| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
BẢY
TRĂM VỊ ÐẠI HỘI KẾT TẬP. PHÁP TẠNG. Sau
khi Phật Niết-bàn (khoảng 100 năm), các trưởng lão Tỉ-kheo
ở Tăng-già-lam Sa-đôi, tại Tỳ-xá-li, theo xin các đàn việt,
(493b) nói những lời bi ai như sau: "Này
Lão trượng, khi đức Thế Tôn còn tại thế, chúng tôi được
cúng dường bữa ăn trước, bữa ăn sau và các y phục, nay
Thế Tôn đã Niết-bàn, chúng tôi trở thành cô độc, đâu
có ai cho thứ gì. Các vị nên bố thí tài vật cho Tăng". Lúc
ấy, có người cho một đồng, hai đồng, cho đến mười đồng.
Thế rồi, họ đựng số tiền ấy vào trong cái thau, đến
ngày Bố tát, họ dùng cái chén nhỏ đong số tiền ấy phân
chia cho từng người theo thứ tự. Lúc ấy, vị Tỉ-kheo trì
luật là Da-xá được chia đầu tiên, liền hỏi: -
Ðây là những thứ gì vậy? -
Ðó là số tiền để mua thuốc men được phân chia theo thứ
tự vậy. -
Ði qua đi. -
Vì sao bảo đi qua? Trưởng lão định cúng dường cho Tăng
sao? -
Ðó là những vật bất tịnh. -
Thầy đã hủy báng Tăng, nói là vật bất tịnh, thế thì
phải làm Yết-ma cử tội. Ðoạn,
chư Tăng làm Yết-ma cử tội Da-xá. Thế rồi, Da-xá bèn đi
đến chỗ tôn giả Ðà-ta-bà-la đang ở nước Ma-thâu-la, nói
với tôn giả như sau: -
Thưa trưởng lão, tôi bị Tăng cử tội bắt thi hành pháp
tùy thuận. -
Thầy vì cớ gì mà bị cử tội? -
Thưa trưởng lão, sự việc xảy ra như vậy, như vậy. -
Thầy không có tội gì mà bị cử tội. Vậy, tôi sẽ san sẻ
pháp thực, vị thực cùng với thầy. Da-xá
nghe dạy như thế, liền thưa với chúng tăng: -
Thưa các trưởng lão, chúng ta phải kết tập lại Tạng luật,
đừng để Phật pháp bị suy đồi. -
Thầy định kết tập tại đâu? -
Hãy trở lại nơi đã xảy ra sự việc mà kết tập. Bấy
giờ, chư Tăng tại nước Ma-thâu-la kết hợp với chư Tăng
thành Xá-Vệ gồm có bảy trăm người, tập trung về một
nơi. Trong số đó, có người trì một bộ Luật, có người
trì hai bộ Luật, lại có người trực tiếp thọ lãnh từ
Thế Tôn, có người thọ lãnh từ hàng Thanh văn. Thế là,
khi ấy tại Tăng-già-lam Sa-đôi, thành Tì-xá-li, các giường
nệm đều được chuẩn bị tươm tất để bảy trăm vị
Tăng mở đại hội. Trong số này, có người là phàm phu, có
người đang học, có người vô học, có vị chứng tam minh,
lục thông được tự tại vô ngại. Lúc này, các vị Ðại
Ca-diếp-đạt-đầu-lộ, Ưu-ba-đạt-đầu-lộ, tôn giả A-nan
đều đã nhập Niết-bàn cả. Bấy
giờ, vị Thượng tọa của chúng Tăng là tôn giả Du-thâu-đà
cất tiếng hỏi: "Ai nên kết tập Luật tạng?". Các Tỉ-kheo
đáp: "Tôn giả Ðà-ta-bà-la nên kết tập". Ðà-ta-bà-la
thưa: "Thưa các trưởng lão, còn có các trưởng lão Tỉ-kheo
khác, nên mời các vị ấy kết tập". Các
Tỉ-kheo nói: "Tuy có các Thượng tọa khác, nhưng đức Thế
Tôn đã tuyên bố rằng Hòa thượng bổn sư của trưởng lão
đã thành tựu 14 pháp, trì luật đệ nhất, mà trưởng lão
từng thọ giáo trực tiếp, vậy nên kết tập". Ðà-ta-bà-la
nói: "Nếu bảo tôi kết tập, thì những gì như pháp xin tùy
hỷ, những gì không như pháp xin ngăn lại, những gì không
tương ưng cũng xin ngăn lại, đừng vì tôn trọng tôi mà để
yên. Nói chung, (493c) những gì đúng nghĩa, không đúng nghĩa
đều xin chỉ bảo cho biết". Mọi
người đều đáp: "Vâng". Bấy
giờ, tôn giả Ðà-ta-bà-la suy nghĩ: "Nay ta kết tập Luật
Tạng như thế nào đây? Có năm pháp thanh tịnh, những gì
như Pháp, như Luật thì Tăng sẽ tùy hỷ, những gì không như
Pháp, như Luật thì Tăng sẽ ngăn cản. Năm pháp đó là gì?
Ðó là: Một là chế hạn tịnh, cho đến phong tục tịnh".
Thế rồi, thầy nói với chúng Tăng: -
Thưa các trưởng lão, đây là thứ tự của 9 pháp: Từ 4 Ba-la-di
cho đến pháp, tùy thuộc pháp, tôi đã được nghe từ Hòa
thượng rằng đức Thế Tôn tại mỗ xứ, mỗ xứ, vì Tỉ-kheo
mỗ giáp, mỗ giáp mà chế giới này, thưa có phải vậy không? -
Ðúng như vậy, như vậy. -
Thưa các trưởng lão, về năm việc thuộc giới luật như
trên đã đề cập, trong đó nói rằng ai cần bát thì tìm
bát, cần y thì tìm y, cần thuốc thì tìm thuốc, còn ai không
có phương tiện thì được xin vàng bạc và tiền mặt. Như
vậy đó, mong các trưởng lão hãy tùy thuận học tập. Ðó
gọi là trình bày tóm lược về việc bảy trăm người kết
tập Luật tạng. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích bên cây Ni-câu-luật
thuộc thành Ca-duy-la-vệ; lúc ấy có hai Tỉ-kheo ni, người
thứ nhất tên Nan-đà, người thứ hai tên Uất-đa-la, theo
Phật xin sáu tháng giáo giới như sau: "Lành thay Thế Tôn, xin
Thế Tôn hãy nói sơ lược về Giới luật để chúng con được
rõ". Phật
nói với các Tỉ-kheo ni: "Này các Tỉ-kheo ni, tham dục, không
hiểu nhân duyên, cùng nhau tập theo thói quen, luận bàn về
việc thế tục, làm tăng trưởng thọ ấm, đa dục, không
biết dừng lại, làm tăng trưởng tham dục, sân hận, ngu si,
tranh tụng không hòa hợp, chẳng tịch tịnh, chẳng tỉnh giác,
chẳng có Niết-bàn. Các ngươi phải biết rằng đó là việc
phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy. Trái lại, các ngươi
phải biết rằng không ham muốn, hiểu rõ nhân duyên, không
tập theo thói quen, không bàn luận việc thế tục, không làm
tăng trưởng thọ ấm, ít muốn, biết đủ, không tham dục,
sân hận và ngu si, lìa xa việc tranh tụng, sống hòa hợp,
tịch tịnh, tỉnh giác, sẽ đạt Niết-bàn. Các ngươi phải
biết rằng, đó là pháp, là Luật, là điều ta dạy. Và đây
chính là nói tóm tắt về Giới Luật. Kệ
tóm tắt: "Dùng
dao trị, bình tưới,
HỦY
BÁNG. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo hủy
báng các Tỉ-kheo khác về thành phần chủng loại. Các Tỉ-kheo
bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi nhóm
6 Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi: -
Này các Tỉ-kheo, các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác. Từ nay về sau, Ta không cho phép hủy báng
người khác. (494a)
Hủy báng: bao gồm các phương diện: nghiệp, địa vị, dòng
họ, tướng mạo, bệnh, tội lỗi, mắng mỏ, kiết sử. Nghiệp:
gồm có: nói, tự biện hộ, có người. Nói:
chẳng hạn nói: "Này trưởng lão, trong đây có kẻ Chiên-đà-la,
thợ đan giỏ, thợ làm da, thợ gốm, cho đến cai ngục, kẻ
hàng thịt.v.v..." Ðó gọi là nói. Tự
biện hộ: chẳng hạn nói: "Thưa trưởng lão, tôi không phải
là Chiên-đà-la, cho đến không phải là cai ngục, là kẻ hàng
thịt v.v..." Ðó gọi là tự biện hộ. Có
người: như trong đây có người là Chiên-đà-la, cho đến
kẻ cai ngục.v.v... Ðó gọi là có người. Các
vấn đề khác như địa vị, dòng họ, tướng mạo, bệnh,
tội lỗi, kiết sử cũng như thế. Nếu ai đem các vấn đề
trên ra hủy báng người khác thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là hủy báng. Khi
Phật an trú tại vườn trúc Ca-lan-đà, lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo
đi đến tụ điểm ca nhạc sớm nhất để xem, như là Tỉ-kheo
đến chỗ ngồi thiền. Các nhạc công tụ họp xong bèn hòa
nhạc. Trong lúc mọi người đều vui vẻ, cười nói, thì các
Tỉ-kheo ngồi im lặng. Ðến khi họ dứt cười, các Tỉ-kheo
bèn vỗ tay cười ầm lên. Mọi người liền tranh nhau nhìn
xem. Do thế, các nhạc công không thu được tiền, liền nổi
xùng, nói: "Các Tỉ-kheo này cà chớn, làm cho chúng ta không
thu được tiền bạc gì cả. Ðây là hạng người bại hoại,
có đạo nào mà như thế!". Các
Tỉ-kheo nghe như vậy, liền đem việc đó đến bạch đầy
đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi
họ đến rồi, Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Từ nay về sau Ta không cho phép các Tỉ-kheo
đi xem nhạc công hòa nhạc. Nhạc
công: chẳng hạn những người đánh trống, ca múa, đánh đàn
Tì-bà, đánh xập xõa, đại khái chơi các loại nhạc cụ
như thế, thậm chí dù chỉ bốn người họp lại vui chơi,
Ta cũng không cho phép đến xem. Nếu
Tỉ-kheo vào xóm làng, thành phố mà gặp Thiên tượng xuất
hiện, hay vua xuất hiện, có các nhạc công trổi các thứ
nhạc, mình đi qua đường nhìn thấy thì không có tội. Nhưng
nếu tạo phương tiện để xem thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
vào các ngày đại hội sinh nhật của Phật, ngày kỷ niệm
Phật thành đạo, kỷ niệm ngày chuyển pháp luân, năm năm
đại hội một lần, có sử dụng các nhạc phẩm để cúng
dường đức Phật, rồi đàn việt nói: "Xin các tôn giả hãy
hòa mình với chúng con để cúng dường đức Thế Tôn", thì
khi ấy được hòa mình chung vui với họ. Nhưng nếu tại nơi
đại hội có trổi các nhạc phẩm mà mình sinh tâm nhiễm
trước, thì nên đứng dậy bỏ đi. Ðó gọi là kỹ nhạc. Khi
Phật an trú tại thành Vương-xá, lúc ấy nhằm ngày lễ hội,
Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà thuộc nhóm 6 Tỉ-kheo dùng hương thơm
thoa vào mình, mang các vòng hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, có
người còn mang cả vòng hoa cỏ mà đi, nên bị người đời
chê cười rằng: "Vì sao Sa-môn Thích tử mà mang những vòng
hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, giống như vương tử, đại thần?
Thậm chí có người còn mang cả vòng hoa cỏ giống như kẻ
tôi đòi hạ tiện. Ðây là hạng người bại hoại, nào có
(494b) đạo hạnh gì!" Các
Tỉ-kheo nghe thế, liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật bảo đi gọi nhóm 6 Tỉ-kheo đến. Khi họ tới rồi,
Phật liền hỏi: -
Này các Tỉ-kheo, các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép thoa hương, mang vòng hoa. Hương:
Như loại hương chiên đàn trầm thủy, và các loại hương
tương tự như thế đều không được dùng. Nhưng nếu mắc
bệnh nhiệt, mà thầy thuốc bảo: "Cần phải dùng hương chiên
đàn để thoa" thì khi ấy được dùng để thoa. Nhưng trước
khi thoa, phải cúng dường tháp Phật rồi mới đem thoa vào
mình. Khi thoa vào mình không được ở trong chúng mà phải
ở tại chỗ vắng vẻ. Ðến khi lành bệnh, phải tắm rửa
thân thể sạch sẽ rồi mới vào trong chúng. Hoa:
Như hoa Ưu-bát-la, hoa Chiêm-bặc, hoa Tu-ma-đầu, tất cả các
loại hoa như thế không nên mang. Nếu
Tỉ-kheo bị bệnh đau mắt, đau đầu, rồi thầy thuốc bảo
phải mang vòng hoa trên đầu bệnh mới lành, thì được phép
mang. Nhưng khi muốn mang thì nên đem cúng tháp Phật trước
rồi mới mang. Khi đã mang thì không được tới chỗ đông
người mà phải ở chỗ thanh vắng, và khi bệnh lành thì phải
bỏ. Nếu
thoa hương mà không mang hoa thì phạm một tội Việt tì-ni. Nếu
mang hoa mà không thoa hương thì phạm một tội Việt-tì-ni. Nếu
dùng cả hai thì phạm hai tội, Nếu
cả hai đều không dùng thì không có tội. Ðó
gọi là thoa hương, mang hoa. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, ở tinh xá Kỳ-hoàn, có đàn
việt đến cúng dường trai phạn cho chúng tăng. Khi đánh kiền
chùy thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đang soi gương, hồi lâu không
đến, nên bị đàn việt chê trách rằng: "Ta bỏ cả việc
nhà, đến đây cúng dường trai phạn cho Tăng, mà đến giờ
ăn, các Tỉ-kheo không chịu tập họp". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi,
Phật liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép soi gương. Gương chỉ cho các
loại như dầu, nước, kính; không được vì thích đẹp mà
đến soi mặt vào các thứ đó. Nếu
vừa bớt bệnh, đến gương soi mặt xem bệnh đã bớt hay
chưa, hoặc vừa mới cạo đầu đến soi xem có sạch hay không
sạch, hoặc đầu mặt bị ghẻ góc, đến soi xem, thì không
có tội. Nếu
vì thích đẹp mà soi gương thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là soi gương. Khi
Phật an trú tại tinh xá Khoáng-dã, bấy giờ thầy Tỉ-kheo
doanh sự gánh vác gạch ngói, đất cát, bị người đời đàm
tiếu rằng: "Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ nô bộc,
người làm công, gánh vác đất cát? Ðây là hạng người
bại hoại, có đạo nào như thế!" Các
Tỉ-kheo đem sự việc ấy bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ-kheo doanh sự đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Này Tỉ-kheo, ông có việc đó thật không? -
Có thật (494c) như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép gánh vác. Gánh
vác: Như gánh vác các thứ giỏ dây, lồng. Nếu
vác đòn gánh mà không có giỏ thì phạm tội Việt-tì-ni tâm
hối. Nếu
vác giỏ, không có đòn gánh thì phạm tội Việt-tì-ni tâm
hối. Nếu
gánh vác cả hai thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu
tại Tinh xá, Thiền viện có đá, tre, gỗ nặng thì được
gánh vác. Nếu
được tăng phân công làm công việc phải dùng bình, lu lấy
nước, thì được dùng dây buộc lại rồi gánh. Nếu
gánh túi xách y ở đàng trước, đàng sau, hay gánh túi đựng
bát ở đàng trước đàng sau, đều phạm tội Việt tì-ni. Nếu
túi y dài lòng thòng nên phải cuộn lên vai rồi đặt bát
lên trên thì không có tội, Ðó
gọi là gánh vác. Khi
Phật an trú tại tinh xá Khoáng-dã, lúc ấy thầy Tỉ-kheo doanh
sự xăn y áo để chuyên chở gạch đá, đất cát, bị người
đời đàm tiếu rằng: "Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như
kẻ nô bộc người ta, xăn áo để làm việc? Ðây là hạng
người bại hoại, có đạo nào như thế?". Các
Tỉ-kheo nghe thế, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo doanh sự đến. Khi thầy
tới rồi, Phật liền hỏi: -
Này Tỉ-kheo, ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép xăn y áo. Xăn:
Nghĩa là xăn một bên, hai bên, đều không được phép. Nếu
nhồi đất để đổ trên mái nhà hoặc tô tường thì được
xăn nội y. Ðó
gọi là xăn quần áo. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, đức Thế Tôn đến
xứ Uất-đơn-việt khất thực. Lúc ấy, các Tỉ-kheo suy nghĩ:
"Khi Thế Tôn trở về chắc chắn sẽ dùng thần túc mà đi".
Thế nên, có người leo lên cây, người leo lên tường để
trông ngóng Thế Tôn. Thế Tôn biết tâm niệm các Tỉ-kheo
như vậy nên ẩn thân, trở về ngồi an ổn trong phòng. Rồi
Phật hỏi: "Các Tỉ-kheo đi đâu cả?". Một Tỉ-kheo bèn đem
sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ
nay về sau, Ta không cho phép leo cây". Cây:
Nếu cây cao ngang đầu người thì không được leo. Nếu
làm lễ kỷ niệm cây Bồ đề mà một chân trèo lên cây,
một chân trèo lên tường, thì phạm tội Việt tì-ni tâm hối. Nếu
cả hai chân đều leo lên cây thì phạm tội Việt tì-ni. Nếu
cả hai chân đều leo lên tường thì không có tội. Trường
hợp leo lên thang cũng như thế. Nếu
đang đi bị lạc đường không rõ phương hướng, phải leo
lên cây nhìn phương hướng thì không có tội. Nếu
bị cọp, sói, sư tử v.v..., các loại tương tự như thế
uy hiếp, thì được trèo lên cây, không có tội. Ðó
gọi là leo cây. NHÓM
LỬA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, đến giờ khất thực,
Thế Tôn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực.
Sau khi khất thực trở về, Thế Tôn thu dọn giường nệm,
không nói với thị giả và Tỉ-kheo tăng, Ngài đi đến nước
Câu-tát-la, vào rừng Ba-lợi-da-bà-la, an trú dưới cây Hiền
thiện, (495a) nhận sự cúng dường của con voi chúa trong ba
tháng. Ðoạn nói về việc trời lạnh, tuyết rơi lúc phi thời,
các Tỉ-kheo nhóm lửa để sưởi, bị người đời dị nghị
rằng: "Sa-môn Cù-Ðàm dùng vô lượng phương tiện khiển trách
sự sát sinh, khen ngợi không sát sinh, thế mà giờ đây, Tỉ-kheo
đốt lửa làm cháy đất, hại đến gốc cây". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Thế
rồi, Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không
cho phép nhóm lửa". Lửa gồm có các thứ như: lửa củi,
lửa cỏ, lửa phân bò, lửa trấu, lửa dăm bào. Không được
đốt chỗ đất chưa bị cháy. Nếu đến phiên mình coi sóc
nhà sưởi, hoặc đến phiên trực nguyệt, phiên hun bát, thì
nên sai tịnh nhân nhóm lửa trước, rồi mình mới chụm lửa
thì không có tội. Khi
cầm đuốc đi, muốn dụi tắt đuốc, thì không được dụi
ở chỗ đất sống mà nên dụi trên đống tro, hoặc trên
ngói gạch. Nếu tàn đuốc rơi xuống đất, rồi mình đập
cho tắt, thì không có tội. Nếu
nhóm lửa ở chỗ đất chưa bị cháy thì phạm tội Việt
tì-ni. Ðó
gọi là nhóm lửa. Khi
Phật an trú tại thành Vương-xá, bấy giờ cư sĩ Uất-Kiệt
mở cuộc đại thí, bố thí 500 con voi, 500 con ngựa, 500 con
bò, 500 con trâu, 500 tì nữ, 500 nô bộc, trong các thứ bố
thí có cả chén đồng. Các Tỉ-kheo tâm sinh nghi, liền đến
hỏi Thế Tôn rằng đó là vật thanh tịnh (hợp pháp), hay
không thanh tịnh, nên nhận hay không nên nhận. Phật dạy:
"Tất cả chén đồng Ta đều không cho phép nhận. Nếu đàn
việt cúng dường Tăng vật thanh tịnh thì nên chú nguyện
rồi mới nhận. Nếu ai cất riêng chén đồng thì phạm tội
Việt tì-ni, nhưng được đem nó cho tịnh nhân, rồi mượn
sử dụng thì không có tội". Ðó
gọi là chén đồng. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, được chư thiên, người đời
có lòng tin tôn trọng, đem các thực phẩm đến cúng dường
Phật, Tỉ-kheo Tăng, tôn giả Xá-lợi-phất, Ðại-mục-liên
và các Tỉ-kheo khác. Lúc ấy, nhóm 6 Tỉ-kheo sáng sớm ra đứng
trước cổng tinh xá, thấy người ta mang thức ăn đến, liền
hỏi: -
Thức ăn này cúng dường cho ai vậy? -
Cúng dường cho Thế Tôn. -
Thế Tôn nên cúng dường. Thế còn thức ăn này cúng dường
cho ai? -
Cúng dường cho chúng Tăng. -
Chúng Tăng nên cúng dường. Thế còn thức ăn này cúng dường
cho ai? -
Cúng dường cho tôn giả Xá-lợi-phất và Ðại-mục-liên. -
Những người này nên cúng dường. Còn thức ăn này cúng dường
cho ai? -
Cúng dường cho Tỉ-kheo mỗ giáp. -
Mỗ giáp già bệnh, không thể ăn được, chỉ phí đồ cúng
dường của ngươi thôi; nên cúng dường cho ta, ta sẽ chú
nguyện cho ngươi để ngươi được công đức cúng dường. Khi
ấy, người kia vì có niềm tin liền cúng dường. Thế nhưng,
gặp kẻ có trí không chịu cúng, mà nói: "Vì sao ta lại cúng
dường cho kẻ không biết hổ thẹn này?". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, (495b)
cho đến Phật hỏi nhóm 6 Tỉ-kheo: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Ðó là việc ác. Vì sao các ông biết phẩm vật đó thí chủ
định cúng dường cho người khác mà bảo họ cúng dường
cho mình? Từ nay về sau, Ta không cho phép khi biết vật thí
chủ định cúng dường cho người khác mà bảo cúng cho mình. Vật:
Gồm có tám thứ: thức ăn đúng giờ, cho đến các vật hợp
lệ không hợp lệ, như trên đã nói rõ. Nếu
người ta hỏi: "Thưa tôn giả, con muốn cúng dường, vậy
nên cúng dường nơi nào?", thì nên đáp: "Cúng dường cho chúng
Tăng". Nếu
thí chủ hỏi: "Nơi nào có chư Tăng trì giới?",
thì nên nói: "Không có vị Tăng nào lại phạm giới; ngươi
chỉ lo việc cúng dường mà thôi". Nếu
thí chủ hỏi: "Nơi nào có Tỉ-kheo thường ở yên một chỗ
tu tập hạnh nghiệp, để vật cúng dường còn mãi tại đó
con được thấy luôn?", thì khi ấy hãy nói: "Nên cúng dường
cho Tỉ-kheo mỗ giáp". Nếu
biết vật đó thí chủ định cúng cho Tăng mà bảo họ cúng
cho mình, thì phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề. Nếu
biết vật đó họ định cúng cho Tăng, mà bảo họ cúng cho
người khác, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
biết vật đó họ định cúng cho nhóm người này mà bảo
họ cúng cho nhóm người khác, hoặc biết họ định cúng cho
một người này mà bảo họ cúng cho một người khác, thì
phạm tội Việt tì-ni. Cuối
cùng, nếu biết vật đó họ bố thí cho súc sinh này mà bảo
họ bố thí cho súc sinh khác thì phạm tội Việt tì-ni tâm
hối. Ðó
gọi là chuyển hướng vật cúng dường. Kệ
tóm tắt: "Hủy
báng, xem tấu nhạc,
Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, bấy giờ cư sĩ Uất Kiệt
mở hội đại thí 500 con voi, cho đến 500 nô tì. Các Tỉ-kheo
tâm sinh nghi, đi đến hỏi Phật xem thanh tịnh hay không thanh
tịnh, nên nhận hay không nên nhận. Phật dạy: "Tất cả chúng
sinh đều không cho phép nhận. Chúng sinh như: voi, ngựa, bò,
trâu, lừa, dê, chương, nai, heo, nô tì và tất cả chúng sinh
khác đều không nên nhận. Nếu
người ta nói: "Con cúng tì nữ này cho chúng Tăng", thì không
được nhận. Nếu
họ nói: "Con cúng cho chúng Tăng người đàn bà làm vườn
này", thì không được nhận. Nếu
họ nói: "Con cúng cho chúng Tăng tên nô bộc này", thì không
được phép nhận. Nếu
họ nói: "Con cúng cho chúng Tăng người giúp việc này", thì
không nên nhận. Nếu
họ nói: "Con cung cấp cho Tăng nam tịnh nhân này", thì được
phép nhận. Nếu
họ đem một tì nữ cho một Tỉ-kheo, thì không được phép
nhận. Hoặc họ cho một người nô bộc, một người giúp
việc, một người làm vườn đều không được phép nhận. Nếu
họ cho tịnh nhân để giúp việc cho chư Tăng thì được nhận. Nếu
họ cho nô bộc cho Ni tăng thì không được phép nhận. Nếu
họ cho người làm vườn cũng không được phép nhận. Hoặc
họ cho tì nữ cũng không được phép nhận. Nếu
họ nói: "Con cung cấp cho Ni tăng nữ tịnh nhân này", thì được
phép nhận. Nếu
họ cho riêng một Tỉ-kheo-ni một người nô bộc, thì không
được phép nhận. Hoặc họ cho người làm vườn cũng không
được phép nhận. Nếu
họ cho nữ tịnh nhân để giúp việc cho Tăng, thì được
phép nhận. (495c)
Nếu đàn việt tổ chức lễ Ðản sinh của Phật, lễ Phật
thành đạo, lễ kỷ niệm Chuyển pháp luân, lễ kỷ niệm
La-hầu-la, lễ kỷ niệm A-nan hay đại hội 5 năm một lần,
rồi đàn việt có lòng tin hoan hỷ trang sức voi, ngựa đem
cúng dường cho chúng Tăng, thì không được phép nhận. Nếu
đàn việt đem chim oanh vũ, chim công, gà, dê, chương, nai đến
cúng dường, thì không được nhận. Nếu
họ nói: "Thầy không nhận thì con sẽ giết nó", thì nên bảo:
"Ông nên tự tay thả nó đi". Khi họ thả rồi, thì nên cung
cấp thức ăn, nước uống, giữ gìn, đừng để chúng bị
thương tổn. Không được cắt lông cánh rồi nhốt nó trong
lồng. Nếu nó có thể bay, đi tự nuôi sống được, thì nên
thả nó đi, không nên nhốt lại. Nếu
nhận chúng sinh thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó
gọi là chúng sinh. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt trồng
xoài trong vườn của chư Tăng, rồi một Tỉ-kheo chặt cây
ấy để làm phòng cho một cư sĩ. Khi làm phòng xong, họ tổ
chức bố thí giường nệm, mời chư Tăng đến cúng dường.
Lúc ấy, người đàn việt trồng xoài trước kia cũng có mặt
nơi đây. Ông ta thấy thế, liền hỏi Tỉ-kheo đốn cây: -
Thưa tôn giả, đây là phòng của ai thế? -
Ðây là phòng của cư sĩ mỗ giáp. -
Thưa tôn giả, vì sao lại lấy cây của con trồng đem làm
phòng cho người khác? Phòng này phải là phòng của con. Do
thế, lòng ông không vui, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân rồi đứng qua một bên, đem sự việc
trên trình bày lại đầy đủ với Thế Tôn. Phật bèn thuyết
pháp dạy bảo, khiến ông được lợi ích, hoan hỷ, bèn đảnh
lễ chân Phật rồi ra đi trong niềm hân hoan. Ðoạn, Phật
bảo gọi Tỉ-kheo kia đến. Khi thầy tới rồi, Phật liền
hỏi: -
Này Tỉ-kheo, ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ông đốn cây có hoa trái để làm phòng?
Từ nay về sau, Ta không cho phép chặt cây có hoa trái. Cây
có hoa trái như các loại: cây xoài, cây dâm bụt, cây tì-la,
cây ca-tì-đà, cây phả-na-ta, cây dừa, cây vô ưu, cây chiêm
bà, cây chỉ-tát-la, cây a-đề-mục-đa, đại loại tất cả
các cây có hoa quả tương tự như vậy đều không được
chặt để làm phòng. Nếu
cây già, không có hoa trái thì nên nói với đàn việt rằng:
"Này lão trượng, cây này đã già rồi, nên dùng làm phòng
cho Tăng ở sẽ được phước đức". Nếu chủ nhân đồng
ý thì được lấy. Nếu họ không đồng ý thì không được
lấy. Nếu cần dùng cây mà làm phương hại đến đất, thì
nên bảo tịnh nhân lấy xương cá trám xuống, hoặc dùng nước
tro rưới xuống. Nếu
cây đã chết thì nên nói với đàn việt: "Cây này đã khô
rồi, tôi cần dùng đến nó". Nếu họ đồng ý thì được
phép lấy dùng. Nếu
Tỉ-kheo chặt cây có hoa trái thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó
gọi là cây. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một tinh xá ở
ven thôn, (469a) rồi một Tỉ-kheo khách đến đó chặt củi.
Cựu Tỉ-kheo thấy thế, nói: "Vì sao thầy chặt phá cây cối
mà chúng tôi đã trồng một cách khó nhọc? Thầy là khách,
khi đến đây chỉ nên tìm chỗ bóng râm mát mẻ mà ngồi;
thầy đã không biết thương tiếc giữ gìn mà còn chặt phá
bừa bãi, không biết nỗi khổ của tôi, ngày mai hãy đi đi".
Nói thế rồi, thầy đi khất thực. Sau khi thầy đi rồi, Tỉ-kheo
khách bèn chặt cả củi khô, củi tươi chất một đống trước
phòng rồi đốt. Cựu Tỉ-kheo sau khi khất thực trở về,
thấy thế liền nói: "Vì sao thầy chặt cả củi khô, củi
tươi chất đống rồi đốt?". Khách Tỉ-kheo nói: "Vì sao thầy
tự lấy củi đốt được mà lại ngăn cản tôi?". Hai Tỉ-kheo
tranh cãi nhau như thế. Ðoạn, họ dẫn nhau đến chỗ Phật,
cúi đầu, đảnh lễ chân Phật, rồi trình bày đầy đủ
sự việc trên. Phật liền nói với hai Tỉ-kheo: "Các ông không
nên tự cho phép mình lấy mà ngăn cản người khác, đồng
thời cũng không được chặt cả củi khô, củi tươi chất
đống trước phòng rồi đốt mà phải biết
giữ gìn chung. Phép đốt củi phải có chuẩn mực: chừng
ấy để đốt trong phòng sưởi, chừng ấy để chụm dưới
bếp, chừng ấy để dùng trong phòng tắm, chừng ấy để
dùng trong phòng riêng, phải chia ra có chừng mực, không được
lấy quá mức. Nếu không phân chia trước thì đốt nhiều
không có tội. Ta không cho phép chặt cây ướt mà phải chặt
cây khô. Không được đốn những cây trông đẹp mắt ở
xung quanh tăng viện. Còn những cây trong rừng núi không có
người giữ gìn thì chặt không có tội. Ðó gọi là vấn
đề đốt củi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ-kheo khách
đến một tăng-già-lam ở bên thôn hái hoa. Cựu Tỉ-kheo nói:
"Vì sao thầy hái hoa? Tôi đã nhọc nhằn trồng nó, rồi chăm
sóc tưới bón. Thầy là khách tới đây chỉ cần tìm bóng
mát mà ngồi, không nên tùy tiện bẻ phá làm theo ý mình,
rồi ngày mai ra đi không hiểu đến nổi khổ của tôi". Cựu
Tỉ-kheo nói như vậy rồi đi khất thực. Sau khi thầy đi,
khách Tỉ-kheo bèn bẻ những cành đã ra hoa và những cành
chưa ra hoa một cách bừa bãi, rồi đem chất thành đống trước
phòng. Khi khất thực trở về, cựu Tỉ-kheo thấy đống hoa
liền nói: "Vì sao thầy bẻ hoa?". Tỉ-kheo
khách hỏi lại: "Vì sao thầy có thể bẻ được mà lại ngăn
cản tôi?" Hai
người cãi nhau xong rồi cùng nhau đi đến chỗ Phật bạch
đầy đủ sự việc trên. Phật liền nói với cựu Tỉ-kheo:
"Ông không nên tự bẻ hoa mà lại ngăn cản người khác, mà
cần phải thương tiếc giữ gìn. Còn khách Tỉ-kheo cũng không
được tùy tiện bẻ cả những cành đã ra hoa và những cành
chưa ra hoa rồi đem chất đống trước phòng. Người nào hội
đủ 5 điều kiện sau đây thì nên cử họ chia hoa. Năm điều
đó là: không thiên vị, không giận giữ, không ngu si, không
sợ hãi và biết ai đã được hoa rồi, ai chưa được. Ðó
gọi là 5 điều kiện. Ðoạn, người làm Yết-ma nên nói như
sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu
năm pháp, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỉ-kheo
mỗ giáp làm người chia hoa. Ðây là lời tác bạch. (496b)
Bạch xong, làm một lần Yết-ma, cho đến "Vì Tăng đã bằng
lòng nên im lặng. Việc này cứ như thế mà thi hành". Vị
Tỉ-kheo nhận pháp Yết-ma rồi nên bảo tịnh nhân chăm sóc
hoa. Nếu hoa nhỏ thì nên dùng chén đong để chia, hoặc dùng
tay ước lượng để chia. Nếu các loại hoa lớn như hoa Ưu-bát-la,
hoa Chiêm-bặc, hoa Bát-đầu-ma, hoa Phân-đà-lợi thì nên đếm
mà chia. Nếu phần hoa của Phật thì nên dâng lên Phật. Nếu
hoa của Tăng thì tùy ý cúng dường, hoặc trao đổi nhau. Nếu
hoa quá nhiều thì nên đưa cho cửa hàng bán hoa và bảo họ:
"Mỗi ngày bà phải đưa cho tôi chừng ấy vòng hoa, số còn
lại bà hãy trả cho tôi chừng ấy tiền". Khi được tiền
bán hoa có thể dùng sắm y cho phòng riêng, hoặc sắm thức
ăn trước, thức ăn sau. Nếu số tiền lớn thì nên bỏ vào
ngân quĩ của chùa. Ðó
gọi là nguyên tắc sử dụng hoa. Vấn
đề trái tương tự như cách sử dụng hoa đã nói ở trên,
cho đến sau khi làm Yết-ma xong phải bảo tịnh nhân chăm sóc.
Nếu trái nhỏ thì nên dùng vật gì đong để chia, hoặc dùng
tay ước lượng để chia. Nếu trái lớn như các loại trái
đa-la, trái tì-la, trái dừa, trái ta-na-sa, trái xoài thì nên
đếm mà chia. Nếu trái nhiều thì nên đưa cho người bán
trái cây rồi bảo họ hằng ngày phải đưa cho mình chừng
ấy trái, số còn lại thì phải trả chừng ấy tiền. Số
tiền ấy nên sắm thức ăn trước, thức ăn sau. Nếu còn
dư thì nên bỏ vào ngân quĩ của chùa. Ðó gọi là phép sử
dụng trái. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ-kheo trồng
xoài trong đất của Tăng, rồi chăm sóc cho lớn, tự hái trái
mà không cho người khác hái. Các Tỉ-kheo nói: "Vì sao thầy
tự hái được mà ngăn cản người khác?". Thầy đáp: "Vì
cây này tôi trồng và chăm sóc cho đến khi lớn". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Người trồng cây này có công đức, nên cho họ
hưởng một năm. Phép hưởng một năm là: Nếu Tỉ-kheo trồng
các loại cây ăn quả như xoài, Diêm-phù-đề và các loại
tương tự như thế thì cho hái trái một cây trong một năm.
Nhưng nếu cây lớn không muốn cho hái quả một cây cả năm
thì nên cho hằng năm hái quả một cành. Nếu cành cây ấy
bị gãy hoặc khô thì chấm dứt. Nếu vị ấy trồng cả vườn
cây thì nên cho hưởng trọn một năm. Nếu vị ấy muốn hái
quả hằng năm của một cây thì cũng chuẩn thuận. Nếu
ai trồng cải, hành, hoặc các loại rau tương tự như thế
thì cho họ được cắt một bó. Nếu trồng dưa, bầu thì
cho hưởng một kỳ ra trái. Ðó
gọi là phép tắc trồng cây. Có
người do thân hành động, miệng nói năng, thân miệng hành
động; hoặc do thân không thu nhiếp, miệng không thu nhiếp,
thân miệng không thu nhiếp nên phạm tội; nói chung, do thân
gây ra, miệng gây ra và cả thân miệng cùng gây ra tội lỗi.
Trái lại, trường hợp không có tội là: Thân không hành động,
miệng không nói năng, thân miệng không hành động. Hoặc thân
được thu nhiếp nên không phạm tội, miệng được thu nhiếp
nên không phạm tội, thân miệng được thu nhiếp nên không
phạm tội. Nói chung, thân không (496c) gây ra, miệng không gây
ra, thân miệng không gây ra các hành vi sai trái, nên không có
tội. Hỏi:
Nếu có người phạm tội Ba-la-di thì phải trị phạt bằng
cách nào? Ðáp:
Hoặc cho họ trở về làm người thế tục; hoặc cho họ học
làm Sa-di; hoặc trục xuất ra khỏi Tăng đoàn. Hỏi:
Nếu có người phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa thì phải trị
phạt bằng cách nào? Ðáp:
Nếu không che giấu thì cho hành pháp Ma-na-đỏa, rồi cho xuất
tội. Nếu có che giấu thì cho hành Biệt trú, Ma-na-đỏa, rồi
cho xuất tội. Hỏi:
Nếu có người phạm tội Ni-tát-kì thì phải trị phạt bằng
cách nào? Ðáp:
Nên đem vật đã vi phạm đến xả giữa Tăng - nếu là Thượng
tọa - rồi cúi đầu, đảnh lễ ôm chân vị chủ sám. Nếu
là Hạ tọa thì nên quì gối chắp tay, nói như sau: "Thưa trưởng
lão, tôi phạm giới cất y lâu ngày, đã đem xả giữa chúng
Tăng, nay xin sám hối tội Ba-dạ-đề". Vị chủ sám nên hỏi: -
Thầy có thấy tội ấy không? -
Dạ thưa thấy. -
Ðừng tái phạm nhé! -
Xin cúi đầu vâng giữ. Ngoài
ra, phạm các tội Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Việt tì-ni,
thì chỉ có tên tội sai khác, nhưng cách trị phạt cũng thế. Ðó
gọi là phép trị tội. Kệ
tóm tắt: "Chúng
sinh và trồng cây,
Pháp
này gồm có 7, đó là: 1- Hiện tiền tì-ni; 2- Ức niệm tì-ni;
3- Bất si tì-ni; 4- Tự ngôn tì-ni; 5- Mích tội tướng tì-ni;
6- Ða mích tì-ni; 7- Thảo bố địa tì-ni. Ðó gọi là pháp
diệt tránh (những nguyên tắc dùng để dập tắt sự tranh
cãi). Gồm
có 4 trường hợp, đó là: 1- Tướng ngôn tránh; 2- Phỉ báng
tránh; 3- Tội tránh; 4- Thường sở hành sự tránh. Ðó là
4 trường hợp nảy sinh tranh cãi. ÐIỀU
PHỤC. Gồm
có: 1- Yết-ma chiết phục; 2- Yết-ma bất ngữ; 3- Yết-ma khu
xuất; 4- Yết-ma phát hỉ; 5- Yết-ma cử (tội); 6- Yết-ma biệt
trú. Ðó gọi là điều phục. Các
việc cần điều phục. Thuộc
về 5 nhóm tội: 1- Ba-la-di; 2- Tăng-già-bà-thi-sa; 3- Ba-dạ-đề;
4- Ba-la-đề-đề-xá-ni; 5- Việt tì-ni. Ðó gọi là các việc
cần điều phục. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo bạch với
Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có cho phép chúng con làm nhà tranh không? -
Cho phép. -
Bạch Thế Tôn! Có cho phép xây vách, làm cánh cửa, làm ngưỡng
cửa, trét đất, vẽ 5 loại hình ảnh không? -
Cho phép. Này các Tỉ-kheo! Như trong thời quá khứ có vị vua
tên là Cát-lợi làm tinh xá cho Phật Ca-diếp một tầng, hai
tầng cho đến bảy tầng. Thế rồi, ông cho chạm khắc các
hình tượng và cho vẽ các thứ chỉ trừ hình tượng nam nữ
giao hợp. Các loại hình tượng (497a) đó là: Tượng Tỉ-kheo
trưởng lão; chùm trái nho; hình cá ma-kiệt; hình con ngỗng;
tượng tử thi; hình núi rừng. Các loại tương tự như thế
gọi là năm loại hình vẽ. Khi
Phật ở tại thành Xá-vệ cho phép làm phòng; lúc ở thành
Tì-xá-li cho phép dùng sữa, sữa chua, sữa đóng váng; lúc
ở tinh xá Khoáng Dã cho phép dùng cá, thịt. Ngài cho phép dùng
các thứ như thế, chế định các thứ như thế đều tại
8 thành phố lớn sau đây: 1-
Thành Xá-vệ;
Ðối
với 9 bộ kinh, nếu có quên nơi thuyết giảng thì có thể
kể tên một trong 8 thành phố lớn ở trên, chính là nơi mà
Thế Tôn đã tuyên thuyết. Ðó
gọi là nghe pháp. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt đến
tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng Tăng; lúc nghe tiếng
kiền chùy đánh thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà còn đang thoa dầu
vào mặt, không đến đúng giờ, nên bị đàn việt chê trách.
Các Tỉ-kheo bèn đem việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi 2 Tỉ-kheo ấy đến. Khi họ đến rồi, Phật
liền hỏi: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! -
Từ nay về sau, Ta không cho phép bôi dầu vào mặt. Dầu gồm
có các loại: dầu mè; dầu đại ma; dầu hoa a-đề-mục-đa;
dầu hoa chiêm-bà... Nếu ai vì trang sức mà thoa các loại dầu
thơm như thế lên mặt thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng khi
tắm rửa thì được dùng dầu, hoặc khi gội đầu thì được
dùng bột, dầu thoa chân đổ trong bàn tay rồi xoa lên mặt
thì không có tội. Ðó
gọi là phép dùng dầu thoa mặt. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có đàn việt đến
tinh xá Kỳ Hoàn cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Lúc nghe
tiếng bảng đánh thì nhóm sáu Tỉ-kheo còn đang thoa phấn
lên mặt không đến đúng giờ nên bị đàn việt chê trách.
Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn,
cho đến câu Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không cho phép các
Tỉ-kheo dùng phấn bôi lên mặt. Phấn có các thứ như phấn
ma-na-thạch, phấn diên tích, đại loại các thứ như thế.
Nếu Tỉ-kheo vì thích đẹp, thậm chí bôi đất đỏ lên mặt,
thì phạm tội Việt tì-ni. Nhưng nếu trên mặt bị mọc mụt
nhọt, sảy thì bôi phấn không có tội, khi thoa không được
ở giữa mọi người, mà nên ở chỗ vắng. Ðó gọi là phép
dùng phấn". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, cho đến nhóm 6 Tỉ-kheo đang
bận chải đầu không đến đúng giờ nên bị đàn việt chê
trách. Các Tỉ-kheo bèn đem sự
việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Thế rồi, Phật nói:
"Ta không cho phép Tỉ-kheo dùng bàn chải chải đầu. Bàn chải
gồm các thứ như bàn chải bằng lông, bằng rễ cỏ, đại
loại các thứ tương tự như thế. Thậm chí nếu vì thích
đẹp mà dùng tay vuốt đầu thì phạm tội Việt tì-ni. (497b)
Nhưng khi cạo đầu xong, dùng tay xoa trên đầu thì không có
tội. Ðó gọi là phép dùng bàn chải". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Ngài chế giới không
cho phép dùng bàn chải, rồi một hôm đàn việt cúng dường
cơm cho chúng Tăng; đến lúc nghe bảng đánh thì Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà
còn dùng lược chải đầu, không tới đúng giờ nên bị đàn
việt chê trách. Thế rồi, Phật dạy: "Ta không cho phép dùng
lược. Lược gồm có các loại như lược bằng răng, lược
bằng xương, lược bằng sừng, lược bằng cây. Ðại loại
tất cả các thứ lược tương tự như thế đều không được
phép dùng; thậm chí nếu vì thích đẹp mà dùng tay vuốt đầu
thì phạm tội Việt tì-ni. Ðó gọi là phép dùng lược". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, sau khi Thế Tôn chế giới không
cho phép dùng lược, cho đến nhóm sáu Tỉ-kheo dùng trâm cài
lên đầu, không đến đúng giờ, nên bị đàn việt chê trách,
và cuối cùng Phật dạy: "Ta không cho phép dùng trâm. Trâm
có các loại như: vàng, bạc, đồng, sắt, kim cương, đá,
răng, xương, sừng, tre, gỗ. Nói chung, tất cả các loại tương
tự như thế đều không được phép dùng. Thậm chí, nếu
vì thích đẹp mà dùng nanh heo chải đầu thì phạm tội Việt
tì-ni. Nhưng nếu khi đầu ngứa thì được dùng tay sạch cầm
một vật gì đó cào lên đầu. Ðó gọi là pháp dùng trâm". Kệ
tóm tắt: "Tranh
cãi và dập tắt,
Khi
Phật du hành đến nước Câu-tát-la, có người Bà-la-môn đang
cày đất, trông thấy Thế Tôn đi qua, ông ta bèn dừng cày
đến lễ Phật. Thế Tôn thấy vậy liền mỉm cười. Các
Tỉ-kheo liền bạch với Phật: - Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà Thế Tôn cười? Chúng con muốn đ |