THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Thành kính đảnh lễ đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
x
Quyển Thứ Ba Mươi

NÓI RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ TÁM

Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá. Lúc ấy, tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha đang sống trong thôn, hằng ngày đi qua bên kia sông Hằng khất thực. Khi đến bờ sông Hằng, thầy liền nói như sau: 

- Thủ đà la, ngừng lại. Ta muốn đi qua. 

Nước liền ngừng chảy. Khi qua rồi, thầy lại nói: 

- Thủ đà la, ngươi cứ chảy. 

Thế là nước chảy lại như cũ. Thủy thần không vui liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha nói những lời quá cộc cằn như: "Ngừng lại thủ đà la, chảy đi thủ đà la". 

- Hãy gọi Tất Lăng Già Bà Tha đến đây. 

Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: 

- Ông có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy bạch Thế Tôn! 

- Thần sông Hằng đã trách móc ông như trên, vậy ông hãy đến sám hối ông ta. 

Tất Lăng Già Bà Tha bèn đến đó, nói: 

- Tôi xin lỗi, thủ đà la. 

- Trước cũng gọi thủ đà la, giờ cũng gọi thủ đà la, có khác gì đâu mà nói là xin lỗi. 

Tất Lăng Già Bà Tha, chỉ trừ tám vị Ðại Thanh Văn của Phật, ngoài ra tất cả thầy đều gọi là thủ đà la. (468a) Kể cả các Hòa Thượng, A xà lê, các Thượng Tọa thầy đều gọi là thủ đà la tất. Các Tỉ kheo bàn nhau: 

- Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha, thậm chí đối với Hòa Thượng, A xà lê cũng đều gọi là thủ đà la. Nhưng đâu có phải chỉ một người này là Bà la môn xuất gia ; tôn giả Ðại Ca Diếp, Xá-lợi-phất, Mục Liên. v.v... , cũng đều là Bà la môn xuất gia mà đâu có gọi như thế. Vậy, chúng ta phải làm yết ma cử tội. 

Thế rồi Tỉ kheo Tăng bèn tập hợp. Khi ấy, Tất Lăng Già Bà Tha đang ngồi thiền, không đến. Tăng bèn sai sứ đến gọi. Sứ giả đến đó đập cửa, nói

- Chúng Tăng đang tập họp, cho gọi trưởng lão. 

Khi ấy, Tất Lăng Già Bà Tha quán sát, thấy Tỉ kheo Tăng tập họp định làm yết ma cử tội mình, liền dùng thần lực kềm chế Tỉ kheo sứ giả đứng yên tại cửa, không thể đi được. Chúng Tăng thấy sứ giả đi lâu không trở về, lấy làm lạ, bèn sai Tỉ kheo khác đến gọi. Vị Tỉ kheo sau đến, liền cầm tay Tỉ kheo sứ giả trước kéo đi, thì trưởng lão Tất Lăng Già Bà Tha cũng lại làm phép cho dính vào nhau, không thể đi được. Như vậy hết sứ giả này đến sứ giả khác đều dính vào nhau, không thể đi được. Các Tỉ kheo bèn trách cứ: 

- Trong chúng đâu phải chỉ có một người này có đại thần túc? Tôn giả Ðại Mục Liên há không có năng lực này sao? Vậy hãy làm yết ma phúc phạt tề thủy tế (xử vắng mặt). 

Phật dùng thần túc từ hư không đi đến, tuy biết ngài vẫn hỏi các Tỉ kheo: 

- Các ông đang làm gì đó? 

- Bạch Thế Tôn! Tất Lăng Già Bà Tha chỉ trừ tám vị đại Thanh Văn của Như Lai, ngoài ra kể cả Hòa Thượng, A Xà Lê ông đều gọi là thủ đà la. Khi Tăng muốn làm yết ma cử tội, tập họp thì ông không đến. Khi sai sứ đến gọi, thì ông lại dùng thần túc kềm chế, khiến sứ giả dính chùm vào nhau, mà ông vẫn không đến. Do đó, Tăng định làm yết ma tề thủy tế (xử vắng mặt) phúc phạt. 

Thế rồi, Phật nói: 

- Ông ấy sẽ đến. 

Tất Lăng Già Bà Tha tâm liền khai thông, bỗng chốc đến đứng trước Phật. Phật liền nói với Tất Lăng Già Bà Tha: 

- Ông có lỗi khi nói thủ đà la, nên các vị phạm hạnh chê trách ông. 

- Bạch Thế Tôn! Vậy con phải làm sao? Con không kiêu mạn, cũng không tự đại khinh miệt người khác. Nhưng khi con gọi Hòa Thượng, A xà lê, các trưởng lão Tỉ kheo thì tiếng nói phát ra liền thành thủ đà la. 

Phật liền nói với các Tỉ kheo: 

- Ông Tất Lăng Già Bà Tha này không phải kiêu mạn cũng không phải tự đại khinh miệt người khác. Từ 500 đời trở lại đây thường sinh trong nhà Bà la môn nên cái tập khí nói thủ đà la chưa bỏ được. 

Ðoạn, Phật quay lại nói với Tất Lăng Già Bà Tha: 

- Ông từ vô thỉ sinh tử đến nay, tham dục, sân hận, ngu si còn có thể nhổ hết vĩnh viễn, mà tập khí của 500 đời lại không thể trừ được. Từ nay về sau, đừng nói tiếng thủ đà la. 

