THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirror site
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
x
Đại Tạng Số 1425
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
x
Quyển Thứ Hai Mươi Sáu (Tiếp Theo)

LÀM THA-LA-THA (Giải quyết việc bất hòa). 

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, cư sĩ Tu Ðạt nói với người chị: 

- Chị ở trong thôn này hãy chăm sóc khách Tăng giúp tôi. 

Khi thấy các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến, bà rất hoan hỉ, niềm nở chào hỏi: 

- Lành thay các đại đức đã đến đây. 

Thế rồi, bà trải giường nệm, mời chư Tăng đến ngồi. Khi Tăng ngồi xong, bà đưa nước rửa chân, dầu thoa chân, nước giải khát, ban đêm bà đốt đèn, đoạn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay, nói như sau: "Xin đại đức Tăng nhận lời mời của con ngày mai đến Thọ trai". 

Chư Tăng liền nhận lời mời. Bỗng chốc, chúng thứ hai lại đến, bà lại trải giường nệm, mời họ vào ngồi, rồi đưa nước rửa chân, dầu thoa chân và nước giải khát, đoạn, cúi đầu [439c] đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay, nói như sau: "Xin đại đức Tăng nhận lời mời của con ngày mai đến nhà con Thọ trai". Chúng này nói: 

- Chúng tôi không ăn chung với những người ấy. 

- Vì sao vậy? 

- Vì họ là những người bị cử tội. 

Các Tỉ-kheo ấy nói: 

- Chúng tôi không phải là những người bị cử tội. 

Chúng Tăng kia lại nói: 

- Các ông là những người bị cử tội, tại sao bảo là không? 

Cứ như vậy cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay không bị cử, khiến cho những người thế tục ở gần đó sinh tâm không vui. Bà chị ông cư sĩ nghe thế, liền trách cứ: 

- Vì sao Sa-môn lại cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay không bị cử. 

Rồi bà thấy lòng không vui. Do thế, buổi sáng, bà không cho bữa ăn trước, bữa ăn sau, rồi lên xe ngựa đi về thành Xá-vệ, đến chỗ cư sĩ Tu Ðạt, trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên, cho đến việc bà không thếch đãi. Cư sĩ nghe rồi, lòng bồi hồi không vui, nói với chị: 

- Ðấy là việc ác, cứ cho (họ ăn), vì sao lại không cho? Việc đúng pháp hay phi pháp là chuyện của Sa-môn (chứ can hệ gì! ). 

Thế rồi, Tu Ðạt bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, ngồi sang một bên, trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên, cho đến bị cử, không bị cử cho Thế Tôn nghe, rồi bạch: 

- Bạch Thế Tôn! Chúng con phải cung kính cúng dường như thế nào đối với những người vị cử, kính xin Thế Tôn phân biệt dạy rõ? 

Phật nói với cư sĩ: 

- Ðúng nghĩa nên biết, không đúng nghĩa cũng nên biết, đúng pháp, phi pháp, đúng luật, phi luật đều nên biết. Trong đây những ai làm đúng nghĩa, như pháp, như luật nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp bằng sức lực. Này cư sĩ, chỉ nên bố thí làm các công đức, còn việc đúng pháp hay phi pháp thì để các Sa-môn tự biết lấy. 

Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Ðại Ái Ðạo đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Chúng con phải làm sao...? 

Cuối cùng Phật dạy: "Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng sức lực". 

Bấy giờ, tôn giờ A Nan, Ưu-ba-li đi đến chỗ Thế Tôn, cũng hỏi như thế. 

Khi ấy, tôn giả Xá-lợi-phất bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Những Tỉ-kheo bị cử tội chúng con làm sao biết được? 

Cho đến (Phật dạy: ) "Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng công việc". 

Thế rồi, Xá-lợi-phất bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tha-la-tha? Phật nói với Xá-lợi-phất: 

- Có bảy việc, bao gồm chẳng phải Tha-la-tha mà tợ hồ Tha-la-tha và nhị Tha-la-tha. Bảy việc đó là: Hoặc do điên cuồng nên không bênh vực chúng này cũng không bênh vực chúng kia. Ðó là Tha-la-tha sớm nhất, thuộc loại không phải Tha-la-tha mà tợ hồ Tha-la-tha. Cũng thế, hoặc do tâm loạn, đần độn, ngu si, bị bệnh nên không bênh vực chúng này hay chúng kia. 

Lại nữa Xá-lợi-phất, hoặc có người vì muốn lợi ích, nên suy nghĩ: 

- Nếu ta bênh vực [440a] chúng này thì chúng kia mất lợi ích. Nếu ta bênh vực cho chúng kia thì chúng này mất lợi ích. 

