| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ 5. PHÁP
YẾT-MA. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba tranh cãi với nhau, sống không hòa
hợp. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo: -
Từ hôm nay Tăng nên làm yết-ma. Ưu-ba-li sẽ xử đoán sự
việc của các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba. Người làm yết-ma nên
nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Trưởng lão Ưu-ba-li thành tựu
năm pháp, nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng đề cử
trưởng lão Ưu-ba-li xử đoán việc của các Tỉ-kheo ở Chiêm
Ba". Ðây là lời tác bạch. -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Trưởng lão Ưu-ba-li thành tựu
năm pháp, Tăng nay đề cử Ưu-ba-li xử đoán việc của các
Tỉ-kheo ở Chiêm Ba. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cử
Ưu-ba-li xử đoán việc của các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba thì im
lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ
nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế) Tăng
đã đề cử Ưu-ba-li xử đoán việc của các Tỉ-kheo ở Chiêm
Ba xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Pháp
yết-ma gồm có hai mươi trường hợp. Tám trường hợp bạch
nhất yết-ma như trên đã nói. Còn tám trường hợp bạch
tam yết-ma (một lần bạch ba lần yết-ma) thì như sau: 1/
Cử người xử đoán sự việc;
Ðó
gọi là tám trường hợp một lần bạch ba lần yết-ma. Trong
đây, cử người xử đoán, dạy bảo Tỉ-kheo-ni thì chúng
Tăng phải thỉnh cầu, còn yết-ma rời y mà ngủ, yết-ma một
tháng và yết-ma chiên thì đương sự phải theo Tăng xin. Ngoài
ra, yết-ma cuồng si, yết-ma nói tội người khác, các yết-ma
này nên làm trong cương giới với sự hiện diện của Tăng,
không được làm ngoài cương giới. Cũng thế, yết-ma học
gia, yết-ma phú bát cũng nên làm trong cương giới với sự
hiện diện của Tăng, không được làm ở ngoài cương giới. Người
xử đoán, sau khi được đề cử không được chần chừ.
Nếu được đề cử buổi sáng thì buổi xế nên khởi hành.
Nếu được đề cử vào lúc xế thì sáng sớm hôm sau thức
dậy nên lên đường. Lúc đi, không được theo đàn việt
đi những con đường vòng vo mà phải đi theo con đường thẳng.
Nếu con đường thẳng có chướng nạn thì đi con đường
vòng vo không có tội. Khi đến nơi đó rồi [443c] thì không
được chần chừ đợi Tỉ-kheo khách ăn. Nếu đến buổi
xế thì sáng sớm hôm sau nên xử đoán. Nếu đến vào buổi
sáng thì lúc xế nên xử đoán. Không được nhuộm y, hơ bát,
ngồi Thiền, tụng kinh. Nếu sự việc khó giải quyết, trong
lúc đang rỗi rảnh thì làm các việc trên không có tội. Khi
xử đoán sự việc xong rồi trở về cũng như vậy. Ðó gọi
là pháp yết-ma. VẤN
ÐỀ RUỘNG VƯỜN. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
các Tỉ-kheo đem ruộng đất của chúng Tăng cho người thuê
mướn, hoặc đem bán, hoặc dùng làm của riêng. Các Tỉ-kheo
bèn đem sự việc ấy đến
bạch lên Thế Tôn. Phật nói với các Tỉ-kheo: -
Từ nay về sau ruộng đất của chúng Tăng không được cho
người thuê mướn, không được đem bán, không được dùng
làm của riêng. Giả sử Tăng tập họp tất cả đồng ý cũng
không được cho người thuê mướn, không được đem bán,
không được sử dụng riêng. Nếu tập họp Tăng lại cho người
thuê mướn, đem bán hay sử dụng riêng thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu ruộng đất của Tăng tốt, bị kẻ ác xâm chiếm thì
nên bảo đàn việt coi sóc giúp. Nếu đàn việt nói: "Ðây
là ruộng đất tốt vì sao bảo tôi chăm sóc?", thì nên đáp:
"Ruộng đất này tuy tốt nhưng kẻ ác muốn xâm chiếm, nên
nhờ đàn việt trông coi giúp". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
đất của Tăng và đất của vua lẫn lộn
vào nhau, vua Ba Tư Nặc nói với tôn giả A-nan: -
Ðất của vua lẫn lộn vào trong đất của Tăng, vậy nên
đem dây đến đo để chia ra. A-nan
đáp: -
Ðợi tôi bạch với Phật đã. Thế
rồi, A-nan đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
nói với A-nan: -
Ông hãy đến nói với nhà vua rằng: - Ðại vương là chủ
đất, Sa-môn Thích tử dựa vào đại vương mà sống, do thế,
không nên chia đất đại vương. A-nan
Thọ giáo, đi đến chỗ vua, nói: -
Phật dạy rằng: "Ðại vương là chủ đất, Sa-môn Thích tử
nương vào đại vương mà sống, do thế không nên chia đất
với đại vương". Vua nói: "Nếu như thế thì xin cúng tất
cả cho chúng Tăng. Hôm nay đặt tên là vườn của vua để
cho người sau được biết". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
Tăng có đám đất trống, rồi một trưởng giả đến hỏi: -
Ðám đất trống này của ai vậy? Tăng
đáp: -
Ðất của Tăng đó. Trưởng
giả nói: -
Nếu đất của Tăng thì nên giao cho tôi, tôi muốn làm phòng
cho chúng Tăng. Tăng bèn giao đất, nhưng trải qua lâu ngày
mà ông không làm phòng. Rồi
có một cư sĩ đến hỏi: -
Ðám đất trống này của ai vậy? Tăng
đáp: -
Ðất của Tăng đó. -
Nên giao cho tôi, tôi muốn làm phòng cho chúng Tăng. -
Trước đây đã có một trưởng giả đòi làm phòng nhưng
chưa làm. -
Thưa tôn giả, tôn giả cứ giao cho tôi, lo gì không làm! Tỉ-kheo
liền giao đất. Cư sĩ vì muốn tạo công đức nên dốc hết
gia tài châu báu làm những phòng ốc tốt đẹp, rồi sắm
sửa [444a] mọi thứ ẩm thực cúng dường chúng Tăng. Ðoạn,
đem các phòng ốc đó cúng dường cho chúng Tăng, đồng thời
mời vị trưởng giả trước kia đến để cùng chung vui. Trưởng
giả thấy thế hỏi: -
Thưa tôn giả, ai làm phòng vậy? -
Vị cư sĩ này đây. -
Ðám đất này trước đã giao cho tôi, vì sao còn giao cho cư
sĩ? Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
dạy: -
Vì sao không ra điều kiện trước mà đem đất giao cho người
ta? Từ nay về sau không nên không ra điều kiện trước mà
đem đất giao cho người ta. Nếu Tăng có đất trống rồi
có người đến đòi làm phòng thì nên ra điều kiện phải
làm trong thời gian chừng ấy. Nếu
đương sự nói: "Tôi sẽ làm trong khoảng thời gian chừng
đó", thì nên nói: "Nếu đến thời gian đó mà chưa làm thì
tôi sẽ giao cho người khác". Nếu
hai người đến đòi làm mà một người nói: "Tôi sẽ làm
cho chúng Tăng một tầng lầu", còn người kia nói: "Tôi sẽ
làm hai tầng lầu", thì Tăng nên giao cho người xin làm hai
tầng; cũng thế, ba, bốn tầng cho đến bảy tầng. Nếu
hai người cùng nói xin làm bảy tầng, thì lúc ấy nên xem
tướng coi người nào có thể làm được thì giao cho họ.
Nếu hai người đều có thể làm được thì nên giao cho người
có nhiều quyến thuộc. Nếu không bắt làm cam kết trước
mà giao đất cho họ, thì phạm tội Việt-tì-ni. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có Tỉ-kheo làm Thảo am trên đất của chúng Tăng,
rồi Thượng Tọa đến, theo thứ tự giao phòng thì Tỉ-kheo
không giao. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên
Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo: -
Nếu ai làm phòng trên đất của chúng Tăng mà Thượng Tọa
đến theo thứ tự không giao phòng, thì nên đem các vật liệu
cây cỏ ấy đến chỗ khác. Nếu ai làm phòng trên đất của
chúng Tăng mà khi Thượng Tọa đến theo thứ tự không giao
phòng thì phạm tội Việt-tì-ni. NHÀ
ÐẤT. Nếu
chúng Tăng có đất cất nhà có giá trị mà có kẻ ác ở
lân cận muốn xâm chiếm, thì nên bảo đàn việt trông coi
giúp đất đó. Nếu đàn việt nói: "Ðất làm nhà này quí
giá, vì sao lại muốn cho tôi trông coi?", thì nên nói: "Ðất
làm nhà này tuy tốt nhưng kẻ ác ở gần thường muốn chiếm
đoạt". Nếu
đàn việt nói: "Muốn hoán đổi sao?", thì hãy đáp: "Tùy ý
đàn việt quyết định". Nếu đàn việt hoán đổi thì không
có tội. Ðó gọi là nguyên tắc về nhà đất. VẤN
ÐỀ TĂNG GIÀ LAM. Khi
Phật
an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có
Tỉ-kheo chiếm đoạt đất già-lam để làm phòng, Thầy Cựu
Tri Sự nói: -
Trưởng lão đừng có chiếm đoạt chỗ ở của Tăng để
làm phòng. Tỉ-kheo
ấy nói: -
Này trưởng lão, tôi làm phòng cho chúng Tăng, thầy đừng
có gây trở ngại. Thế
rồi hai người cùng tranh luận, không giải quyết được,
bèn dẫn nhau đến chỗ Phật, trình bày lại đầy đủ sự
việc trên với Thế Tôn. [444b] Phật dạy: -
Từ nay về sau không được cưỡng chiếm chỗ ở cũ của
Tăng để làm phòng cho chúng Tăng. Vị cựu Tỉ-kheo cũng không
được gây trở ngại việc đó. Nếu hai Tỉ-kheo tri sự đồng
ý nhau thì nên làm một phòng cùng mái lợp mà ngăn chia khác
vách; hoặc mái lợp cách biệt mà cùng một tường vách; hoặc
cùng một mái lợp, cùng một tường vách; hoặc mái lợp riêng
biệt, tường vách riêng biệt. Nếu
hai người không vui vẻ với nhau, thì nên làm phòng có mái
lợp riêng, tường vách riêng. Nếu cưỡng chiếm phòng cũ
để làm nhà mới cho Tăng thì phạm tội Việt-tì-ni. Còn kẻ
nào gây trở ngại đối với người làm phòng cho Tăng cũng
phạm tội Việt-tì-ni. Lại
nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ có Tỉ-kheo xây Tháp cho Thanh Văn tại chỗ có nhiều
người đi, khiến các cư sĩ đi đến lễ bái Thế Tôn, thấy
thế, chê trách: -
Chúng ta đến đây để đảnh lễ đức Thế Tôn, mà chưa
thấy Thế Tôn đâu đã thấy nấm mồ người chết. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Vì sao các ông không làm yết-ma trước mà xây tháp Thanh Văn
tại chỗ đất có nhiều người đi? Từ nay về sau Ta không
cho phép không làm yết-ma trước mà xây tháp cho Thanh Văn tại
chỗ đất có nhiều người đi. (Muốn xây tháp) trước hết
nên làm yết-ma cầu thính. Người làm yết-ma nên nói như
sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp vì vô thường
đã nhập Niết-bàn. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng
nay cho xây tháp Thanh Văn cho Tỉ-kheo mỗ giáp – Vì sự vô
thường đã nhập Niết-bàn – tại chỗ này. -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tăng nay cho xây tháp Thanh Văn
cho Tỉ-kheo mỗ giáp tại chỗ này. Vì Tăng đã bằng lòng
nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Nếu
không hòa hợp thì nên nói: -
Thưa trưởng lão, đức Thế Tôn nói bốn hạng người nên
xây tháp, đắp tướng luân (hình bánh xe), treo tràng phan bảo
cái, đó là đức Như Lai, các Thanh Văn, Phật Bích Chi và Chuyển
Luân Thánh Vương. Nếu Tỉ-kheo viên tịch là Tu-đà-hoàn thì
nên gọi là Tu-đà-hoàn. Nếu Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán
thì nên gọi là A-la-hán. Hoặc gọi là Tỉ-kheo giữ luật,
hoặc gọi là Pháp sư, hoặc gọi là Tỉ-kheo doanh sự có đức
vọng. Thế
rồi, nên tiếp: -
Thưa trưởng lão, vị ấy giữ giới, hiền thiện, cúng dường
cho Tăng rất nhiều, làm việc cực nhọc, nên xây tháp cho
Thầy. Trình
bày như thế rồi, mới xây Tháp cho vị ấy. Khi xây tháp Thanh
Văn không được để cho nhìn thấy tháp trước rồi mới
thấy Phật sau, mà phải làm sao để thấy Thế Tôn trước
rồi mới thấy tháp sau. Không được làm ở chỗ có nhiều
người đi mà phải làm ở chỗ vắng vẻ. Cũng không được
làm tại chỗ các Tỉ-kheo đi kinh hành. Nếu ai xây tháp Thanh
Văn tại chỗ có nhiều người đi thì phạm tội Việt-tì-ni. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
tôn giả Ca Lôï ở tại thôn ấp lớn Ca Thi Kỳ Lê, lúc ấy
có Tỉ-kheo Thượng Tọa đến, theo thứ tự giao phòng [444c]
mà thầy không chịu giao, còn nổi giận cầm búa đập phá
căn phòng. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến thưa hỏi
Thế Tôn: - Bạch Thế Tôn, Vị Tỉ-kheo này phạm vào tội
gì? Phật
dạy: -
Phá hoại sáu loại sau đây thì phạm tội Thâu-lan-giá, đó
là: phá bát, phá y, phá tháp, phá phòng, phá Tăng, phá cương
giới. 1)
Phá bát: Bát
có ba loại thượng, trung và hạ. Nếu vì giận dữ mà phá
một loại nào đó thì phạm tội Thâu-lan. Nếu bát bị mẻ
muốn hàn lại mà lỡ tay rớt bể thì không có tội. Nếu
vì tức giận mà đập bể tô, chén thì phạm tội Việt-tì-ni. 2)
Phá y: Nếu vì
tức giận mà xé rách một trong ba y thì phạm tội Thâu-lan.
Nhưng nếu muốn cắt miếng ngoài biên may vào giữa, cắt miếng
ở giữa may ngoài biên, hoặc vá thêm hai lớp thì không có
tội. Nếu vì tức giận mà đem xé tọa cụ hoặc các loại
vải vóc khác, thì phạm tội Việt-tì-ni. 3)
Phá Tháp: Nếu
vì tức giận mà phá tháp của đức Thế Tôn thì phạm tội
Thâu-lan, bị nghiệp hành tội báo rất nhiều. Nếu muốn sửa
chữa để làm lại tốt hơn thì không có tội. Nếu vì tức
giận mà phá Tháp của Ni-Kiền và các ngoại đạo khác thì
phạm tội Việt-tì-ni. 4)
Phá phòng: Nếu
vì tức giận mà phá phòng của Tăng thì phạm tội Thâu-lan.
Nếu muốn làm lại tốt hơn thì không có tội. Nếu vì giận
dữ mà phá phòng của tu sĩ ngoại đạo thì phạm tội Việt-tì-ni. 5)
Phá Tăng: Nếu
vì tức giận mà phá sự hòa hợp của Tăng thì phạm tội
Thâu-lan, bị nghiệp hành mang quả báo phải rơi vào trong địa
ngục một kiếp. 6)
Phá cương giới:
Nếu vì giận dữ mà làm (phòng) ngoài phạm vi cương giới
thì không thể gọi là làm (phòng), phạm tội Thâu-lan, nhưng
được bỏ cương giới cũ rồi làm yết-ma lại cương giới
khác. Ðó
gọi là sáu loại phá hoại phạm tội Thâu-lan. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ tôn giả La Hầu La đang du hành đến nước Bạt
Kỳ, dần dần đi tới thôn Ba-La Nại. Thế rồi, có một cư
sĩ ở thôn này xây phòng cho La Hầu La. La Hầu La nhận xong
lại tiếp tục du hành, cư sĩ bèn đem căn phòng này cúng cho
các Tỉ-kheo khác. Ðến khi La Hầu La trở về... như trong tuyến
kinh đã nói rõ, cho đến La Hầu La bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, căn phòng này nên thuộc về ai? Phật
nói với La Hầu La: -
Nếu cư sĩ, con cư sĩ có lòng tin hoan hỉ làm phòng cúng dường
cho chúng Tăng, nhưng khi cúng cho Tăng rồi, lại đem cúng cho
nhiều người khác thì đó là cách cúng phi pháp và Thọ dụng
phi pháp. Nếu cúng cho nhiều người rồi đem cúng cho một
người, thì đó là cách cúng phi pháp và thọ dụng phi pháp.
Hoặc đem cúng cho một người rồi lại đem cúng cho nhiều
người; hoặc đem cúng cho nhiều người rồi lại đem cúng
cho chúng Tăng, thì đó là cách cúng phi pháp và thọ dụng
phi pháp. Ngoại trừ, khi đem cúng cho Tăng rồi không đem cúng
cho nhiều người, khi đem cúng cho nhiều người rồi không
đem cúng cho một người thì đó là cách cúng đúng pháp và
[445a] thọ dụng đúng pháp. Này
La Hầu La, cách cúng trước là cúng đúng, cách cúng sau là
không đúng. Nếu Tăng ở tại đất của vua, rồi người làm
phòng trước đem cúng dường trước, thì công đức ngày đêm
càng tăng thêm. Này
La Hầu La, ông đương nhiên được phòng, còn người sau thì
đương nhiên không được. Ðó
gọi là phép tắc của Tăng-già-lam. PHÉP
TẮC VỀ DOANH SỰ. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy
giờ, tôn giả Ðạt Nị Ca con của người thợ gốm làm phòng,
như trong giới Ba-la-di thứ hai đã nói, cho đến thốt lời
oán trách như sau: - Ta làm phòng gian khổ, không nài nóng lạnh,
làm mới vừa xong thì Thượng Tọa đoạt mất, giống như
mèo rình chuột. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Vị Tỉ-kheo doanh sự ấy làm phòng rất gian khổ, Tăng nên
làm yết-ma cho Thầy cư trú năm năm. Người làm yết-ma nên
nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp muốn làm phòng
cho Tăng. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo
doanh sự mỗ giáp làm phòng cho Tăng, theo Tăng xin cư trú năm
năm. -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo doanh sự mỗ giáp muốn
theo Tăng xin cư trú năm năm. Vì Tăng đã bằng lòng nên im
lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Thế
rồi, Vị Tỉ-kheo này nên trịch vai áo bên phải, quỳ gối
chắp tay, xin như sau: -
Thưa đại đức Tăng! Tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp làm phòng cho
Tăng, nay theo Tăng xin cư trú năm năm do công lao làm phòng.
Kính mong Tăng xót thương cho tôi cư trú năm năm do công lao
làm phòng. (xin như vậy ba lần). Người
yết-ma nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp làm phòng cho
Tăng, theo Tăng xin cư trú năm năm do công lao làm phòng. Nếu
thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp cư
trú năm năm do công lao làm phòng. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp làm phòng cho Tăng,
theo Tăng xin cư trú năm năm do công lao làm phòng. Tăng nay cho
Tỉ-kheo mỗ giáp cư trú năm năm do công lao làm phòng. Các
đại đức nào bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp cư trú năm
năm do công lao làm phòng thì im lặng, ai không bằng lòng hãy
nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba
cũng nói như vậy). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp cư trú năm năm do công
lao làm phòng xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này
như vậy. Sau
khi Tăng đã làm yết-ma cho cư trú năm năm, Tỉ-kheo doanh sự
trở về chỗ mình đã làm phòng, theo thứ tự được một
phòng. Nếu có Thượng Tọa đến thì nên giao phòng theo thứ
tự, còn căn phòng đã yết-ma cho mình thì không nên giao. Nếu
muốn đi du hành thì phải giao hai căn phòng ấy lại cho Tăng,
tùy thứ tự cư trú. Ðồng thời gởi gấm: "Khi nào tôi trở
về thì phải giao phòng lại cho tôi". Sau khi trở về, Tăng
phải giao phòng lại theo lời giao ước trước. [445b] Nếu
phòng Tăng cũ bị hư hỏng rồi làm cửa lại, thì tùy theo
công lao nhiều ít mà làm yết-ma cho cư trú hai năm hay ba năm.
Nếu phòng bỏ trống không ai ở thì nên cho người ở để
trông coi một thời gian. Nếu
giường
ghế mền gối bị dơ bẩn, rách nát mà đem giặt nhuộm sửa
chữa lại, thì nên cho ở một thời gian. Nếu
trong thời gian ấy có Tỉ-kheo nào xoi bói, thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là phép tắc về doanh sự. PHÉP
TẮC VỀ GIƯỜNG NỆM. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
trong lúc Tỉ-kheo an cư, Thượng Tọa đến, rồi theo thứ tự
lấy phòng. Ðoạn, Thầy chở đồ đạc ra khỏi phòng. Phật
biết nhưng vẫn hỏi các Tỉ-kheo: -
Ðó là Tỉ-kheo khách phải không? -
Thưa không phải, bạch Thế Tôn. -
Ðó là Tỉ-kheo ra đi luôn phải không? -
Thưa không phải, bạch Thế Tôn. -
Thế thì Tỉ-kheo nào mà chở đồ đạc đi? -
Bạch Thế Tôn, đó là người theo thứ tự nhận phòng, thế
rồi chở đồ đạc đi. -
Vì sao lúc nào các ông cũng giao phòng theo thứ tự từ Thượng
Tọa trở xuống? Từ nay về sau, Ta không cho phép bất cứ
lúc nào cũng giao phòng từ Thượng Tọa trở xuống. Tăng nên
cử một người thành tựu năm pháp trông coi việc giao phòng
xá, giường nệm. Thế
nào là năm pháp? -
Ðó là: Không thiên vị; không giận dữ; không sợ hải; không
ngu si, biết ai được rồi, ai chưa được. Ðó gọi là năm
pháp. Người
làm yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu
năm pháp. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỉ-kheo
mỗ giáp trông coi việc giao phòng ốc giường nệm. Ðây là
lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp thành tựu năm
pháp, Tăng nay cử Tỉ-kheo mỗ giáp trông coi việc giao phòng
ốc, giường nệm. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cử
Tỉ-kheo mỗ giáp trông coi việc giao phòng ốc giường nệm,
thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng cử Tỉ-kheo mỗ giáp trông coi việc giao phòng
ốc, giường nệm xong, vì Tăng đã im lặng. Tôi ghi nhận việc
này như vậy. Sau
khi làm yết-ma xong, từ ngày 16 tháng 3 trở đi, nên bảo đàn
việt giặt rửa giường nệm phòng ốc, sửa chữa phòng ngồi
Thiền, giảng đường, phòng sưởi, cầu tiêu, sửa chữa nhà
ngõ, nhà che giếng thuộc Tăng già-lam và ghi chép tất cả
những bữa ăn thuộc ngày trai cũng như y an cư. Nếu trú xứ
của Tăng xa thành ấp xóm làng thì đến ngày 13 tháng tư nên
giao phòng. Nếu người nào không được dung nạp thì nên đi
đến nơi khác. Nếu trú xứ gần xóm làng, thì nên giao phòng
vào ngày 15, đồng thời đọc biên bản đã ghi chép: Tăng
già-lam mỗ giáp có chừng ấy phòng ốc, chừng ấy giường
nệm, chừng ấy bữa ăn thuộc ngày trai, chừng ấy y. Thượng
Tọa nên bảo: -
Hãy giao phòng cho những ai cùng an cư một chỗ. Nói
như thế rồi, mới giao phòng. Nhưng không được[445c] giao
phòng cho Sa-di. Ngoại trừ, Hòa Thượng A-xà-lê bảo: - "Cứ
giao phòng để mặc tôi xử lý" thì mới giao. Nếu
phòng nhiều thì nên giao mỗi người hai phòng. Nếu vị ấy
không chịu nhận hai phòng, mà nói: "Tôi chỉ cần một phòng
là đủ", thì khi ấy, nên bảo: "Ðây không phải là giao để
sử dụng mà là giao để trông coi". Nếu
Tỉ-kheo nhiều mà phòng ít, thì nên giao cho hai người, ba người
cùng ở chung một phòng. Nếu vẫn không đủ, thì nên giao
năm người, mười người ở chung một phòng. Nếu
có một ngôi nhà lớn thì tất cả Tỉ-kheo nên vào ở trong
đó. Thượng Tọa nên giao cho giường nằm, còn những người
khác thì giao cho giường ngồi. Nếu
không đủ, thì Thượng Tọa nên giao cho giường ngồi, những
người khác thì ngồi trên nệm cỏ. Nếu
vẫn không đủ, thì Thượng Tọa nên ngồi nệm cỏ, còn những
người khác thì ngồi không. Nếu
vẫn không đủ nữa, thì Thượng Tọa nên ngồi kiết già,
còn những người khác thì đứng. Nếu
vẫn không đủ, thì Thượng Tọa nên đứng, còn những người
khác thì ra ngoài gốc cây hay chỗ đất trống. Nếu
giao phòng vào mùa Ðông, hoặc là để trông coi, hoặc là để
ở, thì khi Thượng Tọa đến nên theo thứ tự mà ở. Nếu
giao phòng vào mùa Xuân hoặc là để trông coi, hoặc là để
ở, thì khi Thượng Tọa đến nên theo thứ tự mà ở. Nếu
giao phòng vào lúc an cư hoặc để trông coi, hoặc là để
ở, thì khi Thượng Tọa đến không nên theo thứ tự mà ở. Nếu
Tỉ-kheo không biết phép tắc, trong lúc an cư đòi phòng theo
thứ tự mà không được, bèn khiển trách, thì nên nói: "Hãy
đợi đây, để tôi đi hỏi người coi phòng đã", rồi nên
đến nói với người coi phòng: "Thưa trưởng lão, có Tỉ-kheo
khách là bậc Thượng Tọa đến, bảo tôi dời đi". Bấy
giờ, người coi phòng phải khiển trách Tỉ-kheo khách: -
Này trưởng lão! Thầy không am tường giới luật. Vì sao trong
lúc an cư mà bảo người khác dời đi? Thầy không hiểu sao?
Không phải lúc nào cũng đuổi người khác được. Nhưng
nếu mùa Ðông, mùa Xuân có Thượng Tọa đến, theo thứ tự
nên nhường phòng mà không nhường, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu Tỉ-kheo không am tường giới luật, trong lúc an cư mà
đuổi người khác đi, thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là phép tắc về giường nệm. PHÉP
CUNG KÍNH. Khi
Phật du hành đến nước Câu Tát La, vào lúc đầu đêm, Thế
Tôn thuyết pháp cho các Thanh Văn, đến nửa đêm Ngài trở
về phòng. Bấy giờ, các Tỉ-kheo có người cung cấp nên đã
lấy phòng trước, đến khi nghe pháp xong, ai nấy trở về
phòng an nghỉ. Lúc ấy, tôn giả Xá-lợi-phất và Mục Liên,
không có người cung cấp, đầu đêm nghe pháp đến nửa đêm,
bèn tới phòng gõ cửa, thì những người ở trong phòng hỏi: -
Ai đó? -
Xá-Lợi-Phất đây. -
Phòng đã đầy rồi, thưa bậc đại trí. Thế
rồi, hai người đến gõ cửa phòng khác. Người trong phòng
hỏi: -
Ai đó? -
Tôi là Ðại-Mục-Liên đây. -
Phòng đã đầy rồi, thưa bậc đại thần túc. Thế
là cả hai đều không có phòng, nên một người đến ngồi
dưới thềm nhà, còn một người ra ngồi dưới gốc cây.
[446a] Ðêm ấy trời mưa, người ngồi dưới thềm nhà đọc
kệ: "Ngồi
kiết già dưới thềm,
Ðoạn,
người ngồi dưới gốc cây cũng đọc kệ: "Dưới
cây sống tri túc,
Lúc
ấy có Ưu-bà-tắc buổi sáng thức dậy, đi đến thăm viếng
Thế Tôn, thấy thế bèn chê trách: - Vì sao
Sa-môn Thích tử lại không biết phép cung kính? Bậc
đại đức như thế mà không cho phòng nghỉ. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật
liền dạy: -
Việc như thế thật đáng bị người đời chê cười. Rồi
Phật nói với các Tỉ-kheo: -
Ðợi Ta du hành nước Câu Tát La xong trở về lại thành Xá-vệ,
rồi nhắc lại cho Ta, Ta sẽ chế định phép cung kính cho các
Tỉ-kheo. Khi
Phật trở về, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc trước bạch
lại với Thế Tôn. Phật liền hỏi các Tỉ-kheo: -
Ai là bậc Thượng Tọa lớn nhất đáng được lấy nước
trước, được nhận cơm trước? Ai đáng được nhận sự
lễ bái? Ai đáng được đứng dậy tiếp nước? Ai đáng được
chắp tay, cúi đầu, cung kính? Khi
nghe thế, các Tỉ-kheo nói: -
Con của Thế Tôn đáng được nhận. Tỉ-kheo
khác nói: -
Những người thân quyến của Thế Tôn đáng được nhận. Lại
có người nói: -
Thị giả của Thế Tôn đáng được nhận. Lại
có người nói: -
Bậc A-la-hán đáng được nhận. Thế
rồi, người Sát-lợi xuất gia nói: -
Người Sát-lợi đáng được nhận. Người
Bà-la-môn xuất gia lại nói: -
Người Bà-la-môn đáng được nhận. Người
Tì-xá xuất gia thì nói: -
Người Tì-xá đáng được nhận. Còn
người Thủ-đà-la xuất gia thì nói: -
Người Thủ-đà-la đáng được nhận. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Các ông ai nấy đều vì tính kiêu mạn cho nên nói rằng: Ðáng
cho con của Thế Tôn, cho đến người Thủ-đà-la. Nhưng ở
đây không phải là phép tắc của người đời. Như Lai Ứng
Cúng Chánh Biến Tri sẽ nói cho các ông biết về phép tắc
của người đời... như trong Tuyến Kinh đã nói rõ, cho đến
Phật nói với các Tỉ-kheo: -
Từ nay về sau Ta chế giới: Người xuất gia trước phải
được hưởng sự lễ bái, đứng dậy đón rước, chắp tay
cúi đầu cung kính. Người xuất gia trước phải được ngồi
trên, phải được nhận lời mời trước, ngồi trước, lấy
nước trước, Thọ trai trước. Các
Tỉ-kheo liền tán thán: -
Ðức Thế Tôn đã khéo trình bày về cách thức tôn kính trưởng
lão. Phật
nói: -
Không những ngày nay Ta khéo trình bày về cách thức tán thán
trưởng lão mà trong thời quá khứ Ta cũng đã từng nói như
thế. Các
Tỉ-kheo liền bạch với Phật: -
Chúng con muốn được nghe. Phật
nói với các Tỉ-kheo: -
... Trong thời quá khứ xa xưa có ba con vật là Chim trĩ, Khỉ
và Voi cùng sống với nhau dưới cây Ni-câu-loại. Con voi nói: -
Ba chúng ta cùng sống với nhau [446b] tại một chỗ, trong đây
ai lớn nhất? Ai đáng được tôn kính? Rồi
voi tiếp: -
Tôi đã cỡi trên đầu cây này đi qua. Khỉ
nói: -
Ngày trước tôi đã từng đái trên đầu cây này. Chim
trĩ nói: -
Ngày xưa tôi ăn quả loại cây này trên núi Tuyết rồi xuống
ỉa nơi đây mà mọc ra cây này. Bấy
giờ Chim trĩ là lớn nhất, hai con vật kia tôn kính nó, nên
sau khi chết đều được sinh về cõi lành. Con voi khi ấy chính
là Ta đây. Các ông cũng nên tôn kính các Thượng Tọa như
vậy, thì giới luật mới được thăng hoa. Ðó
gọi là phép tắc cung kính. Nhận
lời mời trước: Nếu
có người đến mời thì nên mời Thượng Tọa trước. Nếu
đàn việt chưa từng làm phước, mời Tỉ-kheo trẻ, thì nên
bảo họ đến chỗ Thượng tọa. Ðó gọi là nhận lời mời
trước. Phép
ngồi của Thượng Tọa: Khi
sắp chỗ ngồi, không được sắp chỗ ngồi của người nhỏ
tuổi ở trên cao, chỗ ngồi của Thượng Tọa ở dưới thấp,
mà phải sắp chỗ ngồi của Thượng Tọa ở
trên cao, chỗ ngồi của người nhỏ tuổi ở dưới thấp;
đồng thời phải trải tọa cụ ngay ngắn tề chỉnh; những
cái tốt thì dành cho Thượng tọa, những cái không tốt thì
để cho Hạ tọa. Nếu nhà đàn việt mời Tỉ-kheo quen biết
rồi dành cho giường nệm tốt thì cứ để mặc ý thí chủ,
không được tranh giành. Nếu vào dịp năm năm đại hội số
người đông đúc tạp nhạp, thì tối thiểu phải sắp chỗ
ngồi tươm tất cho tám người ngồi ở trên cao, còn các chỗ
ngồi dưới thì tùy nghi. Ðó gọi là phép ngồi của Thượng
tọa. Nhận
thức ăn trước: Khi
dọn thức ăn phải dọn cho Thượng Tọa trước. Nếu đàn
việt chưa từng làm phước dọn cho người nhỏ tuổi trước,
thì nên bảo họ bưng tới chỗ Thượng tọa. Khi dọn cơm,
nên dọn cơm ngon cho Thượng tọa; cũng thế, khi dọn tất
cả các Thức ăn uống khác cũng phải bảo dọn món ngon cho
Thượng tọa. Nếu nhà đàn việt mời Thọ trai, mà họ dọn
sai biệt, thì tùy theo ý họ, không nên tranh luận làm chi.
Nếu vào dịp năm năm đại hội một lần, số người đông
đúc tạp nhạp, thì tối thiểu phải dọn món ngon cho tám
Thượng Tọa hàng đầu, còn các hạ tọa thì tùy nghi mà dọn.
Ðó gọi là nhận thức ăn trước. Lễ
bái cung kính đứng dậy đón rước, cúi đầu chắp tay: Bấy
giờ, khi đảnh lễ ai thì đảnh lễ khoảng đầu gối, bắp
chân. Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau nên đảnh lễ dưới bàn chân. Thế
rồi, các Tỉ-kheo bảo bậc tôn túc đưa bàn chân ra để đảnh
lễ, làm nhiễu loạn người tu hành. Các Tỉ-kheo bèn đem sự
việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: -
Từ nay về sau phải nói tiếng "xin chào". Khi
ấy có Tỉ-kheo chơi đùa, nói: -
Xin chào tôn giả, xin chào tôn giả. Lại
làm nhiễu loạn người ta. các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: -
Từ nay về sau chào hỏi có ba cách: Dùng
thân, miệng và tâm. Dùng thân nghĩa là khi đương sự đang
ngồi hay đứng, mình cúi đầu đảnh lễ dưới chân. Ðó
gọi là dùng thân. Dùng
miệng nghĩa là khi đương sự ở từ xa, mình chắp tay, cúi
đầu nói: "Xin chào ngài". [446c] Ðó gọi là dùng miệng. Dùng
tâm nghĩa là khi đương sự quay lưng đi, mình chắp tay tỏ
thái độ cung kính. Ðó gọi là dùng tâm bày tỏ sự cung kính. Nếu
thấy Thượng Tọa đến mà không đứng dậy đón rước chào
hỏi cung kính, thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là phép
tôn kính Thượng tọa. Kệ
tóm tắt: "Cử
tội và trị tội,
PHÉP
BỐ-TÁT. Khi
Phật an trú tại Thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy
giờ, chín mươi sáu loại người xuất gia đều cử hành Bố-tát,
mà Tỉ-kheo không Bố-tát. Vì thế, bị người đời chê bai: -
Vì sao chín mươi sáu loại người xuất gia đều có Bố-tát
mà Sa-môn Thích tử không Bố-tát? Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Như thế thật đáng bị người ta chê trách. Từ nay về sau
phải Bố-tát, gồm các việc: 1)
Ðọc kệ; 2) Ngày 14 ngày 15; 3) Chỉ chỗ Bố-tát; 4) Bố-tát
ban ngày; 5) Trong nhà; 6) Bọn cướp; 7) Vua; 8) A Na Luật; 9)
Hai cách đếm; 10) Không tụng thuộc; 11) Không tụng thuộc
tất cả; 12) Thuận nghịch; 13) Muốn nghe từ đầu; 14) Người
chưa Thọ cụ túc; 15) Tụng
giới sớm quá; 16) Một trú xứ; 17) Hai chúng; 18) Hai chúng
đã tụng, hai chúng chưa tụng; 19) Gởi dục; 20) Nhận
dục; 21) Gởi dục nhiều; 22) Gởi dục bằng; 23) Cù-sư-la;
24) Ðại Ái Ðạo; 25) Xiển-đà; 26) Bệnh; 27) A-luyện-nhã;
28) Không nên cho mà cho; 29) Sông A-chi-la; 30) Mười một việc
không được gọi là gởi dục: Chuyển dục; gởi dục ban
đêm; ở ngoài giới; Tỉ-kheo-ni; người chưa Thọ cụ túc;
Nhận dục rồi ra đi; gởi dục rồi ra đi; Nhận dục rồi
trả giới; gởi dục rồi trả giới; mất dục; phá hoại
chúng; 31) Bốn cách Bố-tát; 32) Bốn cách tụng giới; 33) Bảy
việc nên ngăn cản; 34) hai việc nên ngăn cản. 1/
Ðọc kệ: Phật
nói với các Tỉ-kheo: (1)
Ðức Phật Tì Bà Thi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng
Tăng tịch tĩnh, nói giới bản đầu tiên: "Nhẫn,
khổ hạnh bậc nhất,
(2)
Ðức Phật Thi-Khí Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng
Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Ví
như người sáng mắt,
(3)
Ðức Phật Tì Bát Thi Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng
Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Không
nói dối, hại người,
(4)
Ðức Phật Câu Lưu Tôn Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri [447a]
vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Tỉ-kheo
vào thôn xóm,
(5)
Ðức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri
vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Muốn
tâm mình tốt chớ buông lung,
(6)
Ðức Phật Ca Diếp Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì chúng
Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Không
làm các việc ác,
(7)
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri
vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: "Lành
thay gìn giữ thân,
Ðó
gọi là đọc kệ khi Bố-tát. 2/
Ngày 14, ngày 15: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
đệ tử đồng hành của tôn giả A-nan đang hành Ma Na đỏa,
tôn giả bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Ðệ tử đồng hành của con muốn đến một
căn lều nhỏ ở thôn xóm để hành Ma-na-đỏa vào ngày 14. Phật
nói với A-nan: -
Hôm nay nhằm ngày 14 tinh tú thuận hòa, thời tiết thuận hòa,
Tăng chúng thuận hòa, nên Bố-tát xong rồi mới đi. Ngày
14: Lần Bố-tát thứ ba và thứ bảy của mùa Ðông, lần Bố-tát
thứ ba và thứ bảy của mùa Xuân và lần Bố-tát thứ ba,
thứ bảy của mùa Hạ. Ngày
15: Gồm có mười tám lần Bố-tát. Trong một năm có hai mươi
bốn kỳ Bố-tát, sáu kỳ vào ngày 14 và 18 kỳ vào ngày 15. Ðó
gọi là Bố-tát ngày 14, ngày 15. 3/
Chỉ chỗ Bố-tát: Khi
Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật nơi thành Vương Xá, lúc
ấy các Tỉ-kheo không biết chỗ Bố-tát, nên có người thì
được Bố-tát, có người thì không. Các Tỉ-kheo bèn đem
sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với
các Tỉ-kheo: -
Nên làm yết-ma chỉ rõ chỗ Bố-tát trong núi Kỳ Xà Quật. Người
làm yết-ma nên bạch: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nếu thời gian của Tăng đã
đến, kể từ hôm nay Tăng dùng nơi này trong núi Kỳ Xà Quật
làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tăng nay dùng nơi này trong núi Kỳ
Xà Quật [447b] làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Các đại đức
nào bằng lòng Tăng dùng nơi này làm chỗ Bố-tát thường
xuyên thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng dùng nơi này làm chỗ Bố-tát thường xuyên,
vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Ðó
gọi là chỉ chỗ Bố-tát. 4/
Bố-tát ban ngày: Khi
Phật an trú trong núi Kỳ Xà Quật nơi Thành Vương Xá, lúc
ấy các Tỉ-kheo Bố-tát vào ban đêm. Vì đường sá hiểm
trở, triền dốc khó đi, đến nơi Bố-tát cực khổ, các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi
hỏi: -
Bạch Thế Tôn, có thể Bố-tát ban ngày được không? Phật
dạy: -
Ðược. Nếu Bố-tát ban ngày mà Tăng ở xa thì nên tuyên bố:
"Thưa các trưởng lão, kỳ này Tăng sẽ Bố-tát vào ngày 14,
hoặc ngày 15, hoặc trước bữa ăn, hoặc sau bữa ăn, vào
lúc bóng mặt trời chừng ấy, phải tập họp tại chỗ mỗ
xứ, hoặc tại giảng đường, phòng Thiền, phòng sưởi, dưới
gốc cây (để Bố-tát)". Nếu không tuyên bố thì phạm tội
Việt-tì-ni". Ðó gọi là Bố-tát ban ngày.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||