| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
PHÉP
DÙNG THỨC UỐNG CHẾ BIẾN. Khi
Phật đang du hành đến nước Kiều Tát La, lúc ấy tôn giả
Xá-lợi-phất bị bệnh động phong. Các Tỉ kheo đem sự việc
ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền hỏi các
Tỉ kheo: -
Cần phải dùng thuốc gì để trị? -
Bạch Thế Tôn! Phải dùng nước trái cây Tô tì la. -
Ta cho phép uống. Thế
rồi Phật nói với các Tỉ kheo: -
Ðợi khi Như Lai du hành nước Kiều Tát La trở về thành Xá-vệ,
hãy nhắc lại để Ta chế định về cách sử dụng nước
Tô tì la cho các đệ tử. Ðến
khi Phật trở về, các Tỉ kheo liền bạch: -
Bạch Thế Tôn! Trước đây Thế Tôn đã hứa khi trở về
thành Xá-vệ, sẽ chế định về cách sử dụng nước Tô
tì la cho các Tỉ kheo, giờ thật là đúng lúc. -
Này các Tỉ kheo! Phương pháp làm nước Tô tì la như sau: lấy
lúa mạch bỏ vào cối giã nhẹ cho tróc trấu, bụi đất,
nhưng đừng để cho đầu hạt gạo bị vỡ, rồi dùng nước
đãi 7 lần cho sạch, đem bỏ vào trong cái vò sạch. Khi đặt
cái vò tô tì la này không được đặt ở hướng Ðông, hướng
Bắc, mà nên đặt ở hướng Nam hay hướng Tây tại chỗ thoáng
gió, đừng để cho uế khí bay vào trong đó, không được
để trong tháp, trong viện, không được đặt ở chỗ sờ
sờ trước mắt, mà nên đặt ở chỗ kín đáo. Thế rồi
dùng trái ha lê lặc, tì ê lặc, a ma lặc, tiêu, lá lốt, các
loại thuốc dùng suốt đời, tương tự như vậy bỏ vào trong,
lấy một miếng vải sạch đậy lên, dùng dây mây buộc lại,
rồi đem một khúc cây đằng lên trên. Khi dùng nước tô tì
la này, tùy theo nhiều ít, dùng nước pha vào cho giải mùi
vị rồi mới uống. Nếu không pha nước cho giải mùi vị
mà uống thì phạm tội Việt tỳ ni. (464c) Nếu đầu của
hạt gạo mạch không vỡ thì uống lúc đúng thời hay phi thời
đều được cả. Nếu đầu của hạt gạo mạch bị vỡ thì
chỉ được uống lúc đúng thời mà không được uống lúc
phi thời. Ðó gọi là cách sử dụng nước trái cây. Kệ
tóm tắt: Bệnh,
thuốc và Hòa Thượng
PHI
YẾT MA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ kheo ở Chiêm
Ba cùng sống một trú xứ mà bất hòa, tranh tụng lẫn nhau.
Một Tỉ kheo cử tội một Tỉ kheo, nói: -
Tôi cử tội trưởng lão! Hai
Tỉ kheo cử tội hai Tỉ kheo, nhiều Tỉ kheo cử tội nhiều
Tỉ kheo. Các Tỉ kheo đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ
lên Thế Tôn rằng: -
Bạch Thế Tôn! Các Tỉ kheo ở Chiêm Ba phát sinh việc phi pháp.
Vì sao một người mà lại cử tội một người, hai người
cử tội hai người, nhiều người cử tội nhiều người? Phật
liền nói với các Tỉ kheo: -
Có 4 trường hợp yết ma. Bốn trường hợp đó là gì? Ðó
là: 1-
Yết ma như pháp không hòa hợp.