Do đó, cả hai đều không bênh vực. 

Lại nữa, có người vì được lợi ích cả hai bên nên suy nghĩ: "Vì ta được lợi cả hai bên nên không bênh vực chúng này, cũng không bênh vực chúng kia". 

Này Xá-lợi-phất! Ðó gọi là bảy việc, không phải Tha-la-tha mà tợ Tha-la-tha. 

Nhị tha-la-tha: Gồm có: Tự giữ lòng mình, đợi thời gian. 

Tự giữ lòng mình: Khi thấy người ta thị phi, liền suy nghĩ: "Do nghiệp vận hành, ai làm nấy biết. Ví như khi bị lửa cháy, ta chỉ lo tự cứu mình, hơi đâu lo việc người khác". Ðó gọi là tự giữ lòng mình. 

Ðợi thời gian: Có người khi thấy kẻ khác tranh chấp cãi nhau, liền suy nghĩ: "Việc tranh chấp cãi vã này khi nào đến lúc, nó sẽ tự kết thúc". 

Ðó gọi là Nhị tha-la-tha. 

Bấy giờ Xá-lợi-phất bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Trung tha-la-tha? 

Phật nói với Xá-lợi-phất: 

- Có một người cùng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng kia, rồi được mời đứng ra giải quyết việc (tranh chấp). 

Lại nữa này Xá-lợi-phất, có người cùng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp vị và thức ăn với chúng kia, người ta không mời mà đứng ra giải quyết việc tranh chấp. Ðó gọi là Trung Tha-la-tha. 

Khi ấy, Xá-lợi-phất bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo Tha-la-tha muốn xử lý Tỉ-kheo bị cử thì phải làm sao? 

Phật nói với Xá-lợi-phất: 

- Nếu người bị cử tỏ ra tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà mình muốn xử lý họ thì không nên xử lý vào lúc Tăng tập hợp đúng thời và phi thời mà trước hết nên vào nơi phòng riêng hay tại phòng sưởi, trên giảng đường, hay tại chỗ đông người tụ tập, hỏi Tỉ-kheo trẻ tuổi: 

- Trưởng lão có nghe Hòa Thượng A-xà-lê của thầy nói: "Nếu trung gian có người đứng ra giải quyết, thì người bị cử nên nghe lời", hay không? Nếu đáp: 

- Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng nếu người bị cử tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà có người còn moi móc thì phải trừng trị người này. 

Nếu nghe nói như thế thì cứ làm thinh để yên. Còn nếu đáp: 

- Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng người bị cử đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến đáng thương mà không có ai giúp giải quyết. 

Khi nghe nói như thế thì này Xá-lợi-phất, không được cố ý tập họp chúng, mà hãy nhân lúc chúng tập họp đúng thời hay phi thời, hoặc vào những ngày Bố-tát tự tứ, người bị cử nên đến trước Tăng xin như sau: 

- Tôi là Tỉ-kheo bị cử đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến, xin xả (tội) cho tôi. 

Nói như thế ba lần, rồi đi ra. Nhưng lúc đi ra, không được im lặng mà nên trịch vai áo bên phải, chắp tay lại mà đi. Nếu trong chúng có người còn bới móc thì Tỉ-kheo Tha-la-tha nên hỏi: 

- Này trưởng lão, người này vốn do việc gì mà bị cử? 

Nếu có người trách: "Người này bị cử [440c] mà vì sao không biết?", thì nên phối hợp trị tội cả hai. Còn nếu nghe mình chất vấn mà im lặng, hay nói: "hưa trưởng lão! Người này bị cử tội, đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà không có người giúp giải quyết xả tội", thì Tỉ-kheo Tha-la-tha nên nói: "Thưa trưởng lão! Ðức Thế Tôn dạy rằng có hai hạng người cương cường, chưa trị thì nên trị, đã trị mà nhu nhuyến thì nên xả". 

Nếu trường hợp được Tăng chúng đồng tình thì nên làm yết-ma cầu thính, khi đã cho phép xin thì người làm yết-ma nên nói: 

- Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội. 

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp muốn theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội. 

Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Thế rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, xin như sau: 

- Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng vì muốn được lợi ích đã làm yết-ma cử tội. Tôi đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, nay theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma bỏ việc cử tội. (xin như vậy ba lần)

Người làm yết-ma nên nói: 

- Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có tội như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, đã theo Tăng xin phép yết-ma bỏ việc cử tội. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Ðây là lời tác bạch. 

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ ác kiến cũ, đã theo Tăng xin pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Tăng nay cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). 

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội, vì Tăng đã im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Ðó gọi là tha-la-tha. 

DỊ TRỤ (Phá Yết-ma Tăng).

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ cư sĩ Tu Ðạt nói với người chị: 

- Chị ở thôn này, vậy khi có khách Tăng đến nhờ chị cung cấp giúp cho tôi. 

Thế rồi, các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến. Thấy họ, bà hoan hỉ mời vào chỗ ngồi, rồi tùy nghi cung cấp. Ðoạn, bà quỳ gối chắp tay thưa: 

- Kính xin các đại đức ngày mai đến thọ bữa cúng dường của con. 

[440c] Trong chốc lát, chúng thứ hai lại đến, bà cũng mời vào nhà ngồi, rồi cung cấp các thứ, đồng thời mời họ ngày mai thọ trai. Chúng này nói

- Chúng tôi không ăn chung với những người ấy. 

Bà hỏi: 

- Vì cớ sao? 

Họ đáp: 

- Vì những người ấy phá Tăng. 

Chúng này liền đáp: 

- Chúng tôi không phá Tăng. 

Chúng kia nói lại: 

- Các vị phá Tăng thật, vì sao nói là không? Cứ như thế cãi nhau suốt đêm, khiến những người thế tục ở gần nghe xong phát chán. Bà chị ông cư sĩ không vui, nên không cung cấp thứ gì cả. Sáng sớm bà thức dậy, ngồi xe ngựa trở lại thành Xá-vệ, trình bày lại đầy đủ sự việc trên với Tu Ðạt. Cư sĩ nghe xong, liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, đem việc trên trình bày lại đầy đủ với Thế Tôn; rồi bạch: 

- Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con có nên cung kính cúng dường hay không, kính xin Thế Tôn phân biệt chỉ rõ? 

Phật nói với cư sĩ: 

- Những người hợp nghĩa nên biết, những người không hợp nghĩa cũng nên biết, như pháp, phi pháp, như luật, phi luật, tất cả đều nên biết. Trong đây, những ai hợp nghĩa, như pháp, như luật thì nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những người phá Tăng nên cho họ ở chung. Này cư sĩ, chỉ nên bố thí, làm các công đức, còn việc đúng pháp hay phi pháp thì mặc Sa-môn. 

Bấy giờ, Tỉ-kheo-ni Ðại Ái Ðạo bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con làm sao biết được? 

Như ở trên đã nói rõ. 

Khi ấy, tôn giả A Nan, Xá-lợi-phất và Ưu-Ba Li đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng chúng con làm sao biết được? 

Phật nói với Ưu-ba-li: 

- Những ai hợp nghĩa nên biết, không hợp nghĩa cũng nên biết, hoặc như pháp phi pháp, đúng luật phi luật, đều nên biết. Trong đây, những người hợp nghĩa, như pháp, như luật thì nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những người phá Tăng nên cho họ ở chung. 

Thế rồi, tôn giả Ưu-ba-li bạch với Phật: 

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là phá Tăng? Phật nói với Ưu-ba-li: 

- Có hai việc gọi là phá Tăng. Ðó là: 1/ Thêm pháp ác; 2/ Thêm người ác. 

- Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp ít người, có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- Chúng như pháp đông người, chúng phi pháp ít người, có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp hoặc thiếu mười người, hoặc thiếu mười lăm người, có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- Chúng phi pháp đủ người, chúng như pháp cũng đủ người, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà trong số những người còn ngồi lại tất cả đều nói đúng pháp, có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà trong đó tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, thì có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- [441a] Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, rồi miễn cưỡng đem những người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, thì có gọi là phá Tăng không? 

- Không. 

- Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không cho biết là mình không bằng lòng, không miễn cưỡng đem những người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, nhưng tất cả đều muốn phá Tăng, thì có gọi là phá Tăng không? 

- Không. Này Ưu-ba-li! Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số, hoặc thiếu mười, mười lăm người, mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi lại, không gởi dục, không cho biết là mình không bằng lòng, không miễn cưỡng đem người chưa thọ cụ túc vào tính cho đủ số, cũng không phải tất cả đều muốn phá Tăng; nhưng nếu một trú xứ, cùng một cương giới mà Bố-tát riêng, tự tứ riêng, làm việc tăng riêng, thì gọi là phá Tăng. Nếu biết người kia muốn phá Tăng, thì các Tỉ-kheo nên khuyên: "Này trưởng lão! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là tội rất nặng, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi sẽ cho Thầy y bát, trao cho kinh, dạy kinh, hỏi han công việc, chỉ bảo Thầy". Nếu đã khuyên như thế mà vẫn cố tình không bỏ thì nên nói với người Ưu-bà-tắc có thế lực: "Này lão trượng! Người này muốn phá Tăng. Ông nên đến khuyên để ông ta hiểu, bảo phải chấm dứt". 

Thế rồi, Ưu-bà-tắc nên khuyên: 

- Này tôn giả! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là trọng tội, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi sẽ cho tôn giả y bát và cung cấp thuốc thang chữa bệnh. Nếu không thích tu phạm hạnh nữa thì có thể hoàn tục. Tôi sẽ cưới vợ cho thầy và cung cấp những thứ cần thiết. 

Nếu vẫn cố tình không chấm dứt thì nên rút thăm rồi đuổi đi. Ðuổi rồi cần phải tuyên bố như sau: 

- Này các đại đức! Có người phá Tăng đến đấy, các vị nên coi chừng. 

Nếu đã làm đủ cách như vậy mà vẫn cố tình phá Tăng thì gọi là phá Tăng. Nhưng nếu bố thí cho họ thì gọi là việc phước điền tốt. Nếu thọ giới với họ thì gọi là khéo thọ cụ túc. Nếu đã biết họ phá Tăng thì nên bỏ đi. Nếu không bỏ đi tức là bạn của kẻ phá Tăng, là bè đảng phá Tăng. Do thế, Tăng suốt đời không nên cùng nói chuyện với họ, không cùng ăn chung, không cùng sinh hoạt chung trong Phật pháp Tăng, không Bố-tát, an cư, Tự tứ chung và không làm yết-ma chung. 

Có thể nói với những người xuất gia của ngoại đạo: 

- Có các chỗ ngồi, các vị muốn ngồi cứ ngồi.

Nhưng không được mời những người phá Tăng ngồi. 

Ðó gọi là dị trụ. 

CHO PHÁP HỌC HỐI BA-LA-DI. 

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có Nan Ðề không thích sống ở nhà, bỏ nhà xuất gia, đi cũng Thiền, đứng cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, [441b] nằm cũng Thiền. Lúc ấy cũng có nhiều Nan Ðề khác làm như vậy, cho nên những người này được gọi là Thiền Nan Ðề, như trong giới Ba-la-di đã nói rõ. Do thế, các Tỉ-kheo bèn đuổi đi. Sau khi bị đuổi, họ ra đứng trước cổng tinh xá Kỳ Hoàn khóc lóc, nói với Tỉ-kheo: 

- Thưa trưởng lão, tôi phạm giới Ba-la-di, nhưng không có một chút tâm ý che giấu. Tôi thích mặc Ca-sa, không muốn rời bỏ Phật pháp. 

Thế rồi, mẹ của Nan Ðề đến, cũng khóc, nói: 

- Con tôi thích xuất gia nhưng đức Thế Tôn đuổi đi. 

Rồi chị Nan Ðề đến, cũng khóc, nói: 

- Em tôi thích làm Sa-môn mà Thế Tôn đuổi đi. 

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-kheo: 

- Ông Nan Ðề này phạm giới Ba-la-di nhưng không hề có một chút tâm niệm che giấu, vậy, Tăng nên cho pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Người này nên trịch vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, theo Tăng xin như sau: 

- Thưa đại đức Tăng! Tôi là Nan Ðề, phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu. Nay theo Tăng xin pháp học hối Ba-la-di. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma học hối Ba-la-di. (xin như vậy ba lần). 

Người làm yết-ma nên nói: 

- Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Ðề phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Nan Ðề pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Ðây là lời tác bạch. 

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Ðề phạm giới Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Tăng nay cho Tỉ-kheo Nan Ðề pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-kheo Nan Ðề pháp yết-ma học hối ba-la-di thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). 

Tăng đã bằng lòng cho Tỉ-kheo Nan Ðề pháp yết-ma học hối Ba-la-di xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Thế rồi, người này nên ngồi dưới tất cả Tỉ-kheo, ngồi trên tất cả Sa-di, không được ngủ cùng phòng với Tỉ-kheo quá ba đêm, cũng không được ngủ với Sa-di quá ba đêm. Những món ăn nào không hợp pháp đối với Tỉ-kheo, thì với vị này cũng không hợp pháp. Những món ăn nào không hợp pháp đối với vị này, thì với Tỉ-kheo cũng không hợp pháp. Vị này được Tỉ-kheo trao cho Thức ăn, ngoại trừ năm thứ thực vật hỏa tịnh và vàng bạc. Vị này được theo Sa-di nhận thức ăn. Tỉ-kheo không được nói với vị này về giới bản, về tội Ba-la-di, Tăng già bà thi sa, cho đến tội Việt-tì-ni. Nhưng được nói: 

- Không được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được nói dối, không được uống rượu; [441c] tất cả đều được dạy bảo như thế. 

Nếu trước đó là người tụng giới thì (giờ đây) không được tụng lớn tiếng. 

Nếu tôn kính pháp thì được tụng thầm. Tăng không được cho Bố-tát tự tứ. Vào ngày Bố-tát, tự tứ, vị này nên vào giữa Tăng nói như sau: 

- Tôi thanh tịnh, xin Tăng ghi nhận cho. 

Nói như vậy ba lần rồi lui ra. Trong bốn giới Ba-la-di, nếu vị này vi phạm thì phải đuổi đi; còn các giới Tăng già bà thi sa trở xuống mà phạm thì tất cả đều cho sám hối tội Ðột-cát-la. 

Ðó gọi là cho pháp yết-ma học hối Ba-la-di. 

TÙY THUẬN HÀNH MÍCH TỘI TƯỚNG. 

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà thường phạm tội Tăng già bà thi sa. Tăng tập họp định làm yết-ma thì Thi Lợi Da Bà không đến. Tăng bèn sai sứ đến gọi: 

- Trưởng lão! Chúng Tăng tập họp định làm yết-ma vì sao không đến? 

Thi Lợi Da Bà nói: "Ắt hẳn Tăng vì ta mà làm yết-ma chứ gì!", liền cảm thấy trong lòng hoảng sợ, rồi đi đến. Các Tỉ-kheo hỏi: 

- Trưởng lão! Thầy phạm tội Tăng già bà thi sa phải không? 

Thầy đáp: 

- Phạm. 

Rồi, trong lòng sinh hoan hỉ, thầm nghĩ: 

- Các vị phạm hạnh khởi từ tâm đối với ta, nêu ra tội có thể sám hối, chứ không phải không thể sám hối. 

Liền bạch: 

- Cho tôi ra ngoài một lát. 

Sau khi thầy ra rồi, các Tỉ-kheo bàn nhau: 

- Vị Tỉ-kheo này khinh suất, không quyết định, đi rồi, lát nữa thế nào cũng nói dối, cần phải hỏi lại ba lần cho chắc chắn rồi mới làm yết-ma. 

Thi Lợi Da Bà ra ngoài rồi suy nghĩ: "Vì sao ta lại nhận tội ấy? Các Tỉ-kheo thường thường trị tội ta, ta không nên nhận". 

Các Tỉ-kheo liền gọi Thi Lợi Da Bà vào, rồi hỏi: 

- Thầy có phạm tội Tăng già bà thi sa thật không? 

- Không phạm. 

- Vì sao lúc ở giữa Tăng Thầy nói có tội đó, mà giờ lại bảo là không phạm? 

- Tôi không nhớ việc đó. 

Các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Khi thầy đến, Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc trên: 

- Ông có việc đó thật không? 

- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. 

Phật liền nói với các Tỉ-kheo: 

- Ông Thi Lợi Da Bà này lúc ở giữa Tăng nói là thấy tội, rồi lại nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, còn nói rằng không nhớ. Vậy Tăng nên làm yết-ma mích tội tướng (tìm dấu vết của tội). Người làm yết-ma nên nói: 

- Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khi ở giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, rồi nói không nhớ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng. Ðây là lời tác bạch. 

Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo [442a] Thi Lợi Da Bà khi ở giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy, rồi nói mình không nhớ. Tăng nay cho pháp yết-ma mích tội tướng. Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). 

Tăng đã bằng lòng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 

Thế rồi, người này suốt đời nên làm tám việc sau đây: 

1/ Không được độ người; 
2/ Không được cho người thọ cụ túc; 
3/ Không được cho người y chỉ; 
4/ Không được nhận sự cung cấp và xoa bóp của Tỉ-kheo; 
5/ Không được làm sứ giả cho Tỉ-kheo; 
6/ Không được nhận Tăng sai theo thứ tự; 
7/ Không được làm người thuyết pháp cho Tăng; 
8/ Suốt đời không cho xả tội. 

Khi Tăng hòa hợp làm yết-ma mích tội tướng xong thì phải thi hành tám việc này suốt đời mà không được bỏ. Ðó gọi là Mích tội tướng tùy thuận làm. 

Kệ tóm tắt: 

"Cử yết-ma, Biệt trụ, 
Ma-na-đỏa, xuất tội. 
Nên, không nên tùy thuận, 
Tha-la-tha, dị trụ. 
Học hối, Mích tội tướng, 
Kết thúc phẩm thứ hai". 

VIỆC CỬ TỘI (NÊU TỘI).

Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đấu tranh, cãi vã nhau, sống không hòa hợp. Một Tỉ-kheo nêu tội một Tỉ-kheo, hai Tỉ-kheo nêu tội hai Tỉ-kheo, nhiều Tỉ-kheo nêu tội nhiều Tỉ-kheo, nói như sau: 

- Tôi nêu tội trưởng lão, tôi nêu tội trưởng lão. 

Bấy giờ tôn giả Ưu-ba-li bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn: 

- Bạch Thế Tôn, các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba khởi lên việc phi pháp. Một Tỉ-kheo nêu tội một Tỉ-kheo, cho đến nhiều Tỉ-kheo nêu tội nhiều Tỉ-kheo. Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu việc thì Tỉ-kheo được nêu tội người khác? 

Phật nói với Ưu-ba-li: 

- Khi có ba việc, ba nhân duyên thì Tỉ-kheo được nêu tội người khác. 

Thế nào là ba việc? Ðó là: Giới không Thanh tịnh, kiến không Thanh tịnh, mạng không Thanh tịnh. 

Thế nào là ba nhân duyên? Ðó là: Thấy, nghe và nghi. Ðó gọi là ba. 

Lại nữa, khi bản thân Tỉ-kheo thành tựu năm pháp thì được nêu tội người khác. Thế nào là năm pháp? Ðó là: 

1/ Sự việc có thật không hư dối; 
2/ Nói đúng lúc, không phải không đúng lúc; 
3/ Vì lợi ích, không phải không lợi ích; 
4/ Nói nhỏ nhẹ, không nói thô lỗ; 
5/ Vì lòng từ, không phải vì giận dữ. Ðó gọi là năm pháp được nêu tội người khác. 

Lại nữa, thành tựu năm pháp, được nêu tội người khác. Thế nào là năm? Ðó là: 

1/ Thân nghiệp thanh tịnh; 
2/ Khẩu nghiệp thanh tịnh; 
3/ Mạng sống chân chánh; 
4/ Am tường luận tạng; 
5/ Thông thạo Luật tạng. 

Này Ưu-ba-li, nếu thân nghiệp không thanh tịnh mà nêu tội người khác, thì người đó nên nói: - Này trưởng lão! Thân nghiệp thầy [442b] không thanh tịnh, vì sao nêu tội người khác? Trước hết nên làm cho thân nghiệp mình thanh tịnh rồi mới nêu tội người khác. 

Thế nên, này Ưu-ba-li, muốn nêu tội người khác, trước hết thân nghiệp mình phải thanh tịnh, khẩu nghiệp phải thanh tịnh, và mạng sống phải chân chánh. Nếu người nào ít nghe luận điển mà cử tội người khác thì người đó nên nói: 

- Này trưởng lão! Vì sao Thầy ít nghe luận điển mà cử tội người khác? Lành thay trưởng lão, trước hết Thầy hãy nghe nhiều luận điển rồi mới cử tội người khác. 

Thế đó Ưu-ba-li, khi muốn nêu tội ai, trước hết mình phải nghe nhiều luận điển. Nếu ít nghe Luật tạng mà muốn nêu tội người khác thì người ấy nên nói: 

- Này trưởng lão! Vì sao Thầy ít nghe Luật tạng mà nếu tội người khác? Trưởng lão cũng không biết do việc gì mà chế giới này, tại thành ấp xóm làng quốc gia nào chế giới này. Lành thay trưởng lão! Khi muốn nêu tội ai, trước hết Thầy phải nghe nhiều Luật tạng rồi mới nêu tội họ. 

Thế nên, này Ưu-ba-li! Khi muốn nêu tội ai, trước hết phải nghe nhiều Luật tạng. 

Ðó gọi là bản thân mình phải thành tựu năm pháp, mới được nêu tội người khác. 

Lại nữa, này Ưu-ba-li, có năm trường hợp nêu tội người phi pháp. Thế nào là năm? Ðó là: 

1/ Có trường hợp mắng rồi mới nêu tội; 
2/ Có trường hợp nêu tội rồi mới mắng; 
3/ Có trường hợp vừa nêu tội, vừa mắng; 
4/ Có trường hợp mắng mà không nêu tội; 
5/ Có trường hợp nêu tội mà không mắng. 

1/ Mắng rồi mới nêu tội: Trước tiên mắng xối xả rồi mới nêu ra một tội nào đó trong năm Thiên tội. Ðó gọi là mắng rồi mới nêu tội. 

2/ Nêu tội rồi mới mắng: Trước hết nêu ra một tội nào đó trong năm Thiên tội, rồi mới mắng. Ðó gọi là nêu tội rồi mới mắng. 

3/ Vừa nêu tội vừa mắng: Mắng xối xả, rồi nói: "Ông phạm Ba-la-di". Mắng xối xả, rồi nói: "Ông phạm tội Tăng già bà thi sa cho đến tội Việt-tì-ni". Ðó gọi là vừa nêu tội vừa mắng. 

4/ Mắng mà không nêu tội: Mắng nhiếc đủ thứ mà không nêu tội. Ðó gọi là mắng mà không nêu tội. 

5/ Nêu tội mà không mắng: Nêu một tội nào trong năm Thiên tội mà không mắng mỏ? Ðó gọi là nêu tội mà không mắng. 

Trong đây, các trường hợp trước mắng rồi sau nêu tội; nêu tội rồi mới mắng; vừa nêu tội vừa mắng thì Tăng không nên hỏi, không nên chấp nhận. Trái lại, trường hợp nêu tội mà không mắng thì Tăng nên kiểm tra. 

Khi muốn nêu tội ai, trước hết nên nói: 

- Này trưởng lão! Tôi muốn nêu một sự việc Thầy có chịu nghe không? 

Bị cáo nên nói: 

- Thầy muốn nêu tội thì được thôi. 

Nếu không hỏi bị cáo có chịu nghe không mà nêu tội thì phạm tội Việt-tì-ni. 

Này Ưu-ba-li, nếu bị cáo có giới thể không thanh tịnh mình không thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì sự lợi ích, nói thô lỗ không nhỏ nhẹ, giận dữ, không có lòng từ mà nêu tội người ta, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. 

Lại nữa, nếu bị cáo có kiến giải không thanh tịnh, mình không thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì sự lợi ích, nói thô lỗ không dịu dàng, giận dữ, không có lòng từ mà nêu tội người ta thì phạm tội Việt-tì-ni. [442c] Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. 

Lại nữa, nếu bị cáo có mạng sống không thanh tịnh, mình không thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì lợi ích, nói thô lỗ không dịu dàng, giận dữ, không có lòng từ mà nêu tội người ta thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. 

Này Ưu-ba-li, nếu bị cáo có giới Thể không thanh tịnh mình thấy đúng sự thật, vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ, có từ tâm, không giận dữ, nhưng không nói với bị cáo, bị cáo không ưng thuận mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về việc nghe, nghi cũng như thế. 

Nếu bị cáo có kiến giải không thanh tịnh mà khi mình thấy đúng, vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ, có từ tâm, không giận dữ, nhưng không nói với bị cáo, bị cáo không ưng thuận, mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. 

Nếu bị cáo có mạng sống không thanh tịnh, khi mình thấy đúng, vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ, có từ tâm, không giận dữ, nhưng không nói với bị cáo, bị cáo không ưng thuận mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. 

Lại nữa, người nào có năm tính xấu sau đây thì không được nêu tội người khác ở giữa chúng Tăng. Ðó là: Thiên vị; giận dữ; sợ hãi; si mê và vụ lợi. Nếu có năm tính xấu đó mà nêu tội người khác thì sau khi thân hoại mệnh chung, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. 

Lại nữa, người nào thành tựu năm pháp sau đây thì được nêu tội người khác. Ðó là: Không Thiên vị; không giận dữ; không sợ hãi; không ngu si và không vụ lợi. Người nào thành tựu năm pháp đó mà nêu tội người khác thì sau khi thân hoại mệnh chung được sinh vào đường Thiện, được các bậc phạm hạnh ca ngợi. 

Ðó gọi là cử (tội). 

VIỆC TRỊ PHẠT. 

Thế nào gọi là Trị phạt? 

- Người phạm tội Ba-la-di thì Tăng nên đuổi về làm người thế tục, hoặc làm Sa-di. Người phạm tội Tăng già bà thi sa, nếu che giấu thì Tăng cho pháp Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa rồi xuất tội, nếu không che giấu thì hành Ma-na-đỏa rồi xuất tội. Người phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề thì phải đem vật đã cất ra xả bỏ giữa Tăng, rồi đến trước Tỉ-kheo trưởng lão trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp tay, bạch như sau: 

- Thưa trưởng lão! Tôi đã cất y Thừa quá mười ngày, nay đem xả bỏ giữa chúng Tăng và sám hối tội Ba-dạ-đề. 

Vị Tỉ-kheo thụ sám nên hỏi: 

- Thầy có thấy tội này không? 

- Dạ thấy. 

- Ðừng tái phạm nhé. 

- Tôi xin cúi đầu vâng giữ. 

Thế rồi Tăng làm yết-ma, giao y đó cho một người giữ, sau đó nên trả lại (chủ cũ). Còn phạm tội Ba-dạ-đề cho đến Việt-tì-ni thì cũng sám hối như thế. 

ÐUỔI ÐI. 

Gồm bảy trường hợp: 

1/ Hủy hoại tịnh hạnh của Ni; 
2/ Sống trong chúng để trộm pháp; 
3/ Lừa đảo; 
4/ Phạm ngũ nghịch; 
5/ Bất năng nam; 
6/ Phạm bốn tội Ba-la-di; 
7/ Sa-di có ác kiến. 

Ðó gọi là bảy việc nên đuổi đi. 

DỊ TRỤ (Phá Pháp luân Tăng). 

Khi Phật an trú tại thành Vương Xá, đã xảy ra vụ Ðề Bà Ðạt Ða phá Tăng, như ở trước đã nói rõ. Thế rồi, [443a] Ðề Bà Ðạt Ða đi đến Thành Già-da. Sau đó, Phật cũng đi tới thành Gia Da. Hôm ấy nhằm ngày Bố-tát, Phật bảo A-nan: 

- Ông đến gọi Ðề Bà Ðạt Ða về, hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát. 

A-nan bèn đến đó, nói: 

- Thưa trưởng lão! Hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát, đức Thế Tôn cho gọi Trưởng lão. 

Ðề Bà Ðạt Ða đáp: 

- Tôi không đến. Từ nay về sau tôi không sinh hoạt chung trong Phật pháp Tăng, không Bố-tát, Tự tứ, yết-ma chung. Từ nay về sau, đối với giới luật điều nào muốn học hay không muốn học đều do ý tôi quyết định. 

A-nan nghe nói thế, liền suy nghĩ: "Ðây là việc kỳ quái, thốt ra lời nói ác này lẽ nào không thương tổn đến Tăng?" 

Ðoạn, A-nan trở về, đem việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật nói với A-nan: 

- Ông hãy trở lại chỗ Ðềø Bà Ðạt Ða một lần nữa. 

Cho đến A-nan suy nghĩ: "Thật là kỳ quái, thốt ra lời nói ác này chẳng lẽ không tổn thương đến Tăng sao?". 

Sau khi A-nan trở về, nhóm sáu Tỉ-kheo bàn nhau: "Chắc chắn Sa-môn Cù-đàm sẽ sai sứ đến lần thứ ba. Tất cả chúng ta phải giữ chánh niệm Bố-tát trước. Chúng ta hãy để lại danh dự cho hậu thế biết rằng khi Phật còn tại thế mà Ðề Bà Ðạt Ða và nhóm sáu Tỉ-kheo đã cùng nhau phá Tăng", bèn thực hiện Bố-tát. A-nan liền đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bảo: 

- Ông hãy trở lại lần thứ ba, bảo Ðề Bà Ðạt Ða đến, vì hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát. 

A-nan liền đến đó, nói: 

- Ðức Thế Tôn gọi các vị. Hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát. 

Họ đáp: 

- Chúng tôi không đi. Từ hôm nay trở đi, chúng tôi không sinh hoạt chung trong Phật pháp Tăng, không Bố-tát tự tứ và yết-ma chung. Từ nay về sau, đối với giới luật, điều nào muốn học hay không muốn học đều do ý tôi quyết định. Nhưng chúng tôi đã Bố-tát xong rồi. 

A-nan nghe thế, suy nghĩ: "Thực là kỳ lạ, thế là họ đã phá hoại Tăng thật rồi", bèn trở về, đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nghe xong, bèn đọc kệ: 

"Thanh tịnh như trăng tròn, 
Thanh tịnh được Bố-tát. 
Thân khẩu nghiệp thanh tịnh, 
Thế mới nên Bố-tát". 

Ðoạn, Phật nói với A-nan: 

- Những người phi pháp đã Bố-tát xong, vậy những người như pháp nên Bố-tát. 

Khi ấy Ðề Bà Ðạt Ða phá Tăng, còn nhóm sáu Tỉ-kheo là bè đảng phá Tăng. 

Ðó gọi là Dị trụ. 

LUẬT MA HA TĂNG KỲ

Hết quyển thứ hai mươi sáu.

x
ML
 01
02
03
04
05
06
07
 08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
TVHS

x
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap