THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
x
Quyển Thứ Ba Mươi Mốt

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ CHÍN

NẤU ĂN Ở CHỖ NGỦ VÀ TỰ NẤU ĂN.

Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã được Chư Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, nhà bếp được làm trong Tăng viện, nước vo gạo và nước bẩn rửa chén chảy ra ngoài đường hẻm, bị người đời chê trách: 

- Vì sao chỗ ở và nhà bếp của Sa-môn Thích tử không cách biệt nhau?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo:

- Các ông thật đáng bị người đời chê trách. Từ nay Ta không cho phép làm nhà bếp ở trong chỗ ở để rồi nước vo gạo chảy ra bên ngoài. Phép làm nhà bếp không nên làm ở phương Ðông, phương Bắc mà nên làm tại phương Nam, phương Tây. Nếu Tỉ-kheo làm nhà bếp ở bên trong, để cho nước vo gạo chảy ra bên ngoài thì phạm tội Việt tỳ ni.

Lại nữa, khi Phật du hành tại nước Câu Tát La, đến thôn Bà la môn Ha Ðế, như sự kiện cháo ở trên đã nói rõ, cho đến Phật không cho phép nấu ăn ở tại chỗ ngủ.

Lại nữa, khi Phật du hành nước Câu tát la đến thôn Bà la môn Cố Thạch. Khi ấy có một ông già hớt tóc cả hai cha con xuất gia, nghe Phật đến định nấu cháo, như sự kiện cháo ở trên đã nói rõ, cho đến Phật không cho phép nấu ăn nơi chỗ ngủ và tự nấu ăn.

Lại nữa, khi Phật du hành đến nước Ương Cầu Ða La. Lúc ấy Phạm chí Chi Ni Da Loa Kế nghe Thế Tôn đến, bèn làm phòng Tăng, nhà bếp, rồi sai người đến mời Phật. Phật bèn bảo Ưu-ba-li:

- Ông hãy đến sớm nơi đó nhận lấy nhà nấu ăn cho Tăng, chớ để quá lúc đầu đêm, nếu để quá tức gọi là chỗ ở của Tăng, không được dùng làm nhà bếp.

Khi ấy, Ưu-ba-li bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Ðược làm nhà bếp có mái lợp riêng biệt ra không?

- Ðược.

- Bạch Thế Tôn! Hợp chung hai phòng có mái lợp riêng được không?

- Ðược.

- Hợp chung hai phòng cùng một mái lợp được không?

- Ðược.

- Ðược dùng hai chỗ riêng có mái lợp riêng được không?

- Ðược.

- Ðược dùng một bên, hai bên, ba bên, tất cả đều riêng được không?

- Ðược.

- Cách con đường được không?

- Ðược.

- Dùng trên gác, dưới gác làm được không?

- Ðược. Hoặc gốc cây (477b) ở tịnh địa, còn cành lá ở chỗ đất bất tịnh; hoặc gốc cây ở chỗ đất bất tịnh, còn cành lá ở chỗ tịnh địa; hoặc gốc cây và cành lá đều ở chỗ đất bất tịnh; hoặc gốc cây và cành lá đều ở chỗ tịnh địa.

Một chỗ được lợp riêng biệt: Tăng được dùng chỗ này làm nhà bếp, như vậy cho đến phòng riêng biệt được lợp riêng biệt, Tăng đều được dùng làm nhà bếp. Cũng như một bên, hai bên, ba bên, tất cả đều được làm nhà bếp.

Cách con đường: Hai bên đường thanh tịnh (hợp lệ), ở giữa không thanh tịnh, nếu để bình sữa.v.v... ở giữa đường, nên xoi thủng hai đầu để sữa chảy vào tịnh địa (chỗ hợp lệ) thì được phép lấy dùng. Nếu cái bao đựng lúa, bột, đậu để ngay giữa đường thì được mở hai đầu để lấy. Nếu cải, hành, mía để ở giữa đường thì được cắt lấy dùng, vẫn hợp lệ.

Trên gác, dưới gác: Trên gác và dưới gác đều được dùng làm nhà bếp.

Gốc cây ở tịnh địa, cành lá ở chỗ bất tịnh: Nếu gốc cây mọc ở tịnh địa, còn cành lá ở chỗ bất tịnh, mà trái rụng xuống đất, thì ngay khi ấy nên lấy đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không lấy để qua khỏi đầu đêm thì thành ra bất tịnh. (không hợp lệ).

Gốc cây ở chỗ đất bất tịnh, cành lá ở chỗ đất thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất bất tịnh, cành lá phủ ra chỗ đất thanh tịnh, nếu quả rơi xuống đất tức là thanh tịnh, tùy lúc muốn lấy cứ lấy.

Cả hai đều không thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất bất tịnh, cành lá cũng phủ ra chỗ đất bất tịnh, khi quả rơi nên nhặt đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không lấy ngay khi ấy để qua khỏi đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Cả hai đều thanh tịnh: Cây mọc ở chỗ đất thanh tịnh, cành lá cũng phủ ra chỗ đất thanh tịnh, khi quả rơi tức là thanh tịnh, tùy lúc muốn lấy thì lấy. Ðó gọi là cả hai đều thanh tịnh.

