| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ SÁU VẤN
ÐỀ Y CA-HI-NA. Khi
Phật an trú tại Câu Thiểm Di, vườn Cù Sư La, được Chư
Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, phu nhân của
vua Câu Thiểm Di đem 500 tấm lụa dâng cúng cho Thế Tôn. Phật
bèn bảo A-nan: -
Ông đem các tấm lụa này cho các Tỉ kheo. Nhưng
các Tỉ kheo không lấy, nói với A Nan: -
Ðức Thế Tôn không cho phép cất vải thừa, dùng lụa này
để làm gì? Hơn nữa, nó cũng chưa được giặt nhuộm, lại
càng không hợp pháp. A-nan
bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
nói với A-nan: -
Từ nay trở về sau, Ta cho phép cất vải thừa trong 10 ngày. Thế
rồi, các Tỉ kheo cất các vải ấy đủ 10 ngày, bèn cầm
đến bạch với Phật: -
Các vải này đã cất đủ 10 ngày, bạch Thế Tôn! Phật
liền dạy: -
Từ nay trở về sau, Ta cho phép thọ y Ca-hi-na. Y Ca-hi-na có
các trường hợp: thời gian; chúng Tăng nhiều người, một
người; năm việc lợi ích; mới; chưa thọ; bất đình, tiệt
tịnh; nhiễm tịnh; điểm tịnh; đao tịnh. 1-
Thời gian: Thời
gian thọ y Ca-hi-na từ 16 tháng 7 đến 15 tháng 8. Ðó gọi là
thời gian. 2-
Chúng Tăng: Chúng
Tăng làm y Ca-hi-na thì không được cho nhiều người, không
được cho một người; nhiều người làm y Ca-hi-na thì không
được cho một người. 3-
Năm việc lợi ích:
Khỏi phạm năm tội sau đây: được ăn riêng chúng; được
ăn nhiều chỗ; trước bữa ăn, sau bữa ăn đi đâu không cần
bạch với chúng; được cất vải lâu ngày; được rời y
mà ngủ. Ðó gọi là năm việc lợi ích. 4-
Mới: vải mới. 5-
Chưa thọ: Chưa
từng dùng làm ba y. 6-
Bất đình: Y
tịnh thí khi xả rồi được dùng làm y Ca-hi-na. Ðồng thời
các loại y Tăng-già-lê, Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, y che
ghẻ, y tắm mưa và những tấm vải được may thêu mà chưa
sử dụng đều được dùng làm y Ca-hi-na. 7-
Tiệt tịnh: Cắt
các tua để tác tịnh. 8-
Nhiễm tịnh:
Nhuộm để tác tịnh. 9-
Ðiểm tịnh:
Chấm ở góc để tác tịnh. (452b) 10-
Ðao tịnh: Dùng
dao cắt ba nhát, đứt ba sợi, cách đầu góc tấm vải chừng
bốn ngón tay, đó gọi là đao tịnh. Nếu
đàn việt cúng dường cho Tăng vải may y Ca-hi-na, thì không
được im lặng thọ nhận, mà người thọ nhận nên nói như
sau: -
Nay tôi nhận vải để may y Ca-hi-na này cho Tăng. Khi
nhận xong, đem vào giữa Tăng, tay cầm tấm vải căng ra, dơ
cao lên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe! Nay Tăng được tấm vải này,
nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nhận lấy tấm vải
may y Ca-hi-na này. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe! Nay Tăng được tấm vải này, Tăng
nay nhận tấm vải may y Ca-hi-na này. Các đại đức nào bằng
lòng nhận lấy tấm vải may y Ca-hi-na này thì im lặng, ai không
bằng lòng hãy nói: Tăng đã bằng lòng nhận lấy tấm vải
may y Ca-hi-na này xong, vì im lặng, tôi ghi nhận việc này như
vậy. Khi
nhận xong, xem trong Tăng ai có thể may y Ca-hi-na được thì
làm yết ma giao cho một, hai hoặc ba người. Người làm yết
ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nay Tăng được tấm vải này.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỉ kheo mỗ giáp,
mỗ giáp và những người khác may y Ca-hi-na cho Tăng. Ðây là
lời tác bạch. -
Xin đại đức tăng lắng nghe. Nay Tăng được tấm vải này,
Tăng nay cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp và những người khác
may y Ca-hi-na cho Tăng. Các đại đức nào bằng lòng Tỉ kheo
mỗ giáp, mỗ giáp và những người khác may y Ca-hi-na cho Tăng
thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng cử Tỉ kheo mỗ giáp, mỗ giáp may y Ca-hi-na
cho Tăng xong, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Một
người làm chủ trong số những người làm yết ma, khi nhận
tấm vải này, nên nói như sau: -
Nhận tấm vải may y Ca-hi-na này, Tăng nên nhận. (Nói
như vậy ba lần) Khi
giặt nên nói như sau: -
Giặt y Ca-hi-na này, Tăng nên nhận. Khi
cắt, khi may, khi nhuộm, khi điểm tịnh tùy theo việc làm gì
đều nói như trên. Người
dùng dao điểm tịnh, khi hạ dao cắt cách đầu góc tấm vải
bốn ngón tay, nên nói như sau: -
Y Ca-hi-na này Tăng nên thọ. (Nói
ba lần như thế) Khi
làm các việc khác cũng phải nói như thế. Nếu tác tịnh
mà không nói thì cũng được gọi là y Ca-hi-na, nhưng phạm
tội Việt-tì-ni. Nếu làm các việc đều nói mà không tác
tịnh, thì không được gọi là y Ca-hi-na, phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu mỗi việc làm đều khởi tâm tác tịnh, thì được gọi
là y Ca-hi-na, không có tội. Nếu
Tăng được y đúng thời, làm xong, thì tất cả nên hòa hợp.
Người làm yết ma nên cầm y xổ ra, đưa cao lên, nói như
sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nay Tăng được y này đã làm
xong. Nếu thời gian của Tăng đã đến, [425c] Tăng nay thọ
y Ca-hi-na này. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức tăng lắng nghe. Nay Tăng được y này đã làm xong.
Tăng nay thọ y Ca-hi-na này. Các đại đức nào bằng lòng thọ
y Ca-hi-na này thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng thọ y Ca-hi-na xong, vì im lặng; tôi ghi nhận
việc này như vậy. Khi
thọ y xong, nên xếp lại bỏ vào rương, rải hoa lên trên,
rồi từ Thượng Tọa trở xuống theo thứ tự, nói lời tùy
hỷ như sau: -
Xin trưởng lão ghi nhớ cho, Tăng ở trú xứ này thọ y Ca-hi-na,
tôi Tỉ kheo mỗ giáp xin tùy hỷ thọ cho đến hết bốn tháng
mùa Ðông. Khi ở trú xứ này hết thời hạn, tôi sẽ xả. (Nói
như vậy ba lần) Nếu
đại chúng đông đến một vạn, hai vạn người, tập họp
khó khăn, thì nhiều người được thọ y Ca-hi-na riêng, nhưng
tất cả phải làm như đại chúng, chỉ có gọi tiếng nhiều
người là khác thôi. Tuy nhiên, từ bốn người trở lên thì
không được làm riêng. Nếu chỉ có một người làm thì khi
thọ nên nói: -
Nay tôi xin nhận tấm vải làm y Ca-hi-na này. (Nói
như vậy ba lần) Khi
cắt nên nói như sau: -
Y Ca-hi-na này nay tôi xin thọ. Khi
may, khi giặt, khi nhuộm, khi điểm tịnh, khi cắt làm dấu
tác tịnh đều nói như trên. Khi
làm hoàn thành, tâm nghĩ miệng nói: -
Tôi là Tỉ kheo mỗ giáp, thọ y Ca-hi-na này. (Nói
như vậy ba lần) Vấn
đề thọ y Ca-hi-na có các trường hợp: Có trường hợp khi
làm mà không phải khi thọ; Có trường hợp khi thọ mà không
phải khi làm; Có trường hợp khi làm cũng là khi thọ; Có
trường hợp không phải khi làm, cũng không phải khi thọ. 1.
Khi làm mà không phải khi thọ:
Trong đây có khi cầm để làm mà không phải cầm để thọ
trì, cũng được gọi là thọ. 2.
Khi thọ mà không phải khi làm:
Khi cầm để thọ trì mà không phải cầm để làm, cũng được
gọi là thọ. 3.
Khi làm cũng là khi thọ:
Khi cầm để làm cũng là khi cầm để thọ. Ðó gọi là khi
làm cũng là khi thọ. 4.
Không phải khi làm, cũng không phải khi thọ:
Không phải thọ ngay khi cầm để làm, cũng không phải thọ
khi thọ. Khi
thọ nên tùy hỷ, nói: -
Xin trưởng lão ghi nhớ cho, trú xứ này Tăng thọ y Ca-hi-na,
tôi là Tỉ kheo mỗ giáp xin tùy hỷ thọ đến hết bốn tháng
mùa đông, tùy theo trú xứ này mãn hạn, tôi sẽ xả. Ðó
là những vấn đề thuộc y Ca-hi-na. CHẲNG
PHẢI Y CA-HI-NA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
tôn giả Tôn Ðà La Nan-đà dùng vải thưa làm y Ca-hi-na. Phật
dạy: -
Ta không cho phép dùng vải thưa làm y Ca-hi-na. Khi
ấy tôn giả A Nan-đà dùng nhung kiếp bối làm y Ca-hi-na. Lại
có Tỉ kheo dùng một miếng vải nhỏ để làm. Lại có Tỉ
kheo dùng vải cũ để làm. Lại có Tỉ kheo dùng mền bằng
lông dê để làm [453a] Lại có Tỉ kheo dùng mền bằng tóc
để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng cỏ để làm. Lại
có Tỉ kheo dùng áo bằng da để làm. Lại có Tỉ kheo dùng
áo bằng vỏ cây để làm. Lại có Tỉ kheo dùng áo bằng miếng
gỗ để làm. Phật dạy: -
Tất cả những thứ vừa kể trên đều không nên làm. Tất
cả những thứ ấy đều chẳng phải là y, không thể gọi
là y Ca-hi-na. Lại
có các trường hợp không thể gọi là y Ca-hi-na như sau: -
Làm lúc phi thời.
Những
trường hợp như vậy đều không được gọi là y Ca-hi-na. THỂ
THỨC XẢ Y CA-HI-NA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ kheo thường thường thay y, trước bữa ăn, mặc một
y khác, sau bữa ăn, mặc một y khác. Phật biết nhưng vẫn
hỏi: -
Những y mà ông thường thường thay đổi là y của ai vậy? -
Bạch Thế Tôn! Ðó là y của con. -
Vì sao nhiều quá vậy? -
Vì con thọ y Ca-hi-na. -
Vì sao lúc nào ông cũng thọ y Ca-hi-na? Từ nay về sau phải
xả bỏ. Có 10 trường hợp xả y như sau: 1-
Y cánh xả.
1-
Y cánh xả: Khi
thọ y Ca-hi-na, nghĩ như sau: "Khi ta may y xong sẽ xả y Ca-hi-na",
thì khi may y hoàn thành, tức là xả. Ðó gọi là y cánh xả. 2-
Thọ thời xả:
Khi thọ y, suy nghĩ: "Khi ta thọ y này sẽ xả y Ca-hi-na", thì
khi thọ y tức là xả. Ðó gọi là thọ thời xả. 3-
Thời cánh xả:
Nếu suy nghĩ: "Ðến thời gian ấy ta sẽ xả y Ca-hi-na", thì
khi tới thời gian ấy tức là xả. Ðó gọi là thời cánh
xả. 4-
Văn xả: Nếu
suy nghĩ: "Khi nào ta nghe Hòa Thượng, A xà lê xả y Ca-hi-na
thì ta sẽ xả". Sau đó nghe Hòa Thượng, A xà lê nói: "Hôm
nay Tăng xả y Ca-hi-na", thì khi ấy tức là xả. Ðó gọi là
văn xả. 5-
Tống xả: Nếu
suy nghĩ: "Khi nào ta đem cái y này cho người khác xong thì sẽ
xả y Ca-hi-na", sau đó đem cho cái y của mình, tức là xả.
Ðó gọi là tống xả. 6-
Hoại xả: Trong
thời gian sau khi thọ y Ca-hi-na rồi, bỗng nhiên một hôm nói:
"Nay ta xả y Ca-hi-na", thì khi nói lời ấy tức là xả. Ðó
gọi là hoại xả. 7-
Thất xả: Nếu
suy nghĩ: "Khi nào cái y này hư, hoặc mất không còn nữa thì
ta sẽ xả y Ca-hi-na", sau đó chiếc y ấy bị hư hoặc mất,
tức là xả. Ðó gọi là thất xả. 8-
Xuất khứ xả:
Nếu suy nghĩ: "Khi nào ta rời khỏi đây thì sẽ xả y Ca-hi-na",
thì khi ra đi tức là xả. Ðó gọi là xuất khứ xả. 9-
Thời quá xả:
(453b) Nếu tới ngày 15 tháng chạp mà không xả, để đến
ngày 16 đương nhiên là xả, nhưng phạm tội Việt tỳ ni.
Ðó gọi là thời quá xả. 10-
Cứu cánh xả:
Ðến ngày 15 tháng chạp đương nhiên phải xả. Một người
nên xướng ở giữa Tăng như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Hôm nay Tăng xả y Ca-hi-na. (nói
như vậy ba lần). Ðó
gọi là Cứu cánh xả. Trên
đây là 10 trường hợp xả y Ca-hi-na. VẤN
ÐỀ Y PHÁP. Có
các trường hợp sau đây: -
Trong lúc an cư chưa xong; Khi an cư xong; Trong lúc đang an cư;
Vì sợ mất mạng; Vì sợ mất phạm hạnh; Y phi thời; Y đúng
thời; Việc xảy ra ở Câu Thiểm Di. 1-
Trong lúc an cư chưa xong. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo an cư trong thôn xóm chưa kết thúc mà đến
nhà đàn việt, nói như sau: -
Này lão trượng! Hãy cúng dường y an cư cho tôi. -
Thưa tôn giả! Nay chưa đúng lúc, đợi khi an cư kết thúc,
mùa màng thu hoạch xong, nhân dân hoan hỷ nghĩ nhớ công ơn,
phát tâm bố thí, thì bấy giờ mới có thể bố thí được. -
Này lão trượng! Ông không biết rằng cuộc đời này vốn
vô thường, hoặc bị nạn vua quan, nạn nước lửa, hoặc
bị cướp bóc, lúc ấy tôi sẽ mất lợi mà ông cũng mất
phước. -
Tôn giả chỉ cho tôi thấy lẽ vô thường mà không tự thấy
chính mình. Tôn giả muốn được gấp phẩm vật an cư để
đem đi nơi khác, hay là muốn thôi tu mà gấp gáp đến như
vậy? Kỳ thay, quái gỡ, nhiều tham dục không biết chán. Ông
nói thế rồi, sinh tâm không hoan hỷ, bèn bỏ đi. Các Tỉ
kheo liền đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật bèn hỏi nhóm sáu Tỉ kheo: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy. Bạch Thế Tôn! -
Này các Tỉ kheo! Vì sao an cư chưa kết thúc mà các ông đòi
cúng dường y an cư? Từ nay về sau, Ta không cho phép an cư
chưa kết thúc mà đòi cúng dường y an cư. Nếu ai làm như
vậy thì phạm tội Việt tỳ ni. Ðó
gọi là trường hợp an cư chưa xong. 2-
Khi an cư xong. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
các Tỉ kheo ở tinh xá Kỳ hoàn an cư xong bèn chia y An cư.
Lúc ấy, nhóm sáu Tỉ kheo an cư tại chỗ khác xong, liền đến
giữa Tăng chúng Kỳ hoàn, nói như sau: "Thưa trưởng lão, đức
Thế Tôn chế định khi an cư xong sẽ được phần y an cư.
Tôi cũng đã an cư xong, đương nhiên phải được y an cư.
Vậy hãy chia phần y an cư cho tôi". Các
Tỉ kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
An cư nơi khác thì đương nhiên không được phần y an cư
nơi này. Tùy theo an cư nơi nào thì nhận phần nơi đó. Ðó
là trường hợp an cư xong. 3-
Trong lúc đang an cư. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
nhóm sáu Tỉ kheo đến ngày an cư, (453c) bèn nhận phòng xá,
rồi đem giày da, dụng cụ để nhuộm và các vật linh tinh
khác bỏ vào trong phòng, đoạn, nói như sau: -
Thưa các trưởng lão, tôi an cư nơi đây. Các vị chớ có
chán ghét tôi. Tôi biết các vị thường không ưa tôi. Thế
rồi, họ thuê người nhận phần y an cư. Ðoạn, tìm nơi khác
an cư. Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật liền dạy: -
Hễ an cư ở nơi nào thì nhận phần y ở nơi đó. 4-
Vì sợ mất mạng. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
tại Tỳ-Xá-Ly gặp nạn đói lớn, khất thực khó khăn. Các
Tỉ kheo bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỉ kheo ở
tinh xá Kỳ Hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Các Tỉ kheo ở
Tỳ Xá Ly bèn vào tham dự. Các Tỉ kheo ở Kỳ Hoàn hỏi: -
Thưa các trưởng lão! Ðức Thế Tôn chế định hễ an cư
ở nơi nào thì được nhận phần y ở nơi đó. Vậy các vị
an cư ở đâu? -
Thưa trưởng lão! Chúng tôi sợ mất mạng nên mới đến đây.
Nếu không đến đây thì e đói chết mất. Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
Nếu vì sợ mất mạng mà đến thì nên chia phần y. Ðó
gọi là trường hợp sợ mất mạng. 5-
Vì sợ mất phạm hạnh. Bấy
giờ tại thành Vương Xá có một người con của ngoại đạo
xuất gia. Khi ấy, cha mẹ muốn đến đem con về nhà thì những
người khác nói: -
Sa-môn rất trọng việc an cư, trong lúc an cư ắt hẳn không
gây trở ngại gì, bấy giờ hãy đem về. Người
chị vì thâm tín Phật pháp nên nói với em: -
Cha mẹ muốn đem em về nhà, vậy hãy nhanh chóng lánh đi nơi
khác. Người
em bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỉ kheo ở tinh
xá Kỳ hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Thầy Tỉ kheo ấy bèn
vào tham dự. Các Tỉ kheo ở Kỳ Hoàn hỏi: -
Này trưởng lão! Ðức Thế Tôn chế định hễ an cư ở nơi
nào thì được nhận phần y ở nơi đó, (ngoại trừ trường
hợp ở nơi khác) sợ bị mất mạng mà đến mới được
chia phần. Còn thầy thì như thế nào? -
Vì cha mẹ muốn đem tôi về nhà, nếu tôi không đến đây
thì sẽ mất phạm hạnh. Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
Nếu vì sợ mất phạm hạnh mà đến thì nên cho phần y. Ðó
gọi là sợ mất phạm hạnh. 6-
Y phi thời. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến.
Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Y của ai thế? -
Bạch Thế Tôn! Ðó là y của con. -
Ðây là y đúng thời hay y phi thời? -
Bạch Thế Tôn! Ðây là y phi thời. -
Ðã tịnh thí chưa? -
Bạch, chưa. -
Tất cả các y đó nên cho chúng Tăng. Ðó
gọi là y phi thời. 7-
Y đúng thời. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến.
Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Ðó là y của ai vậy? -
(454a) Bạch Thế Tôn! Ðó là y của con. -
Ðây là y đúng thời hay y phi thời? -
Ðây là y đúng thời. -
Y này nhiều quá, đem cho Tăng bớt một nửa. Ðó
gọi là y đúng thời. 8-
Việc xảy ra tại Câu Thiểm Di. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Lúc ấy,
quân của nước Câu Tát La cướp lấy xóm làng Câu Thiểm
Di, rồi kéo về thành Xá-vệ. Bấy giờ có Tỉ kheo ở tinh
xá Kỳ Hoàn (thuộc Xá-vệ) đến xóm làng này đòi y cúng
dường an cư. Các Tỉ kheo ở Câu Thiểm Di trước đó đã
an cư tại xóm làng này, bèn nói: -
Này trưởng lão! Trước đây tôi nương nơi xóm làng này mà
an cư, lẽ ra tôi phải đòi trước. Thế
là hai người cãi nhau, rồi cùng kéo đến chỗ Phật, đem
sự việc trên trình bày đầy đủ với Thế Tôn. Phật liền
dạy: -
Ai an cư tại đó thì được quyền đòi trước, rồi mới
đến người khác. Nếu hai người cùng đòi thì nên cùng chia
đều. Nếu Tỉ kheo an cư tại đó chưa đòi mà người khác
đòi, thì phạm tội Việt tỳ ni. Lại
nữa, lúc bấy giờ có hai đệ tử đồng hành của tôn giả
Kiếp Tân Na nhân vì có việc bất bình nên xả giới, nhưng
không hủy hoại phạm hạnh, rồi sau đó thọ cụ túc trở
lại. Khi ấy, các Tỉ kheo ở Kỳ hoàn an cư xong, chia y mà
không chia cho họ, nên họ nói: -
Thưa trưởng lão! Vì có việc bất bình nên tôi xả giới,
nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ cụ túc trở lại.
Vậy nên chia phần cho chúng tôi. Thế
rồi họ cùng đi đến, bạch với Phật. Phật dạy: -
Nếu người nào có việc bất bình mà xả giới, nhưng không
hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ cụ túc trở lại, thì nên
chia phần đồng đều. Thế nhưng, có 5 trường hợp không
nên cho. Ðó là: - Bị cử; - Thôi tu; - Qua đời; - Phá an cư;
- Ði không dặn lại. 1-
Bị cử: Phạm
một trong ba kiến giải, hủy báng Kinh điển, tà kiến, biên
kiến, được khuyên can mà không bỏ lỗi, bị làm yết ma
cử tội. Ðó gọi là bị cử. 2-
Thôi tu: Người
nào xả giới thì không nên cho. Nhưng nếu họ dựa thế lực
của nhà vua, đại thần hay đảng cướp, nói như sau: -
Nếu Sa-môn không chia phần cho tôi, thì tôi sẽ gây ra chuyện
rắc rối. Với
hạng người như thế tuy không đáng cho ta cũng nên cho. Ðó
gọi là người thôi tu. 3-
Qua đời: Người
chết thì đương nhiên không được chia phần. Tuy nhiên, khi
y an cư đã tập trung chưa chia, mà có người sắp mệnh chung
rồi căn dặn đem phần mình cho người nào đó, thì khi người
ấy qua đời, nên đem cho người đó. Ðó gọi là qua đời
(vô thường). 4-
Phá an cư: Tỉ
kheo không tiền an cư, không hậu an cư đương nhiên không được
chia phần. Nhưng nếu họ dựa thế lực của nhà vua, đại
thần hay bọn giặc mà nói rằng: "Nếu không cho tôi, tôi sẽ
gây ra chuyện rắc rối", thì hạng người như vậy tuy không
đáng cho, cũng nên cho. Ðó gọi là phá an cư. 5-
Ði không dặn lại:
Người ra đi mà không dặn lại lấy giúp phần y của mình,
thì không nên cho. Khi chia, người chia phẩm vật nên hỏi:
"Ai nhận phần cho mỗ giáp?". Nếu có người nhận thì nên
hỏi: "Khi vị ấy đi có dặn thầy nhận không?" Nếu trả
lời: "Không dặn", (454b) thì nên nói: "Thầy đừng lo về việc
ấy". Nếu nói: "Có dặn", thì nên xem tướng người ấy. Nếu
là người đáng tin, thì nên đưa. Nếu là người không đáng
tin thì nên nói: "Thầy đừng lo về việc ấy". Nếu hai người
ấy trước đây đồng chí hướng, thường nhận giúp cho nhau,
thì nên đưa. Ðó
gọi là 5 trường hợp. PHẨM
VẬT THUỘC TĂNG HIỆN TIỀN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có một Tỉ kheo an cư xong, trở về thăm quê hương của mình.
Những người bà con bèn thiết lễ cúng dường rộng rãi các
y vật nhân dịp Tỉ kheo này về thăm. Chư Tăng trước đây
an cư nơi xóm làng này nghĩ rằng vì mình an cư nên được
cúng dường, do đó, không chia phần cho vị Tỉ kheo kia. Các
người bà con bèn hỏi thầy: -
Thầy có được phần y không? -
Không được. -
Chúng tôi vì thầy mà thiết lễ cúng dường này, tại sao
lại không được? Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
Ðàn việt vì Tỉ kheo này mà thiết lễ cúng dường, vậy
nên chia phần cho thầy ấy. Rồi
Phật tiếp: -
Có 5 cách nói thì khi cúng dường như sau: Y này cúng dường
cho chúng Tăng an cư; Tiền sắm y này cúng dường cho chúng
Tăng an cư; Phẩm vật này cúng dường cho chúng Tăng an cư;
Số tiền sắm vật dụng này cúng dường cho chúng Tăng an
cư; Cúng dường cho những người an cư ở trú xứ này. Ðó
gọi là năm cách nói cúng dường. Nếu
gia đình bố thí muốn cúng dường chung cho các Tỉ kheo khác,
thì tùy theo ý nguyện của đàn việt, nên cho đều. Lại
có bốn thứ phẩm vật tùy theo thí chủ nói mà thuộc về
Tăng hiện tiền. Ðó là khi họ nói: -
Tôi cúng dường y; tiền sắm y; phẩm vật; tiền sắm vật
dụng. Ðó
gọi là bốn thứ phẩm vật thuộc Tăng hiện tiền. Lại
có 10 loại khi nhận được phải thuộc về Tăng hiện tiền.
Ðó là: 1-
Thuốc dùng đúng thời.
1-
Thuốc dùng đúng thời:
bữa ăn trước, bữa ăn sau, bữa ăn a ba na, Tăng hiện tiền
có quyền thọ hưởng. Ðó gọi là thuốc (thức ăn) đúng
thời. 2-
Thuốc dùng ban đêm:
Gồm 14 loại nước uống như trước kia đã nói. Ðó gọi
là thuốc dùng ban đêm. 3-
Thuốc dùng trong bảy ngày:
Sữa, dầu, mật, đường phèn, sữa tươi, mỡ, như trước
kia đã nói rõ. Ðó gọi là thuốc dùng trong bảy ngày. 4-
Thuốc dùng suốt đời:
Ha lê lặc, Bỉ hê lặc, A ma lặc như trong giới thứ hai đã
nói rõ. Ðó gọi là thuốc dùng suốt đời. 5-
Vật của Tỉ kheo qua đời:
Khi Tỉ kheo qua đời, thì y bát và các vật linh tinh thuộc
quyền thừa hưởng của Tăng chúng hiện tiền. Ðó gọi là
vật của Tỉ kheo qua đời. 6-
Vật cúng dường cho trú xứ:
Nếu đàn việt xây phòng Tăng, tinh xá, rồi mở đại hội
đem trú xứ ấy và các vật khác cúng dường, thì Tăng hiện
tiền được quyền thừa hưởng. Ðó gọi là vật cúng dường
cho trú xứ. 7-
Vật thu nhận trong dịp đại hội:
Trong các dịp đại hội như Phật đản sinh, Phật thành đạo,
Chuyển pháp luân, A nan, La Hầu La, năm năm đại hội một
lần, các vật cúng dường trong những dịp ấy, Tăng (454c)
hiện tiền được quyền thừa hưởng. 8-
Y phi thời: Nếu
không có y Ca-hi-na thì 11 tháng, nếu có y Ca-hi-na thì 7 tháng;
những vật cúng dường trong thời gian ấy, Tăng hiện tiền
được quyền hưởng dụng. Ðó gọi là y phi thời. 9-
Những vật linh tinh:
Bát, sóng đựng bát, đai lưng, dao, hộp sắt, giày da, chai
đựng dầu, túi da, chén, bình tưới, những vật cúng dường
linh tinh như thế, Tăng hiện tiền được quyền nhận. Ðó
gọi là vật linh tinh. 10-
Mời thọ trai:
Ðàn việt mời Tăng theo thứ tự đến nhà họ cúng dường
trai phạn. Ðó gọi là mời thọ trai. Trên
đây là 10 trường hợp Tăng hiện tiền được quyền hưởng
dụng. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, lúc ấy các Tỉ
kheo may y mà không cắt các tua vải, như đã nói rõ về ba
loại hoại sắc trong giới Ba-dạ-đề ở trên. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có một Tỉ kheo đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, rồi bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Cho phép con mặc một y để ít ham muốn, ít
bận bịu. Phật
nói với thầy: -
Ông giữ gìn ba y, bình bát, là ít ham muốn, ít bận bịu rồi. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con mặc hai y. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con dùng mền bằng lông dê. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con dùng mền bằng tóc. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con dùng mền bằng lông đuôi ngựa. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con mặc y phục bằng cỏ. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con mặc y phục bằng vỏ cây. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con mặc y phục bằng da. Phật
dạy: -
Tất cả các loại y phục kể trên đều không được mặc. Lại
có Tỉ kheo nói: -
Cho phép con sống lõa thể, ít ham muốn, ít bận bịu. Phật
dạy: -
Này Tỉ kheo! Ðó là phép tắc của ngoại đạo. Chỉ cần
giữ gìn ba y, bình bát tức là ít ham muốn, ít bận bịu rồi. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ các Tỉ kheo mặc y màu sắc lộng lẫy, bị người
đời chê trách rằng: -
Vì sao Sa-môn Thích tử mặc y màu sắc lộng lẫy chẳng khác
gì người thế tục. Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
Ta không cho phép mặc y có màu sắc lộng lẫy. Màu sắc lộng
lẫy tức là nhuộm bằng khâu khư, nhuộm bằng Ca di già, Câu
bỉ la, Lặc xoa, Lô đà la, Phi uất kim, hồng lam, màu xanh,
màu trắng, màu hoa, tất cả những màu sắc lộng lẫy đều
không cho dùng. Chỉ nên dùng rễ, lá, hoa, vỏ cây để nhuộm,
tối thiểu là dùng nước của đá mài để nhuộm. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Vương Xá, Ngài đi kinh hành
trước hang đá của trời Ðế Thích, thấy những bờ ruộng
lúa ở Ma Kiệt Ðề rõ ràng, chênh lệch nhau rất hợp lý.
Thấy thế, Phật liền nói với các Tỉ kheo: -
Y pháp của chư Phật Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri trong
quá khứ đều như thế đó. (455a) Từ nay về sau khi may y nên
theo cách thức ấy. Lại
nữa, khi ấy tôn giả Ðại Ca Diếp may y Tăng già lê, đức
Thế Tôn tự tay cầm lấy, tôn giả A-nan cắt, rồi có Tỉ
kheo khâu lại, có Tỉ kheo may đường ngắn, có Tỉ kheo may
đường dài, có Tỉ kheo may đường viền, có Tỉ kheo kết
khuy. Lại
nữa, có Tỉ kheo may y rồi vẽ lá cây lên y. Phật dạy: -
Ta không cho phép vẽ lá cây trên y. Lại
có Tỉ kheo may y nhiều lớp. Phật dạy: -
Ta không cho phép may y nhiều lớp, phải cắt bỏ đi. Lại
có Tỉ kheo may y kết dính hai đầu lại. Phật dạy: -
Ta không cho phép may kết dính hai đầu lại mà nên may kết
lại từng tấm. Tấm rộng nhất bằng bốn ngón tay, tấm hẹp
nhất bằng hạt lúa lớn. Lại
có Tỉ kheo may các điệp hướng về một bên. Phật dạy: -
Ta không cho phép như vậy cần phải rẽ các điệp ra hai bên. Lại
có Tỉ kheo may y các điều tướng bằng nhau. Phật dạy: -
Ta không cho phép như vậy. Y 5 điều nên một dài một ngắn.
Y 7 điều cho đến 13 điều nên may 2 dài, một ngắn. Y 15 điều
nên may ba dài, một ngắn. Lại
có Tỉ kheo may y rồi khâu dính các biên vải vào y. Phật dạy: -
Ta không cho phép như vậy. Y ở phía sau nên để thông thoáng;
nên làm như răng ngựa. (?) Có
Tỉ kheo y ở biên trên và biên dưới bị rách. Phật dạy: -
Nên may viền ở các mép y. Có
Tỉ kheo may y 4 màu sắc. Phật dạy: -
Ta không cho phép như vậy. Chỉ nên dùng một màu sắc. Có
Tỉ kheo được y với màu sắc rực rỡ muốn giặt cho hoại
sắc. Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Ông định làm gì đó? -
Bạch Thế Tôn! Vì Thế Tôn chế giới không cho phép mặc y
có màu sắc rực rỡ, nên con muốn giặt cho hoại sắc. -
Không cần phải giặt. Ta cho phép dùng những màu khác nhuộm
cho hoại sắc. Y
gồm có 7 loại:
Ðó
gọi là y pháp. Kệ
tóm tắt: "Bố
tát và yết ma
VẤN
ÐỀ TỈ KHEO BỊ BỆNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Phật bảo
A-nan: -
Ông hãy lấy cái khóa cửa lại đây, Như Lai muốn đi thanh
tra phòng của chư Tăng. A-nan
đáp: -
Lành thay Thế Tôn. Rồi
thầy cầm cái khóa cửa đi theo sau Thế Tôn. Ðoạn Thế Tôn
đi đến một căn phòng bị hư nát, thấy có một Tỉ kheo
bị bệnh, nằm trên phân tiểu, không thể đứng dậy nổi.
Phật bèn hỏi: -
Này Tỉ kheo! Khí lực ông như thế nào? Cơn đau tăng hay giảm? -
Bạch Thế Tôn! Cơn đau chỉ có tăng (455b) mà không giảm. -
Hôm nay có ăn được không? -
Không được, bạch Thế Tôn! -
Hôm qua ăn có được không? -
Không được, bạch Thế Tôn! -
Hôm kia ăn có được không? -
Cũng không được, bạch Thế Tôn! Con không được ăn nay đã
7 ngày. -
Có thức ăn mà không ăn được hay không có thức ăn nên không
ăn? -
Không có thức ăn, bạch Thế Tôn! -
Ở đây, có Hòa Thượng của ông không? -
Không có, bạch Thế Tôn! -
Có đồng Hòa Thượng không? -
Không có, bạch Thế Tôn! -
Có thầy giáo thọ không? -
Không có, bạch Thế Tôn! -
Có đồng thầy giáo thọ không? -
Không có, bạch Thế Tôn! -
Phòng bên cạnh không có Tỉ kheo sao? -
Bạch Thế Tôn! Vì con hôi thối, họ không thích nên đã dời
đi nơi khác, do đó, con cô độc đau khổ lắm, bạch Thế
Tôn! Con cô độc lắm Thiện Thệ. -
Ông đừng sầu não, Ta sẽ làm bạn với ông. Này Tỉ kheo!
Hãy lấy y đưa đây, Ta sẽ giặt cho ông. Khi
ấy, A-nan bạch với Phật: -
Ðể đấy, thưa Thế Tôn! Y của Tỉ kheo bệnh để con giặt
cho! -
Ông giặt y đi, để Ta xối nước cho. Thế
rồi, A-nan đem ra giặt, Thế Tôn xối nước. Khi giặt xong,
thầy đem đi phơi nắng. Xong rồi, A-nan bồng Tỉ kheo bệnh
đặt trên chỗ đất trống, lau chùi phân uế, đem giường
gối và các vật bất tịnh ra ngoài, rưới nước trong phòng,
quét dọn sạch sẽ, dùng giẻ lau lau sàn nhà, giặt giũ giường
nệm, vá lại giường dây, đặt vào chỗ cũ, tắm rửa cho
Tỉ kheo bệnh, rồi đem thầy đặt nằm lại trên giường. Khi
ấy, Thế Tôn dùng bàn tay mềm mại, sắc vàng óng ánh được
trang nghiêm bằng vô lượng công đức xoa trên trán Tỉ kheo,
hỏi: -
Cơn đau tăng hay giảm? -
Nhờ ơn Thế Tôn dùng bàn tay đặt trên trán con, nên mọi
nỗi thống khổ đều dứt hết. Bấy
giờ Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp cho Tỉ kheo bệnh
khiến thầy sinh tâm hoan hỷ. Rồi Thế Tôn tiếp tục thuyết
pháp làm cho thầy đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Sau khi
Tỉ kheo khỏi bệnh Thế Tôn bèn đi đến chỗ đông đúc các
Tỉ kheo, trải tọa cụ ngồi, rồi đem sự việc trên trình
bày lại đầy đủ với các Tỉ kheo. Ðoạn, ngài hỏi thầy
Tỉ kheo ở phòng bên cạnh là ai. Vị ấy đáp: -
Chính là con đây, bạch Thế Tôn! Phật
liền nói với Tỉ kheo: -
Những người đồng phạm hạnh với các ông bị đau ốm,
các ông không săn sóc cho nhau thì ai săn sóc? Các ông mỗi
người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin mà bỏ nhà xuất
gia, sống không nhà, đều cùng một họ Sa-môn Thích tử, đồng
tu phạm hạnh, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc?
Này Tỉ kheo! Ví như con sông Hằng, sông Diêu phù na, Tát la,
Ma hê chảy vào biển lớn, liền mất tên cũ mà hợp lại
thành một vị, gọi là biển lớn. Các ông cũng như vậy.
Ai nấy đều bỏ họ cũ mà cùng chung một họ Sa-môn Thích
tử. Các ông không săn sóc cho nhau thì ai sẽ săn sóc? Ví như
các chủng tộc Sát lợi, Bà la môn, Phệ xá, Thủ đà la, mỗi
người đều khác họ, cùng vào (455c) trong biển lớn thì được
gọi là người đi buôn trên biển. Cũng như thế đó Tỉ kheo.
Các ông mỗi người đều khác họ, khác nhà, vì niềm tin,
bỏ nhà xuất gia, sống không nhà, đều cùng một họ Sa-môn
Thích tử, nếu không săn sóc lẫn nhau thì ai săn sóc? Nếu
Tỉ kheo bệnh thì Hòa Thượng phải săn sóc. Nếu không có
Hòa Thượng thì đồng Hòa Thượng phải săn sóc. Nếu ai không
săn sóc thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu có thầy giáo thọ
thì thầy giáo thọ phải săn sóc. Nếu không có thầy giáo
thọ thì thầy giáo thọ đồng hành phải săn sóc. Nếu ai
không săn sóc thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu có người cùng
phòng thì người cùng phòng phải săn sóc. Nếu không có người
cùng phòng, thì người ở phòng bên cạnh phải săn sóc. Nếu
không săn sóc thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu cũng không có
người ở phòng bên cạnh thì Tăng phải sai người chăm sóc.
Tùy người bệnh cần bao nhiêu người thì phải sai bấy nhiêu.
Nếu không săn sóc thì tất cả Tăng đều phạm tội Việt
tỳ ni. Này
các Tỉ kheo! Các ông hãy trở về săn sóc Tỉ kheo ở phòng
bên cạnh mình. Thế
rồi, Phật biến hóa một Sa di bệnh ở cách Phật không xa,
rồi Ngài bảo: -
Các ông hãy săn sóc luôn cả Sa di bệnh ấy. Ðó là cách phạt
các ông làm phước vậy.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||