| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
5/
Nhà: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy vua A Xà Thế làm nhà
Bố-tát trong núi Kỳ Xà Quật, rồi trang trí bằng các cánh
sen dát vàng. Sau khi Tăng ngồi xong, đức Thế Tôn mới đến
ngồi. Các Tỉ-kheo vào hết, chuẩn bị Bố-tát, thì bỗng
dưng một cánh hoa sen dát vàng rơi xuống đất. Lúc ấy, một
ác Tỉ-kheo khởi tâm trộm cắp, bèn lấy cánh sen kẹp dưới
nách. Vì Phật và Tỉ-kheo Tăng ngồi lâu mà không Bố-tát
nên tôn giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên
phải, quỳ gối, chắp tay bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, đầu đêm đã qua, Tăng ngồi lâu mỏi mệt,
kính xin Thế Tôn vì các Tỉ-kheo mà thuyết giới Bố-tát. Khi
ấy Thế Tôn im lặng. Tình hình như thế kéo dài sang nửa
đêm rồi đến cuối đêm, tôn giả lại bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn rạng đông đã xuất hiện, chúng Tăng ngồi
lâu, kính xin Thế Tôn thuyết giới Bố-tát. Phật
liền nói với A-nan: -
Chúng Tăng không thanh tịnh. Khi
ấy tôn giả Ðại Mục-liên suy nghĩ: -
Vì ai mà Thế Tôn nói rằng chúng Tăng không thanh tịnh? Ðoạn,
Mục-liên nhập định, liền thấy được ác Tỉ-kheo đang
ngồi xếp ro trong chúng. Tôn giả bèn từ chỗ ngồi đứng
dậy đến chỗ vị ấy, dùng tay trái nắm cổ lôi đến cửa,
rồi dùng tay phải đẩy ra, nói: - Này ác Tỉ-kheo, từ hôm
nay ông không phải là Sa-môn, không phải là Tỉ-kheo, không
được ở trong chúng nữa. Sau
khi Thầy đuổi đi, Phật dạy: -
Từ nay về sau, Ta không cho phép lôi người đi. Rồi
Phật nói với A-nan: -
Từ nay về sau, các Thầy hãy tự tụng giới. Vì sao vậy?
Vì Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri không tụng giới cho một
chúng không thanh tịnh. Này A Nan, trong pháp luật của Như Lai
[447c] cũng giống biển lớn có tám việc chưa từng có, như
trong Tuyến Kinh đã nói rõ. Do thế, các đệ tử của ta thấy
rồi, liền sinh tâm thích thú. Ðó gọi là nhà. 6/
Bọn cướp: Khi
Phật an trú tại núi Kỳ Xà Quật nơi Thành Vương Xá, lúc
ấy các Tỉ-kheo Bố-tát tụng giới. Khi tụng đến phần cuối
của Ba-dạ-đề, đọc: "Cắt bỏ rồi Ba-dạ-đề, phá bỏ
rồi Ba-dạ-đề, lôi ra rồi Ba-dạ-đề", thì bọn cướp đến.
Người tụng giới liền im lặng. Bọn cướp đứng một lát
rồi bỏ đi. Người tụng giới lại tiếp tục; như vậy đến
ba lần. Bọn cướp suy nghĩ: "Ðây là ác Sa-môn, nên nói như
sau: Cắt bỏ, phá bỏ, lôi ra rồi Ba-dạ-đề. Họ đang định
cắt chúng ta, phá chúng ta, lôi chúng ta đây", bèn xông vào
đánh các Tỉ-kheo. Các
Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, hay là bọn cướp vừa rồi đã
nghe tụng giới? Thế rồi, họ đem sự kiến ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Bọn cướp là vua ở trong rừng, chúng có thể làm những việc
bất lợi, vì sao các ông lại tụng lại những lời cũ? Từ
nay về sau khi Tỉ-kheo Bố-tát tụng giới mà có bọn cướp
đến thì Ta cho phép được đọc sang kinh khác, hoặc là kinh
Ba-la-diên, hoặc kinh Bát bạt-kỳ, hoặc kệ Mâu-ni, hoặc kinh
Pháp cú. Nếu
bọn cướp biết phép tắc của Tỉ-kheo, nói: "Này Sa-môn,
chúng tôi đã biết rồi", thì hãy tụng tiếp giới đã tụng
trước. Khi ấy, Tỉ-kheo nên tụng gấp, khiến không thể phân
biệt được chương cú, để cho bọn chúng không biết là
đoạn đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối. Nếu tụng lại những
lời cũ thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là bọn cướp. 7/
Vua: Khi
Phật an trú tại vườn Kỳ-xà Am-bà-la nơi Thành Vương Xá,
như trong kinh Sa-môn đã nói rõ, cho đến tự nhủ: -
Không biết có thể tụng giới trước nhà vua hay không? Rồi
họ đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Vua có thể làm những việc bất lợi. Như
trong trường hợp bọn cướp ở trên đã nói rõ. Ðó gọi
là vua. 8/
A Na Luật: Khi
Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật, nơi Thành Vương Xá, lúc
ấy các Tỉ-kheo làm yết-ma Bố-tát thì tôn giả A Na Luật
không đến. Các Tỉ-kheo bèn cho sứ giả đến gọi: -
Thưa trưởng lão A Na Luật, các Tỉ-kheo đang vân tập định
làm yết-ma Bố-tát. Thầy
đáp: -
Ðức Thế Tôn dạy rằng Thanh tịnh tức là Bố-tát. Kẻ thanh
tịnh trong đời này chính là tôi đây. Tôi không đi. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
dạy: -
Ông hãy đi gọi A Na Luật lại đây. Nhưng không được dùng
Thiên nhãn mà đến. Vì
trưởng lão này đã hỏng nhục nhãn nên phải vượt qua núi
non hiểm trở đến một cách cực khổ. Phật
liền nói với A Na Luật: - Ông
không tôn kính Bố-tát thì ai sẽ tôn kính? Từ nay về
sau, khi Bố-tát thì tất cả đều phải đến. Nếu không đến,
[448a] hoặc bị bệnh mà không gởi dục thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là A Na Luật. 9/
Hai cách đếm: Khi
ấy Phật hỏi Ưu-ba-li: -
Ông tụng giới được không? -
Bạch Thế Tôn, tụng được, nhưng những câu chi li rất khó
ghi nhớ. -
Nên làm thẻ đếm để mà tụng. Thế
rồi, Ưu-ba-li liền làm thẻ đếm mỗi khi tụng. Phật lại
hỏi: -
Ông có làm thẻ để đếm mỗi khi tụng giới không? -
Bạch Thế Tôn, khi tụng những câu chi li con có đếm thẻ,
nhưng cũng khó nhớ. -
Từ nay về sau hãy làm hai loại thẻ, một loại năm trăm và
một loại bảy trăm. Khi muốn tụng, phải rửa tay sạch rồi
cầm thẻ bỏ xuống đếm đến năm, lại rửa tay nữa. Nếu
còn thẻ thì phải dùng nước thơm để rửa. Người khác
muốn cầm thẻ cũng phải như vậy. Ðó
gọi là hai cách đếm. 10/
Không tụng thuộc: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trong Thôn có các Tỉ-kheo
đang sống, khi Tăng vân tập sắp làm yết-ma Bố-tát, liền
thưa với Thượng Tọa: -
Xin Thượng Tọa tụng giới. Thầy
đáp: -
Tôi không thuộc. Vị
thứ hai, thứ ba cũng thế, cho đến Hạ tọa cũng nói như
thế. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự kiện ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau, thọ cụ túc rồi nên đọc hai bộ Luật. Nếu
không thể đọc cả hai bộ thì nên đọc một bộ. Nếu cũng
không thể đọc được thì nên đọc năm thiên giới. Nếu
cũng không thể đọc được thì nên đọc bốn, ba, hai hay
một thiên. Khi Bố-tát nên đọc rộng năm bộ Diên Kinh. Nếu
có nhân duyên không thể đọc được, thì nên đọc bốn,
ba, hai hay một, cho đến bốn Ba-la-di và các bài kệ, (rồi
nói) các phần khác như Tăng đã thường nghe. Nếu Bố-tát
mà không tụng giới thì phạm tội Việt-tì-ni. Giả như cả
chúng đều không có ai tụng thuộc, thì nên bảo Thượng Tọa
ra ngoài giới trường, tâm nghĩ, miệng nói: -
Kẻ dư thừa khi Bố-tát. Rồi
ba người còn lại trong giới trường nói ba lần Bố-tát.
Làm như vậy là phạt Thượng tọa. Ðó gọi là không tụng
thuộc. 11/
Không tụng thuộc tất cả: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đang ở
trong thôn xóm tập họp định Bố-tát, liền thưa với Thượng
Tọa: -
Xin Thượng Tọa hãy tụng giới. Thầy
đáp: -
Tôi chỉ tụng thông thạo có một thiên. Tăng
lại thưa Thượng Tọa thứ hai, thì Thầy đáp: -
Tôi chỉ tụng thuộc có hai thiên. Như
vậy, mỗi người chỉ tụng thuộc có một thiên, họ bèn
tuần tự tụng mỗi người một thiên để Bố-tát. Nhưng
khi Bố-tát xong sinh nghi, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy
đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Từ nay về sau, ta không cho phép cùng lần lượt tụng để
Bố-tát. Nếu gặp trường hợp như thế thì cùng ủy thác
cho một người Thông minh tụng thuộc để tụng. Khi tụng
đến chỗ nào mà quên, thì người khác được tụng tiếp.
[448b] Nếu phối hợp nhau lần lượt tụng để Bố-tát thì
phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là không tụng thuộc tất
cả. 12/
Tụng xuôi, tụng ngược: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, có các Tỉ-kheo đang sống trong
Thôn xóm, vân tập Bố-tát. Có một Tỉ-kheo tụng thuộc giới
bản xuôi và ngược. Thầy bắt đầu tụng từ bài tựa cho
đến pháp tùy thuận, rồi tụng ngược từ pháp tùy thuận
lên giới bản để Bố-tát. Nhưng khi Bố-tát xong tâm sinh
nghi ngờ, các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy
đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép tụng ngược mà phải tụng
xuôi. Nếu lúc tụng mà lỡ quên thì được tụng bổ khuyết.
Người
nào tụng xuôi rồi tụng ngược để Bố-tát thì phạm tội
Việt-tì-ni. Ðó
gọi là tụng xuôi, ngược. 13/
Muốn nghe từ đầu: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo vân tập
Bố-tát, tụng giới bản cho đến pháp tùy thuận thì có Tỉ-kheo
khách tới, nói: -
Thưa trưởng lão, tôi sống trong xóm làng này mà chưa từng
nghe tụng giới bản đầy đủ, xin trưởng lão tụng đầy
đủ cho tôi nghe. Người
tụng bèn đọc lại từ bài tựa của giới cho đến pháp
tùy thuận. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn đem sự việc
ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật khiển trách: -
Vì sao các ông tụng lại giới bản cho người muốn nghe lại
từ đầu? Từ nay về sau ta không cho phép làm như thế. Nếu
Tỉ-kheo Tăng vân tập Bố-tát tụng giới đến pháp tùy thuận
mà có Tỉ-kheo khách đến rồi vào ngồi nghe, tức được
gọi là Bố-tát. Nếu Tỉ-kheo khách nói: "Tôi sống trong xóm
làng này mà chưa từng nghe tụng giới bản đầy đủ, xin
trưởng lão tụng đầy đủ cho tôi nghe", thì hãy đợi Tăng
giải tán rồi hãy tụng cho vị ấy. Nếu Tăng chưa giải tán
mà tụng thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là muốn nghe
từ đầu. 14/
Chưa Thọ cụ túc: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỉ-kheo nói cho
người chưa Thọ cụ túc về năm thiên tội từ tội Ba-la-di,
đến tội Việt-tì-ni. Sau đó, vị Tỉ-kheo ấy vào Thôn xóm,
người thế tục nói: -
Trưởng lão, Thầy phạm tội Ba-la-di cho đến tội Việt-tì-ni. Các
Tỉ-kheo nghe thế lấy làm xấu hổ, bèn đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật khiển trách: -
Vì sao các ông lại nói giới bản năm Thiên tội cho người
chưa thọ cụ túc nghe? Từ nay về sau ta không cho phép đem
nói với người chưa thọ cụ túc. Chỉ được nói: "Ông không
được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm cắp,
không được sát sinh, không được nói dối v.v...", như vậy
mà thôi. Nếu ai đem nói tên của năm Thiên tội thuộc giới
bản cho người chưa thọ cụ túc nghe [448c] thì phạm tội
Việt-tì-ni. Ðó gọi là chưa Thọ cụ túc. 15/
Tụng giới quá sớm: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỉ-kheo sống
trong Thôn xóm, sáng sớm thức dậy liền Bố-tát. Khi làm xong,
có Tỉ-kheo khách đến, nói: -
Trưởng lão hãy đến cùng tôi Bố-tát. Thầy
đáp: -
Tôi đã Bố-tát rồi. Tỉ-kheo
khách nói: -
Trưởng lão Bố-tát như thế là quá sớm. Rồi
thầy đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật dạy: -
Từ nay về sau không nên Bố-tát quá sớm. Nếu một Tỉ-kheo
sống trong thôn xóm thì đến ngày Bố-tát nên quét tháp và
trú xứ của Tăng. Nếu
có người đến thì dùng nước hoa rưới trên đất, rải
hoa, đốt đèn, đợi Tỉ-kheo khách đến rồi cùng nhau Bố-tát.
Nếu không có Tỉ-kheo khách đến mà bản thân mình có tội
thì nên suy nghĩ: "Nếu gặp được Tỉ-kheo Thanh tịnh thì
sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp". Sau
khi nghĩ thế xong, nên tâm niệm, miệng nói: -
Hôm nay ngày 15, Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp thanh
tịnh Thọ Bố-tát. Nói
như vậy ba lần. Nếu khi Bố-tát xong mà có
Tỉ-kheo khách đến, thì vị này nên nói lời tùy hỉ:
- Trưởng lão đã Bố-tát, tôi là mỗ giáp xin tùy hỉ. Nếu
không thể tùy hỉ thì phải ra ngoài cương giới Bố-tát.
Nếu ai Bố-tát lúc sáng sớm thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là Bố-tát quá sớm. 16/
Một trú xứ: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo đang đi
trên đường, vì trời u ám, tưởng trời đã tối nên vào
trú xứ của Tỉ-kheo trong thôn Bố-tát. Khi Bố-tát xong thì
trời quang tạnh, thấy mặt trời hãy còn sớm, các Tỉ-kheo
thầm nghĩ: "Chúng ta nên ra đi". Khi họ đi rồi, bỗng chốc
chúng thứ hai lại đến. Thế rồi, họ Bố-tát tại đó,
đồng thời nghỉ đêm luôn ở đây đến sáng hôm sau mới
đi. Lúc đi trên đường bèn gặp nhóm Tỉ-kheo Bố-tát trước,
liền hỏi: -
Thưa trưởng lão, đêm rồi trưởng lão nghỉ ở đâu? -
Nghỉ tại mỗ xứ. -
Vậy chứ Bố-tát nơi nào? -
Tại mỗ xứ. -
Chúng tôi cũng Bố-tát tại nơi đó. Các
Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau tại một chỗ không được Bố-tát hai lần.
Nếu Tỉ-kheo đi xa, đến ngày Bố-tát vào trú xứ của Tỉ-kheo
trong Thôn để Bố-tát, thì lúc Bố-tát xong không được im
lặng bỏ đi, mà phải dặn lại Sa-di, hoặc người làm vườn,
hoặc kẻ chăn bò rằng: "Nếu có Tỉ-kheo đến thì nên nói
cho họ biết rằng ở đây đã có Bố-tát rồi". Nếu
không có ai cả thì nên viết nơi cột hay cánh cửa, hoặc
rải hoa làm dấu. Nếu mình đến sau thì nên hỏi, nên tìm
dấu vết, không được Bố-tát liền. Nếu đoàn người trước
[449a] không dặn, không làm dấu, đoàn người sau không hỏi,
không tìm dấu vết, thì cả hai đều phạm tội Việt-tì-ni.
Ðó gọi là một trú xứ. 17/
Hai chúng: Nếu
hai chúng Tỉ-kheo khách đến, một chúng Bố-tát vào ngày 14,
một chúng Bố-tát vào ngày 15, vậy thì nên theo ai? -
Nên theo chúng đến trước. Nếu
hai chúng cùng vào một lúc thì nên theo chúng có Thượng tọa.
Nếu không phân biệt lớn nhỏ được thì nên theo người
giữ luật. Nếu
hai chúng cùng có người giữ luật như nhau thì nên theo chúng
nào ngõ lời trước, hoặc là ngày 14, hoặc ngày 15, nên theo
họ Bố-tát. Ðó gọi là hai chúng. 18/
Cả hai đều đã tụng, cả hai đều chưa tụng: Khách
Tỉ-kheo Bố-tát ngày 14, còn cựu Tỉ-kheo Bố-tát ngày 15.
Nếu khách Tỉ-kheo đến chỗ cựu Tỉ-kheo, cựu Tỉ-kheo nói
với khách Tỉ-kheo: "Thưa trưởng lão, chúng ta cùng hợp tác
Bố-tát", thì lúc đó, khách Tỉ-kheo không được nói: "Chúng
tôi đã Bố-tát xong", (rồi ở yên trong trú xứ), mà nên đi
ra ngoài cương giới để giữ tính chất hòa hợp. Nếu
cựu Tỉ-kheo Bố-tát ngày 14, khách Tỉ-kheo Bố-tát ngày 15
mà khách Tỉ-kheo nói: "Trưởng lão, hãy Bố-tát", thì cựu
Tỉ-kheo nên nói: -
Chúng tôi đã Bố-tát rồi. Lúc
ấy, khách Tỉ-kheo nên nói lời tùy hỉ: -
Trưởng lão đã Bố-tát rồi, chúng tôi xin tùy hỉ. Nếu
không tùy hỉ thì nên ra ngoài cương giới Bố-tát. Ðó gọi
là cả hai đều đã tụng hoặc cả hai đều chưa tụng. 19/
Gởi dục: Khi
chúng tăng vân tập Bố-tát, thì có một Tỉ-kheo vì việc
y bát không đến dự được, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Từ này về sau, Ta cho phép gởi dục. Người gởi dục nên
nói thế này: -
Xin Trưởng lão hãy lắng nghe. Hôm nay (hoặc ngày 14, hoặc
ngày 15) chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi
dục Bố-tát Thanh tịnh. Xin trưởng lão hãy nói giúp tôi.
(Nói như vậy ba lần). Khi
gởi dục, không được gởi cho người mù mờ, mà nên gởi
cho người có thể nhận dục vào giữa chúng Tăng nói rành
mạch. Nếu vì bận việc y bát mà lúc Bố-tát không gởi dục,
thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là gởi dục. 20/
Nhận dục: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo Tăng vân
tập làm yết-ma Bố-tát, thì có một Tỉ-kheo đang bệnh và
lo việc y bát, gởi dục cho Tỉ-kheo khác, nhưng vị này không
nhận. Do đó, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau phải nhận dục. Khi nhận dục phải tự suy
nghĩ xem mình có thể truyền dục được không. Không được
nhận dục nhiều người, chỉ nhận tối đa ba người. Khi
gởi dục, nên nói như sau: - Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm
nay chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi dục
Bố-tát thanh tịnh. Nếu
quên tên thì nên nhớ số tuổi, rồi nói: -
Vị Tỉ-kheo chừng ấy tuổi. Nếu
đó là Tỉ-kheo khách thì nói là khách; bệnh thì nói là bệnh,
rằng: -
Tỉ-kheo... gởi dục Bố-tát thanh tịnh. Nếu
ai đang bệnh và lo việc y bát gởi dục mà không nhận [449b]
thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là nhận dục. 21/
Gởi dục nhiều: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo Tăng Bố-tát,
những người gởi dục thì nhiều mà những người tập họp
thì ít. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên
Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép khi Bố-tát mà những người
gởi dục thì nhiều, còn những người tập họp thì ít. Nếu
Bố-tát trong trường hợp ấy thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là gởi dục nhiều. 22/
Gởi dục bằng số người kia: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỉ-kheo Tăng Bố-tát,
thì số người gởi dục bằng số người tập họp làm Bố-tát.
Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Phật dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép làm Bố-tát mà số người
gởi dục bằng số người tập họp. Số người tập họp
phải nhiều hơn, nếu bằng số người gởi dục mà Bố-tát
thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là số người gởi dục bằng số người tập họp. 23/
Cù-sư-la: Khi
Phật an trú tại vườn Cù-sư-la ở Câu-diệm-di, lúc ấy Tỉ-kheo
Tăng vân tập Bố-tát, vị làm yết-ma xử đoán nói lớn tiếng,
cư sĩ Cù-sư-la nghe thế bèn đi vào giới trường. Tăng liền
im lặng. Chốc lát, ông ta bước ra, thì Tăng tiếp tục giải
quyết sự việc lại nói lớn tiếng như trước. Ðến ba lần
như vậy, rồi cư sĩ thầm nghĩ: "Khi Ta vào thì im lặng, khi
Ta ra thì lại lớn tiếng, giờ ta hãy vào mà không trở ra
nữa", như trường hợp Cù-sư-la hỏi tôn giả A Nan, mà trong
Lục Nhập diên Kinh đã nói rõ. Lúc
ấy các Tỉ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến
bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Nếu đó là người có đức hạnh cao quí muốn nghe chúng Tăng
giải quyết công việc thì nên để cho ông ta nghe. Ðồng thời,
nếu trong chúng có người tài giỏi, nói năng lưu loát, giải
quyết sự việc phân minh thì cứ tự nhiên tiến hành. Trái
lại, nếu giải quyết sự việc trước kẻ phàm phu tầm thường
thì phạm tội Việt-tì-ni: . Ðó
gọi là Cù-sư-la cư sĩ. 24/
Ðại Ái Ðạo: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ðại Ái Ðạo Cù Ðàm
Di gởi dục mà Tỉ-kheo không nhận. Thế rồi, Ðại Ái Ðạo
Cù Ðàm Di đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới
chân rồi đứng hầu một bên, đem sự việc trên bạch đầy
đủ lên Thế Tôn: -
Bạch Thế Tôn, Tỉ-kheo không nhận dục con gởi thì ai nhận? Bấy
giờ Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp cho Ðại Ái Ðạo Cù
Ðàm Di khiến bà sinh tâm hoan hỉ, bèn cúi đầu đảnh lễ
dưới chân Phật rồi cáo lui. Phật liền bảo gọi vị Tỉ-kheo
kia đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Tỉ-kheo-ni gởi dục thì nên nhận. Nếu mình
là Thượng Tọa thì nên nói: -
Tôi là Thượng Tọa của chúng Tăng nên không nhận dục. Hoặc
là người dạy bảo Ni, hoặc là người tụng giới thì phải
tự trình bày rõ, không nên nhận dục. Nếu là người coi
phòng, [449c] người có bệnh thì nên nói: -
Tôi không đến trong Tăng, nên gởi dục người khác. Trái
lại nếu nói: "Tôi là Tỉ-kheo khất thực, tôi là người
ở A-luyện-nhã, tôi là người mặc y phấn tảo, tôi là hàng
đại đức, rồi không nhận dục", thì phạm tội Việt-tì-ni. Nhưng
nếu nói: "Tôi là Thượng tọa, là người dạy bảo Ni, là
người tụng giới", rồi không nhận dục, thì không có tội.
Ðó gọi là Cù Ðàm Di Ðại Ái Ðạo. 25/
Xiển-đà: Khi
Phật an trú tại vườn Cù Sư La ở Câu Diệm Di, lúc ấy Tăng
vân tập Bố-tát, thì Tỉ-kheo Xiển Ðà không chịu đến.
Các Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch với Thế Tôn,
rồi hỏi: -
Bạch Thế Tôn, trường hợp ấy phạm vào tội gì? Phật
dạy: -
Phạm tội Thâu-lan. Nếu Bố-tát mà Tỉ-kheo không chịu đến
như thế thì phạm Thâu-lan. Nếu vì việc y bát nên không đến
mà không gởi dục, thì phạm tội Việt-tì-ni. 26/
Bị bệnh: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc Tỉ-kheo vân tập định
Bố-tát thì có một Tỉ-kheo bệnh phong lên cơn động kinh,
bèn nói với người ở phòng bên cạnh: -
Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh phong đang lên cơn, xin gởi
dục thanh tịnh cho trưởng lão. Nhưng
Tỉ-kheo ấy không nhận, thầy bèn đi đến trước Thượng
tọa, cởi dép, quỳ gối chắp tay, bạch như sau: -
Con là Mỗ giáp, Thanh tịnh, xin Thượng Tọa ghi nhớ cho. Nói
như vậy ba lần, rồi đi. Các Tỉ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn
đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi
hỏi: -
Bạch Thế Tôn, như vậy có được không? Phật dạy: -
Gởi dục như thế là tốt, đã làm đúng pháp. Nhưng người
không nhận dục thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là bị bệnh. 27/
A-luyện-nhã: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, các Tỉ-kheo ở A-luyện-nhã
và trong thôn xóm thường làm Bố-tát chung. Khi ấy, các Tỉ-kheo
ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát xong, liền đi. Họ đi
không bao lâu thì có Tỉ-kheo khách đến, lại cũng Bố-tát
tại đó, rồi nghỉ đêm luôn ở đây. Sáng hôm sau, hai bên
gặp nhau, liền hỏi: -
Ðêm hôm qua trưởng lão nghỉ ở đâu? -
Nghỉ tại đây. -
Thế còn Bố-tát tại đâu? -
Cũng tại đây. Họ
nghe thế, lòng sinh nghi, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy
đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Từ nay về sau, Ta không cho phép tại một chỗ mà Bố-tát
hai lần. Nếu ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát thì khi
ra đi không được làm thinh mà phải dặn lại Sa-di, hoặc
người làm vườn, hoặc kẻ chăn bò, rằng: "Nếu sau đó có
Tỉ-kheo đến thì nói cho họ biết là ở đây đã làm Bố-tát
rồi". Nếu không có người, thì nên viết trên cột hoặc
trên cánh cửa, hoặc rải hoa làm dấu. Người đến sau thì
nên hỏi, tìm dấu vết. Nếu người ra đi không dặn dò, không
làm dấu, còn người đến sau không hỏi, không tìm dấu vết
thì cả hai đều phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là a-luyện-nhã. 28/
Không nên gởi dục mà gởi: [450a]
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỉ-kheo tập
họp đúng lúc thì gởi dục yết-ma, tập họp phi thời thì
gởi dục thanh tịnh. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến
bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép khi tập họp đúng thời thì
gởi dục yết-ma, khi tập họp phi thời thì gởi dục thanh
tịnh; trái lại, khi tập họp phi thời nên gởi dục yết-ma,
khi tập họp đúng thời nên gởi dục thanh tịnh. Ðồng thời
khi tập họp đúng thời cũng có thể gởi cả hai loại dục,
nói như sau: "Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát
– ngày 14, hoặc ngày 15 - tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp xin gởi
dục Bố-tát thanh tịnh, mong trưởng lão nói giúp cho tôi".
(nói như vậy ba lần). Khi gởi dục yết-ma cũng nói ba lần.
Nếu lúc tập họp phi thời mà gởi dục thanh tịnh, lúc tập
họp đúng thời mà gởi dục yết-ma thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi
là không nên gởi dục mà gởi. 29/
Sông A-chi-la: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỉ-kheo đi đến
gần sông A-chi-la trải tọa cụ ngồi tụng giới. Thế rồi,
nước sông dâng lên dần dần đến đầu gối, rồi lên cao
ngang miệng, khiến họ cực khổ tột độ. Sau đó, họ trở
về chỗ Phật, đem sự việc trên trình bày đầy đủ với
Thế Tôn, rồi hỏi: -
Bạch Thế Tôn, có thể đứng Bố-tát được không? Phật
dạy: -
Ðược. Ðược đi, đứng, ngồi, nằm Bố-tát. Ði
Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo đi với khách buôn, đến ngày Bố-tát
mà gặp đoạn đường nguy hiểm, khách buôn không dám chờ,
thì được vừa đi vừa Bố-tát. Trước hết phải trù tính
xem đi đến chỗ nào mới tụng xong giới bản, hoặc dãy núi,
hoặc tảng đá, thì lấy đó làm tiêu xí, rồi đưa cánh tay
ra chạm vào nhau làm yết-ma định cương giới Bố-tát. Khi
làm yết-ma xong mới Bố-tát. Ðó gọi là Bố-tát khi đi. Ðứng
Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo đông mà không có giường ghế để
ngồi thì tất cả đứng đưa cánh tay ra chạm vào nhau mà
Bố-tát. Ðó gọi là đứng Bố-tát. Ngồi
Bố-tát: Có giường ghế dùng để ngồi Bố-tát. Ðó gọi
là ngồi Bố-tát. Nằm
Bố-tát: Nếu Tỉ-kheo già bệnh không thể ngồi lâu, mà giường
kê sát bên nhau, thì có thể nằm Bố-tát. Ðó gọi là nằm
Bố-tát. Tóm
lại, đó gọi là sông A-chi-la. 30/
Mười một trường hợp không được gọi là gởi dục: a.
Chuyển dục: Chẳng hạn nói: "Thưa trưởng lão, trước đây
tôi có nhận dục của mỗ giáp giờ xin chuyển lại trưởng
lão, gồm luôn cả dục của tôi". Ðó gọi là chuyển dục. b.
Gởi dục qua đêm: Chẳng hạn ngày mai mới Bố-tát mà hôm
nay đã gởi dục. Ðó gọi là gởi dục qua đêm. c.
Ở ngoài cương giới: Ra ngoài cương giới gởi dục. Ðó gọi
là ở ngoài cương giới. d.
Tỉ-kheo-ni: Gởi dục cho Tỉ-kheo-ni. Ðó gọi là Tỉ-kheo-ni. đ.
Chưa Thọ cụ túc: Gởi dục cho người chưa Thọ cụ túc.
Ðó gọi là chưa Thọ cụ túc. e.
Nhận dục rồi ra đi: Nhận dục rồi ra khỏi cương giới.
Ðó gọi là nhận dục rồi ra đi. g.
Gởi dục rồi ra đi: Gởi dục rồi ra khỏi cương giới. Ðó
gọi là gởi dục rồi ra đi. h.
Nhận dục rồi trả giới: Nhận dục xong rồi trả lại giới
Cụ túc đã Thọ (hoàn tục). Ðó gọi là nhận dục rồi trả
giới. i.
[450b] Gởi dục rồi trả giới: Gởi dục cho người khác rồi
trả giới cụ túc mà mình đã Thọ. Ðó gọi là gởi dục
rồi trả giới. k.
Mất dục: Tỉ-kheo bị bệnh gởi dục xong rồi, nghe trong Tăng
có pháp sư thuyết pháp, luật sư giảng luật, liền thân hành
đến nghe. Nhưng ngồi lâu mỏi mệt, liền lặng lẽ rời chỗ
ngồi ra về, vì nghĩ rằng trước đây mình đã gởi dục
rồi. Trường hợp này không thể gọi là gởi dục, phải
gởi dục lại. Ðó gọi là mất dục. l.
Hủy hoại chúng: Ðến ngày Bố-tát, Tỉ-kheo Tăng vân tập,
các Tỉ-kheo không đến liền gởi dục thanh tịnh. Thế rồi,
gặp mưa gió dữ dội, hoặc bị lửa cháy, giặc cướp, do
vậy, các Tỉ-kheo kinh hoàng bỏ đi hết. Trường hợp này
không thể gọi là mang dục đến trong Tăng. Nhưng nếu còn
một người ngồi lại, thì được gọi là mang dục đến
trong Tăng. Tóm
lại, đó là mười một trường hợp không được gọi là
gởi dục. 31/
Bốn cách Bố-tát: a.
Một người thọ;
a.
Một người thọ: Khi một Tỉ-kheo sống trong thôn xóm, đến
ngày Bố-tát cần phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng.
Nếu có người khác đến, thì nên dùng nước thơm rưới
trên đất, đốt đèn, rải hoa, rồi chờ Tỉ-kheo khách. Nếu
không ai đến mà mình có tội thì nên thầm nghĩ: "Khi nào
gặp Tỉ-kheo Thanh tịnh Ta sẽ đoạn trừ tội này đúng như
pháp". Thầm nghĩ thế rồi, quỳ gối, chắp tay, tâm niệm
miệng nói: "Hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc
ngày thứ 15), tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Bố-tát".
(nói như thế ba lần). Ðó gọi là một người thọ. b.
Hai người nói: Khi hai Tỉ-kheo ở trong Thôn xóm, đến ngày
Bố-tát phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng. Nếu có
người đến thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, rải
hoa, đốt đèn. Nếu có tội thì phải sám hối lẫn nhau đúng
pháp, rồi quỳ gối chắp tay, nói như sau: "Xin trưởng lão
ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc
ngày thứ 15), tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh". Ðó gọi
là hai người nói. c.
Ba người nói: Cũng như trường hợp hai người ở trên. d.
Bốn người tụng đầy đủ: Khi Bố-tát bốn người thì nên
tụng đầy đủ giới bản. Ðó gọi là tụng đầy đủ. 32/
Bốn cách tụng giới: a.
Tụng từ bài tựa của giới cho đến hết bốn pháp Ba-la-di,
(rồi nói: ) "Những vấn đề khác Tăng đã thường nghe", đoạn,
tụng kệ kết thúc. b.
Tụng từ đầu đến hết mười ba pháp Tăng tàn, hai pháp
Bất định, (rồi nói: ) "Còn những giới khác như Tăng đã
thường nghe", đoạn, tụng kệ kết thúc. c.
Tụng từ đầu đến hết ba mươi pháp Ni-tát-kì, (rồi nói:
) "Còn những giới khác như Tăng đã thường nghe", đoạn,
tụng kệ kết thúc. d.
Tụng từ đầu đến chín mươi hai pháp Ba-dạ-đề, rồi tiếp
tụng đầy đủ cho đến hết. Ðó
gọi là bốn cách tụng. 33/
Khi Bố-tát có bảy trường hợp nên ngăn cản: a.
Người không ở chung;
Ðó
gọi là bảy trường hợp nên ngăn cản khi Bố-tát. 34/
Khi Bố-tát có hai trường hợp nên ngăn cản: a.
Nếu thực hiện Bố-tát thì [450c] Tăng sẽ đấu tranh nhau;
Ðó
gọi là hai trường hợp nên ngăn cản. Tóm
lại, trên đây là vấn đề Bố-tát, gởi dục và nhận dục. PHÉP
AN CƯ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
các Tỉ-kheo du hành vào mùa mưa, dẫm đạp làm hại nhiều
sinh vật, bị người đời chê trách rằng: -
Chín mươi sáu loại người xuất gia còn biết an cư, như chim
ẩn mình nơi tổ, còn Sa-môn Thích tử tự cho mình là tốt
đẹp mà không an cư. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế
Tôn. Phật liền dạy: -
Như thế thật đáng bị người đời chê trách. Từ nay về
sau, vào mùa mưa nên an cư. Phép an cư, cứ đến ngày 16 tháng
tư, Tỉ-kheo nên trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay,
nói với Tỉ-kheo khác như sau: - Xin trưởng lão ghi nhớ cho,
tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, sẽ an cư ba tháng đầu mùa mưa tại
Tăng già-lam này. (nói như vậy ba lần). Nếu Tỉ-kheo đang
đi đường chưa đến trú xứ mà tới ngày an cư, thì nên
thọ an cư ở bên lề đường, hoặc nơi gốc cây, hoặc trên
xe, rồi rạng Ðông hôm sau sẽ đến trú xứ. Khi
đến sau ngày an cư, nên trật vai áo bên phải, quỳ gối,
chắp tay, nói như sau: -
Xin trưởng lão ghi nhớ cho, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp, an cư
ba tháng sau mùa mưa tại Tăng già-lam này. (nói như vậy ba
lần). Nếu
Tỉ-kheo đi đường, đến ngày an cư mà không Thọ tiền an
cư thì phạm một tội Việt-tì-ni. Khi đến trú xứ tới ngày
hậu an cư mà không thọ an cư thì phạm hai tội Việt-tì-ni.
Thế là người đó đã phá an cư, không được nhận y cúng
dường. Lại
nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, bấy giờ có Tỉ-kheo
nương tựa Thôn xóm để an cư mùa mưa, rồi người đàn việt
trông coi công việc của Tăng cần xả nước vào ruộng, bèn
nhờ Tỉ-kheo đến xin vua tháo nước. Lúc
ấy, Tỉ-kheo mang theo y bát bên mình, đến cửa vua mấy lần
mà không được yết kiến. Hơn nữa, đường sá lại xa xôi,
nên thầy càng sợ trễ thời gian an cư. Ðức Thế Tôn thấy
thế, tuy biết, nhưng vẫn hỏi: -
Ông là khách Tỉ-kheo phải không? -
Thưa không phải, bạch Thế Tôn. -
Ông là Tỉ-kheo ra đi phải không? -
Thưa không phải, bạch Thế Tôn. -
Thế thì vì sao mang theo y bát? Tỉ-kheo
bèn đem sự kiện kể trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: -
Từ nay về sau, khi an cư mùa mưa, nếu có người bận công
việc của Tháp, của Tăng thì nên làm yết-ma cầu thính. Người
làm yết-ma nên bạch: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp an cư mùa mưa
tại đây. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo
mỗ giáp an cư mùa mưa tại đây - Vì công việc của Tháp
của Tăng - được đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi
trở về lại trú xứ này. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp vì công việc
của Tháp, của Tăng đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi
trở về lại trú xứ này an cư. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như
vậy. Nếu
có trường hợp như trên vì tháp, vì Tăng, đi tìm kiếm các
thứ như y, bát, bát nhỏ, tô, dây thắc lưng và tất cả các
vật khác, thì ít nhất cũng phải tìm được một vật. Nếu
không được gì cả, thì phạm tội Việt-tì-ni. Khi công việc
xong nên trở về, hoặc nửa tháng, một tháng, hai tháng, cho
đến sau khi Tự tứ phải trở về. Nếu không trở về thì
phạm tội Việt-tì-ni. Nếu trên đường có bọn cướp nguy
hiểm vì sợ mất mạng, phải Tự tứ ở đó, thì không có
tội. Ðó
gọi là phép An cư. PHÉP
TỰ TỨ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
các Tỉ-kheo du hành đến nước Câu-tát-la, thấy một khu rừng
ở gần sông Cừ-ma-đế. Trong rừng có một cây tát-la to lớn,
rổng ruột, tàng cây rậm rạp sum sê, dưới cây bằng phẳng
rộng rãi, cách Thôn xóm không xa, không gần. Thấy thế, các
Tỉ-kheo thầm nghĩ: "Ở đây An cư rất tốt". Kẻ trước,
người sau, ai nấy trông thấy cũng đều nghĩ thế. Ðến ngày
An cư, một Tỉ-kheo đến đó trước, dọn dẹp xung quanh cây
khoảng khoát, đặt y bát, rồi trải cỏ mà ngồi. Trong chốc
lát lại có Tỉ-kheo khác đến, hỏi: -
Trưởng lão muốn An cư ở đây sao? Thầy
đáp: -
Vâng, ở đây rất tốt. Cứ
tiếp tục như vậy đến sáu mươi người. Thế rồi, người
đến trước hỏi các Tỉ-kheo đến sau: -
Các trưởng lão đều muốn An cư ở đây cả sao? Họ
đáp: -
Vâng, ở đây rất tốt. Trong cây này có thể cất được
y bát, còn xung quanh bên trái bên phải thì đủ chỗ để an
cư. Khi
Thọ An cư xong, họ bàn nhau: -
Thưa các trưởng lão, chúng ta nên quy định điều gì để
được sống an lạc? Mọi
người đáp: -
Ðời sống phải lo âu khổ não đều do thân và miệng. Chúng
ta đã được nơi yên tịnh thế này hãy cùng nhau im lặng,
vậy hãy cam kết không được nói chuyện. Sau
khi cam kết không nói chuyện, họ tuân thủ suốt ba tháng,
rồi an cư xong họ trở về Thành Xá-vệ, đến chỗ Thế Tôn,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên. Phật
biết nhưng vẫn hỏi: -
Này các Tỉ-kheo, các ông An cư ở đâu? -
Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ. -
Có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không khó khăn, hành
đạo đúng pháp, sống an lạc không? -
Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng,
sống an lạc, im lặng trong ba tháng, rồi từ biệt nhau ra đi. -
Ðó là việc xấu. Như thế chẳng khác gì oan gia sống với
nhau, lẽ ra nên nói chuyện với nhau mới phải. Lại
nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, A Na Luật, Kim-tì-lư, Bạt-đề cùng nhau An cư tại
núi Tháp. Khi An cư xong, họ trở về thành Xá-vệ, đi đến
chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu
một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi: -
Các ông An cư ở đâu? -
Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ. -
Này các Tỉ-kheo, có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không
khó khăn, hành đạo [451a] đúng pháp, sống an lạc không? -
Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng,
sống im lặng an lạc ba tháng không nói chuyện, rồi từ biệt
nhau. -
Ðó là việc xấu, giống như oan gia sống với nhau. Từ nay
về sau Ta không cho phép không nói chuyện với nhau. Nếu muốn
thuận lợi, ít việc thì có thể không nói trong nửa tháng;
nhưng đến ngày Bố-tát thì phải nói năng, chào hỏi, vấn
an chúc tụng nhau. Qua ngày Bố-tát thì lại tiếp tục như
trước. Nếu vì kiêu căng, giận dữ mà không nói chuyện với
nhau thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế
rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo: -
Kể từ hôm nay vì các đệ tử ta chế định phép Tự
tứ gồm các vấn đề: 1) Ba tháng; 2) Nói ba việc; 3)
Kết thúc an cư; 4) An cư ở đâu Tự tứ ở đó; 5) Từ Thượng
tọa; 6) Hòa hợp. 1)
Ba tháng: Từ
ngày 16 tháng Tư đến ngày 15 tháng bảy. 2)
Nói ba việc:
Thấy, nghe và nghi. 3)
Kết thúc an cư:
Tiền an cư từ ngày 16 tháng Tư đến ngày 15 tháng bảy. Hậu
an cư từ ngày 16 tháng năm đến ngày 15 tháng tám. Nếu trong
chúng an cư có một người tiền an cư thì đến ngày 15 tháng
bảy tất cả chúng đều đồng loạt Thọ tự tứ với người
này. Nhưng khi Tự tứ xong phải ở lại cho đến ngày 15 tháng
tám. Nếu tất cả đều hậu an cư thì tất cả đều phải
Tự tứ vào ngày 15 tháng tám. Ðó gọi là kết thúc an cư. 4)
An cư ở đâu Tự tứ ở đó:
Nếu Tỉ-kheo An cư trong Thôn xóm rồi nghe trong thành đến
ngày Tự tứ có cúng dường các phẩm vật và Thuyết pháp
suốt đêm, mà cả chúng đều muốn đến dự thì nên Tự
tứ ngày 14 xong rồi mới đi. Nếu An cư nơi này mà Tự tứ
nơi khác thì phạm tội Việt-tì-ni. 5)
Từ Thượng Tọa:
Không được theo thứ tự ngược từ nhỏ trở lên mà phải
theo thứ tự từ Thượng Tọa trở xuống; không được đặt
người từng hàng theo lối sớt thêm Thức ăn; không được
việt vị; không được xướng tổng quát rằng: -
Tất cả đại đức Tăng nếu thấy nghe nghi tội thì tự do
nói. Ðó gọi là từ Thượng tọa. Tăng
nên cử một người thành tựu năm pháp làm người nhận Tự
tứ. Hoặc một, hoặc hai người, không thể nhiều hơn. Rồi
người làm yết-ma nên bạch: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp thành
tựu năm pháp. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử
Tỉ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm người nhận Tự tứ. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp mỗ giáp làm người
nhận Tự tứ, vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi
nhận việc này như vậy. Người
nhận yết-ma rồi nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Thời gian Tự tứ đã đến.
Nếu thời gian của Tăng thích hợp thì tất cả Tăng đều
Thọ Tự tứ. Ðây là lời tác bạch. Thế
rồi, người Tự tứ trước nhất bắt đầu từ Thượng tọa.
Thượng Tọa phải trật vai áo bên phải [451c] quỳ gối, chắp
tay nói (với người nhận Tự tứ) như sau: -
Xin trưởng lão ghi nhớ cho. Hôm nay ngày 15 Tăng Tự tứ. Tôi
là Tỉ-kheo mỗ giáp, nếu có tội do thấy, nghe hay nghi xin
trưởng lão và Tăng xót thương nói cho Tôi biết. Nếu thấy
biết mình có tội, tôi sẽ đoạn trừ đúng pháp". (nói như
thế ba lần). Kế
tiếp đến người thứ hai. Người thứ hai này nếu là Hạ
tọa thì phải cúi đầu sát dưới chân, nói (như trên, chỉ
có tiếng Ðại đức là khác). Nếu hai người cùng làm người
nhận Tự tứ, thì một người nhận Thượng Tọa Tự tứ,
còn một người nên rời khỏi chỗ ngồi xuống đứng phía
trước. Khi Thượng Tọa nói Tự tứ xong thì tiếp đến Hạ
tọa nói. Cứ như thế lần lượt theo thứ tự đến người
cuối cùng. Bản thân người nhận Tự tứ phải Tự tứ trước,
chứ không được nhận Tăng Tự tứ rồi mình mới Tự tứ
sau. 6)
Hòa hợp: Không
được Thọ Tự tứ trong lúc Tăng không hòa hợp. Không được
gởi dục thọ Tự tứ. Nếu có người bệnh thì phải đem
họ đến. Nếu đem đến e nguy đến tính mạng thì Tăng nên
tề tựu bên giường (để Tự tứ). Nếu bệnh nhân nhiều
thì nên khiêng cả giường đến, rồi đặt cạnh giường
liên tiếp nhau. Nếu khiên giường đến e lâm nguy đến tính
mạng, thì các Tỉ-kheo không bệnh nên ngồi nối tiếp nhau
(từ chỗ người bệnh đến chỗ Tự tứ). Nếu ngồi không
tiếp giáp, thì những Tỉ-kheo không bệnh nên ra ngoài cương
giới Tự tứ; còn Tỉ-kheo bệnh thì Tự tứ trong cương giới.
Trong trường hợp đại chúng đông, hoặc một vạn, hai vạn,
thì nên vân tập tất cả một chỗ, hoặc là giảng đường,
trai đường, nhà tắm để Thọ Tự tứ. Còn những người
khác thì vừa xỉa răng, vừa đi đại Tiểu tiện, vừa ăn,
cứ như thế suốt ngày thông qua đêm, đều phải ở nơi đó
mà Tự tứ cho đến trước rạng đông hôm sau, không được
rời khỏi chỗ, không được đi xa. Nếu đại chúng đông
đến sáu vạn, tám vạn người, sợ làm không rốt ráo, thì
nên đem bớt một số ra ngoài cương giới Tự tứ. Hoặc một
người Thọ Tự tứ, hoặc hai người nói, hoặc ba người,
bốn người nói Tự tứ. Còn trường hợp năm người thì
phải Tự tứ đầy đủ. Một
người Thọ: Khi một Tỉ-kheo An cư trong Thôn xóm, đến ngày
Tự tứ phải quét Tháp và Tăng viện. Nếu có người đến
thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn.
Nếu bản thân có tội thì nên thầm nhủ: "Nếu gặp được
Tỉ-kheo thanh tịnh đến thì ta sẽ đoạn trừ tội này đúng
như pháp". Thầm nhủ như thế rồi, phải quỳ gối, chắp
tay, tâm niệm, miệng nói: "Nay Tăng Tự tứ ngày 15, tôi là
Tỉ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Tự tứ". (nói như vậy ba
lần). Hai
người nói: Khi có tội thì sám hối với nhau đúng pháp, rồi
trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói: "Xin trưởng
lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Tự tứ ngày 15, nếu tôi có tội
do thấy, nghe hoặc nghi, xin trưởng lão xót thương nói cho
tôi biết. Nếu tôi tự thấy hay biết mình có tội, tôi sẽ
đoạn trừ đúng pháp". (nói như thế ba lần). Trường
hợp ba người, bốn người cũng nói như trên. Nhưng trường
hợp năm người thì nên Tự tứ đầy đủ. [452a]
Tóm lại, trên đây là phép Tự tứ. LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ hai mươi bảy.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||