Củ cải, hành, rau mọc ở chỗ đất không thanh tịnh, nếu muốn hái nên hái đúng lúc rồi đem cất vào trong nhà bếp; nếu không hái đúng lúc để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Nếu bọn trộm đến hái trộm rau quả, bị phát giác, chúng hoảng sợ bỏ rau quả chạy thoát thân mà ta cần thì lấy liền rồi đem cất trong nhà bếp. Nếu nói rằng để sáng mai mới lấy, thì đến khi qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh. Nếu không hay khi chúng bỏ lại, hoặc sớm hoặc muộn mới trông thấy, thì nên lấy đem cất trong nhà bếp. Nếu không lấy để qua quá đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Nếu dưa, bầu mọc ở chỗ đất bất tịnh, thì khi hái nên đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không đem cất để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Tại trú xứ của Tăng nếu có đàn việt đem cho thóc, mà thóc bị đổ ra chỗ đất bất tịnh, thì nên hốt ngay khi ấy rồi đem cất vào trong nhà bếp. Nếu không hốt để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh.

Nếu bạch y đem bánh bún, lương khô đến tinh xá xin ở lại trong đêm; (477c) đến sáng hôm sau khi ra đi, đem cho Tỉ-kheo, tức là thanh tịnh. Nếu Tỉ-kheo suy nghĩ rằng: "Ngày mai khi họ đi, ắt hẳn sẽ đem cho ta", thì khi họ đem cho được xem là không thanh tịnh. Nếu họ đem rau quả đến xin ở lại cũng vậy. Nếu họ chở lúa gạo đến, cất đầy kho nhà bếp, số còn lại hoặc để trong giảng đường, trong nhà sưởi, trong nhà che giếng, trong nhà chất củi ở ngoài sân, nếu là chỗ đất bất tịnh, thì đầu, giữa, cuối đêm tùy lúc đổâ xong dời đi liền. Nếu không dời đi, để qua khỏi đầu đêm, tức là không thanh tịnh.

Nếu muốn xây dựng chỗ ở mới thì Tỉ-kheo doanh sự nên dùng dây đo đạt rồi qui định rằng chỗ ấy làm nhà bếp cho Tăng, chỗ ấy làm nơi ở cho Tăng, nên nói như sau: "Trong đây, chỗ này làm nhà bếp cho Tăng", rồi sử dụng. Nếu không sử dụng để qua khỏi đầu đêm tức là không thanh tịnh. Tùy theo mức độ cần thiết mà qui định nhà bếp; khi qui định nhà bếp xong rồi mới qui định chỗ ở, phòng sưởi, giảng đường, nhà ngõ, nhà tắm, nhà để củi, nhà che giếng. 

Nếu đàn việt nói: 

- Không nên qui định trước, nên đợi khi làm xong, thiết lễ trai phạn cho Tăng, rồi Tăng tùy ý mà qui định", thì khi làm xong, Tăng nên nói như sau: "Tăng dùng gác dưới, gác giữa và gác trên làm nhà bếp (khi đã qui định rồi tức thành nhà bếp đồng thời ở cũng được)". Nếu vẫn chưa sử dụng, thì khi trong nước loạn lạc, hoặc vua chưa lên ngôi sử dụng cũng được. Hoặc là lúc vị vua cũ băng hà, vị vua mới chưa lên ngôi sử dụng cũng được. Nếu vẫn chưa sử dụng mà trú xứ xóm làng bị hoang phế đến hai năm sử dụng cũng được. Ở đây, hoặc xóm làng hoang phế, không phải trú xứ bị hoang phế, hoặc trú xứ hoang phế, không phải xóm làng hoang phế, hoặc xóm làng hoang phế, trú xứ cũng hoang phế; hoặc không phải xóm làng hoang phế, không phải trú xứ hoang phế. Nếu có những thức ăn được cất ở đây mà không qui định tức là không thanh tịnh. 

Ðó gọi là nấu ăn ngay chỗ ngủ.

Tự nấu ăn: Tỉ-kheo không được tự nấu ăn. Nếu bệnh thì nên sai tịnh nhân nấu, nếu không có tịnh nhân mà có nồi đồng sạch không dính dầu mỡ thì nên rửa sạch, rồi tự đốt lửa đun sôi, đoạn, bảo tịnh nhân bỏ gạo vào. Sau khi đã bỏ gạo vào, Tỉ-kheo không được tự chụm lửa mà nên sai tịnh nhân chụm. Ðến khi nồi sôi mà tịnh nhân muốn đi đâu, thì Tỉ-kheo được tiếp tục chụm cho chín, song, phải cẩn thận đừng để những vật không cần dùng rơi vào trong đó. Khi nấu thịt cho săn lại, nấu rau cho sầu đi cũng như vậy; khi đã nhận được rồi có thể tự nấu cho chín. Sau cùng, khi nấu nước gừng cũng không được tự nấu mà phải bảo tịnh nhân nấu. Nếu khất thực, thức ăn bị nguội thì được hâm lại cho nóng, không có tội. Nếu tịnh nhân bị ốm thì nên sai tịnh nhân khác nấu cháo đưa cho. Nếu không có tịnh nhân thì khi vo gạo sạch rồi được tự nấu. Nếu có cháo để dành, không được đem ăn.

Ðó gọi là nấu ăn tại chỗ ngủ và tự nấu ăn.

(478a) 

NHẬN THỊT SỐNG.

