hỏng mà không sửa chữa? -
Bạch Thế Tôn! Ðến lúc an cư Tỉ-kheo nhận phòng sẽ tự
sửa chữa lấy. -
Từ nay về sau, đến lúc an cư phải sửa chữa phòng ốc bằng
cách: Sắp xếp mùa an cư không được thấy phòng ốc bị
hư hại không sửa chữa mà nói: "Người nào an cư
nhận phòng
sẽ tự sữa chữa lấy". Nếu phòng lợp bằng cỏ thì dùng
cỏ để giọi lại, cho đến, nếu phòng trét đất thì nên
dùng đất để sửa chữa, hoặc bức tường bị trống thì
nên dùng đất tô lại các lỗ chuột đục, lấp kín dưới
nền. Các vật dụng trong phòng nên cất dồn lại một chỗ.
Người nào hội đủ năm điều kiện sau đây thì cử làm
người chia phòng: 1- Không thiên vị; 2- Không giận dữ; 3-
Không sợ sệt; 4- Không ngu si; 5- Biết ai được phòng, ai chưa
được. Ðó gọi là năm điều kiện. Người làm yết-ma nên
nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe, Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu
năm pháp, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cử mỗ
giáp làm người chia phòng. Ðây là lời tác bạch. (503a)
Một lần bạch, một lần Yết-ma cho đến "Tăng bằng lòng
cho nên im lặng. Việc này cứ như thế mà thi hành". Vị
Tỉ-kheo đã được pháp Yết-ma rồi phải sửa chữa phòng
sưởi, phòng ăn, giảng đường, phòng tắm, nhà che giếng,
nhà vệ sinh, nhà ngõ, chỗ đi kinh hành dưới gốc cây; đồng
thời phải ghi chép tất cả xem nhiều hay ít. Nếu những trú
xứ ở A-luyện-nhã cách xa nhau thì nên chia phòng vào ngày
12, 13 tháng tư. Nếu ai không nhận thì nên đi đến nơi khác.
Nếu phần lớn đều ở gần nhau thì đợi đến ngày 14, 15
chia phòng và đọc biên bản ở giữa chúng Tăng như sau: "Xin
đại đức Tăng lắng nghe, tinh xá mỗ giáp có chừng ấy phòng,
chừng ấy giường nệm, chừng ấy thức ăn, ăn đến ngày
ấy, có chừng ấy y an cư". Thượng
tọa nên bảo người chia phòng tổ chức một bữa cúng dường.
Khi chia phòng nên chia từ Thượng tọa cho đến Tỉ-kheo chưa
có tuổi hạ, nhưng không được chia phòng cho Sa-di. Nếu Hòa
thượng, A-xà-lê bảo cứ chia để tôi sẽ chăm sóc cho, thì
hãy chia. Nếu có nhiều phòng thì nên chia mỗi người hai phòng.
Nếu người ấy nói: "Tôi không cần hai phòng, chỉ cần một
phòng là đủ", thì nên bảo: "Không phải chia để ở mà là
chia để trông nom". Nếu phòng ít thì chia hai người, ba người
một phòng. Nếu chia như vậy mà không đủ, thì chia năm người,
sáu người một phòng. Nếu cũng không đủ mà có giảng đường
rộng, thì tất cả mọi người nên vào ở trong giảng đường.
Nếu cũng không đủ, thì Thượng tọa kê giường lớn, Hạ
tọa kê giường nhỏ. Nếu cũng không đủ, thì Thượng tọa
kê giường nhỏ, Hạ tọa ngồi nệm cỏ. Nếu cũng không đủ
thì Thượng tọa nên ngồi kiết già, Hạ tọa nên đứng,
hoặc ra ngoài gốc cây. Chia phòng vào mùa Ðông thì vừa để
ở mà vừa để coi sóc. Nếu có Thượng tọa đến bảo giao
phòng lại thì phải ra đi. Nếu chia phòng vào mùa Xuân thì
cũng như vậy. Còn chia phòng vào mùa Hạ thì vừa để trông
coi mà vừa để ở. Nếu Thượng tọa đến bảo phải ra đi,
thì không nên đi. Vào
tháng cuối mùa Xuân, các Tỉ-kheo nên sửa chữa phòng ốc
như trên đã nói. Nếu không sửa chữa như thế thì vượt
pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn, nơi thành Xá-vệ, vì 5 việc
lợi ích nên cứ 5 hôm đức Thế Tôn đi tuần hành qua phòng
các Tỉ-kheo một lần, Ngài thấy phòng ốc bị dột nát, hỏng
hóc mà không sửa chữa, nước mưa đọng lại từng vũng trong
phòng, cửa ngõ bị mối mọt ăn, giường nệm thì lên mốc
xanh, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ-kheo: "Ðây
là những phòng của ai, bị dột nát, hư hỏng thế này mà
không sửa chữa?" Thế rồi, Phật dạy: "Từ nay về sau, trong
mùa Hạ an cư nên sửa chữa phòng ốc, giường nệm, không
được thấy phòng ốc giường nệm bị hư hỏng (503b) mà
không sửa chữa. Nếu phòng được lợp bằng cỏ thì nên
dùng cỏ để giọi, cho đến nếu được phủ bằng đất
thì dùng đất để đắp lại, đồng thời khai thông các vũng
nước đọng ra đến dòng nước. Nếu gối nệm của giường
nằm, giường ngồi lên mốc thì phải đem phơi nắng cho khô.
Nếu trong phòng ẩm thấp thì nên kê giường cách bức tường,
tra chân giường cho chắc, đừng để mối mọt ăn. Ðồng
thời phải quét sạch bồ hóng và lưới nhện. Mỗi nửa tháng
nên dùng khăn lau nhà một lần. Nếu sàn nhà khô thì nên rấm
nước rồi lau. Nếu sàn nhà ẩm ướt thì nên lau không mà
thôi. Nếu trong phòng ẩm ướt thì không được rửa tay, rửa
chân, rửa bát trong đó, cũng không được đóng kín cửa mà
phải thường thường mở cửa cho gió lọt vào. Không được
đun khói trong phòng. Vào dịp Hạ an cư, Tỉ-kheo nên sửa chữa
phòng ốc như vậy. Nếu không sửa chữa như vậy thì vượt
pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo an cư
tại A-luyện-nhã xong, không gởi gấm trú xứ cho ai mà bỏ
đi hết. Sau đó bị lửa tự nhiên thiêu cháy hết phòng ốc.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Tỉ-kheo an cư xong nên bảo quản phòng ốc bằng
cách: Nếu an cư tại A-luyện-nhã xong, đến mùa Ðông muốn
dời đến nơi ấm áp thì không nên đi tất cả, mà nên yêu
cầu vài ba người có thể kham nhẫn ở lại trông coi, và
nên để lại thức ăn đừng để bị thiếu thốn. Nếu họ
nói: "Không được; vì sao tôi phải ở lại nơi hoang vắng
này để làm gì?", nếu không một ai ở lại cả, thì phải
đem tất cả các thứ giường nệm, mền gối, đồ đồng,
đồ sắt vào trong tinh xá ở thôn xóm mà gởi. Giường ngồi,
giường nằm nên kê cách vách, và dùng vật gì lót dưới
chân để mối khỏi ăn. Khi an cư xong, không được thấy phòng
ốc dột nát, hư hại, không sửa chữa mà ra đi. Nếu phòng
lợp bằng cỏ, thì dùng cỏ giọi lại cho đến nếu phủ
bằng đất thì dùng đất để đắp lại. Ðồng thời tô
lại phòng và quét vôi vào vách. Nếu xung quanh đó thỉnh thoảng
có đốt lửa thì nên gởi gấm với các mục đồng rằng:
"Ông thường thường trông chừng phòng ốc giùm tôi". Các
trú xứ nơi thôn xóm cũng phải bảo quản như thế. Nếu phòng
sưởi, giảng đường, nhà ăn có hư hao cũng phải sửa chữa
như vậy. Nếu tại tinh xá có đàn việt đang ở thì nên bảo
họ sửa chữa; hoặc sai người khác sửa chữa. Nếu trú xứ
không có chủ, cũng không sai ai được, thì tất cả Tăng chúng
phải sửa chữa. Nên chia đồng đều mỗi người một khuỷu
tay, hai, ba khuỷu tay để cùng làm cho chu đáo. Nếu giường
nằm, giường ngồi sút xổ thì nên đóng lại, buộc lại
cho chắc chắn. Nếu nệm, gối xếp dơ bẩn thì nên đem giặt
cho sạch, nếu có bị rách thì nên vá lại. Các vật dùng
trong phòng nên xếp đống lại một chỗ. Tỉ-kheo
an cư xong, nên sửa chữa bảo quản phòng ốc, giường nệm
như vậy. Nếu không sửa chữa như vậy thì vượt pháp oai
nghi. (503c)
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ đức Thế Tôn
vì 5 việc lợi ích nên cứ năm hôm đi tuần hành qua phòng
các Tỉ-kheo một lần, trông thấy giường ghế bỏ ngổn ngang
chỗ này chỗ kia trên đất, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi
một Tỉ-kheo: -
Giường chõng của ai mà bỏ ngổn ngang không cất thế này? -
Bạch Thế Tôn! Ðó là chỗ ở của cựu Tỉ-kheo, còn con là
khách. -
Từ nay về sau, khách Tỉ-kheo phải biết như thế này: Không
được thấy giường ghế bỏ ngổn ngang bị mối mọt ăn
mà cứ để yên. Nếu thấy bỏ ngổn ngang thì phải thu lại
cất vào một chỗ. Nếu thấy ngã nghiêng thì phải sắp lại
cho ngay ngắn, rồi dùng vật gì kê dưới chân để mối khỏi
ăn. Khi khách Tỉ-kheo đến nơi nào thì không được đột
nhiên đem đồ đạc mình vào trong phòng mà phải để đồ
vật lại một chỗ, đi tìm cựu Tỉ-kheo để xin phòng. Khi
được phòng rồi, nếu mặt đất không bằng phẳng thì nên
lấp cho bằng. Nếu có hang chuột thì nên lấy đất lấp lại.
Nếu có bồ hóng, mạng nhện thì nên quét dọn. Giường ghế
nếu sút sổ thì nên nêm lại, buộc lại cho chặt chẽ. Ðồng
thời phải đập giũ gối nệm rồi lấy nước rưới lên
sàn nhà, lau quét sạch sẽ. Nếu cái giá móc y bằng gỗ thì
nên dùng vật gì lau cho sạch. Nếu nó bằng tre, trơn tru thì
nên dùng tay mà chùi, nên xem nếu nó vững chắc thì nên treo
bát lên trên. Nếu chỉ ở lại có nửa đêm thì cũng phải
làm các việc như thế xong rồi mới đi. Nếu
khách Tỉ-kheo không bảo quản như thế thì vượt pháp oai
nghi. Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn nơi thành Xá-vệ, vì 5 việc
lợi ích nên cứ 5 hôm đức Như Lai đi tuần hành qua phòng
các Tỉ-kheo một lần; cho đến, vị Tỉ-kheo ấy nói: "Bạch
Thế Tôn! Ðó là vị khách Tỉ-kheo bày biện ra chứ chẳng
phải con - cựu Tỉ-kheo". Phật dạy: "Từ nay về sau, cựu
Tỉ-kheo phải biết các việc như sau: Cựu Tỉ-kheo không được
thấy giường chõng bỏ lổn ngổn chỗ này chỗ kia bị mối
mọt ăn mà cứ để yên như vậy. Nếu thấy bỏ ngổn ngang
nơi này nơi kia thì phải đem chất đống lại một chỗ. Nếu
thấy bị mối mọt ăn thì phải dùng vật gì kê dưới chân
cho chắc. Phép của cựu Tỉ-kheo là không được chọn ở
căn phòng tốt, còn giường nệm mền gối bị hư rách, bụi
bặm thì đợi khách Tỉ-kheo đến tự lo liệu sửa chữa lấy,
mà chính mình phải tu bổ, sửa chữa cho tốt rồi đợi khách
Tỉ-kheo. Cựu
Tỉ-kheo phải biết các việc như thế. Nếu không làm như
thế thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn, vì 5 việc lợi ích nên
cứ 5 hôm đức Như Lai đi tuần hành qua phòng các Tỉ-kheo
một lần. Cho đến, Phật thấy thế, tuy biết nhưng vẫn hỏi
một Tỉ-kheo: -
Này Tỉ-kheo! Cái giường này ai trải ra vậy? -
Bạch Thế Tôn! Ðó là vị cựu Tỉ-kheo trải ra, còn con mới
đến ở. -
Từ nay về sau, khi thấy giường chõng trải ra, thì tất cả
Tỉ-kheo đều phải biết như sau: Tất cả Tỉ-kheo không được
để giường nệm bừa bãi chỗ này chỗ kia (504a) bị mưa
nắng và mối mọt ăn hỏng. Nếu thấy bỏ rải rác trên đất
thì phải đem chất lại một chỗ. Nếu thấy bị mưa sa nắng
táp thì phải đem cất vào trong chỗ che khuất. Nếu bị mối
ăn thì phải kê ở dưới chân. Nếu phòng ốc bị dột thì
phải lợp lại. Nếu phòng được lợp bằng cỏ thì dùng
cỏ giọi lại, cho đến, nếu được phủ bằng đất, thì
dùng đất đắp vào. Nếu bức vách bị nứt vỡ thì nên dùng
đất tô trét lại. Nếu giường nệm mền gối dơ bẩn, rách
nát thì không được để yên như vậy xem mà phải đem giặt
giũ may vá lại. Nếu lông bông trong gối nệm lòi ra thì phải
nhồi lại, ghế dây bị giãn thưa ra thì phải ken lại cho
chặt. Khi đánh kiền chùy tập trung để sửa chữa giường
nệm thì không được từ từ đi đến mà phải tập họp
nhanh chóng. Sau khi tập họp, phải cùng nhau sửa chữa, người
thì se dây, kẻ thì đan, buộc, phải hợp sức cùng làm. Nếu
chia công việc, thì mỗi người nên tự đem về làm. Nếu
đánh kiền chùy để tập trung sửa chữa giường nệm như
vậy thì không được nói tôi là người ở A-luyện-nhã, tôi
khất thực, tôi là đại đức, tôi là Thượng tọa không
thể làm, ở trong đây, ai sử dụng thì phải tự sửa chữa
lấy, mà tất cả đều phải tập trung, cùng nhau sửa chữa,
người thì se dây, kẻ thì đan dệt, người thì sơn màu. Tất
cả Tỉ-kheo đều phải tập họp cùng nhau sửa chữa như vậy.
Nếu ai không làm như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, các Tỉ-kheo đi đại
tiện khắp nơi, bị người đời chê trách rằng: "Vì sao Sa-môn
Thích tử mà giống như bò, như lừa, đi đại tiện không
có chỗ nhất định?" Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Từ nay về sau nên làm nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh
không nên làm hướng Ðông, hướng Bắc mà nên làm ở hướng
Tây, hướng Nam, chỗ có gió thoáng. Cách làm là: hoặc đào
hầm, hoặc làm trên bờ cao. Nếu dưới đáy hầm có mạch
nước thì trước hết phải bảo tịnh nhân lấp kín, rồi
Tỉ-kheo mới làm. Nếu ở dưới bờ cao có dòng nước chảy,
thì đặt một tấm ván, để khi đi cầu phân rơi xuống tấm
ván trước rồi mới rơi xuống nước sau. Nên làm hai lỗ,
ba lỗ, chiều rộng của lỗ cầu một khuỷu tay, chiều dài
một khuỷu tay rưỡi. Trong nhà cầu nên ngăn cách ra, để
hai người ngồi hai bên không thấy nhau. Ở bên cạnh nhà cầu
để một thanh tre, trong nhà cầu nên để một cái giá treo
áo". Bấy
giờ có một Tỉ-kheo đã ngồi trước trên cầu rồi, sau đó
có một Tỉ-kheo khác, vì bắt đi cầu gấp liền vào trong
cầu, định đi cầu ngay chỗ vị Tỉ-kheo trước đang đi.
Tỉ-kheo ấy bèn kêu lên: "Trưởng lão chớ làm bẩn tôi". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Từ nay về sau, cần phải biết phép đi cầu như
sau: Không được để cho đau bụng quá gấp rồi mới đi cầu,
mà khi mới bắt đi cầu thì nên đi liền. Khi tới đó, không
được làm thinh bước vào mà nên khảy móng tay. Nếu bên
trong cầu có người cũng phải gảy móng tay đáp lại. Nếu
bị đau bụng quá gấp, thì nên ngồi châu đít lại với người
ngồi trước mà cùng đi. (504b) Khi chưa đến cầu, không được
vén y phục trước mà đi, nên ngồi trên cầu rồi, vừa vén,
vừa đi cầu. Không được mang ngọa cụ của Tăng vào cầu
tiêu. Khi ngồi vào cầu không được xỉa răng, trùm đầu,
che vai áo bên phải, mà nên trật vai áo, cũng không được
đọc Kinh, thiền định, quán bất tịnh và ngồi ngủ, khiến
làm trở ngại người khác. Khi đứng dậy, không được xăn
y quá cao đứng dậy, mà phải vừa đứng dậy, vừa buông
y xuống". Lại
nữa, lúc bấy giờ, các Tỉ-kheo dùng thẻ tre làm vật chùi
đít, khiến hậu môn bị thương tổn. Các Tỉ-kheo bèn đem
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay
về sau, Ta không cho phép dùng thẻ tre, thẻ cây lau, thẻ gỗ
và xương mà nên dùng vật mềm, vật tròn, đồng thời không
được dùng xong rồi bỏ vào trong cầu, mà nên bỏ vào trong
sọt đặt tại một chỗ. Nhưng nếu hầm cầu sâu ở trên
bờ cao thì bỏ xuống đó không có tội. Khi đại, tiểu tiện
và khạc nhổ nên nhắm ngay giữa lỗ, không được làm bẩn
hai bên mép. Nếu người trước làm bẩn thì nên dùng thẻ
gỗ gạt bỏ cho sạch. Không được đi đại, tiểu tiện xong
không dùng nước rửa sạch mà sử dụng tọa cụ, giường
nệm của Tăng chúng. Bên cầu nên đặt một thùng nước;
nếu hầm cầu đào chỗ đất bằng thì không được đổ
nước chảy xuống hầm cầu; nếu cầu làm ở bờ sông thì
được dùng. Nên dùng gỗ, đá, ngói làm nắp thùng. Tỉ-kheo
trẻ nên theo thứ tự đổ nước cho đầy thùng và phải súc
thùng thường xuyên. Nếu nắp bằng ván thì không được để
ngoài nắng khiến nó bị hư. Nếu nắp bằng sành, đá thì
được để ngoài nắng. Bên cạnh cầu tiêu nên để tro, giẻ
lau. Nếu trong thùng nước có sinh trùng thì không được nói:
"Trong này có sinh trùng", mà nên bỏ một nắm cỏ ở trên
để kẻ khác biết là trong nước có trùng. Không được dùng
nhiều nước mà phải dùng có chừng mực. Nếu thùng nước
hết nên báo người phụ trách biết, để sai người đổ
vào cho đầy, hoặc tự mình đổ vào, ít nhất là một ca
đủ cho một người sử dụng. Nếu bộ phận dưới bị bệnh
trĩ thì không được rửa mà nên dùng vật mềm để lau, hoặc
là vải, hoặc lá cây. Nếu không có nhà vệ sinh thì nên lau
ở phía sau phòng. Nếu ngồi đại tiện nơi triền núi thì
không được xỉa răng và trùm đầu, trùm vai mà nên trật
vai áo. Nếu bắt đi cầu vào ban đêm thì nên dùng chậu, âu
đựng rồi đem đổ. Nếu không có đồ đựng thì nên đi
cầu chỗ đường nước chảy rồi sáng sớm dọn sạch. Nếu
đang ở tại nhà sưởi, giảng đường mà muốn đi cầu thì
phải ra ngoài. Nếu bắt đi cầu quá gấp không thể đi kịp
thì phải đi cầu tại một chỗ, chứ không được làm như
bò vừa đi vừa phóng uế, rồi sáng sớm dọn dẹp, dùng nước
rửa sạch, dùng dầu để lau, ít nhất là dùng giẻ lau mà
lau. Khi đang nhiễu tháp mà thấy đau bụng thì nên đi cầu.
Nếu quá bức bách thì nên đi tại một chỗ, chứ không được
vừa đi vừa phóng uế dơ bẩn cả chân như loài bò. Khi đi
xong phải dọn dẹp, lấy nước rửa, rắc bột hương, rồi
lau chùi. Nếu tại A-luyện-nhã không có bột hương thì nên
dùng dầu mà lau. Khi
muốn vào thôn xóm (504c) nên đại tiện trước rồi mới đi.
Khi vào thôn xóm rồi mà bắt đi cầu thì nên đến cầu tiêu
dành cho đàn ông, không nên vào cầu tiêu của phụ nữ. Nếu
không có thì nên hỏi người ta nơi nào có thể đi cầu được.
Khi hỏi, không nên hỏi những cô gái trẻ, vì khi nghe vậy
họ sẽ cười, mà nên hỏi người lớn tuổi đứng đắn.
Nếu cũng không có thì nên vào những ngôi nhà trống. Khi vào
rồi, không được ngồi ở chỗ quá trống trải, cũng không
nên ngồi chỗ quá kín đáo khiến người ta nghi mình là kẻ
trộm. Nếu cũng không có ngôi nhà trống thì nên đi cầu ở
bên bờ tường nơi mé đường. Nếu có bạn thì bảo họ
ngồi châu lưng lại để che khuất. Nếu
khi đi đường cùng với khách buôn mà muốn đại tiện thì
nên đi ở mé đường cuối hướng gió, đừng đi ở đầu
gió khiến mùi hôi bay đến người khác. Nếu ban đêm muốn
đi cầu thì không được lặng thinh mà đi, mà phải nói cho
khách buôn biết, để họ không nghi mình là kẻ trộm, đồng
thời cũng phải đại tiện ở dưới hướng gió, chứ không
được đại tiện ở trên hướng gió. Khi
đi thuyền với khách buôn mà muốn đi cầu thì nên đến chỗ
đại tiện mà đi, đồng thời nên dùng một miếng gỗ gạt
xuống để cho phân rơi trên miếng ván trước rồi mới rơi
xuống nước sau. Nếu không có miếng gỗ thì ít nhất đi
trên nùi cỏ; nếu cũng không có nùi cỏ, thì nên dùng cái
bô đựng rồi đem đổ. Nếu
thấy phân uế nơi tháp, nơi Tăng viện thì nên dọn sạch.
Nếu hai người cùng đi mà thấy thế, thì Hạ tọa nên dọn
dẹp. Nếu Hạ tọa giữ giới lỏng lẻo thì bản thân mình
phải dọn. Nếu bị trúng độc mà thầy thuốc bảo phải
uống nước phân, thì không nên uống nước phân của chính
mình mà nên dùng nước phân của kẻ khác. Tỉ-kheo
phải biết các phép vệ sinh kể trên. Nếu không biết những
việc như vậy thì vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo tiểu tiện
khắp nơi, bị người đời chê trách rằng: "Vì sao Sa-môn
Thích tử mà giống như bò, lừa tiểu tiện khắp nơi? Ðây
là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!". Cho đến,
Phật dạy: "Từ nay về sau nên làm chỗ đi tiểu. Cách làm
như sau: Không được làm ở hướng Bắc, hướng Ðông mà
nên làm ở hướng Tây, hướng Nam, chỗ thoáng gió". Lúc
ấy có Tỉ-kheo đi tiểu, rồi Tỉ-kheo khác cũng đến đó
để tiểu. Vị Tỉ-kheo trước nói: "Trưởng lão chớ làm
bẩn tôi". Các
Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: "Từ nay về sau, phép tiểu tiện phải biết như sau:
Không được để cho bức bách rồi mới đi mà khi muốn đi
tiểu thì phải đi liền. Trước khi vào cầu tiểu phải khảy
móng tay; nếu trong đó đã có người thì cũng phải khảy
móng tay đáp lại. Nếu quá gấp thì nên đứng quay lưng với
người trước, và người trước nên nhường chỗ cho nhau.
Khi tiểu tiện không được trùm đầu, che vai và xỉa răng,
mà nên vén áo bên phải mà tiểu. Lúc đang tiểu không được
thiền định, ngủ, tụng kinh và quán bất tịnh làm trở ngại
người đi sau. Khi tiểu xong phải ra ngay. (505a) Nếu không có
chỗ tiểu tiện thì nên dùng cái bình để đựng; trên bình
nên để một cái âu có lỗ thông dưới đáy, tiểu tiện
vào trong cái âu đó rồi mở nút cho chảy vào trong bình. Nếu
không có âu thì nên dùng cái muỗng để rót vào bình. Không
được đại tiện và khạc nhổ vào trong bình. Tỉ-kheo trẻ
phải theo thứ tự đổ cái bình ấy. Khi đổ, phải đổ ở
chỗ khuất, không được đổ trên thượng lưu của tháp,
viện. Sau khi đổ phải dùng nước rửa sạch rồi úp xuống
đất. Nếu không có bình thì mỗi người nên tìm đồ đựng
riêng. Nếu đồ đựng bằng đất thì khi rửa xong đem úp
xuống đất. Nếu đồ đựng bằng gỗ thì khi đổ xong nên
để trong mát cho khỏi bị hư; đồng thời nên buộc dây mà
xách. Ban đêm nên đem nó đặt dưới giường. Nếu không có
đồ chứa thì (ban đêm) nên đi tiểu ở chỗ rãnh nước.
Nhưng rãnh nước đó không được chảy về hướng tháp, phòng
sưởi và giảng đường. Khi
muốn đi tiểu thì nên đi ngay. Nếu cấp bách quá không đi
kịp, thì nên tiểu tiện tại một chỗ. Khi tiểu xong, dùng
nước rửa, dầu bôi, rồi lau chùi sạch. Nếu
đang nhiễu tháp mà bắt đi tiểu thì phải đi ngay. Nếu cấp
bách quá, cũng không được vừa đi, vừa tiểu mà nên tiểu
tại một chỗ. Khi tiểu xong, dùng nước rửa rồi bôi hương
thơm. Nếu ở nơi hoang vắng không có hương thơm, thì nên
dùng dầu bôi lên. Nếu
muốn đi vào thôn xóm thì nên tiểu tiện trước rồi mới
đi. Khi đang ở nơi thôn xóm mà muốn tiểu tiện thì nên tiểu
tiện ở chỗ khuất. Nếu cấp bách quá không đến chỗ khuất
kịp thì hướng vào bờ tường mà tiểu. Nếu có đồng bạn
thì nên bảo họ xoay lưng lại để che mình. Nếu
đi đường với khách buôn mà muốn tiểu tiện thì nên đi
ở hướng cuối gió, không được đi ở đầu gió. Nếu nghỉ
lại ban đêm, khi đi tiểu tiện cũng phải đi ở hướng cuối
gió. Lúc muốn đi phải nói cho họ biết, để họ khỏi ngờ
mình là kẻ trộm. Nếu
đi thuyền thì nên đến chỗ tiểu tiện mà tiểu. Nếu không
có chỗ đi tiểu thì nên tiểu vào trong đồ đựng rồi đem
đổ. Tỉ-kheo
bệnh, nếu thầy thuốc bảo phải uống nước tiểu thì không
được lấy nước tiểu lúc đầu và lúc cuối mà nên lấy
nước tiểu ở khoảng giữa, hoặc lấy nước tiểu của chính
mình, hoặc xin nước tiểu của người khác mà uống. Phép
tiểu tiện phải làm như trên; nếu ai không làm như vậy thì
vượt pháp oai nghi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỉ-kheo
dùng cây xỉa răng chưa chuốt vót, bị người đời chê bai
rằng: "Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ hung ác, cầm
nguyên cả cành cây mà xỉa răng?". Các Tỉ-kheo bèn đem việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Từ nay về
sau, Ta không cho phép dùng cây xỉa răng". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy nhân dịp
đại hội, đức Thế Tôn thuyết pháp, thì có Tỉ-kheo hôi
miệng nên ngồi ở phía cuối hướng gió. Phật tuy biết nhưng
vẫn hỏi các Tỉ-kheo: -
Tỉ-kheo nào mà ngồi riêng một chỗ như người có điều
chi oán hận vậy? -
Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho phép xỉa răng,
vị này bị hôi miệng sợ ảnh hưởng (505b) đến các bậc
phạm hạnh nên phải ngồi ở cuối gió. -
Ta cho phép dùng tăm xỉa răng nhưng phải ước lượng mà dùng,
dài nhất là 16 lóng tay. Lại
nữa, lúc ấy có đàn việt trồng cây tại nơi hoang vắng,
rồi Tỉ-kheo nhổ cây ấy làm cây xỉa răng. Chủ nhân thấy
thế lòng không vui bèn đi đến chỗ Phật trình bày việc
ấy lên Thế Tôn. Phật tùy thuận thuyết pháp khiến tâm ông
ta hoan hỷ, rồi ông lễ Phật mà cáo lui. Ðoạn Phật bảo
gọi vị Tỉ-kheo kia đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền
hỏi: |