(Tóm
lại có các trường hợp như sau): Tôn Ðà La Nan-đà ; màu
mới nhuộm ; cử tội ở chỗ này, xả tội ở chỗ khác ;
rừng khai nhãn ; ngoại đạo xuất gia ; hẹn nhau ; không tĩnh
tưởng ; sông Tô Hà ; giảng đường Thiện Pháp ; tướng quân
Sư Tử ; nan nhi ; đồng tử Li Xa ; 4 người hung ác đánh nhau
; trên gác ; dời đá ; suối nước nóng ; dâm nữ ; Tam bà
ta ; đòi dầu ; đi lấy thức ăn ; nuôi bệnh ; một miếng
thịt chim ; một miếng thịt của bọn cướp ; một miếng
thịt heo ; đến nhà phụ nữ ; xay bột ; chăn bò ; bỏ vợ
; ngớ ngẩn ; cách vách ; Bố tát ; nước Nhị tô tì la ; gạch
; phân ; khất thực ; uất trù. 1-
Tôn Ðà La Nan-đà Khi
Phật an trú tại thành Ba-la-nại ; lúc ấy Tôn Ðà La Nan-đà
đang ở tại tinh xá Chỉ Ðà La Kế Bát ; đầu đêm, cuối
đêm kinh hành, ngồi thiền. Sáng sớm thầy thức dậy ngồi
kiết già rồi nằm nghiêng xuống để thân lộ ra, nam căn
cương ra mà vẫn ngủ không hay. Lúc ấy, tại thành Ba-la-nại
có 2 chị em cô nọ làm nghề mại dâm, một người tên Gia
Thi, một người tên Bán Gia Thi, ban đêm ra ngoài thành đến
lâm viên cùng hoan lạc với các trang thanh niên. Thế rồi,
sáng sớm họ trở vào trong thành, nhân đi ngang qua chỗ Tỉ
kheo Nan-đà, Bán Gia Thi thấy nam căn của thầy cương cứng
liền nói với chị: -
Em muốn hành lạc với vị Tỉ kheo này, chị chờ em một lát. -
Ðây là vị A la hán đã đoạn trừ tham dục, sân hận, ngu
si, không còn thích việc đó nữa. Em không nghe Tôn Ðà La Nan-đà
thuộc dòng họ Thích này ở nhà có người vợ đẹp (465a)
đoan chính mà thầy vẫn bỏ để xuất gia hay sao? -
Không phải vậy! Nhưng chị hãy đợi em. Thế
là cô bèn đi đến, leo lên mình Tỉ kheo làm theo cách của
thế tục. Tỉ kheo liền thức giấc, dùng chân đạp cho một
đạp khiến cô té nhào xuống đất bị thương 5 chỗ: Hai
cùi chỏ, hai đầu gối và trán. Bán Gia Thi liền đứng dậy
phủi bụi trên y phục, rồi đi đến chỗ chị, nói với chị: -
Tỉ kheo làm nhục em như vậy đó. -
Trước đây chị không bảo với em rồi sao, giờ còn oán ai
nữa? Tỉ
kheo tâm sinh nghi, bèn thuật lại sự việc ấy với các Tỉ
kheo. Các Tỉ kheo nói: -
Thầy đã phạm tội Ba la di. -
Tôi là A la hán không còn thấy lạc thú nữa. Các
Tỉ kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật dạy: -
Tỉ kheo này đã đoạn trừ xong tham dục, sân hận, ngu si,
là bậc A la hán, không có tội. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là Tôn Ðà La Nan-đà. 2-
Y phục mới nhuộm màu Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ kheo đến giờ khất thực, bèn khoác y, cầm bát vào
thành Xá-vệ, tuần tự khất thực, rồi đến một nhà kia.
Người đàn bà trong nhà ấy mặc y phục mới nhuộm màu, ngồi
không đoan chính để lộ thân thể. Tỉ kheo thấy thế, lòng
dục phát sinh, liền nói: -
Này chị em, trông cô đỏ quá! -
Thưa thầy, vì y phục này mới nhuộm màu. Thầy
Tỉ kheo ấy tâm sinh nghi, bèn đem sự việc ấy đến bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Phật hỏi thầy: -
Ông dùng bằng cái tâm gì? -
Bằng tâm tham dục, bạch Thế Tôn! -
Ông hãy nhờ một Tỉ kheo đến hỏi người phụ nữ ấy xem
có hiểu ý ông không? Thế
rồi, vị Tỉ kheo sứ giả liền đến đó, hỏi: -
Này chị em! Vừa rồi có Tỉ kheo nào đến đây không? -
Thưa có! -
Tỉ kheo ấy nói những gì? -
Tôi mặc y phục mới nhuộm vừa ngồi thì vị ấy nói: "Ðỏ
quá". Tôi bảo: "Ðúng như thầy nói vì y phục mới nhuộm
màu cho nên như thế". Khi
ấy các Tỉ kheo bèn đem sự việc đó đến bạch đầy đủ
lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Nếu họ hiểu nghĩa mà không hiểu ẩn ý thì phạm tội Thâu
lan giá. Nếu họ hiểu ẩn ý mà không hiểu nghĩa thì phạm
tội Thâu lan giá. Nếu họ hiểu ẩn ý đồng thời hiểu nghĩa,
thì phạm tội Tăng già bà thi sa. Nếu họ không hiểu nghĩa
cũng không hiểu ẩn ý, thì phạm tội Việt tỳ ni. Như thế
là hết phần Tì ni. Ðó
gọi là y phục mới nhuộm màu. 3-
Bị cử tội ở chỗ khác. Bấy
giờ có một Tỉ kheo ở một trú xứ bị Tăng làm yết ma
cử tội, thế rồi, thầy đi đến trú xứ khác, thưa với
Tăng như sau: -
Thưa trưởng lão! Tôi bị cử tội. Nay tôi đã thực hành
pháp tùy thuận, tâm đã nhu nhuyến, xin Tăng cho tôi pháp yết
ma xả việc cử tội. Các
Tỉ kheo bèn làm yết ma xả việc cử tội cho thầy. Khi làm
xong, liền hỏi: -
Trưởng lão! Thầy vì việc gì mà bị cử tội? -
Thưa trưởng lão! Tăng đã làm yết ma xả việc cử tội cho
tôi xong thì còn hỏi chi nữa? Các
Tỉ kheo đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật dạy: -
Ðúng như Tỉ kheo ấy nói. (465b) Thế nên, khi Tăng làm yết
ma xả việc cử tội thì trước hết nên hỏi, nếu không
hỏi mà đã xả rồi, thì không nên hỏi lại. Các ông vì
sao Tăng ở nơi khác làm yết ma cử tội mà Tăng ở nơi này
xả tội? Nếu
Tăng ở nơi khác làm yết ma cử tội mà Tăng ở nơi này xả
tội thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu
Tỉ kheo bị cử tội đi đến nơi khác thì nên thưa như sau: -
Thưa trưởng lão! Tôi bị cử tội và đã thực hiện pháp
tùy thuận, tâm đã nhu nhuyến, mong Tăng xả việc cử tội
cho tôi. Khi
ấy, Tăng nên hỏi: -
Trưởng lão! Thầy bị cử tội về việc gì? Nếu
đáp: -
Tôi không có việc gì cả mà bị cử tội. Thì
nên bảo: -
Trưởng lão! Thầy không có việc gì mà bị cử, vậy ở đây
chúng ta cùng hưởng chung pháp thực, vị thực. Còn
nếu nói: "Có việc nên bị cử", thì Tăng nên bảo: -
Trưởng lão! Thầy hãy trở về lại nơi ấy để Tăng xả
việc cử tội cho thầy. Nếu
chùa ấy Tăng đã đi vắng hết, hoặc đã qua đời, hoặc
là thôi tu, hoặc đi nơi khác, không còn vị Tăng nào nữa,
thì nên hỏi: -
Thầy phạm việc gì mà bị cử tội? Nếu
đáp: "Tôi vì việc ấy mà bị cử tội nhưng nay tâm đã nhu
nhuyến, thấy được lỗi lầm, đã tuân hành pháp tùy thuận",
thì nên xả việc cử tội. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là làm yết ma cử tội
ở chỗ khác. 4-
Rừng Khai Nhãn. Khi
Phật chưa ngăn cấm Tỉ-kheo-ni ở nơi hoang vắng, Ðại ái
đạo Cù Ðàm Di cùng với 500 Tỉ-kheo-ni ngồi thiền trong rừng
Khai Nhãn. Họ thuộc các dòng họ Thích Ca, họ Ma La, họ Li
Xa xuất gia, đều là những người nữ trẻ trung, đoan chính.
Ðầu đêm, các Tỉ-kheo-ni ấy đang ngồi thiền thì bị bọn
thanh niên dâm đãng đi đến định xâm phạm tiết hạnh. Các
Tỉ-kheo-ni liền dùng thần túc để chạy thoát. Nửa đêm,
cuối đêm, họ cũng trở lại ngồi thiền và cũng bị bọn
thanh niên kia đến quấy nhiễu như trước. Những người không
ngủ, lanh lợi thì dùng thần túc để thoát thân ; còn những
người ngủ gật, ám độn thì bị bọn chúng xâm phạm tiết
hạnh ; do thế tâm họ sinh nghi ngờ (là mình phạm tội). Các
Tỉ-kheo-ni khác bèn nói với các Tỉ-kheo-ni ấy: -
Các cô đã phạm tội Ba la di. -
Tôi không có cảm giác thích thú, tôi không biết có tội hay
không. Các
Tỉ-kheo-ni bèn đem sự việc ấy nói với Ðại Ái Ðạo. Ðại
Ái Ðạo lại đem nhân duyên ấy bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật dạy: -
Những ni A la hán ấy đã đoạn trừ tham dục, sân hận, si
mê, không cảm thọ dục lạc nên không có tội. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là rừng Khai Nhãn. 5-
Ngoại đạo xuất gia. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích ở Ca Duy La Vệ,
lúc ấy có một Tỉ kheo đến giờ khất thực, liền khoác
y vào thành Ca Duy La Vệ khất thực. Thầy gặp một người
nữ xuất gia ngoại đạo tên Tôn Ðà Lợi, trẻ trung, dung
nhan đoan chánh, khoác y mới nhuộm, một tay cầm gậy có ba
chảng, một tay cầm bình nước đang đi trước thầy trên
đường phố. Tỉ kheo thấy thế, lòng dục phát sinh, bèn đi
theo sau cô ta. Lúc ấy có một con trâu cái vừa mới sinh con,
dùng sừng xúc Tỉ kheo ném lên trên người nữ, (465c) khiến
tâm Tỉ kheo sinh nghi (là mình phạm tội). Các Tỉ kheo bèn
đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền hỏi Tỉ kheo: -
Ông có tâm gì? -
Tâm tham dục, bạch Thế Tôn! -
Khi bị sừng trâu húc thì ông có tâm gì? -
Tâm sợ hãi, bạch Thế Tôn! -
Hễ khi có tâm tham dục thì không có tất cả sợ hãi, còn
khi có tâm sợ hãi thì không có tâm tham dục. Ði theo sau người
nữ với tâm tham dục thì mỗi bước đi phạm mỗi tội Việt
tỳ ni. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó là trường hợp ngoại đạo
xuất gia. 6-
Hẹn nhau. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ kheo đến
giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành Xá-vệ, tuần
tự khất thực. Khi thầy đến
một nhà kia, có một người phụ nữ nói với thầy: -
Này Tỉ kheo! Có muốn làm việc ấy thì đến đây. -
Phép tắc Tỉ kheo của tôi không được làm việc ấy. -
Nếu thầy không chịu làm việc ấy thì tôi sẽ làm cho thân
mình bị thương tích rồi hô hoán lên rằng: "Tỉ kheo cưỡng
hiếp tôi". -
Tôi phải về lại tinh xá rồi mới đến. -
Thầy là Sa-môn Thích tử không nên nói dối, đã hẹn thì
phải đến. -
Vâng. Thế
rồi, Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền nói: -
Ðó là lời nói phi pháp, không nên nghe, mà đã nghe thì không
nên hứa, mà đã hứa thì phải đem nhiều Tỉ kheo đến đó. Thế
rồi, thầy ấy dẫn theo nhiều Tỉ kheo đến đó, nói như
sau: -
Này chị em! Chúng tôi đã đến. -
Xin chào các thầy. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là hẹn nhau. 7-
Không tĩnh tưởng. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, có một Tỉ kheo ngồi một
mình dưới gốc cây quán tưởng về không tĩnh, rồi tự nói:
"Ta đã đắc quả A la hán". Các
Tỉ kheo khác nghe thầy nói như thế, liền nói: -
Này trưởng lão! Thầy không thật chứng được mà tự xưng
được pháp hơn người, phạm tội Ba la di. -
Thưa trưởng lão! Tôi không tự xưng mình được pháp hơn
người. Tôi ngồi dưới gốc cây quán tưởng về pháp không
tĩnh, rồi nói: "Ta đã đắc A la hán rồi vậy". Các
Tỉ kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền hỏi Tỉ kheo ấy: -
Ông thật sự không được pháp hơn người mà tự xưng là
được pháp hơn người phải không? -
Bạch Thế Tôn! Con không tự xưng được pháp hơn người.
Con ngồi một mình dưới gốc cây quán tưởng về pháp không
tĩnh rồi nói: "Ta đã đắc A la hán". -
Ðó là phép quán tưởng về không tĩnh mà xưng là pháp hơn
người, phạm tội Thâu lan giá. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là không tĩnh tưởng. 8-
Sông Tô Hà. Khi
Phật an trú tại Tỳ Xá Li, lúc các Tỉ kheo Tăng tập hợp
tại một chỗ thì tôn giả Ðại Mục Liên nói như sau: -
Thưa trưởng lão! Khi tôi nhập Vô sắc định tôi nghe tiếng
vẫy tai của các con voi đang uống nước ở sông Tô Hà. Các
Tỉ kheo nói: -
(466a) Không thể có chuyện đó. Khi nhập định Vô sắc thì
vượt qua mọi sắc tưởng, làm sao còn nghe tiếng? Thầy nói
dối không thật, cần phải làm yết ma cử tội. Thế
là họ tập họp Tỉ kheo Tăng. Phật dùng thần túc từ không
trung đến, biết mà vẫn hỏi các Tỉ kheo: -
Các ông đang làm gì đó? Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn,
cho đến: nói dối không thật, phải làm yết ma cử tội. Phật
liền nói với các Tỉ kheo: -
Mục Liên thực sự được định Vô sắc, nhưng chưa biết
rành tướng xuất nhập. Ðó là nghe khi xuất định chứ không
phải nghe khi nhập định. Ðoạn,
Phật quay sang nói với Mục Liên: -
Ông nên phân biệt để biết một cách rõ ràng. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là sông Tô Hà. 9-
Giảng đường. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ kheo tập họp
tại một chỗ rồi cùng nhau bàn luận: -
Cây cột của giảng đường thiện pháp này chống đỡ cây
xà nhà phải không? Tôn
giả Mục Liên nói: -
Chống đỡ xà nhà. Lúc
ấy có một Tỉ kheo chưa có tuổi hạ nói: -
Không chống. Hỏi: -
Không chống (cách hở) chừng bao nhiêu? Ðáp: -
Chừng một mảy lông. Các
Tỉ kheo bèn sai một Tỉ kheo có thần túc đến quan sát xem
có chống hay không chống. Thầy
xem xong, trở về nói: -
Không chống (cách hở). Hỏi: -
Không chống chừng bao nhiêu? Ðáp: -
Không chống chừng một mảy lông. Các
Tỉ kheo bèn nói với Mục Liên: -
Thầy không biết có chống hay không chống, vì sao lại nói
có chống? Thầy nói dối không thật, cần phải làm yết ma
cử tội! Thế
là Tăng liền tập họp, làm yết ma cử tội. Khi ấy, Phật
dùng thần túc đến từ hư không, Ngài biết mà vẫn hỏi
các Tỉ kheo: -
Các ông đang làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn! Tôn giả Ðại Mục Liên (cho đến) không chống
mà nói có chống, nói dối không thật. Chúng con định làm
yết ma cử tội. Phật
liền hỏi Tỉ kheo chưa có tuổi hạ: -
Vì sao ông biết là không chống? -
Bạch Thế Tôn! Con đã có lần ngồi thiền tại giảng đường
Thiện Pháp ấy. Phật
liền nói với Ðại Mục Liên: -
Vì sao ông không xem cho kỹ? Ông hãy đến xem lại cho đúng
sự thật. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là giảng đường Thiện
Pháp. 10-
Tướng quân Sư Tử. Khi
Phật an trú tại thành Tì-xá-li, lúc này vua A Xà Thế đã
có oán thù với người Li Xa ở thành Tì-xá-li. Vua muốn đem
bốn binh chủng đến chinh phạt người Li Xa. Nghe tin quân của
nhà vua sắp đến, tướng quân Sư Tử người Tì-xá-li liền
đi đến chỗ tôn giả Ðại Mục Liên, hỏi: -
Thưa tôn giả! Trong trận này ai thắng, vua A Xà Thế thắng
hay chúng tôi thắng? -
Vua sẽ thắng. -
Có điềm gì báo trước chăng? -
Tôi thấy phi nhân của hai nước đánh nhau mà phi nhân của
vua thắng cho nên vua cũng sẽ thắng. Tướng
quân Sư Tử nghe nói thế, liền tuyển mộ được 500 trai tráng
dũng mãnh trong nước rồi hỏi bọn họ: -
Chúng ta nên làm kẻ phi trượng phu mà chết, hay nên làm kẻ
trượng phu xông vào hầm lửa để mà sống? -
Nên làm kẻ trượng phu mà sống, lại còn cứu vớt được
quyết thuộc. (466b)
Khi ấy, vua A Xà Thế nghe Ðại Mục Liên nói như vậy nên
không sợ, chậm rãi từ từ thuận theo dòng nước sông Hằng
tiến quân lên. Tướng quân Sư Tử bèn đem quân mai phục đánh
bất ngờ khi chưa xáp trận nên đại phá được quân giặc.
Vì bị bất ngờ, không có quân cứu viện, vua A Xà Thế vượt
hiểm nguy, thoát chết, một mình một ngựa trở về nước,
bèn chê trách Mục Liên: -
Vì tôn giả Ðại Mục Liên mà khiến cho việc nước của
ta bị nghiêng ngửa. Khi
tướng quân Sư Tử người Li xa thuộc Tì-xá-li phá được
quân địch rồi, hoan hỷ nói như sau: -
Mục Liên khủng bố ta, vì thế mà ta được thắng lợi lớn,
tuy là lời nói không đúng, nhưng ta rất mang ơn lời nói hư
dối ấy. Lúc
ấy, các Tỉ kheo nghe vua A Xà Thế tức giận người Li xa,
lại oán hận Mục Liên, bèn bàn nhau: -
Tôn giả Ðại Mục Liên không biết ai thắng, ai bại, mà lại
nói dối không thật. Thế
rồi, Tỉ kheo Tăng tập hợp định làm yết ma cử tội Mục
Liên. Phật liền dùng thần túc đi đến, tuy biết nhưng Ngài
vẫn hỏi các Tỉ kheo: -
Các ông định làm việc gì đấy? -
Bạch Thế Tôn! Ðại Mục Liên, cho đến nói dối không thật.
Chúng con định làm yết ma cử tội. -
Mục Liên thấy trước mà không thấy sau. Ðoạn,
Phật bảo Mục Liên: -
Ông nên xem xét cho kỹ. Như
thế là hết phần Tì ni. Ðó gọi là trường hợp tướng
quân Sư Tử. 11-
Nam nhi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ðại Mục Liên có
người đàn việt quen biết, bà vợ ông đang mang thai, bèn
hỏi thầy: -
Thưa thầy tôi sinh con trai hay con gái? -
Sinh con trai. Bà
hỏi đến ba lần như vậy, thầy đều bảo là sinh con trai.
Nhưng sau khi sinh ra lại là con gái ; bà mẹ ấy bèn oán trách: -
Mục Liên suốt đời đều nói dối, nói sinh con trai mà là
sinh con gái, chỉ vì muốn làm cho người ta vui lòng mà nói
như thế. Các
Tỉ kheo nghe như vậy, thắc mắc: -
Vì sao tôn giả Ðại Mục Liên không khéo phân biệt mà lại
nói dối, cần phải làm yết ma cử tội. Liền
tập hợp Tỉ kheo Tăng. Phật bèn dùng thần túc đi đến,
tuy biết mà vẫn hỏi các Tỉ kheo: -
Các ông định làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn! Ðại Mục Liên... nói dối, không thật, chúng
con định làm yết ma cử tội. -
Mục Liên thấy trước đây là con trai mà không thấy trung
gian, vì Dạ xoa Di Tố làm đảo lộn: nhà cần con gái thì
đem cho con trai, nhà cần con trai thì đem cho con gái. Ðoạn
Phật bảo người ấy: -
Ngươi hãy đến nói với nhà kia như sau: Ðức Thế Tôn dạy
rằng con gái là của bà, con trai là của tôi. Họ
liền đến đó thương lượng và cuối cùng đã đồng ý trao
đổi cho nhau. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là trường hợp con trai. 12-
Ðồng tử Li xa. Khi
Phật an trú tại thành Tì-xá-li, đến giờ khất thực, Ngài
khoác y, cầm bát cùng với nhiều Tỉ kheo vào thành Tì-xá-li
khất thực. Bấy giờ có đồng tử Li Xa đang ở trên gác
vui chơi với 500 kỹ nữ. Phật từ xa trông thấy bèn mỉm
cười. Các Tỉ kheo liền hỏi Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có duyên cớ gì (466c) mà Thế Tôn mỉm cười? -
Sau 7 ngày nữa, người này sẽ mệnh chung và rơi xuống địa
ngục. A-nan
liền bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có phương pháp gì làm cho ông ta khỏi rơi
vào địa ngục không? -
Nếu người này xuất gia trong giáo pháp của Như Lai thì sẽ
thoát được. Này A-nan! Ông hãy đến giáo hóa người ấy,
khuyên ông ta xuất gia. A-nan
liền vâng lời Phật dạy đến đó khuyên bảo, và chung cuộc
ông ta đã xuất gia. Phật lại căn dặn A-nan: -
Ông hãy bảo các Tỉ kheo phải bảo hộ người này chớ để
phạm giới mà mang tội nặng. Lúc
ấy, các Tỉ kheo vâng giáo chỉ, bèn đưa Tỉ kheo này vào
ở trong một phòng, rồi khóa cửa ngoài lại. Thế là Tỉ
kheo này mệnh chung vì bị nhiễm gió độc. Khi ấy, thân nhân
của Tỉ kheo này đến thấy thầy đã mệnh chung, lòng rất
đau thương. Phật bèn vì họ, đọc kệ: Nếu
người trăm nghìn năm,
Lúc
ấy, tâm của Tỉ kheo đóng cửa sinh nghi ngờ, hối hận, liền
đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền
hỏi thầy: -
Ông dùng cái tâm gì khi khóa cửa? -
Bạch Thế Tôn! Dùng cái tâm lợi ích vì sợ thầy ấy phạm
giới mắc phải tội nặng. -
Vì ông đóng cửa bên ngoài nên phạm tội Việt tỳ ni. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó là trường hợp đồng tử Li
xa. 13-
Bốn người bỏ việc đánh đấm. Khi
Phật an trú tại thành Tì-xá-li, có bốn người bỏ việc
đánh đấm muốn đi xuất gia, cùng vào cửa thành Tì-xá-li.
Bỗng họ gặp lại kẻ thù cũ. Ngay lúc ấy, thấy người
giữ cửa thành có cây cung, thế là một người liền cầm
cung, một người giương cung, một người bắn mà kẻ thù
không chết. Người thứ tư bèn bắn, thì kẻ thù chết liền. Trong
trường hợp một người bắn chết, một người bắn không
chết thì không nên độ hai người này xuất gia. Nếu họ
đã xuất gia thì nên đuổi đi. Trong trường hợp này một
người cầm cung, một người giương cung không nên độ hai
người này xuất gia. Nếu đã độ họ xuất gia thì nên để
yên. Sau đó, nếu họ làm ác thì phải đuổi đi. Nói chung,
những kẻ hung ác như vậy không nên độ xuất gia. Nếu ai
độ họ xuất gia thọ cụ túc thì phạm tội Việt tỳ ni.
Ðó gọi là bốn người bỏ việc đánh đấm. 14-
Trường hợp ở trên gác. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy có một Tỉ kheo
thành tựu phép quán bất tịnh, chán ngán cái thân nên từ
trên gác nhảy xuống đất tự vẫn. Nhằm lúc ấy ở dưới
đất có hai cha con người kia đang đan sọt tre. Thầy nhảy
xuống nhằm ngay trên người cha, khiến ông ta chết liền.
Thế là người con bèn lôi Tỉ kheo đến chỗ nhà vua, nói
như sau: -
Tâu đại vương! Vì Tỉ kheo này giết cha tôi. (467a)
Vua liền hỏi Tỉ kheo: -
Tôn giả là người xuất gia, vì sao lại giết người? -
Thưa đại vương! Tôi nhàm chán cái thân này nên từ trên
gác nhảy xuống đất, rơi nhằm trên mình cha của người
này, sự thật là như vậy. Nghe
thế vua bèn ra lệnh thả Tỉ kheo đi. Người con thấy thế
oán trách, nói: -
Tâu đại vương! Vì sao kẻ sát nhân mà không hỏi tội? Nhà
vua liền dùng phương tiện khéo léo để giải tỏa tâm ý
của anh ta, bèn truyền lệnh: -
Ngươi hãy trở về lại trên gác, bảo Tỉ kheo đứng dưới
đất rồi ngươi nhảy xuống trên mình Tỉ kheo ấy giết chết
ông ta để trả thù cho cha mình. Người
ấy vì yêu quí tánh mạng mình nên không dám tự nhảy xuống.
Lúc ấy tâm Tỉ kheo sinh hoài nghi bèn đem sự việc ấy đến
bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật hỏi thầy: -
Ông dùng cái tâm gì khi nhảy xuống? -
Bạch Thế Tôn! Vì con chán cái thân này. -
Này Tỉ kheo! Ông không nhìn ở dưới trước mà tự nhảy
xuống nên phạm tội Việt tỳ ni. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là trường hợp ở trên
gác. 15-
Dời đá. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy có hai cha con ông
già kia xuất gia, rồi cùng nhau lên nói Kỳ Xà Quật. Người
con đi trước, thấy giữa đường có đá, bèn suy nghĩ: "Ta
phải dọn con đường cho sạch khiến lối đi phẳng phiu không
chướng ngại để dễ dàng đi lên", liền dời những hòn
đá. Nhưng không may, hòn đá rớt lăn trúng người cha, khiến
ông ta chết liền. Người con trong lòng ảo não, sinh hoài nghi,
nghĩ: "Ta đã làm hai việc không lợi ích: giết người, giết
cha". Nghĩ thế thầy bèn đem sự việc ấy bạch đầy đủ
lên Thế Tôn. Phật liền hỏi thầy: -
Ông dùng tâm gì để dời đá? -
Bạch Thế Tôn! Vì con muốn dọn đường cho thông để cha
đi được dễ dàng. -
Dời đá ở giữa đường phạm tội Việt tỳ ni. 16-
Suối nước nóng. Khi
Phật an trú tại vườn trúc Ca Lan Ðà ở thành Vương Xá,
lúc ấy có thầy Tỉ kheo vào suối nước nóng tắm rửa thì
dục tâm sinh khởi, nam căn cử động chạm với nước liền
bị xuất tinh. Do đó, tâm thầy sinh nghi, hối hận, bèn đem
sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền hỏi
thầy: -
Ông dùng tâm gì khi tắm? -
Bạch Thế Tôn! Tâm tham dục. -
Ông phạm tội Tăng già bà thi sa. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là trường hợp suối nước
nóng. 17-
Dâm nữ. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy có thầy Tỉ kheo
đến giờ khất thực bèn khoác y, cầm bát vào thành tuần
tự khất thực. Khi thầy đến một nhà dâm nữ, cô này mời
mọc: -
Này Tỉ kheo! Vào đây cùng làm việc ấy. -
Ðức Thế Tôn chế giới không cho làm việc đó. -
Tôi biết Thế Tôn chế giới không cho hành dâm, nhưng ông
hãy hành dâm ở trong (âm hộ) rồi xuất tinh ở ngoài. Tỉ
kheo bèn cùng với cô ta hành lạc, rồi tâm sinh nghi ngờ, hối
hận, liền đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật liền dạy: -
Nếu hành lạc trong âm hộ rồi xuất tinh bên ngoài, hoặc
thủ dâm bên ngoài rồi xuất tinh bên trong, hoặc hành lạc
bên trong rồi xuất tinh bên trong, nếu chạm vào một mảy
may thậm chí như hạt mè, thì phạm tội Ba la di. Như
vậy là hết phần Tì ni. Ðó gọi là trường hợp dâm nữ. 18-
Tam bà tha. (467b)
Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy tôn giả Tất
Lăng Già Bà Tha đang sống tại trong thôn. Ðến giờ thầy
bèn khoác y, cầm bát tuần tự đi khất thực. Khi được thức
ăn rồi, thầy bèn đi vào nhà một mục đồng thọ trai, thì
có một người con gái đến bên thầy khóc lóc. Thầy liền
hỏi cô ta: -
Vì cớ gì mà con khóc? -
Thưa thầy! Hôm nay là ngày lễ hội, mọi người đều đi
tham dự vui vẻ, chỉ có mình con là không có y phục nên không
được đi, thì làm sao mà không khóc? Khi
ấy tôn giả bèn hóa ra các loại y phục được trang điểm
đủ thứ châu báu anh lạc, vàng bạc rồi cho cô. Khi được
y phục, cô ta liền đi dự lễ hội... Vua nghe thế, bèn gọi
cô ta đến hỏi: -
Người được loại anh lạc quí báu này ở đâu vậy? -
Tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha cho tôi. Vua
liền gọi Tỉ kheo đến, hỏi: -
Tôn giả được thứ kim loại quí giá này ở đâu mà trên
đời này không có? Tỉ
kheo bèn cầm tích trượng đập vào vách, vào giường thì
tất cả đều hóa thành vàng, rồi nói như sau: -
Thủ đà la, do đâu mà được vàng? Chính là do thế này đây. Vua
liền nói: -
Thầy có đại thần túc, thôi hãy trở về. Ðồng thời cho
cô gái chăn trâu trở về nhà luôn. Các
Tỉ kheo nghe thấy việc Tất Lăng Già Bà Tha hiển hiện linh
dị và cô gái chăn trâu bị bắt nên quyết định làm yết
ma cử tội, bèn tập hợp Tỉ kheo Tăng. Bấy giờ đức Thế
Tôn liền dùng thần túc đi đến. Tuy biết, Ngài vẫn hỏi
các Tỉ kheo: -
Các ông đang làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn! Tất Lăng Già Bà Tha hiển hiện linh dị. v.v...
và cô gái chăn trâu bị bắt. Phật
liền hỏi Tất Lăng Già Bà Tha: -
Có thật ông hiển hiện linh dị khiến cho cô gái chăn trâu
bị bắt không? -
Bạch Thế Tôn! Con không cố ý hiển hiện linh dị để cô
gái chăn trâu bị bắt, con chỉ vì lòng từ mà thôi. Ðoạn,
Phật nói với các Tỉ kheo: -
Vì đó là đại thần túc của Tất Lăng Già Bà Tha nên không
có tội. Như
thế là hết phần Tì ni. Lại
nữa, khi tôn giả Tất Lăng Già Bà Tha ở tại thôn xóm, tự
mình tô phòng ở. Khi vua Bình Sa đến, thấy tôn giả tự tô
phòng ở bèn hỏi thầy: -
Thầy đang làm gì đó? -
Thủ đà la! Tôi đang tô phòng ở. -
Thầy không có người để sai bảo sao? Tôi sẽ cung cấp người
làm vườn cho thầy. -
Không cần đâu, thủ đà la. Vua
ngỏ ý đến ba lần nhưng thầy vẫn từ chối không nhận.
Những người trong thôn nghe thế, bèn đến chỗ thầy cầu
xin: -
Thưa thầy! Thầy nhận chúng con làm người làm vườn, chúng
con sẽ phục dịch cho thầy. -
Nếu tất cả các ngươi có thể thọ trì 5 giới thì ta sẽ
nhận. -
Chúng con có thể thọ trì. Thế
là thầy nhận họ, rồi cho tất cả thọ 5 giới và bắt trì
trai, tu đức. Nhờ vậy xóm làng trở nên giàu có thịnh vượng,
nhưng rồi bị bọn giặc cướp từ ngoài đến cướp bóc
đàn bà con gái và tài vật. Khi ấy người trong thôn bèn đến
thưa với thầy: -
Thưa thầy! Bọn cướp đến cướp con trai, con gái, tiền bạc
của chúng tôi chỉ trong một ngày (467c) mà hết sạch. Tôn
giả Tất Lăng Già Bà Tha liền nhập định từ bi, thấy bọn
cướp đang xua đuổi những người kia đi, bèn nói với chúng: -
Này thủ đà la! Vì sao các ngươi lại cướp người làm vườn
của ta? Tức
thì hóa ra một cái hầm lớn khiến những người làm vườn
ở bên này bờ còn bọn cướp ở bên kia bờ, rồi nói: -
Này thủ đà la! Bọn ngươi hãy đi đi. Các
Tỉ kheo nghe thế bèn nói như sau: -
Tất Lăng Già Bà Tha chính là kẻ cướp lại đi cướp kẻ
cướp, cần phải làm yết ma cử tội. Thế
rồi, Tỉ kheo Tăng tập hợp, kiểm điểm việc này. Khi ấy,
Thế Tôn liền dùng thần túc đi đến. Tuy biết Phật vẫn
hỏi các Tỉ kheo: -
Các ông đang làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn! Tất Lăng Già Bà Tha chính là kẻ cướp, lại
đi cướp kẻ cướp, chúng con định làm yết ma cử tội. Phật
liền hỏi Tất Lăng Già Bà Tha: -
Ông có việc đó thật không? -
Bạch Thế Tôn! Con không phải là kẻ cướp mà lại đi cướp
kẻ cướp. Chỉ vì dân chúng trong thôn đến khóc lóc báo
tin cho con nên con vì lòng từ mà làm như vậy. -
Ðó là Ðại thần túc, không có tội. Như
vậy là hết phần Tì ni. LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ hai mươi chín.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||