Khi Phật ở nơi khoáng dã, lúc ấy nhóm sáu Tỉ-kheo cầm thịt khúc, cá sống, bị người đời chê trách rằng:

- Vì sao Sa-môn không chịu đi khất thực lại cầm thịt khúc, cá sống mà đi? Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi:

- Các ông có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Này các Tỉ-kheo! Từ nay về sau, ta không cho phép nhận thịt sống. Nếu Tỉ-kheo bị bệnh thì được sai tịnh nhân nấu thịt cho săn lại, rồi nhận lấy, đoạn tiếp tục nấu cho đến khi chín. Nếu Tỉ-kheo đi kinh hành, ngồi thiền trong rừng, rồi thấy dưới gốc cây có thịt con chương, con nai còn sót lại, khi ấy, mình thấy cần, thì không được lấy mà nên báo cho tịnh nhân biết. Nếu mình tự lấy thì không được tự ăn, mà nên cho người làm vườn hoặc là Sa di. Nếu thấy thịt do chim ưng để lại cũng như vậy. Tỉ-kheo khi đi khất thực, nếu được thịt khô đã nướng chín thì được nhận lấy. Có loài chúng sinh tên Câu Da không có ruột, nuốt thịt cục vào rồi nhả ra, nếu cần thì Tỉ-kheo được phép lấy. Nhưng không được lấy thóc sống như các loại: thóc gạo trắng, thóc gạo đỏ, đại mạch, tiểu mạch; tất cả đều không được lấy. Nếu trên thân sinh ung nhọt, sảy, cần tiểu mạch để bôi, thì nên sai tịnh nhân đem rửa sạch, rồi tự tay mình lấy đi nghiền nát để bôi lên mụt nhọt, nhưng không được phép ăn. Nếu trong nhà bếp có lúa tẻ, lúa mạch đã xay rồi mà Tỉ-kheo thấy cần thì được phép lấy, nhưng không được ăn. Nếu đậu mông cụ, đậu ma sa, đậu lớn, đậu nhỏ, các loại tương tự như thế, khi Tỉ-kheo thấy cần thì được dùng.

Ðó gọi là nhận (thịt sống) và thóc.

TỰ LẤY RỒI LÀM SẠCH VỎ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, vua Ba Tư Nặc có vườn Am Bạt La ra trái sum xuê. Vua hỏi người giữ vườn:

- Các Tỉ-kheo có thường đến ăn trái cây không?

- Ðại vương không mời thì làm sao mà đến ăn?

- Ngươi hãy đến mời các Tỉ-kheo đến ăn trái cây.

Người giữ vườn liền đến chỗ các Tỉ-kheo, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quì gối, chắp tay bạch rằng:

- Ðức vua mời chư Tăng đến ăn trái cây.

Các Tỉ-kheo bèn đi đến vườn ấy ăn trái cây, lớp ăn lớp bỏ ngổn ngang dưới đất, lại còn lấy đem về. Vì vậy người giữ vườn không thể dâng trái cây cho vua, vua hỏi:

- Vì sao ngươi không đưa trái cây đến?

Người giữ vườn bèn đem sự việc trên tâu đầy đủ lên nhà vua. Vua nghe thế trong lòng không vui, bèn trách:

- Các Tỉ-kheo chỉ nên ăn trái cây, vì sao hái vứt xuống đất lại còn đem cho người khác?

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo (478b) ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi lại đầy đủ sự việc trên:

- Ông có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

- Ông chỉ cần ăn quả, vì sao lại hái vứt xuống đất rồi mang về để làm gì?

- Bạch Thế Tôn! Con đem về cất để ăn.

- Vì sao ông lại lấy về đem cất để mà ăn? Từ nay về sau, Ta không cho phép ăn trái cây Am Bạt La.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá trong vườn Am Bạt La của đồng tử Kỳ Cựu. Lúc ấy, đồng tử Kỳ Cựu hỏi người làm vườn:

- Các Tỉ-kheo có ăn trái cây Am Bạt La không?

- Ðức Thế Tôn không cho phép.

Ðồng tử Kỳ Cựu nghe thế đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên, bạch với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Am Bạt La là trái cây đương mùa, xin Thế Tôn cho phép các Tỉ-kheo được ăn nó.

- Từ nay Ta cho phép được làm sạch vỏ trái cây rồi ăn.

Các Tỉ-kheo bèn sai tịnh nhân gọt sạch vỏ trái cây mà ăn, bị tịnh nhân oán trách:

- Ăn luôn cả vỏ cũng được, vì sao lại sai ta gọt sạch vỏ làm chi?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

- Không cần phải gọt hết vỏ, chỉ cần dùng móng tay cạo sạch vỏ rồi ăn; nhưng không được tự lấy rồi ăn, mà trước hết nên sai tịnh nhân dùng móng tay cạo sạch rồi mới ăn. 

Nếu Tỉ-kheo đang đi trong vườn cây, thấy trái rơi xuống đất, mà mình cần, thì nên sai tịnh nhân lấy. 

Nếu tự lấy thì không được tự ăn, mà nên cho người làm vườn, hoặc Sa di. Nếu trái cây chín, rơi xuống đất vỡ ra, thì được xem là đã làm sạch vỏ, có thể lấy cạy hạt ra rồi ăn. 

Nếu trái cây bị chim mổ, hoặc bị đụng nhằm vật gì mà nứt ra, dù nhỏ như dấu chân muỗi, thì được xem là đã làm sạch vỏ, được phép cạy hạt bỏ rồi ăn. 

Nếu muốn ăn hạt, phải đem rang chín thì được phép ăn. 

Nếu lột vỏ sạch, không rang chín mà ăn cả hạt, thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Nếu rang chín, không lột vỏ sạch, thì được phép ăn cả vỏ và hạt. 

Nếu không rang chín, không lột vỏ sạch mà ăn, thì phạm một tội Ba-dạ-đề, một tội Việt tỳ ni. 

Nếu làm cả hai việc thì không có tội. Ðó gọi là tự lấy rồi làm sạch vỏ để ăn.

Kệ tóm tắt:

Tì ni, xử đoán việc, 
Chướng ngại, chẳng chướng ngại
Tỉ-kheo ni, tự nấu, 
Nấu ăn nơi chỗ ngủ.
Nhận thịt sống và thóc, 
Tự lấy, sau đem dùng
Gọt vỏ và rang chín, 
Kết thúc phẩm thứ sáu.

VẬT NẶNG.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đem bán giường nệm của chúng Tăng, hoặc cho người khác mượn, hoặc đem về dùng riêng. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên (478c) Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Tỉ-kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật hỏi:

- Ông có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn! 

- Từ nay Ta không cho phép Tỉ-kheo đem bán giường nệm của Tăng, hoặc cho người mượn, hoặc lấy dùng riêng. Nếu khi Tăng tập họp tất cả cũng không được phép bán, cho người mượn, hoặc đem dùng riêng. Nếu ai đem bán, cho người mượn hay dùng riêng thì phạm tội Việt tỳ ni.

Thế nào gọi là vật nặng? - Chẳng hạn như giường nệm, đồ bằng sắt, đồ sành, đồ gỗ, đồ bằng tre, như trong giới ăn trộm đã nói rõ. Ðó gọi là những vật nặng.

Nếu đàn việt đem cúng dường cho Tăng giường nệm, câu chấp, thảm, gối xếp, đai thắt lưng, dao con, muổng, lọng, quạt, giày da, ống đựng kim, nhiếp cắt móng tay, bình tưới nước thì trong số này các vật nặng như giường nệm, câu chấp, thắt lưng, gối xếp, thảm nên nhập vào vật của Tăng tứ phương, ngoài ra những vật nhẹ khác đem chia. Nếu đàn việt nói: "Nên đem chia tất cả", thì theo ý của đàn việt đem chia. Nếu họ nói: "Tất cả đều cúng dường cho Tăng tứ phương", thì không được chia.

Nếu trong lúc Tỉ-kheo đang đi trên đường, rồi người thế tục trông thấy sinh tâm hoan hỷ, đem các vật linh tinh bố thí cho Tỉ-kheo, mà trong đó có những vật nặng, thì nên đem cho tinh xá nào ở gần đường bằng cách bảo đàn việt mang các giường nệm ấy cho Tỉ-kheo ở tinh xá mỗ. Nếu họ nói: "Tôi đã quyết ý bố thí cho thầy, còn hỏi tôi làm chi nữa?", thì Tỉ-kheo nói: "Cũng có thể để ở đây cung cấp cho khách Tăng sẽ được nhiều công đức". Họ nói: "Không thể được! Tôi đã quyết ý rồi", thì nên nói: "Này lão trượng! Ðây là vật nặng khó mà đem đi, có thể bán ở đây rồi lấy tiền đến đó mua cái khác được không?". Nếu đáp: "Tùy ý tôn giả!", thì được bán lấy tiền mang đến đó, hễ tiền giường thì mua giường, tiền nệm thì mua nệm; cũng thế, tất cả mọi thứ khác tùy nghi mà bán rồi mua. Nếu họ nói: "Tất cả đều chia", thì phải tùy theo ý thí chủ mà chia. Nếu họ nói: "Tất cả đều bố thí cho Tăng tứ phương", thì không nên chia.

Khi thí chủ mời có hai trường hợp:

- Một là theo thứ lớp của Tăng.
- Hai là mời riêng cá nhân.

Nếu nơi nào Tăng được các phẩm vật bố thí theo thứ tự của Tăng, thì phải nhập vào cho Tăng. Nếu họ mời riêng mà nhận được vật, thì được phép dùng riêng. Nếu giường nệm nhiều mà nồi chảo ít thì nên nói cho đàn việt biết, rồi bán bớt giường nệm mua nồi chảo; hoặc nồi chảo nhiều thì đem bán bớt để mua giường nệm, cũng như vậy. Nếu có đồ đựng bằng kim loại bị vỡ bể thì được đem nấu chảy đúc cái mới lớn hơn. Ðó gọi là những vật nặng.

VẬT VÔ THƯỜNG (CỦA NGƯỜI CHẾT).

Khi Phật an trú tại Khoáng Dã thì tôn giả A Nhã Kiều Trần Như đang ở tại Cự Ma Ðế. Ðến giờ khất thực, Kiều Trần Như khoác y, cầm bát vào thôn khất thực. Khi đã được thức ăn, thầy bèn đến nhà một người chăn nuôi, chồng tên là Cừ Ni, vợ tên là Thi Bà Li để thọ trai. Bà vợ có lòng tin hoan hỷ, thường cung cấp sữa tươi, sữa chua, sữa đóng váng cho thầy. (479a) Khi uống xong thầy liền trở về trú xứ, rồi suy nghĩ: "Dùng cái khí cụ (cái thân) thống khổ này sống lâu ở đời để làm gì? Ta chán ngán thân này quá". Thế rồi, thầy đem y bát để tại một chỗ dưới gốc cây trong rừng, nằm gối đầu trên một hòn đá tròn hình con voi, nghiêng về hông bên phải, tâm bất loạn, nhập Vô Dư Niết-bàn. Thi Bà Li biết thời giờ thầy sắp đến, bèn dọn giường ghế, quét tước, bày biện sữa nước ra bàn chờ đợi. Thế nhưng, đã quá giờ mà không thấy đến, Thi Bà Li suy nghĩ: "Sư phụ ngày nào cũng đến, bữa nay vì sao không đến? Hay là bị ốm chăng? Hoặc là bị ác trùng sát hại?". Ðoạn, bà liền đến xem thì thấy thầy đang nằm dưới gốc cây, suy nghĩ: "Sư phụ vẫn còn đang ngủ", rồi đứng im lặng lắng nghe. Nhưng không nghe hơi thở, bà dùng tay đặt nơi trái tim thì thấy thân thể đã lạnh ngắt, liền thầm nhủ: "Kỳ thay! Ðã qua đời rồi, ta phải cúng dường xá lợi!". Nghĩ thế, bà trở về nhà bảo chồng lấy búa chặt những cây củi tốt chất thành đóng rồi hỏa thiêu nhục thân của thầy. Thế rồi, họ đứng một bên nhìn xem, thì thấy có bốn con chim nhiều màu sắc khác thường từ bốn phương bay đến. Thân chim bỗng dưng biến thành màu trắng rồi bay đi. Lúc ấy, người chồng là Cừ Ni đứng đó tỏ vẻ đau khổ, không vui, suy nghĩ như sau: "Y bát của Tỉ-kheo này phải đem nạp cho vua vì phép vua rất khó, sợ rằng sẽ đòi những thứ khác nữa". Ðoạn, ông mang y bát đi đến nhà vua, tâu:

- Y bát này là của Tỉ-kheo Kiều Trần Như đã qua đời, tôi xin nạp cho đại vương!

Vua bèn định giá y bát ấy là năm tiền. Viên quan đoán sự nói:

- Vị Sa-môn này đã qua đời, y bát nên đưa về cho Tỉ-kheo.

Thế là người ấy mang về bạch với Tăng:

- Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như đã qua đời có y bát này còn để lại.

Các Tỉ-kheo thấy thế biết là y bát của thầy, liền hỏi:

- Ông có thấy điều gì khác nữa không?

- Có thấy! Khi tôi hỏa thiêu, thấy bốn con chim có nhiều màu sắc khác thường...

Bấy giờ, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi Ngài:

- Việc ấy là thế nào, bạch Thế Tôn!

- Ðó là bốn thiên ma muốn đến xem thần thức, nhưng không thấy nên họ hóa thành màu trắng mà bay đi.

- Y bát này nên thuộc về ai, bạch Thế Tôn!

- Ðương nhiên thuộc về Tăng.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có thầy Tỉ-kheo bệnh nói với vị Tỉ-kheo khác:

- Trưởng lão chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát.

Thế rồi, thầy Tỉ-kheo bệnh qua đời, các Tỉ-kheo tập họp định chia y bát của thầy thì vị Tỉ-kheo nuôi bệnh liền nói:

- Thầy Tỉ-kheo bệnh này lúc còn sống nói với tôi rằng: "Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho thầy y bát".

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền hỏi:

- Ðã cho chưa?

- Chưa cho, bạch Thế Tôn! 

- Chưa cho mà đã qua đời, phạm tội Việt tỳ ni. Còn người nuôi bệnh đương nhiên không được lấy.

(479b) Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có thầy Tỉ-kheo bệnh nói với vị Tỉ-kheo khác: "Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát", bèn cho y bát. Khi được rồi, vị ấy chưa tác tịnh mà đem để lại bên cạnh người bệnh. Thế rồi, Tỉ-kheo bệnh qua đời; đoạn các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi:

- Việc ấy phải làm thế nào, bạch Thế Tôn! 

- Ðã tác tịnh hay chưa?

- Chưa, bạch Thế Tôn!

- Người kia không được nhận!

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, có Tỉ-kheo bệnh nói với Tỉ-kheo khác:

- Hãy chăm sóc giúp tôi, tôi sẽ cho trưởng lão y bát.

Thầy liền lấy cho. Khi được rồi, vị ấy tác tịnh, rồi đem để lại bên cạnh Tỉ-kheo bệnh, cho đến Phật hỏi:

- Ðã tác tịnh chưa?

- Tác tịnh rồi, bạch Thế Tôn!

- Người ấy đáng được nhận.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có Sa di qua đời, các Tỉ-kheo bèn hỏi Phật:

- Các y bát vật dụng này thuộc về ai bạch Thế Tôn! 

- Thuộc về Hòa Thượng.

Lại có trường hợp Tỉ-kheo nuôi bệnh thốt lời oán hận như sau:

- Tôi nuôi bệnh bất kể nóng lạnh, làm bao việc cực nhọc, đi tìm xin thuốc thang cho đến việc đi đổ bô đại tiểu, sự thật là như vậy thì ai đáng nhận được, chẳng lẽ chúng Tăng được sao?

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:

- Tỉ-kheo nuôi bệnh kham khổ, nên cho ba y, bát, bồn chứa và những thuốc men còn lại.

Bấy giờ, tôn giả Ưu-ba-li biết đúng lúc, hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo bệnh được di chúc vật cho người khác không?

- Ðược.

- Ðược di chúc cho thuốc men không?

- Ðược. Hoặc di chúc rằng: "Nếu không khỏi bệnh thì tôi sẽ cho, nếu bệnh qua khỏi thì không cho". Hoặc di chúc: "Tôi đi đến thôn xóm ấy, nếu đi không tới thì sẽ cho. Nếu đi đến đó tức là khỏi cho". 

Hoặc di chúc: "Tôi ra đi lần này nếu mà qua đời thì sẽ cho, nếu trở về thì khỏi cho".

Hoặc di chúc dứt khoát: "Dù sống hay chết thì lòng tôi cũng đã dứt khoát cho", thì nên cho. Nếu di chúc cho nhiều người thì người sau cùng sẽ được. 

Nếu cho nhiều người thì người hiện diện sẽ được.

Khi Tỉ-kheo qua đời hay nhập Niết-bàn, không nên đóng cửa liền. Nếu vị ấy có đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ trì giới, đáng tin thì nên giao ổ khóa cho họ. Nếu họ không đáng tin thì nên giao ổ khóa cho thầy tri sự, đợi đến khi cúng dường xá lợi, lo việc ma chay xong mới đem y vật của vị ấy ra. Nếu đệ tử đồng hành, đệ tử y chỉ của vị ấy trì giới, đáng tin, thì nên bảo họ đem ra. Nếu họ không đáng tin thì nên bảo thầy tri sự đem ra. Nếu có một Tỉ-kheo nào đó, nói: "Y bát của tôi cũng có trong này", thì phải quan sát. Nếu người ấy trì giới (479c) đáng tin thì nên đưa. Nếu không đáng tin thì không nên đưa. Nếu có người đáng tin làm chứng, thì nên đưa trước rồi Tăng mới nhận sau. 

Nhận lấy có ba cách: làm Yết-ma rồi nhận; chia phần rồi nhận; trao đổi cho nhau mà nhận.

Làm Yết-ma rồi trao: Người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, những y bát và các tạp vật khác của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng hiện diện làm Yết-ma cho Tỉ-kheo mỗ giáp. Ðây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, các y bát và những vật dụng khác của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nay Tăng hiện diện đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp. Các đại đức nào bằng lòng đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp thì im lặng; ai không bằng lòng hãy nói.

Tăng đã bằng lòng đem y bát và các tạp vật khác trao cho Tỉ-kheo mỗ giáp xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.

Ðó gọi là làm Yết-ma rồi trao.

Chia phần rồi trao: Khi chia phần xong liền tuyên bố rằng:

- Mỗi người hãy tự lấy phần mình.

Ðó gọi là chia phần rồi trao.

Trao đổi nhau mà nhận phần: Trao đổi lẫn nhau (giữa người này và người khác), đó gọi là trao đổi nhau mà nhận phần.

Nếu có bốn Tỉ-kheo ở trong thôn mà một người qua đời, thì ba Tỉ-kheo còn lại nên chia nhau, nói như sau:

- Thưa các trưởng lão! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa Niết-bàn, có các y bát và tạp vật khác này nên chia cho Tăng hiện diện, nhưng nơi này không có Tăng (không đủ bốn Tỉ-kheo), chúng ta hiện diện nên chia nhau.

Nếu trú xứ có ba Tỉ-kheo mà một người qua đời thì hai Tỉ-kheo còn lại nên chia nhau, nói như sau: "... Nơi này không có Tăng, chúng ta hiện diện sẽ được".

Nếu trú xứ có hai Tỉ-kheo mà một người qua đời thì Tỉ-kheo còn lại được nhận, bằng cách tâm nghĩ, miệng nói:

- Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, có y bát này nên chia cho Tăng hiện diện, nhưng ở đây không có Tăng, vậy tôi hiện diện được quyền nhận.

Nếu muốn cho vật dụng cho Tỉ-kheo nuôi bệnh, nên điểm danh để biết số người nhiều ít. Sau khi đã biết, nên đem y bát và thuốc men còn lại của người mất cho họ. Người làm Yết-ma nên nói:

- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỉ-kheo mỗ giáp vừa qua đời, vừa nhập Niết-bàn, y bát của thầy nên chia cho Tăng hiện diện. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng đem y bát và thuốc men còn lại này cho Tỉ-kheo nuôi bệnh là mỗ giáp. Ðây là lời tác bạch.

Rồi một lần làm Yết-ma cho đến: - Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo nuôi bệnh là mỗ giáp y bát và (480a) thuốc men còn lại xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Trong trường hợp nào người nuôi bệnh được nhận phần, trường hợp nào không được nhận phần?

Trường hợp không được nhận: Gồm có: Làm tạm thời không được nhận; bị sai làm không được nhận; làm vì thích phước đức không được nhận; làm vì tà mạng không được nhận.

Làm tạm thời: Làm tạm thời chứ không phải làm chính thức, đó gọi là làm tạm thời.

Bị sai làm: Tăng theo thứ tự sai làm thì gọi là sai làm.

Làm vì thích phước đức: Vì mong muốn được phước đức mà nuôi bệnh, đó gọi là thích phước đức.

Tà mạng: Vì hy vọng (được phẩm vật) mà nuôi bệnh, đó gọi là tà mạng.

Trường hợp đáng được: Phật dạy: 

- Vì muốn được lợi ích (cho người bệnh), ít nhất là đốt một ngọn đèn. Vì muốn cho người bệnh được bình phục thì đáng được nhận phần.

Khi làm Yết-ma xong, nên phán đoán bóng mặt trời. Nếu có Tỉ-kheo khách đến thì phải biết là trước lúc Yết-ma hay sau lúc Yết-ma; hoặc gặp lúc chết mà không gặp lúc Yết-ma; hoặc gặp lúc Yết-ma mà không gặp lúc chết; hoặc vừa gặp lúc chết, vừa gặp lúc Yết-ma; hoặc không gặp lúc chết, cũng không gặp lúc Yết-ma.

Trong đây, gặp lúc Yết-ma, không gặp lúc chết, vừa gặp lúc chết, vừa gặp lúc Yết-ma thì được nhận phần. Trường hợp gặp lúc chết, không gặp lúc Yết-ma ; vừa không gặp lúc chết, vừa không gặp lúc Yết-ma thì không được nhận phần. Nhưng nếu đi tìm thuốc cho người bệnh, hoặc vì việc của tháp, của chúng Tăng mà đi vắng thì nên cho phần.

Ðó là cách xử lý vật của người chết.

YẾT-MA CÔNG NHẬN BỆNH CUỒNG SI.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá. Bấy giờ trưởng lão Kiếp Tân Na có hai người đệ tử đồng hành, người thứ nhất tên Nan Ðề, người thứ hai tên Bát Già Nan Ðề mắc bệnh cuồng si; khi Tăng làm Yết-ma có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật nói với các Tỉ-kheo:

- Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá, thì Tăng nên làm Yết-ma công nhận bệnh cuồng si. Người làm Yết-ma nên nói như sau:

- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề pháp Yết-ma bệnh cuồng si. Ðây là lời tác bạch.

Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề mắc bệnh cuồng si, khi Tăng làm Yết-ma, có lúc họ đến, có lúc họ không đến, khiến pháp Yết-ma của Tăng bị phá. Tăng nay cho Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si. Các đại đức nào bằng lòng cho Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là Yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế) 

Tăng đã bằng lòng cho Nan Ðề, Bát Già Nan Ðề pháp Yết-ma công nhận bệnh cuồng si xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Khi làm Yết-ma xong, nếu người ấy có đến hay không đến, pháp Yết-ma sẽ không bị phá. Nếu bệnh cuồng si bớt, tâm trí trở lại như cũ (480b) thì được coi như đã xả pháp Yết-ma. 

Ðó gọi là Yết-ma công nhận bệnh cuồng si.

BÀY TỎ SỰ KHÔNG ÐỒNG TÌNH.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đấu tranh, cãi vã nhau, cùng sống một chỗ mà bất hòa. Một Tỉ-kheo cử tội một Tỉ-kheo, hai Tỉ-kheo cử tội hai Tỉ-kheo, nhiều Tỉ-kheo cử tội nhiều Tỉ-kheo. Thế rồi, các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

- Từ nay Ta cho phép bày tỏ sự không đồng tình. Cách bày tỏ sự không đồng tình như sau: Nếu Tăng làm Yết-ma phi pháp mà mình có khả năng thì nên ngăn cản, nói: "Này các trưởng lão! Ðó là việc phi pháp, phi luật không nên làm". Nếu người đó hung ác, có thế lực, sợ họ sát hại hoặc làm tổn thương phạm hạnh, thì nên bày tỏ sự không đồng tình, nói như sau: "Ðây là Yết-ma phi pháp, tôi không bằng lòng, xin bày tỏ sự không đồng tình". Nói như vậy ba lần. Khi bày tỏ sự không đồng tình, không nên bày tỏ với đối phương mà nên bày tỏ với người đồng ý với mình. Cũng không được làm với nhiều người mà chỉ được làm chừng hai người, ba người; còn những người khác thì nên gởi dục đúng pháp rồi bỏ đi. Nếu trong Tăng giải quyết việc một cách phi pháp mà không ngăn cản, không gởi dục, không bày tỏ sự không đồng tình thì phạm tội Việt tỳ ni. Nhưng nếu suy nghĩ: "Tùy nghiệp vận hành, như lửa cháy nhà, ta chỉ cứu lấy mình, gắng giữ tâm đúng với pháp", thì không có tội.

Ðó gọi là bày tỏ sự không đồng tình.

PHÁ LÒNG TIN CỦA THÍ CHỦ.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trưởng giả Lộc theo thứ tự mời Tăng đến thọ trai. Ưu-ba-nan-đà tới phiên mình đi đến nhà ấy. Trưởng giả hỏi:

- Thầy muốn ăn ở đây hay đem đi?

- Muốn đem đi.

Gia chủ liền lấy bát của thầy bỏ đầy các thứ ẩm thực. Ưu-ba-nan-đà được thức ăn rồi, bèn đem đến nhà dâm nữ, hỏi:

- Cô muốn được thức ăn không?

- Muốn được.

- Ðem chén bát của cô lại đây.

Thế là thầy sớt đồ ăn thức uống ra la liệt đầy bàn, rồi tiếp tục đi khất thực. Khi ấy, con ông trưởng giả ăn xong, đi đến nhà dâm nữ, cô ta hỏi:

- Chàng có muốn ăn không?

- Lấy ra đây.

Cô ta liền đem thức ăn trên bàn đưa cho chàng ấy. Khi thấy thức ăn, chàng ta biết ngay, liền hỏi:

- Cô được thức ăn này ở đâu vậy?

- Chàng cứ ăn đi chứ hỏi làm gì! Các cậu thanh niên đem cho đó.

- Không phải vậy! Tôi muốn biết xuất xứ đích xác.

Anh ta cứ hỏi mãi, cô ấy đành phải khai:

- Sư phụ Ưu-ba-nan-đà cho tôi đó.

Con ông trưởng giả bèn chê trách:

- Ta nghĩ rằng chúng Tăng là phước điền tốt, trái lại Ưu-ba-nan-đà lại cho rằng dâm nữ là phước điền tốt.

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, có Tát bạc chủ Vô Úy cúng dường cho Tăng hai tấm vải mịn. Ưu-ba-nan-đà nhận được từ trong Tăng rồi, đem cho dâm nữ. (480c) Dâm nữ được rồi, mặc đi vào nơi thị tứ. Khi ấy, Tát bạc chủ Vô Úy thấy thế biết ngay, liền hỏi:

- Cô được loại vải này ở đâu vậy?

- Vì cớ gì mà chàng hỏi? Các cậu thanh niên cho tôi đó.

- Không phải vậy! Tôi muốn biết rõ xuất xứ.

Anh ta cứ hỏi mãi, cô ấy đành khai:

- Tôn giả Ưu-ba-nan-đà cho tôi đó.

Thế rồi, Tát bạc chủ trách móc:

- Ta nghĩ rằng chúng Tăng là phước điền tốt, trái lại Ưu-ba-nan-đà cho dâm nữ là phước điền tốt.

Các Tỉ-kheo nghe thế, đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn hỏi:

- Ông có việc đó thật không?

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!

- Ðó là việc xấu. Vì sao ông phá hoại vật của tín thí? Từ nay Ta không cho phép phá hoại vật của tín thí. Tín nghĩa là người ta cho với niềm tin, cho với tâm hoan hỷ. Thí gồm có 8 loại, đó là thức ăn đúng giờ, thuốc uống ban đêm cho đến những thứ hợp lệ và không hợp lệ. Phá nghĩa là dùng tâm tham dục đem cho dâm nữ, quả phụ, đồng tử lớn tuổi, kẻ bất năng nam, Tỉ-kheo ni mang tiếng xấu, Sa di ni mang tiếng xấu, ít nhất là vì tâm tham dục mà đem cho súc sinh, thì phạm tội Việt tỳ ni.

Nếu có người đến xin thức ăn của Tăng thì được cho chừng một vắt cơm. Nếu có nhiều người thì nên chia cho bằng nhau. Nếu kẻ ấy có lòng tham dục thì không nên cho. Nếu cha mẹ nghèo khổ không có lòng tin thì được cho ít nhiều tùy nghi. Nếu họ có lòng tin thì nên cho hào phóng. Có hai trường hợp nên cho: vì lợi ích, vì tổn hại.

1) Vì lợi ích: hoặc đàn việt hoặc ưu bà tắc làm việc cho tháp, cho Tăng thì nên cho. 

2) Vì tổn hại: hoặc bọn cướp, hoặc nhà vua, hoặc kẻ hung ác nếu không cho thì chúng có thể gây ra sự bất lợi, những hạng người này nên cho.

Ðó gọi là phá lòng tin của thí chủ.

PHÉP DÙNG GIÀY DA.

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy, Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà mang giày da thếp vàng mà đi, bị người đời chê trách rằng:

- Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như vương giả, đại thần, người quí hiển, mang giày da thếp vàng?.

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, cho đến Phật nói:

- Từ nay về sau, Ta không cho phép mang giày da thếp vàng.

Lại nữa, vào những ngày Khánh tiết của người đời, nhóm sáu Tỉ-kheo người thì mang giày da có nhiều màu sắc, người thì mang hai lớp giày, hẹn nhau đi ngắm cảnh, bị người đời chê trách rằng:

- Vì sao Sa-môn Thích tử mang nhiều loại giày giống như vương giả, đại thần?

Có kẻ thấy mang như thế oán ghét, bèn nói:

- Vì sao Sa-môn Thích tử mà giống như kẻ hạ tiện, mang giày da hai lớp? Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!

Các Tỉ-kheo đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:

- Từ nay về sau, (481a) Ta không cho phép Tỉ-kheo mang giày da hai lớp.

Lại nữa, khi Phật an trú tại rừng Thi Ðà, thành Vương Xá, lúc ấy, thân Thế Tôn có chút ít bất hòa, đồng tử Kỳ Cựu liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Con nghe nói thân Thế Tôn bất hòa, nên uống thuốc tiêu hạ. Tuy Thế Tôn không cần, nhưng vì chúng sinh, mong Thế Tôn hãy nhận món thuốc này để cho chúng sinh đời sau thấy rõ nguyên lý: Người bệnh thì dùng thuốc, người bố thí thì được phước báo.

Khi ấy, Thế Tôn im lặng nhận lời. Kỳ Cựu lại suy nghĩ: "Không thể để Thế Tôn uống thuốc như người thường, phải dùng thuốc ướp với hoa sen xanh rồi trao cho Thế Tôn". Ðoạn, Thế Tôn ngửi hơi thuốc ba lần. Vì sức thuốc mạnh khiến Thế Tôn đi đại tiện đến 18 lần, do thế, sắc diện kém vui. Bấy giờ, A-nan nói với tôn giả Ðại Mục Liên:

- Thế Tôn uống thuốc, không biết nơi nào có thức ăn hợp với bệnh của Ngài?

Khi ấy, Mục Liên liền quan sát, thấy con của Nhị Thập Ức Thứ Nô ở nước Chiêm Ba, hằng ngày nấu 500 món ăn, liền dùng thần lực đi đến đứng trước anh ta. Con của Nhị Thập Ức thấy tôn giả Mục Liên uy nghi thần đức, trong lòng thán phục, hứng khởi, cho rằng chưa từng có. Lúc ấy, Mục liên bèn đọc kệ:

Ðấng Thiên Tôn kỳ diệu, 
Tích lũy muôn công đức
Thân có chút bất hòa, 
Cần thức ăn hợp bệnh.
Nay ông được lợi ích, 
Sẽ gặt quả báo lớn.
Các đệ tử Thanh Văn.
So với đức Thế Tôn 
Ví như hạt cải mòng
Sánh với núi Tu di.

Xem Tiếp 31B

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Tvhs

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap