| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ BẢY Lại
nữa, khi Phật du hành tại nước Câu Tát La, lúc ấy các Tỉ
kheo cầm y bát của Hòa Thượng, A xà lê đi trước, ra ngồi
tụ tập ở ngoài cổng để đợi thầy, vì sợ mất y chỉ
nên không dám ra khỏi cương giới. Phật biết mà vẫn hỏi
các Tỉ kheo: -
Ðây là các Tỉ kheo nào mà ngồi tụ tập như vậy? Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc kể trên bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền nói với các Tỉ kheo: -
Ðây không phải là rời y chỉ. Ðợi khi Như Lai du hành nước
Câu Tát La trở về thành Xá-vệ, các ông hãy nói lại, để
Ta chế định phép xả y chỉ cho các đệ tử. Khi
Phật trở về thành Xá-vệ, các Tỉ kheo đem sự việc trên
bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi nói: -
Nay thật là đúng lúc, xin Thế Tôn chế định phép xả y chỉ
cho các đệ tử. Phật
liền bảo các Tỉ kheo: -
Khi Hòa Thượng mệnh chung là rời y chỉ ; hoặc là thôi tu,
bị cử tội, hoặc ra ngoài cương giới nghỉ lại một đêm
; hoặc đệ tử cọng trú ra ngoài giới ngủ một đêm ; đó
gọi là rời y chỉ. Nếu thầy y chỉ mệnh chung, thôi tu, bị
cử tội, hoặc ra ngoài giới nghỉ lại một đêm, hoặc đệ
tử y chỉ ra ngoài giới nghỉ lại một đêm, hoặc đệ tử
đã đủ 5 tuổi hạ, khéo biết pháp, khéo biết luật, được
rời y chỉ, đó gọi là xả y chỉ. Nếu Tỉ kheo không khéo
biết pháp, không khéo biết luật, không thể tự lập, không
thể xây dựng cho người khác thì Tỉ kheo ấy suốt đời
phải y chỉ người khác mà sống. Nếu Tỉ kheo đủ 10 tuổi
hạ, khéo biết pháp, khéo biết luật, có thể tự lập, có
thể xây dựng cho người khác thì Tỉ kheo ấy được nhận
người khác y chỉ. Ðó
gọi là phép tắc của Hòa Thượng, A xà lê, đệ tử cọng
trú và đệ tử y chỉ. PHÉP
TẮC CỦA SA DI. Thế
Tôn không thích việc cha mẹ vì quá thương yêu, khóc lóc khi
Ngài sắp làm Chuyển Luân Vương mà bỏ nhà xuất gia, cho đến
khi tôn giả La Hầu La xuất gia, các nhân duyên này đã được
nói rõ ở những chỗ khác, nên Ngài nói với Xá-lợi-phất: -
Ông hãy đến độ La Hầu La xuất gia. -
Con độ La Hầu La xuất gia bằng cách nào, bạch Thế Tôn? -
Ông đến đó, dạy La Hầu La nói như sau: -
Con là La Hầu La, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (nói như
vậy ba lần). Con là La Hầu La quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi,
(460c) quy y Tăng rồi, suốt đời không sát sinh, không trộm
cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu ; Phật
Thế Tôn xuất gia, con là La Hầu La cũng theo Phật xuất gia
(nói như vậy ba lần). Phật Thế Tôn xuất gia, con là La Hầu
La cũng theo Phật xuất gia, bỏ y phục thế tục, khoác ca sa,
suốt đời không sát sinh giữ giới Sa di, suốt đời không
trộm cắp giữ giới Sa di, suốt đời không dâm dục giữ
giới Sa di, suốt đời không nói dối giữ giới Sa di, suốt
đời không uống rượu giữ giới Sa di, suốt đời không trang
sức hương hoa giữ giới Sa di, suốt đời không xem nghe múa
hát nhạc kịch giữ giới Sa di, suốt đời không ngồi trên
giường cao rộng giữ giới Sa di, suốt đời không ăn quá
giờ giữ giới Sa di, suốt đời không cầm giữ vàng bạc
và tiền giữ giới Sa di, xin luôn luôn ghi nhớ như vậy. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ tôn giả A-nan có một người đàn việt quen biết,
cả nhà ông bị một cơn bệnh dịch chết hết, chỉ còn một
đứa nhỏ, nó thường nhặt những hạt gạo rơi nơi chợ
búa để nuôi sống. Khi tôn giả A-nan đi ngang qua đó, đứa
bé trông thấy, liền chạy theo sau gọi: "Ông! Ông!". Nhưng
A-nan không nghe nên cứ đi tới, liền bị người đời chê
trách: -
Vì sao Sa-môn Thích tử khi người ta còn cha thì tìm cách làm
thân như cha như con, bây giờ thấy người ta suy vi tan tác
thì không đoái hoài đến, khiến đứa bé chạy theo kêu không
ngừng? A-nan
nghe thế, quay nhìn lại biết được, liền gọi: -
Con lại đây. Thế
rồi, đứa bé đi theo sau A-nan về tinh xá Kỳ Hoàn. Phật thấy
thế, tuy biết mà vẫn hỏi: -
Con của ai vậy? A-nan
bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi
hỏi: -
Bạch Thế Tôn! Ðứa bé này có xuất gia được không? -
Ông dùng tâm gì mà độ nó? -
Tâm từ mẫn, bạch Thế Tôn! -
Xuất gia được! -
Bạch Thế Tôn! Cho xuất gia bằng cách nào? -
Như trường hợp cho La Hầu La xuất gia ở trên đã nói rõ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, có một người già cả xuất gia, rồi an cư tại
một thôn xóm. Sau khi an cư xong, thầy dẫn theo 10 Sa di đi đến
thăm viếng Thế Tôn. Khi ấy, Thế Tôn đang ngồi ở chỗ trống,
vị Tỉ kheo già ấy từ xa trông thấy Thế Tôn, bèn chỉ,
nói với các Sa di: -
Ðấy là ông Tổ của các ngươi đó. Khi
ấy, các chú Sa di nhỏ bèn tranh nhau chạy trước đến chỗ
Phật, rồi đứa thì nắm giường ghế, đứa thì nắm y kéo,
đứa thì rờ bàn chân, đứa thì cầm bình nước. Phật biết
mà vẫn hỏi thầy: -
Ðó là các Sa di của ai vậy? -
Của con đó, bạch Thế Tôn! -
Vì sao ông độ nhiều Sa di như vậy? Từ nay về sau, Ta không
cho phép nuôi nhiều Sa di. (461a) Nếu nuôi một lần thì tối
đa chỉ được nuôi ba người. Nếu Tỉ kheo có đức lớn
được nhiều người tôn trọng (muốn làm đệ tử) thì nên
gởi gấm cho người khác độ họ, rồi thưa rằng: -
Tôi biết có người chỉ muốn theo thầy tụng Kinh nghe pháp
để tăng trưởng việc tu học, vì vậy xin gởi họ cho thầy. Nên
nói như vậy để gởi gấm cho người khác, nhờ họ dạy
dỗ giúp. Nếu ai nuôi nhiều Sa di, thì phạm tội Việt tỳ
ni. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, có thầy Tỉ kheo dẫn một Sa di về nhà thăm bà
con. Khi đi qua chặng đường ở vùng hoang dã, bỗng có một
phi nhân hóa làm rồng, đi nhiễu quanh bên phải Sa di, dùng
hoa rải lên người, rồi tán thán: -
Lành thay! Ông được lợi ích rất lớn, vì đã bỏ nhà xuất
gia, không cầm vàng bạc và tiền. Vị
Tỉ kheo về nhà người thân thăm hỏi xong rồi, định trở
về lại tinh xá thì bà vợ của người thân nói với Sa di: -
Nay chú trở về, đường sá xa xôi, sợ e thiếu thốn, vậy
hãy cầm theo số tiền này khi đến chợ quán sẽ dễ bề
chi dụng. Sa
di bèn nhận lấy, rồi cột vào trên đầu y mà đi. Khi đến
giữa đường, phi nhân trông thấy Sa di cầm tiền đi theo sau
Tỉ kheo, liền hóa làm rồng đi nhiễu bên trái Sa di, rồi
hốt bụi ném lên Sa di, nói như sau: -
Ông đã mất lợi ích rồi, xuất gia tu hành mà còn cầm tiền
đi. Sa
di liền khóc. Thầy Tỉ kheo ngoái lại thấy thế hỏi Sa di: -
Vì sao ông khóc? -
Con không nhớ là mình có lỗi gì mà vô cớ bị não loạn. -
Ông có cầm vật gì không? -
Con có cầm số tiền này đây. -
Hãy vứt bỏ đi. Sau
khi vứt bỏ, phi nhân lại cúng dường như trước. Thầy Tỉ
kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép Sa di cầm vàng bạc và tiền.
Nếu Tỉ kheo sai Sa di lần đầu tiên cầm vàng bạc và tiền
thì phạm tội Việt tỳ ni. Nhưng nếu thấy Sa di trước đó
đã cầm, rồi sau bảo cầm thì không có tội. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, được chư thiên và
người đời cúng dường, như trên đã nói rõ. Bấy giờ,
sau khi ăn xong, tôn giả Ðại Mục Liên cùng với Sa di Chuyên
Ðầu đi đến bên ao A Nậu ở Diêm Phù Ðề ngồi thiền.
Lúc ấy, Sa di Chuyên Ðầu thấy những hạt cát vàng ở bên
ao, liền suy nghĩ: "Nay ta hãy gói các viên sỏi này đem về
để dưới bình tắm của Thế Tôn". Thế rồi, tôn giả Mục
Liên sau khi xuất thiền, bèn dùng thần túc đi trên hư không
trở về tinh xá. Còn Sa di Chuyên Ðầu thì bị phi nhân giữ
lại. Khi ấy, Mục Liên bèn quay lại, thấy Sa di liền gọi
đến. Sa di nói: -
Con không thể đến được. -
Ông có cầm vật gì sao? -
Con có cầm những hạt cát vàng. -
Ông hãy vứt bỏ đi. Sau
khi Sa di bỏ rồi, liền nương hư không mà đi. Các Tỉ kheo
đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: -
(461b) Từ nay về sau, Ta không cho phép Sa di cầm vàng bạc
và tiền. Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, ở bên
cây Ni Câu Luật, tại nước Ca Duy La Vệ, có các đàn việt
thiết lễ cúng dường trai phạm cho chúng Tăng. Lúc ấy, trong
vườn có một Sa di đang đuổi chim, xua ruồi, nhặt các thứ
cơm, xương, rau quả rơi mà ăn ; nhằm lúc có các bà mẹ vốn
có lòng thương cảm, thấy thế liền nói như sau: -
Sa-môn Thích tử không có lòng từ, ăn không bình đẳng, giống
như nuôi nghé con, trước cho bú rồi sau bỏ đói. Nay đây,
Tỉ kheo nuôi đứa bé này mà không cho ăn, chỉ ăn một mình.
Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì! Các
Tỉ kheo đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: -
Từ nay về sau, người xuất gia khi ăn nên cho ăn bình đẳng.
Về phần Sa di thì gồm có ba phẩm bậc như sau: 1-
Từ 7 tuổi đến 13 tuổi gọi là Sa di đuổi quạ (Khu ô Sa
di)
Cả
ba phẩm này đều gọi chung là Sa di. Khi
ấy, tôn giả Ưu-ba-li biết đúng lúc bèn hỏi Thế Tôn: -
Bạch Thế Tôn! Phải chia phần y an cư cho Sa di như thế nào? -
Nếu Sa di ấy được lòng các Tỉ kheo thì nên cho một nửa,
hoặc một phần ba. Ðược lòng các Tỉ kheo nghĩa là Sa di
ấy giữ giới, làm các việc tốt đẹp. -
Bạch Thế Tôn! Vậy thì chia phần y lúc phi thời cho Sa di như
thế nào? -
Cho phần bằng nhau. Nếu vì sợ Sa di có nhiều y rồi đi làm
điều phi pháp, thì nên cho một nửa hoặc là một phần ba.
Nếu Hòa Thượng, A xà lê của Sa di ấy bảo cho bằng nhau
không khác, thì nên theo lời của thầy mà cho, chia y của vị
qua đời cũng như vậy. Ðó
gọi là phép tắc của Sa di. PHÉP
TẮC CỦA BÁT. Sau
khi thành Phật không bao lâu, Phật an trú tại rừng Thi Lợi
Mạn Trà La. Lúc ấy có hai người lái buôn, người thứ nhất
tên Ðế Lệ Phù Ta, người thứ hai tên Bạt Lê Già ( nói
rộng cho đến) đem bột, mật đi đến dâng Thế Tôn. Thế
Tôn suy nghĩ: "Chẳng hiểu các đức Như Lai Ứng Cúng Chánh
Biến Tri trong thời quá khứ dùng tay nhận thức ăn hay dùng
bát nhận thức ăn?" Sau khi Thế Tôn suy nghĩ như thế, 4 vị
Ðại Thiên Vương mỗi người đều cầm bát bằng vàng đến
dâng lên Thế Tôn. Phật nói: -
Ta không thể nhận loại bát bằng vàng như vậy. Tất cả
các loại bát bằng châu báu Ta đều không thể nhận. Thế
rồi, mỗi vị đều mang bát bằng đá đến. Phật lại suy
nghĩ: "Nếu Ta nhận một bát e rằng tâm ý các vua không vui",
nên Ngài bèn nhận cả bốn bát, rồi đặt chồng lên tay trái,
dùng tay phải nén xuống hợp thành một bát, nhưng ngoài biên
của 4 cái đều hiện rõ. Khi Phật nhận bát rồi, liền nhận
bột, mật của các lái buôn, đoạn, chú nguyện đầy đủ.
Lúc ấy, các lái buôn rất hoan hỷ, đến trước Phật, bạch: -
Xin Thế Tôn cho chúng con (461c) móng tay và tóc để về xây
tháp phụng thờ. Phật
liền cắt móng tay và tóc cho họ đem về xây tháp. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thôn đất trắng Tôn Ba, lúc ấy
thiên thần Tôn Bà đi đến chỗ Phật, bạch: -
Bạch Thế Tôn! Trong thời quá khứ các đức Như Lai Ứng Cúng
Chánh Biến Tri đã sử dụng bát sành ở nơi này. Kính xin
Thế Tôn cho phép các Tỉ kheo sử dụng bát sành. -
Từ nay về sau, Ta cho phép các Tỉ kheo sử dụng bát sành. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ kheo
đi đến nhà thợ đồ gốm Pháp Dự, nói như sau: -
Này lão trượng! Làm cho tôi cái bát. Thế
rồi, ông ta làm một cái bát sành thật đẹp, màu sắc như
vàng, cúng cho Tỉ kheo. Phật thấy thế, liền dạy: -
Ta không cho phép làm bát màu vàng. Ông
lại làm cái bát khác màu bạc. Phật lại dạy: -
Ta cũng không cho phép làm bát bằng màu bạc. Ðoạn,
Phật bảo các Tỉ kheo: -
Hôm nay là ngày chay, hãy đến bảo Ưu bà tắc Pháp Dự tắm
rửa sạch sẽ, mặc y phục mới, đến thọ Bố tát. Thế
rồi, Ưu bà tắc tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục mới, đến
chỗ Phật thọ Bố tát. Ðức Thế Tôn liền chỉ chỗ đất
bảo: -
Ông đã biết chỗ đất này rồi đó, hãy trộn lại như thế
này, nhồi như thế này, đập như thế này, làm như thế này
rồi nung thành bát. Sau khi nung bát hoàn thành phải xông khói
thành ba màu: Một là như màu yết hầu của con công ; hai là
như màu chim Tì lăng già ; ba là như màu chim Bồ câu. Trong
khi xông khói phải để ý theo dõi cho màu sắc được như
thế. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có thầy Tỉ
kheo ở nước Ưu Bà Thi Bà mang bát đến, bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có cho phép dùng loại bát này không? -
Cho phép dùng. Thế
rồi, Tỉ kheo ở nước Ca Hi Da cũng mang bát đến hỏi Phật.
Phật dạy: -
Cho phép dùng. Sau
đó, Tỉ kheo ở phương Bắc đem bát màu đỏ đến, bạch
với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Có cho phép dùng bát màu này không? -
Không cho phép dùng. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, vì 5 sự lợi ích
nên đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cứ 5 hôm đi thị
sát phòng các Tỉ kheo một lần. Trông thấy một Tỉ kheo bị
mụt nhọt ở tay, Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Ông có an vui không? -
Bạch Thế Tôn! Vì tay con bị mụt nhọt, khiến bát bị rơi
xuống đất vỡ bể nên không được vui. -
Từ nay về sau, Ta cho phép các Tỉ kheo dùng bát bằng sắt.
Khi làm bát bằng sắt nên làm lò để nung bát. Khi nung nên
dùng hạt a ma lặc, hạt khư đà la, rồi dùng những gốc tre
lớn để đốt. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy vua A Xà
Thế vừa làm xong một tòa nhà mới, liền suy nghĩ: "Chẳng
hiểu ai có thể biết được những khuyết điểm của tòa
nhà này? Chắc chắn chỉ có Sa-môn Thích tử thông minh trí
tuệ mới có thể biết được những khuyết điểm của nó
mà thôi". Rồi vua suy nghĩ: "(462a) Ta không thể gọi trực tiếp
các Tỉ kheo đếm xem tòa nhà này, mà chỉ nên mở lễ hội,
rồi âm thầm đặt người ở khắp mọi nơi, để lắng nghe
những lời bình phẩm của họ". Khi ấy, các
Tỉ kheo đi vào nhà, rồi một Tỉ kheo nói như sau: -
Ngôi nhà này tất cả đều hoàn hảo, chỉ có một góc sai
lệch chừng một hạt thóc. Lại
một Tỉ kheo khác nói: -
Ngôi nhà này tất cả đều tốt, chỉ có cái ngưỡng cửa
của đường lên gác thấp quá. Vua là dòng Sát Ðế Lợi,
đi đâu phải có nghi vệ lọng quạt, khó mà ra vào một cách
bình thường được. Lúc
ấy có một Tỉ kheo già cả, thấy dưới đất có một đầu
khúc gỗ bị chặt bỏ, liền suy nghĩ: "Cái này tốt, có thể
làm bát được". Khi
các Tỉ kheo thọ trai xong trở về, lúc ấy, những người
mà vua đã bố thí trước kia, bèn tâu lên vua những gì họ
đã nghe được. Vua liền gọi thợ đến, bảo họ dùng thước
đo lại, thì đúng như những gì các Tỉ kheo nói, không sai
chút nào, liền bảo những tay thợ khéo sửa chữa lại. Vua
lại nhớ đến lời nói của vị Tỉ kheo già, nghĩ rằng các
Tỉ kheo đương cần đến bát, liền sai thợ khéo tiện những
cái bát gỗ, rồi làm các món ăn bỏ vào đầy bát ; đồng
thời lấy những cái bát sành, bát sắt bỏ đầy thức ăn
vào, rồi sai người đem đến dâng lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: -
Ta không cho phép dùng bát gỗ, vì nó dính dầu mỡ, đồng
thời nó cũng là hình thức của ngoại đạo nên không được
dùng. Ở
trong đây những gì thanh tịnh thì Thế Tôn nhận, còn những
gì không thanh tịnh thì không nhận. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương xá, lúc ấy vua A Xà
Thế chưa có mối hiềm khích với chủng tộc Li Xa ở thành
Tì-xá-li. Bấy giờ có một lái buôn ở nước phía Nam đem
tặng vua A Xà Thế một viên ngọc. Sau khi được ngọc, vua
suy nghĩ: "Vật báu này là vật cần dùng của các cậu ta".
Nghĩ thế vua bèn sai người đem biếu cho Li Xa. Li Xa được
rồi lại suy nghĩ: "Báu vật này không thể chia được", bèn
đem cất vào trong kho báu. Sau đó, Li Xa đi xem xét các kho báu,
thấy viên ngọc ấy, suy nghĩ: "Vật báu này có thể đem khoét
để làm chén uống nước Thích già la", bèn gọi thợ ngọc
đến khoét làm chén. Khi cái chén làm thành bỗng nhiên giống
hình cái bát, Li Xa lại suy nghĩ: "Ðây là vật dụng của người
xuất gia, không thích hợp với người thế tục, nên tặng
cho Tác Già Ni Kiền Tử". Kẻ khác lại nói: - Nên đem cho Ni
Kiền con của chị ta. Lại
có người nói: - Vì sao lại đem cho những con lừa hạm rượu
đó? Nên đem cho Thế Tôn. Nhiều
người mỗi người một ý như vậy nên họ phải rút thăm
để quyết định và số thăm đồng ý cho Phật nhiều nhất.
Mọi người bàn bạc: -
Chúng ta không thể đem cho Phật cái bát rỗng mà cần phải
tô điểm cho đẹp đẽ. Ðoạn,
họ dùng những viên ngọc nhỏ bỏ đầy bát rồi đặt cái
bát vào trong hộp, đồng thời dùng các thức ăn đựng đầy
các bát sành, bát sắt, rồi đem dâng hiến cho Thế Tôn. Phật
nói với các Li Xa: -
Cái bát ngọc này Ta không thể nhận và những viên ngọc nhỏ
trong bát cũng như hộp đựng bát Ta cũng không thể nhận.
Ta chỉ được phép dùng bát sắt, bát sành chứ không được
phép dùng bát ngọc. Vật gì thanh tịnh thì nên nhận, vật
gì không thanh tịnh thì không nên nhận. Li
Xa bèn đem bát ngọc ấy trở về (462b). Mọi người bàn bạc: -
Nên cho Ni Kiền con của chị chúng ta. Lại
có người nói: -
Với con lừa hạm rượu ấy thì không nên dùng hộp báu và
những viên ngọc nhỏ mà nên dùng dây gai đan cái túi rồi
đựng bát không đem cho. Thế
rồi, họ dùng túi dây gai đựng bát rỗng, sai người mang
cho. Khi ấy, có một Li Xa vốn tín kính Ni Kiền, bèn đến
trước thuật lại với y đầy đủ sự việc kể trên, rồi
dặn: -
Khi họ đưa bát đến đừng nhận. Do
đó, khi bát được đưa đến, Ni Kiền nói: -
Cái bát rỗng ấy ta không nên nhận, dùng dây gai để buộc,
ta cũng không nên nhận. Lúc đầu đem cho Sa-môn Cù Ðàm, sau
đó đem cho ta, do đo, ù ta cũng không nên nhận. Nay ta chỉ
nhận có một việc: Nếu cắt lưỡi của bọn thanh niên Li
Xa, đem tẩm muối mỡ bột, đựng đầy bát rồi mang đến
thì ta mới nhận. Khi
sứ giả trở về trình bày lại đầy đủ sự kiện trên
với các Li Xa, các Li Xa nói: -
Ðó là con của chị ta, vì oán hận mà thốt ra như vậy, hãy
cứ đem cho y. Nhưng
sứ giả đem đến ba lần mà lời nói của y vẫn không thay
đổi. Các Li Xa nói: -
Ðây là việc kỳ quặc, ta bố thí trọng hậu mà trái lại
sinh ra oán hận. Bèn
sai người đến dùng gạch đập chết hắn ta. Các
Tỉ kheo đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn, và
hỏi Phật: -
Bạch Thế Tôn! Vì sao Tát Già Ni Kiền Tử chỉ vì cái lưỡi
mà hại đến thân mình? -
Không những ngày nay do cái lưỡi mà hại đến thân mình (mà
ngày xưa cũng đã từng có) như trong Kinh Bổn Sinh Cử Cát
La đã nói rõ, hoặc trong Kinh Ðiển Ða Lợi Ðiểu Sinh, trong
Kinh Miết Sinh, Kinh Oanh Vũ Sinh cũng đều có đề cập đến. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ kheo
dùng bát ngăn ra từng khoản đựng các thức ăn. Phật biết
mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Trong bát ông đựng những gì vậy? -
Bạch Thế Tôn! Trong đây một chỗ để cơm, một chỗ để
canh, một chỗ để thịt và rau. -
Ông tham trước các loại mùi vị sao? Từ hôm nay Ta không cho
phép ngăn trong bát ra để đựng. Nếu ngăn bát ra để đựng
thì phạm tội Việt tỳ ni. Nhưng nếu dùng bánh ngăn hay cơm
để ngăn thì không có tội. Lại
có Tỉ kheo dùng bát đất chưa nung để ăn nên bị ói mửa.
Phật dạy: -
Nên dùng hạt a ma lặc, hạt khư đà la rồi lấy những gốc
tre bự đốt để xông, sau đó mới sử dụng. Bấy
giờ các Tỉ kheo dùng bát mà không có giỏ đựng. Phật dạy: -
Nên đặt bát vào trong một cái giỏ. Khi
ấy các Tỉ kheo bèn dùng vàng bạc, vật báu làm giỏ đựng
bát. Phật dạy: -
Không nên dùng vàng bạc để làm mà nên dùng đồng đỏ,
thép, chì, thiếc để làm giỏ. Khi
ấy các Tỉ kheo che kín khắp cả bát. Phật dạy: -
Ta không cho phép che trùm tất cả, lớn nhất thì cách vành
bát 4 lóng tay, còn nhỏ nhất thì như lá cây thi xá. Các
Tỉ kheo vẽ các hình tượng chim muông trên giỏ đựng bát.
Phật dạy: -
Ta không cho phép vẽ hình tượng chim muông trên giỏ đựng
bát. Phương pháp làm giỏ đựng bát là vuông hoặc là tròn. Nếu
bát không có giỏ đựng (462c) thì không được để dưới
đất. Nếu
để dưới đất thì phạm tội Việt tỳ ni. Nên để bát
trên cành cây hoặc trên lá, trên cỏ. Nếu bát được đựng
trong giỏ thì để dưới đất không có tội. Nếu
bát đựng trong giỏ mà để trên bùn thì không tội. Cùng
cực lắm thì rưới nước trên đất rồi mới để bát, thì
không có tội. Nếu
để bát trên đất thì phạm tội Việt tỳ ni. CÁCH
THỨC DÙNG CHÁO. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy mẹ của Nan-đà và
mẹ của Ưu Ba Tư Trà La ở trong thành này, cứ nửa tháng
thọ bố tát ba lần vào ngày mồng 8, ngày 14 và ngày 15. Vào
ngày bố tát, bà làm cơm, trước hết dọn cho Tỉ kheo rồi
mới ăn, đến sáng hôm sau lại bố tát. Bà dùng nồi nấu
cơm rồi chắt lấy nước cơm mà uống thì cảm thấy bệnh
phong trong người tan mất và thức ăn trong bụng cũng tiêu,
lại thấy đói muốn ăn, bà suy nghĩ: "A xà lê là người ăn
ngày một bữa, cần phải ăn thêm cháo". Nghĩ thế, bà dùng
nồi đổ nhiều nước và bỏ vào ít gạo, nấu cho cạn bớt
hai phần, còn một phần rồi mới bỏ tiêu, lá lốt vào. Khi
cháo chín, bà múc đầy thố, bưng đến tinh xá Kỳ Hoàn. Ðến
nơi rồi, bà cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đứng
qua một bên rồi bạch: -
Kính xin Thế Tôn cho phép các Tỉ kheo được ăn cháo. Phật
liền dạy: -
Từ nay về sau, Ta cho phép ăn cháo. Vì
ngày hôm ấy có đàn việt cúng dường trai phạn cho chúng
Tăng trong tinh xá khiến các Tỉ kheo tâm sinh nghi, nghĩ rằng:
"Ðức Thế Tôn chế giới không cho ăn nhiều chỗ, vì sao chúng
ta lại tác tịnh để được ăn?". Phật biết thế, liền
dạy: -
Nếu cháo lúc mới múc ra khỏi nồi mà viết trên mặt không
thành chữ thì đó không phải là ăn nhiều chỗ, không phải
là ăn riêng chúng, không phải là ăn no. Trái lại, nếu cháo
lúc mới múc ra khỏi nồi mà viết trên mặt thành chữ thì
đó mới gọi là ăn nhiều chỗ, là ăn riêng chúng, là ăn
no. Thế
rồi, Thế Tôn đọc kệ chú nguyện: Giữ
giới thanh tịnh, người cung phụng,
Lại
nữa, khi Phật du hành tại nước Câu Tát La, dần dần đi
đến thôn của Bà la môn Ha Ðế Khâm (như được nói rộng
ở chỗ khác, cho đến: ) Bà la môn dùng xe chở nào là lúa
mạch, đậu, mè, sữa, dầu, đường phèn đi theo sát bên Thế
Tôn trong sáu tháng, chờ lúc nào không có ai cúng thì ông sẽ
cúng. Khi Phật còn ở đời nhân dân có lòng tin hoan hỷ cúng
dường rất nhiều, bữa ăn trước, bữa ăn sau không khi nào
thiếu thốn như vậy đó. Ðến lượt Phật trở về thành
Xá-vệ (463a) lúc này người nhà của Bà la môn sai người
đưa thư báo cho ông biết vụ mùa đã đến phải trở về
gấp. Bấy giờ, Bà la môn hỏi tôn giả A-nan: -
Thưa tôn giả! Ðức Thế Tôn ngày mai từ cửa nào đi ra, đến
thành Xá-vệ? -
Này Bà la môn! Ông hỏi để làm gì? -
Tôi muốn đem rải những thóc, đậu này trên đường, mong
Phật và Tỉ kheo Tăng đạp lên trên mà đi, coi như quí vị
đã thọ dụng. -
Này Bà la môn! Ðể tôi hỏi Phật đã. Thế
rồi, tôn giả A-nan đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên
Thế Tôn. Phật liền hỏi: -
Này A-nan! Ai từng giáo hóa và nhận sự cúng dường của ông
ta? -
Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xá-lợi-phất. Phật
lại hỏi Xá-lợi-phất: -
Ông từng nhận ông ta cúng dường sao? -
Bạch Thế Tôn! Con từng nhận ông ta cúng dường ngày một
bữa. -
Thế thì ông là người giáo hóa ông ấy. Vậy hãy đến hỏi
ông ấy ngày mai có thể nấu cháo cho chúng Tăng được không? Xá-lợi-phất
liền đến đó thuyết pháp cho ông nghe, rồi hỏi ông có thể
nấu cháo cho chúng Tăng được không, Bà la môn đáp: -
Tôi đã từng muốn đem thóc, đậu rải trên đường để
cho Phật và chúng Tăng dẫm đi qua vì sao không thể nấu cháo
được?! Thế
là đêm đó ông nấu các loại cháo, nào là cháo sữa chua,
cháo sữa tươi, cháo dầu, cháo sữa đóng váng, cháo thịt,
cháo cá. v.v... Ðến sáng sớm, khi Phật và Tỉ kheo Tăng đã
ngồi ổn định, ông bèn tự tay dọn cháo. Phật biết mà
vẫn hỏi ông: -
Gạo để ở đâu? -
Ở đây, bạch Thế Tôn! -
Nấu tại đâu? -
Cũng tại đây, bạch Thế Tôn! -
Thức ăn chứa trong chỗ ở, Ta không cho phép, nấu ăn trong
chỗ ở Ta cũng không cho phép. Ta chỉ cho phép dùng các loại
cháo thanh tịnh khác, không cho phép dùng loại cháo này. Lại
nữa, khi Phật du hành nước Câu Tát La đến thôn của Bà
la môn Cố Thạch, lúc ấy có ông thợ hớt tóc già, hai cha
con xuất gia đang ở thôn này. Ðược tin Thế Tôn sẽ đến
đây, người cha nói với con: -
Ngươi mang theo dụng cụ hớt tóc vào trong thôn tìm gạo, đậu,
sữa, dầu, đường phèn để khi Thế Tôn đến, sẽ nấu các
món cháo cúng dường. Người
con bèn đi vào trong thôn, dân chúng hỏi: -
Ông hớt tóc muốn được vật gì? -
Tôi cần gạo, đậu, sữa, dầu, đường phèn. -
Ông dùng những thứ đó để làm gì? -
Ngày mai Thế Tôn đến, sẽ nấu các món cháo để cúng dường. Các
cư sĩ nghe thế, sinh tâm hoan hỷ, đưa cho nhiều gấp bội
; anh ta bèn mang về nhà. Khi Thế Tôn đến, ông già ấy liền
thân hành nấu các món cháo. Ðến sáng sớm, khi Phật và Tỉ
kheo Tăng ngồi ổn định, ông già ấy liền rửa tay, thân
hành dọn các món cháo lên. Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Ðó là cháo gì vậy? -
Bạch Thế Tôn! Khi con còn ở đời, mỗi lần cúng dường
các Tỉ kheo con thường tự nghĩ: "Không biết lúc nào được
tự tay mình cúng dường Thế Tôn, nên nay con nấu món cháo
này". -
Gạo này nhận được ở nơi nào vậy? -
Ðứa con trai con đi hớt tóc mà có được. -
(463b) Gạo cất chung cùng chỗ ngủ, Ta không cho phép ; nấu
tại chỗ ở, Ta cũng không cho phép ; tự nấu lấy, ta không
cho phép ; đi hớt tóc mướn mà được thực phẩm, Ta cũng
không cho phép. Ta chỉ cho phép ăn những loại cháo khác thanh
tịnh và được làm một cách thanh tịnh. Lại
nữa, khi Phật du hành tại nước Ương Cầu Ða La, lúc ấy
Phạm chí Kê Ni Da Loa Kế nghe Thế Tôn đến, bèn nấu các
món cháo nào là cháo sữa chua, cháo mè, cháo sữa tươi, cháo
sữa đóng váng, cháo dầu, cháo cá thịt. Ðến khi Phật và
Tỉ kheo Tăng ngồi ổn định, ông dọn lên các món cháo. Các
Tỉ kheo tâm sinh nghi, nghĩ rằng: "Thế Tôn chế giới không
cho phép ăn nhiều chỗ, nay vì sao chúng ta được xem đây là
món thanh tịnh để mà ăn?". Phật nghe thế, liền dạy: -
Nếu cháo lúc mới múc ra khỏi nồi mà viết không thành chữ
thì Ta cho phép dùng. Trừ cháo thịt, cháo cá, ngoài ra tất
cả các loại cháo khác thì khi dùng chúng không được kể
là ăn nhiều chỗ, ăn biệt chúng, ăn no. Nếu
Tỉ kheo khất thực, khi nấu cơm chưa chín, chắt lấy nước
cơm rồi uống thì không có tội. Nếu chỉ lấy cơm mà ăn
thì mới gọi là ăn biệt chúng, ăn nhiều chỗ, ăn no. Ðó
gọi là cách thức dùng cháo. PHÉP
DÙNG BÁNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, đức Thế Tôn cứ 4 tháng cạo
tóc một lần. Khi cạo tóc, người đời thường đem bánh
trái đến hiến Thế Tôn. Khi ấy, có một Bà la môn hỏi vợ: -
Trong nhà có vật liệu để làm bánh không? -
Có! Gạo lúa mạch 2 đấu, dầu 4 thăng. Ông định dùng để
làm gì? -
Hôm nay Sa-môn Cù Ðàm cạo tóc, dân chúng ắt mang bánh đến
cúng dường. Bà hãy làm bánh cho nhanh lên để tôi theo bạn
bè đem đến cúng dường Sa-môn Cù Ðàm. Thế
rồi, bà vợ làm bánh, bỏ vào trong thố, dùng khăn sạch đậy
lên trên đưa cho ông chồng mang đi. Lúc ấy, có các quốc
vương, đại thần, Sát lợi, Bà la môn, các lãnh chúa của
18 thôn lớn, tất cả đại chúng đang quây quần xung quanh
Thế Tôn. Thấy thế, Bà la môn này nghi ngại, sợ sệt không
dám đường đột đi tới trước, bèn ngồi một mình ở một
chỗ suy nghĩ: "Nếu Sa-môn Cù Ðàm có nhất thiết trí, nhất
thiết kiến thường quan sát thế gian không có gì là không
thấy, không có gì là không biết, thì nay ta đây cũng là thế
gian, đương nhiên Ngài sẽ biết tâm của ta". Khi ấy, Phật
biết tâm niệm của Bà la môn, từ xa gọi ông ta đến. Lúc
ông đến rồi, Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Bà la môn! Trong cái thố của ông đang đựng vậât gì
vậy? -
Ðó là bánh, bạch Thế Tôn! -
Hãy đem dọn cho chúng Tăng mỗi người một cái. -
Ðại chúng này đến 500 người mà bánh thì rất ít, không
thể nào dọn đủ, bạch Thế Tôn! -
Ông cứ dọn đi. Thế
rồi, Bà la môn đem dọn cho mỗi người một cái mà số bánh
vẫn không giảm bớt. Thậm chí ông đi phát đến ba lần mà
số bánh vẫn như cũ không hề giảm bớt. Lúc ấy, Bà la môn
suy nghĩ: "Sa-môn Cù Ðàm có đại thần lực, số bánh ít ỏi
như thế mà phát cho đại chúng đến ba lần vẫn không hề
giảm bớt". (463c) Phật biết tâm ý Bà la môn hoan hỷ, liền
tùy thuận thuyết pháp, chỉ bảo làm cho ông được lợi ích,
vui vẻ. Bà la môn đạt được quả vị Tu đà hoàn. Các Tỉ
kheo bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Vì sao Bà la môn này dùng phương tiện nhỏ
mà lại được quả báo lớn? -
Không những ngày nay ông dùng phương tiện nhỏ đạt được
quả báo lớn mà trong thời quá khứ cũng đã từng có như
vậy, như trong kinh Bổn sinh đã đề cập. Về
bánh thì gồm có các loại: Bánh đại mạch, bánh lúa mạch,
bánh tiểu mạch, bánh gạo, bánh đậu, bánh dầu, bánh sữa
chua, bánh ma hầu la, bánh bát ba lặc, bánh tai trâu, bánh ba
lợi tư, bánh sô đồ, bánh mạn chỉ la, bánh hoan hỷ hoàn
nhục. Tất cả các loại tương tợ như vậy đều được
gọi là bánh. Trừ bánh thịt, bánh tân trà, ngoài ra tất cả
các loại bánh khác khi ăn không được xem là ăn biệt chúng,
ăn nhiều chỗ, ăn no. Ðó
gọi là phép dùng bánh. PHÉP
DÙNG RAU. Khi
Phật an trú tại ấp lớn tên Tần Ðầu dãy núi phía Nam,
lúc ấy có hai Ưu bà di, người thứ nhất tên Ta Bà Cư, người
thứ hai tên Xoa Ba Năng. Họ nấu (cháo) rau khéo đến nổi
có mùi vị giống như thịt. Khi nấu xong bèn đem cúng dường
cho các Tỉ kheo. Các Tỉ kheo không nhận, lòng sinh hồ nghi,
nghĩ rằng: "Ðức Thế Tôn chế giới không được ăn nhiều
chỗ (lần), vì sao chúng ta lại xem món này là hợp pháp để
mà ăn?" Thế rồi, họ đem sự
việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Ăn tất cả các loại rau không phải là ăn nhiều lần, không
phải là ăn biệt chúng, không phải là ăn no. Về
rau gồm có các loại: rau khô, rau cải, hành, bầu. v.v... tương
tự những loại như vậy đều gọi là rau. PHÉP
DÙNG LƯƠNG KHÔ. Lương
khô gồm có các loại: lương khô đại mạch, tiểu mạch,
khoáng mạch, mông cụ, ma sa, ca la na, y ly, mè. Các loại lương
khô tương tự như vậy khi ăn không được xem là ăn biệt
chúng, ăn nhiều lần, ăn no. Ðó gọi là phép dùng lương khô. PHÉP
DÙNG NƯỚC TRÁI CÂY. Khi
Phật an trú tại thành Vương xá, lúc ấy cư sĩ Ưu Già Lê
mở hội bố thí lớn gồm voi, ngựa, nô tì mỗi thứ 500 và
trong các vật bố thí linh tinh khác có nước ép trái cây để
lâu ngày, do đó các Tỉ kheo uống vào bị say. Họ bèn đem
sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau, nước ép trái cây để lâu ngày, Ta không cho
phép uống. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thôn của Bà la môn Tần Ðầu, ở
núi phía Nam, lúc ấy nhằm ngày lễ hội, các Bà la môn, cư
sĩ đem các thức ẩm thực cúng dường cho các Sa-môn ở trong
thôn. Bấy giờ, đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác
y, cầm bát vào thôn khất thực. Khi ấy, ma ba tuần suy nghĩ:
"Sa-môn Cù Ðàm đang vào thôn khất thực, vậy ta hãy vào trước
trong thôn mê hoặc tâm của những đàn việt, khiến họ không
cúng dường thực phẩm cho ông ta". Thế rồi, đức Thế Tôn
vào thôn khất thực khắp mọi chỗ mà không được thứ gì
nên mang bát không trở ra, đến ngồi dưới một gốc cây.
Lúc ấy, ma ba tuần suy nghĩ: "(464a) Sa-môn Cù Ðàm đi khất
thực khắp nơi mà không được thứ gì, giờ đây ta hãy đến
quấy nhiễu làm cho tâm ý ông rối loạn". Tức thì y đến
chỗ Phật, đứng qua một bên, nói như sau: -
Sa-môn Cù Ðàm! Nên vào thôn khất thực, ta sẽ khiến cho lúc
vừa vào đến thôn, liền được các món ăn ngon. Khi
ấy, Thế Tôn vì ma ba tuần đọc kệ như sau: Nay
ngươi mất lợi ích
Lúc
ấy, ma ba tuần bỗng nhiên biến mất. Thế là ngày hôm ấy
Thế Tôn không được ăn. Các Tỉ kheo nghe được tin này,
những ai đã ăn thì hối hận, những ai ăn nửa chừng thì
nghỉ ăn, còn những ai chưa ăn thì không ăn. Các Sa-môn, Bà
la môn nghe tin Phật và Tỉ kheo Tăng không được ăn, liền
đem 500 chiếc bánh đường phèn đến dâng lên Thế Tôn. Phật
bảo các Tỉ kheo dùng nước tác tịnh rồi nhận lấy, để
những Tỉ kheo bệnh hay không bệnh cũng đều được ăn cả. Lại
nữa, khi Phật an trú bên sông Lê Kì Xà, lúc ấy, bát của
Thế Tôn và bát của Tỉ kheo đều để ở chỗ đất trống.
Bỗng có con khỉ đi ngang qua bụi cây, thấy trong cây có tổ
ong mật đã chín mà không có ong, liền đến lấy bát của
Thế Tôn. Các Tỉ kheo ngăn cản nó, Phật dạy: -
Ðừng có ngăn cản, nó không có ác ý đâu. Thế
là con khỉ bèn cầm bát đi lấy mật đem lại cúng dường.
Thế Tôn chưa nhận, định dùng nước tác tịnh rồi mới
nhận. Con khỉ không hiểu ý Phật, tưởng là Phật chê trong
bát có trùng. Nó xem lại bát thì thấy có vết mật chảy
ở ngoài bát. Nó liền cầm bát đem xuống nước rửa và nước
đã rơi vào trong bát. Ðoạn, nó cầm đến dâng lên cho Phật,
Phật liền nhận lấy. Khi được Phật nhận rồi, con khỉ
vui mừng cực độ, nên vừa đi vừa múa, nhưng rủi thay bị
rơi xuống hầm, chết liền tức khắc. Lúc ấy, các Tỉ kheo
liền đọc kệ: Khi
Phật an trú tại rừng cây
Lại
nữa, khi Phật du hành nước Ương Cầu Ða La, lúc ấy, phạm
chí Kê Ni Da Loa Kế nghe Thế Tôn đến bèn chuẩn bị các loại
nước ép trái cây để đợi Thế Tôn. Khi Thế Tôn đến,
(464b) ông đem các loại nước ấy dâng lên Phật và chúng
Tăng. Các Tỉ kheo tâm sinh nghi, nghĩ rằng: "Ðức Thế Tôn
chế giới không cho phép uống nước ép trái cây để lâu
ngày thì làm sao chúng ta uống được?" Nghĩ thế rồi, các
Tỉ kheo đem ý nghĩ ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật dạy: -
Ta cho phép được uống nước trái ép. Nước trái ép gồm
có 14 loại. 14 loại đó là gì? Ðó là: 1-
Nước am la.
Ðó
gọi là 14 loại nước trái cây ép. Khi đem lọc cho sạch thì
tất cả đều cho phép uống. Nếu chúng biến ra màu rượu,
vị rượu, mùi rượu thì tất cả đều không cho phép uống. Nếu
có ai mang nước ép trái cây đến thì nên tác tịnh. Nếu
dưới đáy hũ còn lại chút ít nước lạnh thì đó được
xem là tác tịnh. Nếu
trời mưa, nước rơi vào trong hũ cũng được xem là tác tịnh. Nếu
khi súc hũ còn sót lại chút nước cũng được xem là tác
tịnh. Nếu
xe chở đường phèn bị mắc mưa, cũng được xem là tác tịnh. Nếu
dùng thuyền chở, nước văng vào trong hũ, cũng được xem
là tác tịnh. Nếu
tịnh nhân rửa tay, nước văng vào trong hũ, cũng được xem
là tác tịnh. Ðó
gọi là phép dùng nước ép trái cây.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||