| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
LÀM
THA-LA-THA (Giải quyết việc bất hòa). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
cư sĩ Tu Ðạt nói với người chị: -
Chị ở trong thôn này hãy chăm sóc khách Tăng giúp tôi. Khi
thấy các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến, bà rất hoan hỉ, niềm
nở chào hỏi: -
Lành thay các đại đức đã đến đây. Thế
rồi, bà trải giường nệm, mời chư Tăng đến ngồi. Khi
Tăng ngồi xong, bà đưa nước rửa chân, dầu thoa chân, nước
giải khát, ban đêm bà đốt đèn, đoạn, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay, nói như sau: "Xin đại
đức Tăng nhận lời mời của con ngày mai đến Thọ trai". Chư
Tăng liền nhận lời mời. Bỗng chốc, chúng thứ hai lại
đến, bà lại trải giường nệm, mời họ vào ngồi, rồi
đưa nước rửa chân, dầu thoa chân và nước giải khát, đoạn,
cúi đầu [439c] đảnh lễ dưới chân, quỳ gối chắp tay,
nói như sau: "Xin đại đức Tăng nhận lời mời của con ngày
mai đến nhà con Thọ trai". Chúng này nói: -
Chúng tôi không ăn chung với những người ấy. -
Vì sao vậy? -
Vì họ là những người bị cử tội. Các
Tỉ-kheo ấy nói: -
Chúng tôi không phải là những người bị cử tội. Chúng
Tăng kia lại nói: -
Các ông là những người bị cử tội, tại sao bảo là không? Cứ
như vậy cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay không bị
cử, khiến cho những người thế tục ở gần đó sinh tâm
không vui. Bà chị ông cư sĩ nghe thế, liền trách cứ: -
Vì sao Sa-môn lại cãi nhau suốt đêm về việc bị cử hay
không bị cử. Rồi
bà thấy lòng không vui. Do thế, buổi sáng, bà không cho bữa
ăn trước, bữa ăn sau, rồi lên xe ngựa đi về thành Xá-vệ,
đến chỗ cư sĩ Tu Ðạt, trình bày lại đầy đủ sự việc
kể trên, cho đến việc bà không thếch đãi. Cư sĩ nghe rồi,
lòng bồi hồi không vui, nói với chị: -
Ðấy là việc ác, cứ cho (họ ăn), vì sao lại không cho? Việc
đúng pháp hay phi pháp là chuyện của Sa-môn (chứ can hệ gì!
). Thế
rồi, Tu Ðạt bèn đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, ngồi sang một bên, trình bày lại đầy đủ
sự việc kể trên, cho đến bị cử, không bị cử cho Thế
Tôn nghe, rồi bạch: -
Bạch Thế Tôn! Chúng con phải cung kính cúng dường như thế
nào đối với những người vị cử, kính xin Thế Tôn phân
biệt dạy rõ? Phật
nói với cư sĩ: -
Ðúng nghĩa nên biết, không đúng nghĩa cũng nên biết, đúng
pháp, phi pháp, đúng luật, phi luật đều nên biết. Trong đây
những ai làm đúng nghĩa, như pháp, như luật nên cung cấp.
Nếu không có phương tiện thì đối với những Tỉ-kheo bị
cử nên giúp bằng sức lực. Này cư sĩ, chỉ nên bố thí
làm các công đức, còn việc đúng pháp hay phi pháp thì để
các Sa-môn tự biết lấy. Thế
rồi, Tỉ-kheo-ni Ðại Ái Ðạo đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch với
Phật: -
Bạch Thế Tôn! Chúng con phải làm sao...? Cuối
cùng Phật dạy: "Nếu không có phương tiện thì đối với
những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng sức lực". Bấy
giờ, tôn giờ A Nan, Ưu-ba-li đi đến chỗ Thế Tôn, cũng hỏi
như thế. Khi
ấy, tôn giả Xá-lợi-phất bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Những Tỉ-kheo bị cử tội chúng con làm sao
biết được? Cho
đến (Phật dạy: ) "Nếu không có phương tiện thì đối với
những Tỉ-kheo bị cử nên giúp họ bằng công việc". Thế
rồi, Xá-lợi-phất bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Tha-la-tha? Phật nói với Xá-lợi-phất: -
Có bảy việc, bao gồm chẳng phải Tha-la-tha mà tợ hồ Tha-la-tha
và nhị Tha-la-tha. Bảy việc đó là: Hoặc do điên cuồng nên
không bênh vực chúng này cũng không bênh vực chúng kia. Ðó
là Tha-la-tha sớm nhất, thuộc loại không phải Tha-la-tha mà
tợ hồ Tha-la-tha. Cũng thế, hoặc do tâm loạn, đần độn,
ngu si, bị bệnh nên không bênh vực chúng này hay chúng kia. Lại
nữa Xá-lợi-phất, hoặc có người vì muốn lợi ích, nên
suy nghĩ: -
Nếu ta bênh vực [440a] chúng này thì chúng kia mất lợi ích.
Nếu ta bênh vực cho chúng kia thì chúng này mất lợi ích. Do
đó, cả hai đều không bênh vực. Lại
nữa, có người vì được lợi ích cả hai bên nên suy nghĩ:
"Vì ta được lợi cả hai bên nên không bênh vực chúng này,
cũng không bênh vực chúng kia". Này
Xá-lợi-phất! Ðó gọi là bảy việc, không phải Tha-la-tha
mà tợ Tha-la-tha. Nhị
tha-la-tha: Gồm có: Tự giữ lòng mình, đợi thời gian. Tự
giữ lòng mình: Khi thấy người ta thị phi, liền suy nghĩ:
"Do nghiệp vận hành, ai làm nấy biết. Ví như khi bị lửa
cháy, ta chỉ lo tự cứu mình, hơi đâu lo việc người khác".
Ðó gọi là tự giữ lòng mình. Ðợi
thời gian: Có người khi thấy kẻ khác tranh chấp cãi nhau,
liền suy nghĩ: "Việc tranh chấp cãi vã này khi nào đến lúc,
nó sẽ tự kết thúc". Ðó
gọi là Nhị tha-la-tha. Bấy
giờ Xá-lợi-phất bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Trung tha-la-tha? Phật
nói với Xá-lợi-phất: -
Có một người cùng hưởng chung pháp vị và thức ăn với
chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp vị và thức
ăn với chúng kia, rồi được mời đứng ra giải quyết việc
(tranh chấp). Lại
nữa này Xá-lợi-phất, có người cùng hưởng chung pháp vị
và thức ăn với chúng này, đồng thời cũng hưởng chung pháp
vị và thức ăn với chúng kia, người ta không mời mà đứng
ra giải quyết việc tranh chấp. Ðó gọi là Trung Tha-la-tha. Khi
ấy, Xá-lợi-phất bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Tỉ-kheo Tha-la-tha muốn xử lý Tỉ-kheo bị
cử thì phải làm sao? Phật
nói với Xá-lợi-phất: -
Nếu người bị cử tỏ ra tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến
mà mình muốn xử lý họ thì không nên xử lý vào lúc Tăng
tập hợp đúng thời và phi thời mà trước hết nên vào nơi
phòng riêng hay tại phòng sưởi, trên giảng đường, hay tại
chỗ đông người tụ tập, hỏi Tỉ-kheo trẻ tuổi: -
Trưởng lão có nghe Hòa Thượng A-xà-lê của thầy nói: "Nếu
trung gian có người đứng ra giải quyết, thì người bị cử
nên nghe lời", hay không? Nếu đáp: -
Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng nếu người bị cử
tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến mà có người còn moi
móc thì phải trừng trị người này. Nếu
nghe nói như thế thì cứ làm thinh để yên. Còn nếu đáp: -
Tôi nghe Hòa Thượng A-xà-lê nói rằng người bị cử đã
tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến đáng thương mà không
có ai giúp giải quyết. Khi
nghe nói như thế thì này Xá-lợi-phất, không được cố ý
tập họp chúng, mà hãy nhân lúc chúng tập họp đúng thời
hay phi thời, hoặc vào những ngày Bố-tát tự tứ, người
bị cử nên đến trước Tăng xin như sau: -
Tôi là Tỉ-kheo bị cử đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến,
xin xả (tội) cho tôi. Nói
như thế ba lần, rồi đi ra. Nhưng lúc đi ra, không được
im lặng mà nên trịch vai áo bên phải, chắp tay lại mà đi.
Nếu trong chúng có người còn bới móc thì Tỉ-kheo Tha-la-tha
nên hỏi: -
Này trưởng lão, người này vốn do việc gì mà bị cử? Nếu
có người trách: "Người này bị cử [440c] mà vì sao không
biết?", thì nên phối hợp trị tội cả hai. Còn nếu nghe
mình chất vấn mà im lặng, hay nói: "hưa trưởng lão! Người
này bị cử tội, đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến
mà không có người giúp giải quyết xả tội", thì Tỉ-kheo
Tha-la-tha nên nói: "Thưa trưởng lão! Ðức Thế Tôn dạy rằng
có hai hạng người cương cường, chưa trị thì nên trị,
đã trị mà nhu nhuyến thì nên xả". Nếu
trường hợp được Tăng chúng đồng tình thì nên làm yết-ma
cầu thính, khi đã cho phép xin thì người làm yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như
thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội.
Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến. Nếu thời
gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp theo Tăng
xin
bỏ pháp yết-ma cử tội. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp muốn theo Tăng
xin bỏ pháp yết-ma cử tội. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc này như
vậy. Thế
rồi, người này nên trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp
tay, xin như sau: -
Thưa đại đức Tăng, tôi là Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như
thế, Tăng vì muốn được lợi ích đã làm yết-ma cử tội.
Tôi đã tùy thuận chấp hành, tâm nhu nhuyến, bỏ ác kiến
cũ, nay theo Tăng xin bỏ pháp yết-ma cử tội. Kính mong Tăng
xót thương cho tôi pháp yết-ma bỏ việc cử tội. (xin như
vậy ba lần) Người
làm yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có tội như
thế, Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội.
Vị ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ
ác kiến cũ, đã theo Tăng xin phép yết-ma bỏ việc cử tội.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp
pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo mỗ giáp có việc như thế,
Tăng muốn được lợi ích nên đã làm yết-ma cử tội. Vị
ấy đã tùy thuận chấp hành, tâm đã nhu nhuyến, bỏ ác kiến
cũ, đã theo Tăng xin pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Tăng nay
cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử tội. Các đại
đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma
bỏ việc cử tội thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói.
Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng
nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-kheo mỗ giáp pháp yết-ma bỏ việc cử
tội, vì Tăng đã im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Ðó
gọi là tha-la-tha. DỊ
TRỤ (Phá Yết-ma Tăng). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
cư sĩ Tu Ðạt nói với người chị: -
Chị ở thôn này, vậy khi có khách Tăng đến nhờ chị cung
cấp giúp cho tôi. Thế
rồi, các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đến. Thấy họ, bà hoan hỉ
mời vào chỗ ngồi, rồi tùy nghi cung cấp. Ðoạn, bà quỳ
gối chắp tay thưa: -
Kính xin các đại đức ngày mai đến thọ bữa cúng dường
của con. [440c]
Trong chốc lát, chúng thứ hai lại đến, bà cũng mời vào
nhà ngồi, rồi cung cấp các thứ, đồng
thời mời họ ngày mai thọ trai. Chúng này nói: -
Chúng tôi không ăn chung với những người ấy. Bà
hỏi: -
Vì cớ sao? Họ
đáp: -
Vì những người ấy phá Tăng. Chúng
này liền đáp: -
Chúng tôi không phá Tăng. Chúng
kia nói lại: -
Các vị phá Tăng thật, vì sao nói là không? Cứ như thế cãi
nhau suốt đêm, khiến những người thế tục ở gần nghe
xong phát chán. Bà chị ông cư sĩ không vui, nên không cung cấp
thứ gì cả. Sáng sớm bà thức dậy, ngồi xe ngựa trở lại
thành Xá-vệ, trình bày lại đầy đủ sự việc trên với
Tu Ðạt. Cư sĩ nghe xong, liền đi đến chỗ Thế Tôn, cúi
đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, đem việc
trên trình bày lại đầy đủ với Thế Tôn; rồi bạch: -
Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con có nên
cung kính cúng dường hay không, kính xin Thế Tôn phân biệt
chỉ rõ? Phật
nói với cư sĩ: -
Những người hợp nghĩa nên biết, những người không hợp
nghĩa cũng nên biết, như pháp, phi pháp, như luật, phi luật,
tất cả đều nên biết. Trong đây, những ai hợp nghĩa, như
pháp, như luật thì nên cung cấp. Nếu không có phương tiện
thì đối với những người phá Tăng nên cho họ ở chung.
Này cư sĩ, chỉ nên bố thí, làm các công đức, còn việc
đúng pháp hay phi pháp thì mặc Sa-môn. Bấy
giờ, Tỉ-kheo-ni Ðại Ái Ðạo bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng này chúng con làm sao
biết được? Như
ở trên đã nói rõ. Khi
ấy, tôn giả A Nan, Xá-lợi-phất và Ưu-Ba Li đi đến chỗ
Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng sang
một bên, bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Những người phá Tăng chúng con làm sao biết
được? Phật
nói với Ưu-ba-li: -
Những ai hợp nghĩa nên biết, không hợp nghĩa cũng nên biết,
hoặc như pháp phi pháp, đúng luật phi luật, đều nên biết.
Trong đây, những người hợp nghĩa, như pháp, như luật thì
nên cung cấp. Nếu không có phương tiện thì đối với những
người phá Tăng nên cho họ ở chung. Thế
rồi, tôn giả Ưu-ba-li bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là phá Tăng? Phật nói với Ưu-ba-li: -
Có hai việc gọi là phá Tăng. Ðó là: 1/ Thêm pháp ác; 2/ Thêm
người ác. -
Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp ít người, có gọi
là phá Tăng không? -
Không. -
Chúng như pháp đông người, chúng phi pháp ít người, có gọi
là phá Tăng không? -
Không. -
Chúng phi pháp đông người, chúng như pháp hoặc thiếu mười
người, hoặc thiếu mười lăm người, có gọi là phá Tăng
không? -
Không. -
Chúng phi pháp đủ người, chúng như pháp cũng đủ người,
nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà trong số những
người còn ngồi lại tất cả đều nói đúng pháp, có gọi
là phá Tăng không? -
Không. -
Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số,
nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà trong đó tất
cả những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục,
cũng không cho biết là mình không bằng lòng, thì có gọi là
phá Tăng không? -
Không. -
[441a] Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ
số, nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người mà tất cả
những người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng
không cho biết là mình không bằng lòng, rồi miễn cưỡng
đem những người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, thì có
gọi là phá Tăng không? -
Không. -
Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như pháp cũng đủ số,
nhưng nếu thiếu mười, mười lăm người, mà tất cả những
người nói đúng pháp không ngồi, không gởi dục, cũng không
cho biết là mình không bằng lòng, không miễn cưỡng đem những
người chưa thọ cụ túc vào cho đủ số, nhưng tất cả đều
muốn phá Tăng, thì có gọi là phá Tăng không? -
Không. Này Ưu-ba-li! Nếu chúng phi pháp đủ số, chúng như
pháp cũng đủ số, hoặc thiếu mười, mười lăm người,
mà tất cả những người nói đúng pháp không ngồi lại,
không gởi dục, không cho biết là mình không bằng lòng, không
miễn cưỡng đem người chưa thọ cụ túc vào tính cho đủ
số, cũng không phải tất cả đều muốn phá Tăng; nhưng nếu
một trú xứ, cùng một cương giới mà Bố-tát riêng, tự
tứ riêng, làm việc tăng riêng, thì gọi là phá Tăng. Nếu
biết người kia muốn phá Tăng, thì các Tỉ-kheo nên khuyên:
"Này trưởng lão! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là tội rất
nặng, sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi
sẽ cho Thầy y bát, trao cho kinh, dạy kinh, hỏi han công việc,
chỉ bảo Thầy". Nếu đã khuyên như thế mà vẫn cố tình không
bỏ thì nên nói với người Ưu-bà-tắc có thế lực:
"Này lão trượng! Người này muốn phá Tăng. Ông nên đến
khuyên để ông ta hiểu, bảo phải chấm dứt". Thế
rồi, Ưu-bà-tắc nên khuyên: -
Này tôn giả! Thầy đừng phá Tăng, phá Tăng là trọng tội,
sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Tôi sẽ cho
tôn giả y bát và cung cấp thuốc thang chữa bệnh. Nếu không
thích tu phạm hạnh nữa thì có thể hoàn tục. Tôi sẽ cưới
vợ cho thầy và cung cấp những thứ cần thiết. Nếu
vẫn cố tình không chấm dứt thì nên rút thăm rồi đuổi
đi. Ðuổi rồi cần phải tuyên bố như sau: -
Này các đại đức! Có người phá Tăng đến đấy, các vị
nên coi chừng. Nếu
đã làm đủ cách như vậy mà vẫn cố tình phá Tăng thì gọi
là phá Tăng. Nhưng nếu bố thí cho họ thì gọi là việc phước
điền tốt. Nếu thọ giới với họ thì gọi là khéo thọ
cụ túc. Nếu đã biết họ phá Tăng thì nên bỏ đi. Nếu
không bỏ đi tức là bạn của kẻ phá Tăng, là bè đảng
phá Tăng. Do thế, Tăng suốt đời không nên cùng nói chuyện
với họ, không cùng ăn chung, không cùng sinh hoạt chung trong
Phật pháp Tăng, không Bố-tát, an cư, Tự tứ chung và không
làm yết-ma chung. Có
thể nói với những người xuất gia của ngoại đạo: -
Có các chỗ ngồi, các vị muốn ngồi cứ ngồi. Nhưng
không được mời những người phá Tăng ngồi. Ðó
gọi là dị trụ. CHO
PHÁP HỌC HỐI BA-LA-DI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
trong thành Xá-vệ có Nan Ðề không thích sống ở nhà, bỏ
nhà xuất gia, đi cũng Thiền, đứng cũng Thiền, ngồi cũng
Thiền, [441b] nằm cũng Thiền. Lúc ấy cũng có nhiều Nan Ðề
khác làm như vậy, cho nên những người này được gọi là
Thiền Nan Ðề, như trong giới Ba-la-di đã nói rõ. Do thế,
các Tỉ-kheo bèn đuổi đi. Sau khi bị đuổi, họ ra đứng
trước cổng tinh xá Kỳ Hoàn khóc lóc, nói với Tỉ-kheo: -
Thưa trưởng lão, tôi phạm giới Ba-la-di, nhưng không có một
chút tâm ý che giấu. Tôi thích mặc Ca-sa, không muốn rời
bỏ Phật pháp. Thế
rồi, mẹ của Nan Ðề đến, cũng khóc, nói: -
Con tôi thích xuất gia nhưng đức Thế Tôn đuổi đi. Rồi
chị Nan Ðề đến, cũng khóc, nói: -
Em tôi thích làm Sa-môn mà Thế Tôn đuổi đi. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Ông Nan Ðề này phạm giới Ba-la-di nhưng không hề có một
chút tâm niệm che giấu, vậy, Tăng nên cho pháp yết-ma học
hối Ba-la-di. Người này nên trịch vai áo bên phải, quỳ gối
chắp tay, theo Tăng xin như sau: -
Thưa đại đức Tăng! Tôi là Nan Ðề, phạm giới Ba-la-di mà
không có một chút tâm niệm che giấu. Nay theo Tăng xin pháp
học hối Ba-la-di. Kính mong Tăng xót thương cho tôi pháp yết-ma
học hối Ba-la-di. (xin như vậy ba lần). Người
làm yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Ðề phạm giới
Ba-la-di mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng
xin pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Nếu thời gian của Tăng
đã đến, Tăng cho Nan Ðề pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Ðây
là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Nan Ðề phạm giới Ba-la-di
mà không có một chút tâm niệm che giấu, đã theo Tăng xin
pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Tăng nay cho Tỉ-kheo Nan Ðề
pháp yết-ma học hối Ba-la-di. Các đại đức nào bằng lòng
Tăng cho Tỉ-kheo Nan Ðề pháp yết-ma học hối ba-la-di thì
im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ
nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-kheo Nan Ðề pháp yết-ma học hối Ba-la-di
xong, vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Thế
rồi, người này nên ngồi dưới tất cả Tỉ-kheo, ngồi trên
tất cả Sa-di, không được ngủ cùng phòng với Tỉ-kheo quá
ba đêm, cũng không được ngủ với Sa-di quá ba đêm. Những
món ăn nào không hợp pháp đối với Tỉ-kheo, thì với vị
này cũng không hợp pháp. Những món ăn nào không hợp pháp
đối với vị này, thì với Tỉ-kheo cũng không hợp pháp.
Vị này được Tỉ-kheo trao cho Thức ăn, ngoại trừ năm thứ
thực vật hỏa tịnh và vàng bạc. Vị này được theo Sa-di
nhận thức ăn. Tỉ-kheo không được nói với vị này về
giới bản, về tội Ba-la-di, Tăng già bà thi sa, cho đến tội
Việt-tì-ni. Nhưng được nói: -
Không được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm
cắp, không được sát sinh, không được nói dối, không được
uống rượu; [441c] tất cả đều được dạy bảo như thế. Nếu
trước đó là người tụng giới thì (giờ đây) không được
tụng lớn tiếng. Nếu
tôn kính pháp thì được tụng thầm. Tăng không được cho
Bố-tát tự tứ. Vào ngày Bố-tát, tự tứ, vị này nên vào
giữa Tăng nói như sau: -
Tôi thanh tịnh, xin Tăng ghi nhận cho. Nói
như vậy ba lần rồi lui ra. Trong bốn giới Ba-la-di, nếu vị
này vi phạm thì phải đuổi đi; còn các giới Tăng già bà
thi sa trở xuống mà phạm thì tất cả đều cho sám hối tội
Ðột-cát-la. Ðó
gọi là cho pháp yết-ma học hối Ba-la-di. TÙY
THUẬN HÀNH MÍCH TỘI TƯỚNG. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà thường phạm tội Tăng già bà thi sa.
Tăng tập họp định làm yết-ma thì Thi Lợi Da Bà không đến.
Tăng bèn sai sứ đến gọi: -
Trưởng lão! Chúng Tăng tập họp định làm yết-ma vì sao
không đến? Thi
Lợi Da Bà nói: "Ắt hẳn Tăng vì ta mà làm yết-ma chứ gì!",
liền cảm thấy trong lòng hoảng sợ, rồi đi đến. Các Tỉ-kheo
hỏi: -
Trưởng lão! Thầy phạm tội Tăng già bà thi sa phải không? Thầy
đáp: -
Phạm. Rồi,
trong lòng sinh hoan hỉ, thầm nghĩ: -
Các vị phạm hạnh khởi từ tâm đối với ta, nêu ra tội
có thể sám hối, chứ không phải không thể sám hối. Liền
bạch: -
Cho tôi ra ngoài một lát. Sau
khi thầy ra rồi, các Tỉ-kheo bàn nhau: -
Vị Tỉ-kheo này khinh suất, không quyết định, đi rồi, lát
nữa thế nào cũng nói dối, cần phải hỏi lại ba lần cho
chắc chắn rồi mới làm yết-ma. Thi
Lợi Da Bà ra ngoài rồi suy nghĩ: "Vì sao ta lại nhận tội
ấy? Các Tỉ-kheo thường thường trị tội ta, ta không nên
nhận". Các
Tỉ-kheo liền gọi Thi Lợi Da Bà vào, rồi hỏi: -
Thầy có phạm tội Tăng già bà thi sa thật không? -
Không phạm. -
Vì sao lúc ở giữa Tăng Thầy nói có tội đó, mà giờ lại
bảo là không phạm? -
Tôi không nhớ việc đó. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Khi thầy đến, Phật liền
hỏi lại đầy đủ sự việc trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-kheo: -
Ông Thi Lợi Da Bà này lúc ở giữa Tăng nói là thấy tội,
rồi lại nói là không thấy, không thấy lại nói là thấy,
còn nói rằng không nhớ. Vậy Tăng nên làm yết-ma mích tội
tướng (tìm dấu vết của tội). Người làm yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khi ở
giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy lại
nói là thấy, rồi nói không nhớ. Nếu thời gian của Tăng
đã đến, Tăng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng.
Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo [442a] Thi Lợi Da Bà khi
ở giữa Tăng thấy tội thì nói là không thấy, không thấy
lại nói là thấy, rồi nói mình không nhớ. Tăng nay cho pháp
yết-ma mích tội tướng. Các đại đức nào bằng lòng Tăng
cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng thì im lặng,
ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất.
(lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma mích tội tướng,
vì Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. Thế
rồi, người này suốt đời nên làm tám việc sau đây: 1/
Không được độ người;
Khi
Tăng hòa hợp làm yết-ma mích tội tướng xong thì phải thi
hành tám việc này suốt đời mà không được bỏ. Ðó gọi
là Mích tội tướng tùy thuận làm. Kệ
tóm tắt: "Cử
yết-ma, Biệt trụ,
VIỆC
CỬ TỘI (NÊU TỘI). Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba đấu tranh, cãi vã nhau, sống không
hòa hợp. Một Tỉ-kheo nêu tội một Tỉ-kheo, hai Tỉ-kheo nêu
tội hai Tỉ-kheo, nhiều Tỉ-kheo nêu tội nhiều Tỉ-kheo, nói
như sau: -
Tôi nêu tội trưởng lão, tôi nêu tội trưởng lão. Bấy
giờ tôn giả Ưu-ba-li bèn đem sự việc ấy đến bạch lên
Thế Tôn: -
Bạch Thế Tôn, các Tỉ-kheo ở Chiêm Ba khởi lên việc phi
pháp. Một Tỉ-kheo nêu tội một Tỉ-kheo, cho đến nhiều Tỉ-kheo
nêu tội nhiều Tỉ-kheo. Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu việc
thì Tỉ-kheo được nêu tội người khác? Phật
nói với Ưu-ba-li: -
Khi có ba việc, ba nhân duyên thì Tỉ-kheo được nêu tội người
khác. Thế
nào là ba việc? Ðó là: Giới không Thanh tịnh, kiến không
Thanh tịnh, mạng không Thanh tịnh. Thế
nào là ba nhân duyên? Ðó là: Thấy, nghe và nghi. Ðó gọi là
ba. Lại
nữa, khi bản thân Tỉ-kheo thành tựu năm pháp thì được
nêu tội người khác. Thế nào là năm pháp? Ðó là: 1/
Sự việc có thật không hư dối;
Lại
nữa, thành tựu năm pháp, được nêu tội người khác. Thế
nào là năm? Ðó là: 1/
Thân nghiệp thanh tịnh;
Này
Ưu-ba-li, nếu thân nghiệp không thanh tịnh mà nêu tội người
khác, thì người đó nên nói: - Này trưởng lão! Thân nghiệp
thầy [442b] không thanh tịnh, vì sao nêu tội người khác? Trước
hết nên làm cho thân nghiệp mình thanh tịnh rồi mới nêu
tội người khác. Thế
nên, này Ưu-ba-li, muốn nêu tội người khác, trước hết
thân nghiệp mình phải thanh tịnh, khẩu nghiệp phải thanh
tịnh, và mạng sống phải chân chánh. Nếu người nào ít
nghe luận điển mà cử tội người khác thì người đó nên
nói: -
Này trưởng lão! Vì sao Thầy ít nghe luận điển mà cử tội
người khác? Lành thay trưởng lão, trước hết Thầy hãy nghe
nhiều luận điển rồi mới cử tội người khác. Thế
đó Ưu-ba-li, khi muốn nêu tội ai, trước hết mình phải nghe
nhiều luận điển. Nếu ít nghe Luật tạng mà muốn nêu tội
người khác thì người ấy nên nói: -
Này trưởng lão! Vì sao Thầy ít nghe Luật tạng mà nếu tội
người khác? Trưởng lão cũng không biết do việc gì mà chế
giới này, tại thành ấp xóm làng quốc gia nào chế giới
này. Lành thay trưởng lão! Khi muốn nêu tội ai, trước hết
Thầy phải nghe nhiều Luật tạng rồi mới nêu tội họ. Thế
nên, này Ưu-ba-li! Khi muốn nêu tội ai, trước hết phải nghe
nhiều Luật tạng. Ðó
gọi là bản thân mình phải thành tựu năm pháp, mới được
nêu tội người khác. Lại
nữa, này Ưu-ba-li, có năm trường hợp nêu tội người phi
pháp. Thế nào là năm? Ðó là: 1/
Có trường hợp mắng rồi mới nêu tội;
1/
Mắng rồi mới nêu tội:
Trước tiên mắng xối xả rồi mới nêu ra một tội nào đó
trong năm Thiên tội. Ðó gọi là mắng rồi mới nêu tội. 2/
Nêu tội rồi mới mắng:
Trước hết nêu ra một tội nào đó trong năm Thiên tội, rồi
mới mắng. Ðó gọi là nêu tội rồi mới mắng. 3/
Vừa nêu tội vừa mắng:
Mắng xối xả, rồi nói: "Ông phạm Ba-la-di". Mắng xối xả,
rồi nói: "Ông phạm tội Tăng già bà thi sa cho đến tội Việt-tì-ni".