Nghe Thế Tôn dạy, vì lòng cung kính nên vĩnh viễn ông không nói như thế nữa. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là Tam bà tha. 

19- Một thố dầu: 

(468b) Sau khi đức Thế Tôn Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo ở Tì-xá-li, lúc ấy có một khách buôn nhân dịp Tự tứ mời Tỉ-kheo-ni Pháp Dự. Tỉ-kheo-ni này thường sai một đệ tử y chỉ đến nhà ấy lấy những vật cần dùng. Khi ấy, đệ tử y chỉ không xưng tên thầy, không tự xưng tên mình mà chỉ nói trổng: 

- Tôi cần dầu. 

Ðàn việt bèn đưa dầu. Thế rồi, cô ta tự sử dụng. Sau đó, đàn việt kiểm tra lại thì số dầu ấy không đến tay Ni sư. Ðệ tử y chỉ lòng sinh nghi ngờ hối hận, bèn nói với các Tỉ-kheo-ni. Các Tỉ-kheo-ni bảo rằng cô phạm tội Ba la di nhưng cũng không chắc lắm, liền đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Tuy lấy một cách mờ ám, nhưng có đàn việt cho nên chỉ phạm tội Thâu lan. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là một thố dầu. 

20- Lấy thức ăn. 

Bấy giờ, có đàn việt đến một tinh xá tại thành Xá-vệ cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Khi ấy, có một Tỉ kheo ăn phần mình xong lại lấy thêm một phần nữa. Người phụ trách dọn cơm hỏi: 

- Trưởng lão lấy phần cho ai thế? 

- Lấy phần cho tôi. 

- Thế thì phần ăn rồi là của ai? 

- Cũng của tôi. 

Lúc ấy, Tỉ kheo nói: 

- Thầy phạm tội Ba la di. 

Nhưng các Tỉ kheo không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Cái mình không được mà lấy, nhưng có chủ cho nên chỉ phạm tội Thâu lan. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là lấy thức ăn. 

21- Nuôi bệnh. 

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ. Lúc ấy, tại tinh xá Kỳ Hoàn có một Tỉ kheo bệnh tranh cãi với Tỉ kheo nuôi bệnh. Hôm ấy có đàn việt đến tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng Tăng. Tỉ kheo bệnh suy nghĩ: "Hôm nay ông ấy chắc gì lấy cơm cho ta?", bèn nhờ một Tỉ kheo khác lấy cơm. Cùng lúc ấy, Tỉ kheo nuôi bệnh suy nghĩ: "Hôm nay ai sẽ lấy cơm cho người ấy đây?" Thế là rốt cuộc tới hai người đi lấy cơm. Bấy giờ, người dọn cơm hỏi Tỉ kheo nuôi bệnh: 

- Thầy lấy cơm cho ai vậy? 

- Lấy cơm cho Tỉ kheo mỗ bị bệnh. 

Lại hỏi người lấy cơm giúp: 

- Thầy lấy cơm cho ai? 

- Lấy cơm cho Tỉ kheo mỗ bị bệnh. 

Các Tỉ kheo liền nói: 

- Thầy phạm tội Ba la di. 

Nhưng họ cũng không chắc lắm, bèn đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão đáp: 

- Người được nhờ lấy cơm này không có tội. Nhưng Tỉ kheo bệnh tranh cãi với Tỉ kheo nuôi bệnh, rồi không nói với Tỉ kheo nuôi bệnh mà nhờ người khác lấy cơm thì phạm tội Việt tỳ ni. Còn người nuôi bệnh tranh cãi với Tỉ kheo bệnh, rồi không hỏi mà đi lấy cơm giúp cũng phạm tội Việt tỳ ni. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là nuôi bệnh. 

22- Miếng thịt của chim. 

Khi Phật an trú tại tinh xá Kỳ Hoàn thuộc thành Xá Ve, lúc ấy, có Tỉ kheo đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành khất thực thì bỗng dưng có con chim ngậm cục thịt chợt rơi vào (468c) trong bát của Tỉ kheo. Tỉ kheo bèn đem về tinh xá luộc chín để ăn, rồi chia cho các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo hỏi: 

- Trưởng lão! Thầy nhặt được miếng thịt này ở đâu vậy? 

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói: 

- Thầy phạm tội Ba la di. 

Nhưng họ cũng không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Súc sinh không thuộc về ai cả. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là miếng thịt của chim. 

23- Miếng thịt của bọn cướp. 

Sau khi đức Thế Tôn Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo sống tại thành Vương xá. Vào lúc ban đêm có bọn cướp bắt trộm trâu rồi chúng đem vào rừng Thi Ðà mổ thịt mà ăn nhưng ăn không hết. Chúng bèn hỏi Tỉ kheo đang ngồi thiền trong rừng: 

- Tôn giả có cần thịt không? 

- Cần. 

Tức thì chúng cho Tỉ kheo đầy bát. Tỉ kheo bèn đem về tinh xá mà ăn rồi chia cho các Tỉ kheo khác. Các Tỉ kheo khác hỏi: 

- Trưởng lão được thịt này ở đâu vậy? 

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói: 

- Trưởng lão! Thầy lấy vật của bọn cướp đủ 5 tiền phạm tội Ba la di. 

Thế nhưng họ không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Người xuất gia nhận vật có chủ bố thí dùng vật ấy như pháp hay không như pháp đều không có tội. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là miếng thịt của bọn cướp. 

24- Thịt heo. 

Lúc ấy ở thôn Ðề Bà có bọn ăn trộm, bắt trộm heo mổ thịt mà ăn. Các đầu, chân còn thừa chúng bỏ lại, rồi ra đi. Bấy giờ, có Tỉ kheo thấy thế bèn đem về tinh xá nấu chín rồi ăn, đồng thời chia cho các Tỉ kheo khác. Các Tỉ kheo hỏi: 

- Thầy được thịt này ở đâu vậy? 

Thầy bèn trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên. Các Tỉ kheo nói: 

- Ðáng giá 5 tiền phạm tội Ba la di. 

Nhưng họ không chắc lắm, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi người lấy thịt: 

- Thầy lấy với tâm gì? 

- Tưởng vật không có chủ mà lấy. 

- Tưởng vật không có chủ mà lấy thì không có tội. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là thịt heo. 

25- Ðạp phụ nữ. 

Có một Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn tại thành Xá-vệ, đến giờ khất thực thầy bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực, rồi đến một nhà kia. Lúc ấy, người đàn bà nói: 

- Tỉ kheo hãy vào đây, chúng ta cũng làm việc như thế. 

- Ðức Thế Tôn chế giới không được hành dâm. 

- Nếu thầy không làm theo ý tôi thì tôi sẽ nói là thầy cưỡng hiếp tôi như vậy, như vậy. 

Tỉ kheo vì sợ nên phải vào nhà. Khi thầy vào nhà rồi, người đàn bà ấy bèn nói với đứa nô tì giữ cửa: 

- Ta với Tỉ kheo hành lạc. 

Người đàn bà ấy khi vào đến phòng, lòng dục khởi lên mãnh liệt bèn nằm xuống. Tỉ kheo liền đạp cho một đạp rồi bỏ đi. Ðứa nô tì giữ cửa hỏi thầy: 

- Tôn giả làm xong rồi sao? 

- Xong rồi. 

Lúc ấy tâm Tỉ kheo sinh nghi ngờ, hối hận, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Thầy dùng chân đạp người phụ nữ nên phạm tội Thâu lan. Không làm mà nói có làm, (469a) phạm tội Ba-dạ-đề. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là đạp phụ nữ. 

26- Xay bột. 

Lúc bấy giờ, có Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn tại thành Xá-vệ, đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành, tuần tự khất thực. Tới một nhà kia, bỗng thấy một người phụ nữ ngồi xay bột, y phục không che kín thân hình. Thấy thế, lòng dục sinh khởi, Tỉ kheo nói: 

- Này chị em! Tôi muốn ăn bột. 

Người phụ nữ ấy bèn cho bột. Tâm Tỉ kheo sinh nghi ngờ, hối hận đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão hỏi thầy: 

- Ông dùng tâm gì nói điều đó? 

- Tâm tham dục. 

Thế rồi, họ sai sứ giả đến hỏi người phụ nữ ấy. Người ấy nói: 

- Tôi đang ngồi chòm hổm dưới đất xay bột thì Tỉ kheo đến xin bột. Tôi liền cho thầy. 

Sứ giả trở về trình bày lại như trên. Trưởng lão Tỉ kheo nói: 

- Cô ấy hiểu nghĩa mà không hiểu ẩn ý nên phạm tội Thâu lan. Cho đến: Nếu không hiểu nghĩa cũng không hiểu ẩn ý thì phạm tội Việt tỳ ni. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là xay bột. 

27- Trâu nghé. 

Tại nước Bạt Kì có người thả trâu nghé ăn gần tinh xá. Trâu nghé đi vào tinh xá, ăn các hoa quả, húc đổ các hình tượng. Thầy tri sự nói với kẻ chăn trâu: 

- Ông hãy coi chừng con trâu ông cẩn thận, chớ để nó phá phách. 

Thầy nhắc nhở tới ba lần mà việc đó không chấm dứt. Thầy bèn nổi giận, dắt trâu vào nhốt trong phòng, rồi đóng cửa lại, đi vào thôn xóm khất thực. Nhưng khi đến giữa đường lại suy nghĩ: "Trong phòng có nhiều Dạ xoa, biết đâu nó sẽ giết chết con trâu nghé", bèn trở về lại tinh xá, mở cửa xem thì thấy con trâu nghé đã chết. Tỉ kheo hoảng sợ liền đem nó bỏ vào trong cầu tiêu của chúng Tăng, rồi bỏ đi. Người chăn trâu bèn đến hỏi thầy: 

- Thầy có thấy con trâu nghé tôi đâu không? 

- Không thấy. 

Thế nhưng, tâm Tỉ kheo sinh nghi, liền hỏi các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo không thể quyết định được bèn đến hỏi vị trưởng lão. Vị trưởng lão nói: 

- Dắt trâu vào thả trong phòng rồi đóng cửa lại thì phạm tội Việt tỳ ni. Ðem bỏ vào trong cầu tiêu của chúng Tăng thì phạm tội Thâu lan. Thấy mà nói không thấy thì phạm tội Ba-dạ-đề. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là thả trâu nghé. 

28- Bỏ vợ. 

Bấy giờ, tại ấp Ca Thi Kì Lợi có một ông già đoan chánh, bỏ vợ xuất gia. Bà vợ ông bèn đi theo, đến ở bên ngoài phòng ông, xe sợi. Ông bảo bà: 

- Bà đi đi! Tôi là người xuất gia không cần đến bà nữa. 

- Tôn giả! Tôi xe sợi ở đây đâu có phương hại gì? Vì muốn lúc nào cũng được trông thấy tôn giả, tôi không thể rời xa được. 

Ông già ấy nhắc nhở nhiều lần nhưng bà kia vẫn không đi. Ông bèn đem y bát vứt bỏ, rồi ra đi. Khi ấy có người phụ nữ gặp ông ấy bèn nói với bà vợ: 

- Ông chồng bà bỏ đi rồi. 

Nghe thế, bà liền đuổi theo, đến khi bắt kịp bèn nắm y thầy đứng ở giữa đường, nói: 

- Thầy (469b) hãy vì tôi đừng đi. Tôi sẽ cung cấp y bát và thuốc chữa bệnh cho thầy. 

- Tôi là người xuất gia, theo phép tắc không nên như vậy. 

Tuy vậy, bà vẫn không chịu buông ra. Ông tức giận cực độ, liền cầm y bát để một chỗ, đánh bà một trận nhừ tử, rồi bỏ đi. Thế rồi, lòng ông sinh nghi ngờ hối hận, bèn đem sự việc trên hỏi một vị Tỉ kheo trì luật là Da Xá. Da xá nói: 

- Nổi sân đánh đàn bà thì phạm tội Ba la di. 

Các Tỉ kheo nghe thế, liền nói với thầy: 

- Sự phán xét như thế không đúng. Nếu thầy muốn hết nghi, nên đến núi Chi đề hỏi tôn giả trì luật là Thọ Ðề Ðà Bà chắc chắn sẽ được quyết đoán dứt khoát. 

Nghe thế, thầy liền đi nhưng đến đoạn đường ngang qua Câu Diệm Di, bỗng gặp một cô gái bán sữa. Cô ta thấy ông già ấy đẹp trai, lòng dục phát sinh, bèn nói: 

- Sa-môn! Có muốn cùng hành lạc thì hãy đến đây. 

Ông già ấy bèn suy nghĩ: "Ta đã phạm tội Ba la di rồi, đâu còn gì nữa?", thế là cùng hành lạc với cô ta. Ðoạn, thầy đến chỗ vị trì luật thuật lại đầy đủ sự việc kể trên. Vị trì luật bèn nói: 

Vì sao mà Da Xá chế ra đến 5 pháp Ba la di? Tức giận đánh phụ nữ thì phạm tội Thâu lan giá. Cùng hành dâm với cô gái bán sữa thì phạm tội Ba la di. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là bỏ vợ. 

29- Cách vách. 

Nước Phất Ca La có 2 tinh xá của Tỉ kheo, Tỉ-kheo-ni ở cách vách nhau. Khi ấy, Tỉ kheo khởi dục tâm bèn đứng cách vách nói chuyện với Tỉ-kheo-ni suốt đêm. Thế rồi, Tỉ kheo sinh tâm hoài nghi hối hận, bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi: 

- Thầy có tâm gì khi nói chuyện? 

- Tâm tham dục, thưa trưởng lão. 

- Nếu với tâm tham dục như vậy thì cứ mỗi lời nói phạm mỗi tội Việt tỳ ni. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là cách vách. 

30- Bố tát. 

Khi ấy, Tỉ kheo ở thôn Phất Ca La cùng với Tỉ kheo ở A-luyện-nhã bố tát tại một chỗ. Tỉ kheo ở A-luyện-nhã tên là Phất Hi Lỗ, vốn có đức hạnh và danh tiếng nên được nhiều lợi dưỡng. Tỉ kheo ở thôn xóm thấy thế bèn sinh tâm tật đố. Lúc ấy, trưởng lão Phất Hi Lỗ đến ngày 14 bố tát bèn vào thôn xóm nói với Tỉ kheo ở thôn xóm: 

- Trưởng lão! Chúng ta cùng bố tát. 

- Ngày 15 tôi mới bố tát. 

- Tôi biết tính số ngày, kỳ này phải bố tát vào ngày 14. 

- Tôi không làm, ngày 15 tôi mới bố tát. 

Phất Hi Lỗ thuyết phục như vậy đến ba lần mà vị kia vẫn không nghe theo nên thầy ra về. Khi thầy đi rồi, Tỉ kheo ở trong thôn bèn bố tát. Sáng hôm sau, Phất Hi Lỗ đến trở lại nói với Tỉ kheo ở thôn xóm: 

- Trưởng lão! Chúng ta hãy cùng bố tát. 

- Tôi đã bố tát xong rồi. Thầy đã làm trái việc bố tát. Tôi không cùng hưởng chung pháp thực, vị thực với thầy nữa. 

Khi ấy, Phất Hi Lỗ hễ bố tát ngày 14 thì ngày 14 đến, (469c) bố tát ngày 15 thì ngày 15 đến. Thế nhưng, cả 20 năm đầu đều không được bố tát. Lúc ấy, có một thiện quỉ thần vốn kính trọng Phất Hi Lỗ bèn đến trong núi Chi Ðề, nói với tôn giả Thọ Ðề Ðà Bà như sau: 

- Thưa tôn giả! Hiện nay ở tại xóm làng kia có tôn giả Tỉ kheo bất thiện, không tùy thuận, làm điều phi pháp, thường não loạn Phất Hi Lỗ, kính mong tôn giả đến giải quyết việc ấy. 

Tôn giả Thọ Ðề nghe thế bèn suy nghĩ: "Nếu ta đến nơi A-luyện-nhã trước thì Tỉ kheo hung ác ở thôn xóm nghe được sẽ không chia xẻ pháp thực, vị thực cùng ta. 

Nghĩ thế, thầy liền đi đến chỗ Tỉ kheo ở thôn xóm. Lúc ấy, thiện quỉ thần lại nói với tôn giả Phất Hi Lỗ: 

- Thưa tôn giả! Tôn giả Thọ Ðề Ðà Bà hiện giờ đang ở tại thôn xóm. Tôn giả nên đến đó thăm hỏi. 

Nghe thế, thầy liền đến đó thăm hỏi. Thăm hỏi xong, ngồi sang một bên. Tôn giả Thọ Ðề Ðà Bà bèn hỏi thầy: 

- Thầy là Phất Hi Lỗ phải không? 

- Thưa vâng. 

- Này Tuệ mạng! Thầy làm trái việc bố tát phải không? 

- Trái việc bố tát hay không trái bố tát hôm nay sẽ biết. Từ 20 năm nay, hễ bố tát ngày 14 thì tôi đến ngày 14, bố tát ngày 15 thì tôi đến ngày 15. Như vậy là trái bố tát hay không trái bố tát, tôn giả tự biết. 

- Này Tuệ mạng! Ðó là thuận với Phật pháp. Nhưng Tỉ kheo ở thôn xóm không tùy thuận. Thọ cụ túc trong 20 năm mà không thể gọi là thọ cụ túc, yết ma mà không được gọi là yết ma. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là bố tát. 

31- Hai trường hợp nước trái cây. 

Lúc ấy, tại nước Ưu Xà Ni có kẻ phạm vương pháp, nên bị chặt cả chân tay, rồi đem bỏ vào rừng Thi Ðà gần chỗ của Tỉ kheo ở A luyện nhã. Thế rồi, ông ta lần hồi đến chỗ Tỉ kheo, nói: 

- Thưa thầy! Tôi rất đói khát, thầy cho tôi xin một ít thức ăn. 

- Không có thức ăn. 

- Thưa thầy! Xin thầy hãy thương tôi. Tôi bị cả hai nỗi thống khổ: một là nỗi khổ bị chặt cả tay chân ; hai là nỗi khổ bị đói khát. 

- Không có thức ăn, chỉ có nước tô tì la, ông có cần không? 

- Cần. 

Thầy liền cho nước ấy. Vì ông ta không được ăn đã lâu ngày nên uống vào liền chết. Tỉ kheo tâm sinh nghi, bèn hỏi các Tỉ kheo khác, nhưng họ cũng không quyết đoán được. Thầy liền đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi: 

- Thầy dùng tâm gì khi đem cho? 

- Tâm vì lợi ích. 

- Nếu với tâm vì lợi ích thì không có tội. 

Như vậy là hết phần Tì ni. 

Lại nữa, tại nước Ưu Xà Ni có kẻ phạm vương pháp nên bị chặt cả chân tay, rồi bị đem bỏ vào trong rừng Thi Ðà, gần chỗ của Tỉ kheo ở A luyện nhã. Lúc ấy, có một người già đi xuất gia, đến phiên thầy giữ phòng ốc. Người không có tay chân kia lần hồi lết đến chỗ thầy, nói (470a) như sau: 

- Thưa thầy! Tôi rất thống khổ không thể chịu nổi, thầy có thuốc gì không, cho tôi một chút, tôi muốn chết cho nhanh? 

- Ta không phải là Chiên đà la, là kẻ sát nhân, vì sao lại theo ta xin thuốc? 

- Thưa thầy! Không phải vậy ; vì tôi đau đớn quá không thể chịu nổi.

Lúc ấy, ông già kia khởi từ tâm, suy nghĩ: "Có trường hợp tương tự như thế, do uống nước tô tì la mà chết", liền hỏi: 

- Ông muốn uống nước tô tì la không? 

- Muốn uống! 

Thầy bèn đưa nước ấy cho uống. Uống xong, người kia chết liền. Ông già tâm sinh nghi liền đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão hỏi: 

- Ông dùng tâm gì khi đem cho? 

- Tâm từ bi, để cho ông ta toại ý! 

- Tuy ông có tâm từ bi, nhưng không có trí tuệ, làm chết người, nên phạm tội Ba la di. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là hai trường hợp nước trái cây. 

32- Gạch. 

Lúc bấy giờ, tại tinh xá Kỳ Hoàn, thành Xá-vệ, có Tỉ kheo làm phòng, người làm vườn đưa gạch cho thầy. Thầy cầm không chắc bị sút tay rơi nhằm trên đầu người làm vườn, khiến người ấy bị vỡ đầu chết liền tức khắc. Tỉ kheo tâm sinh nghi bèn đến hỏi Tỉ kheo trưởng lão. Tỉ kheo trưởng lão liền hỏi thầy: 

- Thầy dùng cái tâm gì khi làm rơi gạch? 

- Vì tôi cầm không chắc nên bị rơi. 

- Nên cầm cho chắc. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là gạch. 

33- Phân rác. 

Tại tinh xá Kỳ Hoàn nơi thành Xá-vệ, cứ 5 hôm được quét dọn phân rác một lần. Lúc ấy, có Tỉ kheo trẻ tuổi bưng phân đổ ngoài tường, rủi thay đổ nhằm trên mình một ông già bệnh xuất gia đang đại tiểu tiện tại chỗ ấy, khiến ông không thể đứng dậy nổi. Thầy kia lại tiếp tục đổ phân rác làm cho ông bị chết. Tỉ kheo ấy đổ phân rác bên chân tường chất cao lên, rồi sợ e bọn trộm nương nơi đó leo vào, bèn ra hốt đổ chỗ khác, thì thấy Tỉ kheo kia bị chết, tâm sinh nghi. Thầy bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Tỉ kheo trưởng lão hỏi lại thầy: 

- Thầy dùng tâm gì khi đổ phân rác? 

- Không xem cẩn thận. 

- Nếu không xem cẩn thận mà đổ phân rác thì phạm tội Việt tỳ ni. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là phân rác. 

34- Tỉ kheo khất thực. 

Sau khi Phật bát Niết-bàn, các Tỉ kheo sống tại tinh xá của dòng họ Thích, nước Ca Duy La Vệ. Bấy giờ, có Tỉ kheo đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần tự khất thực. Khi ấy có một cô gái họ Thích đoan chánh, sau khi tắm xong, cô mặc y phục mới, đem thức ăn cúng dường cho Tỉ kheo rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân. Tỉ kheo thấy thế, dục tâm sinh khởi, không kiềm chế được liền bị xuất tinh rơi nhằm trên đầu cô ấy. Nhưng cô không oán trách bèn lấy vạt y chùi đi, rồi nói như sau: 

- Thầy (470b) được lợi ích rất lớn, lòng dục mạnh như vậy mà vẫn có thể tu phạm hạnh trong giáo pháp của đức Thế Tôn. 

Khi ấy, Tỉ kheo tâm sinh nghi bèn đến hỏi trưởng lão Tỉ kheo. Trưởng lão Tỉ kheo hỏi thầy: 

- Khi ấy ông dùng tâm gì? 

- Tôi thấy thân hình cô ta trước mặt không thể kiềm chế được. 

- Nên khéo quán sát sắc tướng mà chế ngự tâm mình. 

Như thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là khất thực. 

35- Uất trù. 

Sau khi Phật ban Niết-bàn, các trưởng lão Tỉ kheo ở tinh xá của dòng họ Thích dưới cây Ni Câu Luật, nước Ca Duy La Vệ. Bấy giờ, tôn giả Uất Trù có một người bạn cũ, ông ta có hai đứa con đều khác mẹ. Một đứa, con của bà họ Thích, một đứa con của bà họ khác. Khi ông ta đau nặng sắp từ trần, bèn di chúc tôn giả Uất Trù như sau: 

- Thưa thầy! Sau khi tôi qua đời, trong hai đứa con đứa nào hâm mộ Phật pháp, làm hài lòng thầy, xin thầy hãy chỉ kho báu dưới đất cho nó. 

Sau khi ông qua đời, đứa con của bà họ Thích rong chơi theo bạn bè xấu ác, không thích Phật pháp, không đến nghe Kinh, không thích tụng đọc. Còn đứa con của bà họ khác thì đi theo bạn lành, ưa thích Phật pháp, đến chỗ Uất Trù tụng đọc Kinh giới, được lòng trưởng lão nên trưởng lão nói: 

- Khi cha ngươi từ trần có di chúc ta rằng: "Trong hai đứa con, đứa nào ưa thích Phật pháp thì nên chỉ cái kho báu này". 

Rồi chỉ chỗ kho cho nó. Nhờ vậy, nó được vàng bạc châu báu rất nhiều, gia nghiệp trở nên giàu có sung sướng. Ðứa con của bà họ Thích nghe thế bèn thưa với tôn giả A-nan: 

- Thưa thầy! Ðây là điều bất thiện, không phải tùy thuận. Tôn giả Uất Trù đem tài sản của cha tôi cho đứa con của bà họ khác. Theo gia pháp nhà họ Thích của tôi thì đứa con của bà họ Thích đương nhiên kế thừa sự nghiệp của cha. Những tài vật sở hữu đều phải thuộc về tôi. 

A-nan nói: 

- Ðó là cách phân xử phi pháp. Ta không cùng hưởng chung pháp thực và vị thực với người ấy. 

Lúc ấy, La Hầu La đến chỗ Uất Trù, vì hai người này cùng một Hòa Thượng, nên Uất Trù nói với La Hầu La: 

- Ðừng hưởng chung pháp thực, vị thực với tôn giả A Nan. 

- Vì sao vậy? 

Uất Trù thuật lại đầy đủ sự việc kể trên, rồi tiếp: 

- Tôi không có việc gì mà A-nan không hưởng chung pháp thực vị thực cùng tôi. La Hầu La! Tôi cùng với ông hưởng chung pháp thực, vị thực. 

A-nan nghe La Hầu La với Uất Trù cùng hưởng chung pháp thực, vị thực, do đó thầy cũng không hưởng chung pháp thực, vị thực với La Hầu La. Khi có người đưa thức ăn đến cho tôn giả A Nan, A-nan nói: 

- Hãy đem đưa cho La Hầu La, con của Thế Tôn. 

Cũng thế, khi có người đưa thức ăn đến cho tôn giả La Hầu La, La Hầu La bèn nói: 

- Hãy mang đến cho thị giả của Thế Tôn. 

Vì vậy, tại nước Ca Duy La Vệ trong bảy năm chư Tăng không bố tát tự tứ. 

Bấy giờ tôn giả Ưu-ba-li đang ở trong núi Chi Ðề, (470c) những người họ Thích bèn đến chỗ tôn giả Ưu-ba-li nói như sau: 

- Thưa thầy! Những ông thầy bất thiện, không tùy thuận của tôi đang sống ở đời. Ca Duy La Vệ là sinh quán của đức Thế Tôn, vì sao trong 7 năm mà không bố tát tự tứ? Kính xin tôn giả đến đó hòa giải giúp cho! 

Ưu-ba-li liền đến đó, bảo những người họ Thích: 

- Hãy trang trí giảng đường, trải tọa cụ đẹp, rải hoa, đốt hương, chuẩn bị cơm đãi Tỉ kheo khách. Trước hết gọi La Hầu La đến, rồi giấu thầy ở một chỗ kín, đồng thời mời tôn giả A-nan tới. Thế rồi, bồng một đứa trẻ con thả ngồi trên đất. Khi tôn giả A-nan ngồi xong, thấy đứa bé dưới đất, nếu thầy bảo "bồng" thì nên nói "không bồng", mong tôn giả cùng với La Hầu La hòa hợp, thì tôi mới bồng. 

Bảo như vậy xong, tôn giả Ưu-ba-li bèn ngồi, đến tôn giả A-nan ngồi, rồi đến các Tỉ kheo theo thứ lớp cùng ngồi. Khi ấy, một người phụ nữ họ Thích bồng một hài nhi tay đang cầm bình sữa uống thả ngồi dưới đất. Ðứa bé liền kêu khóc. A-nan thấy thế, lòng sinh thương xót, liền bảo người phụ nữ ấy: 

- Hãy bồng đứa bé này lên. 

- Không bồng! Nếu tôn giả cùng với La Hầu La hòa hợp thì tôi mới bồng. Nếu không hòa hợp thì tôi không bồng. 

- Ðây là phép tắc của Sa-môn, không phải việc thế tục của các người, nhưng hãy bồng đứa bé đi đã. 

- Không phải như vậy. 

Bảo như vậy đến ba lần, họ đều từ khước. A-nan liền bảo gọi La Hầu La đến. Khi thầy đến rồi, tôn giả Ưu-ba-li nói với A-nan: 

- Ví như A-nan có đàn việt di chúc như thế này: "Thưa trưởng lão! Sau khi tôi mệnh chung, trưởng lão hãy cho như vậy", thì có gì là sai lầm. Tôn giả Uất Trù cũng như vậy. Này A-nan! Tại sao vì việc đó mà thầy bất hòa với La Hầu La con của Thế Tôn. 

Như vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là Uất Trù. 

Tóm lại, trên đây là nguyên tắc giới luật. 

CHƯỚNG NGẠI - KHÔNG CHƯỚNG NGẠI.

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà du hành các nước, rồi trở về tinh xá Kỳ Hoàn. Ðến giờ khất thực, bèn khoác y vào thành Xá-vệ đến nhà Ưu bà di Hỉ Duyệt. Ưu bà di trông thấy, liền nói: 

- Lành thay sư phụ! Vì sao mà ít xuất hiện quá thế?! 

Rồi mời ngồi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên, cùng trò chuyện thăm hỏi. Tỉ kheo nói: 

- Ưu bà di! Tôi ít khi đến, bà định đãi tôi món ngon gì đấy? 

- Tùy theo thầy dạy, thức ăn trước hay thức ăn sau, hoặc bánh, hoặc thịt, tùy theo thầy cần gì con sẽ dọn nấy. Vậy xin mời tôn giả ngày mai đến nhà con thọ trai, xin đến sớm sớm. 

Thế rồi, Tỉ kheo nhận lời mời. Ngày hôm sau, nhà ấy sửa soạn các món ẩm thực, (471a) dọn bàn ghế chờ đợi. Song, Tỉ kheo vì bận nhiều việc, quên không đến. Khi đã hết ngày, những thức ăn nào để dành được thì chủ nhà đem cất, còn những thứ không để dành được bèn đem ăn. Ðợi như vậy hai ngày, ba ngày vẫn không đến, chủ nhà bèn đem ăn hết. Tới ngày thứ tư, Tỉ kheo mới đến ; Ưu bà di thấy thế lòng không vui, liền trách: 

- Này sư phụ! Vì sao đã nhận lời mời của con mà không đến? 

Các Tỉ kheo nghe thế, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo gọi Nan-đà, Ưu-ba-nan-đà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền khiển trách: 

- Ưu bà di Hỉ Duyệt này đối với Phật và Tỉ kheo Tăng đều không tiếc rẻ một thứ gì, vì sao lại nhiễu loạn bà ấy? Vì sao ông nhận lời mời một chiều mà không nêu nhân duyên chướng ngại? Những nhân duyên chướng ngại như sau: Nếu có người mời: "Xin tôn giả nhận lời con mời ngày mai ăn bữa ăn trước", mà mình thấy cần thì nên đáp: "Vâng!". 

Nếu họ nói tiếp: "Xin tôn giả chắc chắn phải đến nhé!", thì nên nói: "Nếu trong thời gian đó không gặp chướng ngại thì tôi sẽ đến". Cũng vậy, mời các bữa ăn sau cũng nói như thế. 

Nếu Tỉ kheo an cư xong ra đi rồi đàn việt mời: "Mong tôn giả sau này sẽ đến nữa", mà mình muốn đến nữa, thì nên đáp: "Vâng". 

Nếu đàn việt dặn thêm: "Xin tôn giả phải đến chắc chắn đấy nhé", thì nên đáp: "Nếu trong thời gian ấy không gặp trở ngại gì thì tôi sẽ đến". 

Nếu họ nói: "Xin thầy hãy lễ tháp", thì không được đáp: "Nếu trong thời gian ấy không có gì trở ngại.", mà nên đáp: "Vâng! Tôi sẽ lễ". Nếu họ nói: "Xin tôn giả hãy vì tôi mà lễ tháp", thì nên đáp: "Nếu nhớ thì tôi sẽ lễ". 

Nếu họ nói: "Xin tôn giả hãy đảnh lễ trưởng lão Tỉ kheo", thì không được đáp: "Nếu không có gì trở ngại", mà nên đáp: "Vâng! Tôi sẽ đảnh lễ". 

Nếu họ nói: "Xin tôn giả hãy vì tôi mà đảnh lễ trưởng lão Tỉ kheo", thì nên đáp: "Nếu nhớ thì tôi sẽ đảnh lễ". 

Nếu họ nói: "Tôn giả hãy nghe kinh, tụng kinh, trì giới, ngồi thiền", thì không được đáp: "Nếu trong thời gian ấy không có gì trở ngại thì tôi sẽ tụng kinh", mà nên nói: "Tôi vì mục đích đó mà xuất gia". 

Nếu họ nói: "Tôn giả hãy học đạo quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán", thì không được đáp: "Nếu trong thời gian ấy không có gì chướng ngại thì tôi sẽ học", mà nên nói: "Tôi vì mục đích đó mà xuất gia". 

Trên đây, có việc nên làm mà vì chướng ngại nên không làm, có việc không nên làm mà làm đều phạm tội Việt tỳ ni. Ðó gọi là vấn đề chướng ngại, không chướng ngại. 

VẤN ÐỀ TỈ-KHEO-NI.

Khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, nước Ca Duy La Vệ. Lúc ấy, Ðại Ái Ðạo Kiều Ðàm Di cùng với 500 cô gái họ Thích xin Phật xuất gia, như trong Tuyến Kinh đã nói rõ. Thế rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo-ni: 

- Từ nay Ðại Ái Ðạo Kiều Ðàm Di là bậc Thượng Tọa của các Tỉ-kheo-ni, nên ghi nhớ như vậy. 

Khi ấy, Ðại Ái Ðạo Kiều Ðàm Di bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Thế Tôn chế ra 8 pháp tôn kính cho Tỉ-kheo-ni, (471b) chúng con có được phép nghe đầy đủ không? 

Phật dạy: 

- Ðược. Tám kỉnh pháp đó là: 

1- Kính lễ Tỉ kheo. 

- Dù Tỉ-kheo-ni đã 100 tuổi, khi gặp Tỉ kheo mới thọ giới cũng phải đứng dậy đón tiếp cung kính và đảnh lễ. Không được nói: "Ðợi tôi đủ 100 tuổi rồi mới hướng đến Tỉ kheo mới thọ giới đảnh lễ", mà tất cả Tỉ-kheo-ni đều phải hướng đến Tỉ kheo trưởng lão trung niên, niên thiếu, đứng dậy đón tiếp cung kính và đảnh lễ. Khi Tỉ-kheo-ni đến tinh xá của Tỉ kheo thì phải cúi đầu đảnh lễ dưới chân của tất cả Tỉ kheo. Nếu vì già bệnh không thể lễ hết, thì tùy sức mà lễ nhiều ít, những người còn lại thì được lễ tổng quát, nói như sau: "Con là Tỉ-kheo-ni mổ giáp xin cúi đầu đảnh lễ dưới chân của tất cả chúng Tăng". 

Khi Tỉ kheo đến tinh xá của Tỉ-kheo-ni thì tất cả Tỉ-kheo-ni phải đứng dậy đón tiếp, đảnh lễ dưới chân, cũng như trên đã nói. Nếu Tỉ-kheo-ni phân biệt như sau: Ðó là kẻ phạm giới, đó là thầy thuốc, đó là kẻ ngớ ngẩn không biết, với tâm kiêu mạn không cung kính đứng dậy đón tiếp, đảnh lễ thì đó là coi thường pháp cung kính. (Ðây là pháp cung kính thứ nhất). 

Xem Tiếp 30B

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Tvhs

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap