| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
Khi
Phật du hành nước Câu Tát La đến thôn Bà la môn, (489c) lúc
ấy có hai cha con ông già mang dụng cụ theo xin xuất gia, cho
đến Phật dạy: -
Vì sao người cạo tóc mang dụng cụ theo mà ông độ họ xuất
gia? Từ nay về sau, Ta không cho phép độ người mang dụng
cụ xuất gia. Nếu người cạo tóc mang dụng cụ theo muốn
xin xuất gia thì nên bảo: "Ông hãy bỏ dụng cụ cạo tóc
rồi tôi mới cho xuất gia. Sau khi xuất gia rồi nếu cần thì
mượn của kẻ khác mà dùng". Ngoài thợ cạo, thì thợ rèn,
thợ mộc, thợ kim hoàn, thợ da, thợ dệt và các thợ chuyên
môn khác cũng thế, đều không cho phép độ họ xuất gia khi
mang dụng cụ theo. Nếu ai độ trong trường hợp như vậy
thì phạm tội Việt tỳ ni. Ðó
gọi là dụng cụ làm việc. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy tôn giả Ưu-ba-li đi
đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu
một bên, bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói phá Tăng, thế nào là phá Tăng? -
Này Ưu-ba-li! Như đại đức Tỉ-kheo như pháp như luật khéo
hiểu nghĩa lý sâu xa thì Tỉ-kheo ấy xứng đáng được lễ
bái tôn kính tùy thuận nghe theo lời dạy. Nếu có Tỉ-kheo
nào cho rằng những lời nói của Tỉ-kheo ấy là phi pháp,
không tùy thuận thì đó là sự xích mích giữa chúng Tăng,
chứ không phải phá Tăng, cho đến khi nào Tăng trong một trú
xứ cùng tụng giới, cùng Yết-ma (thì không phải phá Tăng).
Ta đã chế định rằng nếu trong một cương giới, một trú
xứ mà Tăng Bố tát, Tự tứ, làm Yết-ma riêng thì đó gọi
là phá Tăng. -
Bạch Thế Tôn! Phá Tăng phạm tội như thế nào? -
Bị tội đọa vào địa ngục một kiếp. Ðó
gọi là phá Tăng. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy tôn giả Ưu-ba-li bạch
với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói về Tăng hòa hợp, vậy thế nào
gọi là Tăng hòa hợp? -
Ta đã chế định rằng nếu một đại đức Tỉ-kheo sống
như pháp, như luật, khéo hiểu nghĩa lý sâu xa, thì Tỉ-kheo
ấy đáng được lễ bái, tôn kính. Các Tỉ-kheo tùy thuận
chấp hành các qui định, cùng sống trong một trú xứ cùng
Bố tát, Tự tứ và thực hiện pháp Yết-ma, đó gọi là Tăng
hòa hợp. Lại
nữa, tôn giả Ưu-ba-li đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, đứng hầu một bên, rồi bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Tăng hòa hợp có những công đức gì? -
Này Ưu-ba-li! Ðược quả báo lành trong một kiếp. Ðó
gọi là Tăng hòa hợp. NĂM
TRĂM TỈ-KHEO KẾT TẬP PHÁP TẠNG. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, vua A Xà Thế con
bà Vi Ðề Hi có mối oán thù với người Tì-xá-li như trong
Kinh Ðại Bát Nê Hoàn đã nói rõ, cho đến việc đức Thế
Tôn xả thọ mạng bên tháp Phóng Cung Trượng, tại Tì-xá-li.
Thế rồi, Ngài hướng đến thành Câu Thi Na, bên dòng sông
Hi Liên Thiền, sinh quán của lực sĩ, trong rừng Kiên cố (490a)
bát nê hoàn dưới cây Song thọ. Khi sắp hỏa thiêu nơi tháp
Thiên Quan thì chư Thiên làm cho lửa không cháy để chờ tôn
giả Ðại Ca Diếp. Lúc ấy, tôn giả Ðại Ca Diếp đang ngồi
thiền trong hang Tân Bát La trên núi Kỳ Xà Quật, liền suy
nghĩ: "Thế Tôn đã xả thọ mạng, không biết muốn nhập
Niết-bàn tại nơi nào? hiện giờ ở đâu? có ít bệnh, ít
phiền não và sống an lạc không?". Suy nghĩ thế rồi, liền
nhập định, dùng thiên nhãn quan sát tất cả thế giới thì
thấy Thế Tôn đang ở thành Câu thi na, bên sông Hi liên, sinh
quán của lực sĩ trong rừng Kiên cố, giữa hai cây Song thọ,
sắp được hỏa thiêu tại tháp Thiên Quan, (cho đến) lửa
không cháy. Thấy thế, tôn giả buồn thảm không vui, lại
suy nghĩ: "Ngay lúc xá lợi của Thế Tôn chưa phân tán, ta nên
đến đảnh lễ". Ðoạn, tôn giả lại nghĩ: "Giờ đây ta
đến để viếng thân tối hậu của Thế Tôn thì không nên
dùng thần túc để đến mà nên đi bộ đến". Nghĩ thế,
tôn giả nói với các Tỉ-kheo: -
Này các trưởng lão! Ðức Thế Tôn đã Bát Nê hoàn, ai nấy
đều mang theo y bát cùng đến Câu thi na kiệt lễ viếng Thế
Tôn. Các
Tỉ-kheo nghe thế, đều đáp: -
Lành thay! Lúc
ấy, tôn giả Ðại Ca Diếp cùng với các Tỉ-kheo đi đến
Câu thi na kiệt. Trên đường đi, họ băng qua một thôn xóm.
Trong thôn này có một Tỉ-kheo già đang sống. Tôn giả Ðại
Ca Diếp liền bảo Tỉ-kheo già: -
Thầy hãy đem theo y bát đến đây, để chúng ta cùng đến
thành Câu Thi Na Kiệt lễ viếng Thế Tôn. -
Trưởng lão Ðại Ca Diếp! Ðợi ăn bữa trước, bữa sau xong
rồi chúng ta hãy đi. -
Không nên chờ ăn xong. Tỉ-kheo
già nài nỉ đến ba lần, Ðại Ca Diếp đều nói: -
Không nên chờ. Khi
ấy, Tỉ-kheo già nổi giận, nói: -
Sa-môn có việc gì mà gấp gáp, vội vàng như thế, giống
như quạ chết không đáng giá một đồng tiền. Hãy đợi
trong chốc lát ăn rồi mới đi. Tôn
giả Ðại Ca Diếp lại nói: -
Hãy để đồ ăn đó đã. Ðức Thế Tôn nay đã Nê Hoàn, chúng
ta phải đến gấp cho kịp lúc chưa hỏa thiêu. Tỉ-kheo
già nghe tin Phật đã Ban nê hoàn, liền nói với tôn giả Ðại
Ca Diếp: -
Nay ta vĩnh viễn được giải thoát. Vì sao thế? Vì vị A la
hán ấy lúc còn sống thường nói: "Việc ấy nên làm, việc
kia không nên làm". Nay đã Nê hoàn việc gì nên làm hay không
nên làm ta đều được tự do tùy ý. Khi
nghe lời nói ấy, Ðại Ca Diếp sầu thảm không vui, liền
gảy ngón tay phải, lửa phóng ra, đồng thời chân phải mím
chặt trên đất. Tỉ-kheo già thấy thế hoảng sợ, bỏ chạy.
Thế rồi, Ðại Ca Diếp đi đến chỗ Phật. Thế Tôn liền
(490b) đưa hai chân từ trong kim quan ra ngoài. Khi tôn giả Ðại
Ca Diếp thấy được chân Phật, liền trật vai áo bên phải,
cúi đầu đảnh lễ, rồi đọc kệ: Chân
Như Lai đầy đặn,
Bấy
giờ, các Tỉ-kheo bàn bạc: "Ai nên châm lửa thiêu đây?" Khi
ấy, tôn giả Ðại Ca Diếp nói: -
Tôi là trưởng tử của Thế Tôn, nên để tôi châm lửa thiêu. Thế
là đại chúng đồng thanh nói: "Tốt lắm", liền hỏa thiêu.
Khi hỏa thiêu xong, Ca Diếp nhớ lại lời nói của vị Tỉ-kheo
già ở trong thôn, cho đến: "Muốn làm thì làm, không muốn
làm thì thôi", tôn giả liền nói với các Tỉ-kheo: -
Này các trưởng lão! Vấn đề xá lợi của Thế Tôn không
phải là việc của chúng ta mà quốc vương, trưởng giả,
Bà la môn, cư sĩ, những người cầu phước tự họ sẽ lo
việc cúng dường. Việc của chúng ta trước hết là phải
kết tập pháp tạng chớ để pháp Phật sớm diệt. Mọi
người bàn: -
Chúng ta nên kết tập Pháp tạng chỗ nào? Lúc
ấy, có người bàn: "Nên đến Xá-vệ"; có người nói: "Nên
đến Sa kỳ"; có người nói: "Nên đến Chiêm Bà"; có người
nói: "Nên đến Tì-xá-li "; có người lại nói: "Nên đến
Ca Duy La Vệ". Bấy
giờ, Ðại Ca Diếp liền đề nghị: -
Nên đến thành Vương Xá kết tập pháp tạng. Vì
sao thế? Vì đức Thế Tôn đã di chúc rằng (490c): Vua
A Xà Thế con bà Vi Ðề Hi ở thành Vương Xá là bậc có tín
căn đệ nhất trong hàng Ưu bà tắc của các Thanh Văn. Vả
lại, vị vua ấy có 500 chiếc giường nằm để cung cấp,
nên đến chỗ vị ấy. Nghe
thế, tất cả đều đáp: -
Vâng. Ðức
Thế Tôn trước kia có dặn tôn giả A Na Luật rằng: "Khi Như
Lai ban Nê Hoàn ông nên giữ gìn xá lợi đừng để Chư Thiên
đem đi. Bởi vì trong thời quá khứ đức Như Lai ban Nê Hoàn,
Chư Thiên đem xá lợi đi, khiến người đời không thể đến
đó chiêm bái được, nên mất công đức. Chư Thiên có thể
đến nhân gian cúng dường, nhưng người đời không thể đến
chỗ ho, ï ngoại trừ người có thần túc; vì thế phải giữ
gìn cẩn thận". Bấy
giờ, thị giả A-nan vì bận việc cúng dường nên không đến
được. Ðại Ca Diếp cùng với 1000 Tỉ-kheo đi đến thành
Vương Xá, tới trong hang núi Sát Ðế, trải giường nệm,
trang trí tòa của Thế Tôn. Ở phía trước, bên trái tòa Thế
Tôn đặt tòa của tôn giả Xá-lợi-phất, ở bên phải đặt
tòa của tôn giả Ðại Mục Liên, kế đến đặt tòa của
Ðại Ca Diếp, cứ như vậy lần lượt theo thứ tự bài trí
giường nệm rồi chuẩn bị những nhu yếu cần thiết trong
bốn tháng. Vì mục đích kết tập pháp tạng cho nên cắt
đứt các ngoại duyên. Khi đại chúng tập hợp xong, trong số
đó có người đạt được Tam minh, Lục thông giới đức
tự tại. Trong những người này, có người trực tiếp thọ
giáo với Thế Tôn, đọc thuộc một bộ Luật; có người
theo chúng Thanh Văn đọc thuộc một bộ Luật; có người thọ
giáo trực tiếp với Thế Tôn đọc thuộc hai bộ Luật; có
người theo chúng Thanh Văn đọc thuộc hai bộ Luật. Thế rồi,
đại chúng cùng bàn bạc: -
Ở trong này nên chọn những vị đạt được Tam minh, Lục
thông, có giới đức tự tại, từng thọ giáo trực tiếp
với Thế Tôn tụng thuộc hai bộ Luật, từng theo chúng Thanh
Văn tụng thuộc hai bộ Luật. Khi
chọn lựa xong, đếm lại thì thấy thiếu hai người mới
đủ số 500, đại chúng bàn tiếp: -
Nên chọn đủ 500 người. Thế
rồi, trưởng lão A Na Luật đi đến bổ sung thêm nhưng vẫn
thiếu một người. Khi ấy, tôn giả Ðại ca Diếp làm Thượng
Tọa thứ nhất, Thượng Tọa thứ hai tên Na Ðầu Lô, Thượng
Tọa thứ ba tên Ưu Ba Na Ðầu Lô. Lúc ấy, tôn giả Ðại
Ca Diếp tự lên ngồi tòa của mình, để trống tòa của tôn
giả Xá-lợi-phất, Mục Liên và A Nan. Thế rồi, các Tỉ-kheo
lần lượt ngồi theo thứ tự. Bấy
giờ, tôn giả Ðại Ca Diếp bảo trưởng lão Lê Bà Ðề đệ
tử đồng hành của tôn giả Mục Liên: -
Ông hãy lên cõi trời Ba mươi ba gọi Tỉ-kheo Tủy Ðề Na
đến, nói rằng: "Ðức Thế Tôn đã Ban nê hoàn, Tỉ-kheo Tăng
đang tập họp định kết tập pháp tạng". Thầy
liền vâng lệnh, đi đến cõi trời Ba mươi ba, bạch: -
Thưa trưởng lão! Ðức Thế Tôn đã Ban nê hoàn, Tỉ-kheo Tăng
đang tập họp định kết tập pháp tạng nên sai tôi đến
gọi trưởng lão. Vị
Tỉ-kheo này nghe xong sầu thảm, không vui, bèn hỏi: -
Ðức Thế Tôn đã Ban nê hoàn rồi sao? -
(491a) Thưa vâng. -
Nếu đức Thế Tôn còn ở cõi Diêm phù đề thì tôi sẽ đến,
nay Thế Tôn đã Ban nê hoàn thì con mắt của thế gian đã
hoại diệt. Thầy
nói xong, dùng thần túc bay lên hư không, nhập Hỏa quang tam
muội tự thiêu thân. Vị sứ giả thấy vậy trở về, vào
giữa Tăng thuật lại đầy đủ sự việc trên, cho đến đoạn:
Nhập Hỏa quang tam muội. Thế rồi, Tăng lại sai thầy lên
cung Thi lợi sa sí, cõi trời Ba mươi ba gọi Kiều Phạm Ba
Ðề; lần lượt đến trưởng lão Thiện Kiến ở Hương Sơn;
trưởng lão Phả Ðầu Tẩy Na ở Du Hí Sơn; trưởng lão Bạt
Khư Lê ở Chiêm Ba Sơn; rồi đến trưởng lão Uất Ða La ở
Tịnh Sơn; đệ tử của tôn giả Mục Liên tên Ðại Quang
ở Quang Sơn; đệ tử của tôn giả Xá-lợi-phất tên Ma Tẩu
Lô ở Mạn Ðà Sơn; tôn giả La Ðổ ở Ma La Sơn. Các vị
ấy, khi nghe gọi đều Ban nê hoàn. Ðồng thời Tăng sai sứ
giả đến Thiên cung Tì Sa-môn gọi Tu Mật Ða. Sứ giả đến
nơi thưa: -
Thưa trưởng lão! Ðức Thế Tôn đã Ban nê hoàn, Tỉ-kheo đang
tập họp định kết tập pháp tạng, cho tôi đến gọi trưởng
lão. Vị
Tỉ-kheo ấy nghe xong sầu thảm, không vui, nói: -
Ðức Thế Tôn đã Ban nê hoàn rồi sao? -
Thưa vâng! -
Nếu Thế Tôn còn ở cõi Diêm phù đề thì tôi sẽ đến,
nay Thế Tôn đã Ban nê hoàn tức là con mắt của thế gian
đã diệt mất. Nói
xong, thầy dùng thần túc bay lên hư không, nhập Hỏa quang
tam muội, tự thiêu thân, nhập vào Niết-bàn. Bấy giờ, sứ
giả liền trở về vào giữa Tăng thuật lại đầy đủ sự
việc trên cho chư Tăng nghe. Ðại Ca Diếp liền nói: -
Này các trưởng lão! Hãy thôi, đừng gọi những người khác
nữa. Những ai nghe gọi đều tự nhập Niết-bàn, nếu cứ
gọi tiếp thì họ sẽ nhập Niết-bàn hết, như thế thì phước
điền của cõi đời này sẽ thành ra trống không. Có
một Tỉ-kheo nói: -
Thưa các trưởng lão! Tôn giả A-nan là thị giả của Phật,
từng thân cận thọ giáo. Hơn nữa đức Thế Tôn từng phú
chúc rằng A-nan có ba việc đặc biệt, nên gọi thầy đến. Ðại
Ca Diếp nói: -
Không phải vậy! Nếu như người còn đang học này vào trong
chúng Vô học có giới đức tự tại thì cũng như con chó
ghẻ vào giữa bầy sư tử. Lúc
này tôn giả A-nan sắp xếp việc cúng dường vừa xong, đi
đến một thôn, rồi thầm nhủ: "Hôm nay ta nghỉ lại đây,
ngày mai sẽ đến thành Xá-vệ". Thế rồi, có một vị trời
đến nói với A-nan: -
Ðại Ca Diếp nói rằng tôn giả là con chó ghẻ. A-nan
bèn suy nghĩ: "Ðức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn, chính lúc
này ta cần người để nương tựa, vì sao lại ví ta như con
chó ghẻ?". Nghĩ
thế nên lòng không vui, rồi thầy lại nghĩ:
"Tôn giả Ðại Ca Diếp này biết quá rõ dòng dõi tên tuổi
của ta, vì cho rằng ta chưa đoạn trừ hết kiết sử nên
mới nói như vậy". Bấy
giờ, tôn giả (491b) A-nan càng siêng năng gấp bội đi kinh
hành không biếng nhác, mong hết sạch hữu lậu nên hành đạo
cực khổ. Hơn nữa, vì Thế Tôn nê hoàn khiến thầy mang nỗi
buồn da diết trong lòng, đồng thời những gì trước đây
đã nghe và thu nhận thì chưa thấu triệt, nên lại nghĩ ngợi:
"Ðức Thế Tôn đã phú chúc rằng đối với giáo pháp này
tâm ta không phóng dật sẽ dứt sạch hữu lậu, vậy thì phải
cực khổ quá làm gì!". Thế nhưng tâm thầy vẫn không xả
định, nghiêng mình định nằm xuống, đầu chưa chấm gối
thì sạch hết hữu lậu, đạt được Tam minh Lục thông có
sức lực tự tại. Thầy liền dùng thần túc nương theo hư
không mà đi, đến ngoài cửa hang Sát đế, đọc kệ rằng: Ða
văn và biện tài,
Thế
nhưng, đại chúng vẫn chưa mở cửa cho thầy, nên thầy lại
đọc kệ tiếp: Ða
văn khéo biện tài,
Bấy
giờ, Ðại Ca Diếp liền đọc kệ: Ông
nói mình đã chứng,
A-nan
vào xong, đảnh lễ tòa của Thế Tôn, rồi tuần tự đảnh
lễ các Thượng tọa, đoạn, đến ngồi tòa của mình. Khi
ấy, Ðại Ca Diếp nói với A-nan: -
Tôi không tự cao cũng không khinh ông, chỉ vì ông cầu đạo
không tiến bộ, muốn cho ông tinh cần diệt hết các hữu
lậu cho nên mới nói lời ấy. -
Tôi cũng biết! Chỉ vì tôi chưa hết kiết sử, muốn cho tôi
tinh cần diệt hết các hữu lậu (nên tôn giả mới nói như
vậy). Lúc
ấy, tôn giả Ðại Ca Diếp liền hỏi chúng Tăng đang ngồi: -
Giờ đây nên kết tập tạng nào trước? -
Nên kết tập tạng Pháp (Kinh) trước. -
Nên cử ai kết tập? -
Nên cử trưởng lão A Nan. A-nan
liền nói: -
Không nên làm như vậy vì còn có nhiều trưởng lão Tỉ-kheo
khác. Ðại
chúng lại nói: -
Tuy có nhiều trưởng lão Tỉ-kheo khác nhưng đức Thế Tôn
đã phú chúc rằng thầy là người đa văn bậc nhất, do đó
thầy nên kết tập. -
Nếu các trưởng lão đề cử tôi kết tập thì điều gì
như pháp nên hoan hỷ, điều gì không như pháp nên ngăn cản,
điều gì không tương ưng cũng nên ngăn cản chứ đừng vì
tôn trọng tôi mà không ngăn cản. Nói chung, điều gì đúng
nghĩa, điều gì không đúng nghĩa đều xin chỉ giáo. -
Trưởng lão A-nan! Thầy chỉ cần kết tập Pháp tạng, điều
gì như pháp thì Tăng tùy hỉ, điều gì phi pháp (491c) thì
đến lúc đó sẽ biết. Lúc
ấy, tôn giả A-nan bèn suy nghĩ: "Bây giờ ta phải kết tập
pháp tạng như thế nào đây?" Suy nghĩ thế rồi, thầy liền
đọc lời Kinh: "Tôi
nghe như vầy, một thời Phật ở tại Uất Tì La, bên dòng
sông Ni Liên, nơi Bồ đề Mạn Ðà La".
Khi tôn giả A-nan vừa nói lời ấy thì 500 vị A la hán có
đức hạnh tự tại liền bay lên hư không đồng thanh khen
ngợi: -
Chúng con đã được tận mắt thấy Thế Tôn, giờ đây lại
được nghe lời dạy, rồi cùng niệm: "Nam mô Phật", đoạn
trở lại chỗ ngồi. Bây
giờ, A-nan liền đọc kệ sau đây: Siêng
tu tập thiền định,
Siêng
tu tập thiền định,
Siêng
tu tập thiền định,
Siêng
tu tập thiền định,
Tôn
giả A-nan đọc tất cả pháp tạng như vậy. Những câu văn
dài kết tập thành Trường A Hàm. Những câu văn trung bình
kết tập thành Trung A Hàm. Những câu văn linh tinh kết tập
thành Tạp A Hàm, chẳng hạn như Căn tạp, lực tạp, giáp
tạp, đạo tạp, đại loại như thế gọi là tạp. Từ một
tăng lên hai, tăng lên ba cho đến tăng lên 100, tùy theo số
loại tương tự nhau kết tập thành Tăng Nhất A Hàm. Tạp
tạng bao gồm Bích Chi Phật, A La Hán, tự thuyết, bản hạnh,
nhân duyên, các kệ tụng, đại loại như vậy gọi là Tạp
tạng. Khi
ấy, trưởng lão A-nan liền đọc kệ: -
Ðây chính là tám vạn pháp tạng,
Tiếp
đến, đại chúng hỏi: -
Ai có thể kết tập Luật tạng? Có
người nói: -
Trưởng lão Ưu-ba-li. Ưu-ba-li
liền lên tiếng: -
Không thể như vậy vì còn có những trưởng lão Tỉ-kheo khác. Có
người lại nói: -
Tuy có những trưởng lão Tỉ-kheo khác nhưng đức Thế Tôn
đã phú chúc rằng trưởng lão thành tựu 14 pháp, trừ (492a)
đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri ra thì trưởng lão là
người trì Luật bậc nhất. Ưu-ba-li
nói: -
Thưa các trưởng lão! Nếu bảo tôi kết tập Luật tạng thì
điều gì như pháp hãy tùy hỷ, điều gì không như pháp hãy
ngăn cản; nếu điều gì không tương ưng thì nên ngăn cản
chứ đừng vì tôn trọng tôi (mà bỏ qua); đồng thời điều
nào đúng nghĩa, trái nghĩa cũng đều xin chỉ giáo. Thế
rồi, tất cả đều nói: -
Trưởng lão Ưu-ba-li chỉ lo việc kết tập, điều gì như
pháp thì chúng tôi tùy hỷ, điều gì phi pháp thì lúc đó
sẽ biết. Tôn
giả Ưu-ba-li suy nghĩ: "Hôm nay ta kết tập Luật tạng như
thế nào đây? Ðối với 5 pháp thanh tịnh mà như pháp, như
Luật thì tùy hỷ, còn không như pháp như Luật thì nên bỏ
ra ngoài. 5 pháp thanh tịnh: 1-
Hạn chế tịnh.
1-
Hạn chế tịnh:
Tại trú xứ của các Tỉ-kheo đặt ra các hạn chế rằng
điều gì tương ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, không
tương ưng thì bỏ. Ðó gọi là hạn chế tịnh. 2-
Phương pháp tịnh:
Ðối với những luật pháp của quốc gia, điều gì tương
ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, không tương ưng thì
bỏ. Ðó gọi là phương pháp tịnh. 3-
Giới hạnh tịnh:
Khi ta thấy Tỉ-kheo mỗ giáp trì giới làm việc đó mà tương
ưng với bốn giáo lý cơ bản thì dùng, nếu không tương ưng
thì bỏ. Ðó gọi là giới hạnh tịnh. 4-
Trưởng lão tịnh:
Nếu ta thấy trưởng lão Tỉ-kheo, tôn giả Xá-lợi-phất,
Mục Liên làm việc đó mà tương ưng với bốn giáo lý cơ
bản thì dùng, không tương ưng thì bỏ. Ðó gọi là trưởng
lão tịnh. 5-
Phong tục tịnh:
Không được làm những việc như khi còn thế tục, chẳng
hạn ăn phi thời, uống rượu, hành dâm; tất cả những việc
như vậy hợp pháp đối với thế tục nhưng không hợp pháp
đối với người xuất gia. Ðó gọi là phong tục tịnh. Thưa
các trưởng lão! Những điều như thế nếu đúng pháp thì
xin tùy hỷ, nếu không đúng pháp thì xin lên tiếng. Bấy
giờ, các Tỉ-kheo liền đáp: -
Nếu tương ưng thì dùng, nếu không tương ưng thì lúc ấy
sẽ ngăn cản. Thế
rồi, tôn giả Ưu-ba-li nói với A-nan: -
Trưởng lão có tội, phải sám hối với chúng Tăng thanh tịnh. -
Tôi có những tội gì? -
Ðức Thế Tôn đến ba lần chế định không cho phép độ
người nữ xuất gia mà thầy xin Thế Tôn đến ba lần, thế
là phạm tội Việt tỳ ni. Khi
ấy, tôn giả Ðại Ca Diếp bèn ném một cái thẻ xuống đất,
nói: -
Ðây là thẻ thứ nhất. Tức
thì chấn động cả tam thiên đại thiên thế giới. Lại
nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li, Ngài nói: "Này
A-nan! Ta ở Ban Lạc phóng cung trượng tháp tại Tỳ Xá Li này
rất an lạc; nếu ai được bốn thần túc thì có thể kéo
dài mạng sống đến một kiếp, hoặc hơn một kiếp; nếu
Phật ở đời thì người đời sẽ được thấy", thì thầy
nói: "Như vậy đó Thế Tôn! Như vậy đó Tu Già Ðà", mà không
thỉnh Phật trụ thế nên phạm tội Việt tỳ ni. Tiếp tục
ném thẻ thứ hai. Lại
nữa, khi may y Tăng già lê cho Thế Tôn, thầy đã dùng ngón
chân phải đạp trên y, (492b) há thầy không biết rằng y Tăng
già lê này là bảo tháp mà Chư Thiên, người đời nên cúng
dường hay sao? Vì thế phạm tội Việt tỳ ni. Tiếp tục ném
thẻ thứ ba. Lại
nữa, Phật nói: "Này A-nan! Hãy đi lấy nước", nói như vậy
đến ba lần mà thầy không lấy nước cho Thế Tôn, nên phạm
tội Việt tỳ ni. Tiếp tục bỏ xuống thẻ thứ tư. Lại
nữa, Phật nói: "A Nan, khi Ta sắp nhập Niết-bàn nên nói với
Ta, Ta sẽ vì các Tỉ-kheo bỏ những giới vi tế", nhưng thầy
không bạch nên phạm tội Việt tỳ ni. Tiếp tục bỏ xuống
thẻ thứ năm. Lại
nữa, khi Phật ban nê hoàn, thầy để mã âm tàng của Phật
cho Tỉ-kheo ni xem, nên phạm tội Việt tỳ ni. Tiếp tục bỏ
xuống thẻ thứ sáu. Lại
nữa, khi Phật ban nê hoàn, các lão mẫu của lực sĩ đến
khóc khiến nước mắt nhỏ trên chân Thế Tôn, thầy là thị
giả mà không ngăn cản nên phạm tội Việt tỳ ni. Tiếp tục
bỏ xuống thẻ thứ bảy. Lúc
ấy, A-nan không nhận hai tội, nói như sau: -
Thưa trưởng lão! Chư Phật quá khứ đều có bốn chúng, vì
thế tôi thỉnh Phật độ Tỉ-kheo ni đến ba lần. Còn khi
Phật ở Tì-xá-li, ba lần báo cho biết mà tôi không thỉnh
Phật trụ thế là vì lúc ấy tôi là người còn đang học,
bị ma che mờ cho nên không thỉnh. Ở đây tôi chỉ phạm 5
tội Việt tỳ ni. Thế
rồi, trưởng lão (sám hối) đúng như pháp. Bấy
giờ, tôn giả Ưu-ba-li liền bạch với đại chúng: -
Thưa các trưởng lão! Ðây là thứ tự của 9 pháp: 1-
Ba la di.
Ðức
Thế Tôn tại mỗ xứ vì Tỉ-kheo mỗ giáp, chế những giới
này phải không? Bấy
giờ, đại chúng cùng đáp: -
Ðúng như vậy Ưu-ba-li! Ðúng như vậy Ưu-ba-li. Ưu-ba-li
tiếp: -
Trong Luật có ghi lại 5 việc sau đây: 1-
Tu đa la.
1-
Tu đa la: chỉ
cho 5 bộ Kinh. 2-
Tì ni: Tức hai
bộ Luật rộng và hẹp. 3-
Nghĩa: Ý nghĩa
của từng câu. 4-
Giáo: Bốn
giáo lý cơ bản mà đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho Sát
lợi, Bà la môn và cư sĩ. 5-
Khinh trọng: Lấy
trộm đủ 5 tiền là nặng, dưới 5 tiền là nhẹ, phạm tội
Thâu lan giá. Ðó
gọi là 5 việc mà Luật đã ghi lại. Các trưởng lão nên
học như vậy. Lại
có năm điều luật nữa là: 1-
Lược Tì ni.
1-
Lược Tì ni:
Tức 5 thiên giới. 2-
Quảng Tì ni:
Tức 2 bộ Luật. 3-
Phương diện Tì ni:
Tại Thâu nô (492c) biên địa cho phép 5 thầy được truyền
giới Tỉ-kheo. 4-
Kiên cố Tì ni:
Khi thọ y Ca hi na được bỏ 5 việc, từ biệt chúng thực
cho đến khi đi đâu không cần thưa với người cùng ăn chung
với mình. 5-
Ứng pháp Tì ni:
Trong đây Yết-ma đúng pháp và Yết-ma hòa hợp, đó gọi là
làm đúng giới luật. Còn những cách khác là phi Yết-ma (Yết-ma
phi pháp). Thưa
các trưởng lão, đến đây là kết tập Luật tạng hoàn tất. Thế
rồi, đại chúng bèn gọi 1.000 Tỉ-kheo ở ngoài vào, nói: -
Thưa các trưởng lão! Như thế này là Tạng pháp (Kinh) đã
được kết tập, như thế này là tạng Luật đã được kết
tập. Lúc
ấy, có Tỉ-kheo nói: -
Thưa các trưởng lão! Ðức Thế Tôn trước kia đã nói với
A-nan rằng Ngài muốn vì các Tỉ-kheo bỏ bớt một số giới
nhỏ nhặt, vậy bỏ những giới nào? Có
Tỉ-kheo nói: -
Nếu đức Thế Tôn muốn bỏ bớt các giới nhỏ nhặt thì
nên bỏ oai nghi. Có
Tỉ-kheo nói: -
Không những bỏ oai nghi mà nên bỏ pháp Chúng học. Có
Tỉ-kheo nói: -
Cũng nên bỏ luôn cả 4 Ba la đề đề xá ni. Có
Tỉ-kheo nói: -
Cũng nên bỏ luôn cả 92 pháp Ba-dạ-đề. Có
Tỉ-kheo nói: -
Cũng nên bỏ luôn cả 30 pháp Ni tát kì Ba-dạ-đề. Có
Tỉ-kheo nói: -
Cũng nên bỏ luôn cả 2 pháp Bất định. Khi
ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo liền nói: -
Thưa các trưởng lão! Nếu như Thế Tôn còn tại thế thì
nên bỏ hết tất cả. Ðại
Ca Diếp oai nghi nghiêm chỉnh giống như Thế Tôn, liền nói
như sau: -
Ôi! Ôi! Ðừng nói lời ấy. Tức
thời tất cả đại chúng đều im lặng. Ðại Ca Diếp liền
tiếp: -
Này các trưởng lão! Nếu đã chế định rồi lại mở ra
thì sẽ khiến cho người ngoài nói: "Khi Cù Ðàm còn ở đời
nghi pháp hưng thịnh, ngày nay đã Nê hoàn, giáo pháp suy đồi".
Thưa các trưởng lão! Những gì chưa chế thì đừng chế thêm
nữa, những gì đã chế thì chúng ta nên tùy thuận học tập. -
Thế nhưng các pháp này được nghe từ ai? -
Ðược nghe từ tôn giả Ðạo Lực về Luật, Luận, Tạp A
Hàm, Tăng Nhất A hàm, Trung A Hàm, Trường A Hàm. -
Thế thì Ðạo Lực nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Phất Sa Bà Ðà La. -
Tôn giả Phất Sa Bà Ðà La nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Pháp Thắng. -
Pháp Thắng nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Tăng Già Ðề Bà. -
Tăng Già Ðề Bà nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Long Giác. -
Long Giác nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Pháp Tiền. -
Pháp Tiền nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Ðề Na Già. -
Ðề Na Già nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Pháp Hộ. -
Pháp Hộ nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Kỳ Bà Già. -
Kỳ Bà Già nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Phất Ðề La. -
Phất Ðề La nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Da Xá. -
Da Xá nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Sai Ðà. -
Sai Ðà nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Hộ Mạng. -
Hộ Mạng nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Thiện Hộ. -
Thiện Hộ nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả (493a) Ngưu Hộ. -
Ngưu Hộ nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Cự Xá La. -
Cự Xá La nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Ma Cầu Ða. -
Ma Cầu Ða nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Ma Ha Na. -
Ma Ha Na nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Năng Hộ. -
Năng Hộ nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Mục Ða. -
Mục Ða nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Cự Hê. -
Cự Hê nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Pháp Cao. -
Pháp Cao nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Căn Hộ. -
Căn Hộ nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Kỳ Ða. -
Kỳ Ða nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Thọ Ðề Ðà Bà. -
Thọ Ðề Ðà Bà nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Ðà Bà Ba La. -
Ðà Bà Ba La nghe từ ai? -
Nghe từ tôn giả Ưu-ba-li. -
Ưu-ba-li nghe từ ai? -
Nghe từ Phật. -
Phật nghe từ ai? -
Ngài tự giác ngộ không có thầy, cũng không nghe từ ai cả.
Phật có vô lượng trí tuệ, vì lợi ích cho chúng sinh nên
Ngài trao truyền cho Ưu-ba-li. Ưu-ba-li trao cho Ðà Bà Ba La. Ðà
Bà Ba La trao cho Thọ Ðề Ðà Bà. Thọ Ðề Ðà Bà lần lượt
trao xuống tôn giả Ðạo Lực, rồi Ðạo Lực trao cho tôi
và những người khác. Kệ
tóm tắt: "Chúng
ta nhờ thầy dạy,
Ðó
gọi là 500 Tỉ-kheo kết tập pháp tạng. LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ ba mươi hai.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||