Ðó gọi là vừa nêu tội vừa mắng. 4/
Mắng mà không nêu tội:
Mắng nhiếc đủ thứ mà không nêu tội. Ðó gọi là mắng
mà không nêu tội. 5/
Nêu tội mà không mắng:
Nêu một tội nào trong năm Thiên tội mà không mắng mỏ? Ðó
gọi là nêu tội mà không mắng. Trong
đây, các trường hợp trước mắng rồi sau nêu tội; nêu
tội rồi mới mắng; vừa nêu tội vừa mắng thì Tăng không
nên hỏi, không nên chấp nhận. Trái lại, trường hợp nêu
tội mà không mắng thì Tăng nên kiểm tra. Khi
muốn nêu tội ai, trước hết nên nói: -
Này trưởng lão! Tôi muốn nêu một sự việc Thầy có chịu
nghe không? Bị
cáo nên nói: -
Thầy muốn nêu tội thì được thôi. Nếu
không hỏi bị cáo có chịu nghe không mà nêu tội thì phạm
tội Việt-tì-ni. Này
Ưu-ba-li, nếu bị cáo có giới thể không thanh tịnh mình không
thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì sự lợi
ích, nói thô lỗ không nhỏ nhẹ, giận dữ, không có lòng
từ mà nêu tội người ta, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về
vấn đề nghe, nghi cũng như thế. Lại
nữa, nếu bị cáo có kiến giải không thanh tịnh, mình không
thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì sự lợi
ích, nói thô lỗ không dịu dàng, giận dữ, không có lòng
từ mà nêu tội người ta thì phạm tội Việt-tì-ni. [442c]
Về vấn đề nghe, nghi cũng như thế. Lại
nữa, nếu bị cáo có mạng sống không thanh tịnh, mình không
thấy, không rõ sự thật, không đúng lúc, không vì lợi ích,
nói thô lỗ không dịu dàng, giận dữ, không có lòng từ mà
nêu tội người ta thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề
nghe, nghi cũng như thế. Này
Ưu-ba-li, nếu bị cáo có giới Thể không thanh tịnh mình thấy
đúng sự thật, vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ,
có từ tâm, không giận dữ, nhưng không nói với bị cáo,
bị cáo không ưng thuận mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Về việc nghe, nghi cũng như thế. Nếu
bị cáo có kiến giải không thanh tịnh mà khi mình thấy đúng,
vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ, có từ tâm, không
giận dữ, nhưng không nói với bị cáo, bị cáo không ưng
thuận, mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề
nghe, nghi cũng như thế. Nếu
bị cáo có mạng sống không thanh tịnh, khi mình thấy đúng,
vì lợi ích, nói dịu dàng không thô lỗ, có từ tâm, không
giận dữ, nhưng không nói với bị cáo, bị cáo không ưng
thuận mà nêu tội, thì phạm tội Việt-tì-ni. Về vấn đề
nghe, nghi cũng như thế. Lại
nữa, người nào có năm tính xấu sau đây thì không được
nêu tội người khác ở giữa chúng Tăng. Ðó là: Thiên vị;
giận dữ; sợ hãi; si mê và vụ lợi. Nếu có năm tính xấu
đó mà nêu tội người khác thì sau khi thân hoại mệnh chung,
sẽ đọa vào đường ác, rơi xuống địa ngục. Lại
nữa, người nào thành tựu năm pháp sau đây thì được nêu
tội người khác. Ðó là: Không Thiên vị; không giận dữ;
không sợ hãi; không ngu si và không vụ lợi. Người nào thành
tựu năm pháp đó mà nêu tội người khác thì sau khi thân
hoại mệnh chung được sinh vào đường Thiện, được các
bậc phạm hạnh ca ngợi. Ðó
gọi là cử (tội). VIỆC
TRỊ PHẠT. Thế
nào gọi là Trị phạt? -
Người phạm tội Ba-la-di thì Tăng nên đuổi về làm người
thế tục, hoặc làm Sa-di. Người phạm tội Tăng già bà thi
sa, nếu che giấu thì Tăng cho pháp Ba-lợi-bà-sa, Ma-na-đỏa
rồi xuất tội, nếu không che giấu thì hành Ma-na-đỏa rồi
xuất tội. Người phạm tội Ni-tát-kì-ba-dạ-đề thì phải
đem vật đã cất ra xả bỏ giữa Tăng, rồi đến trước
Tỉ-kheo trưởng lão trật vai áo bên phải, quỳ gối chắp
tay, bạch như sau: -
Thưa trưởng lão! Tôi đã cất y Thừa quá mười ngày, nay
đem xả bỏ giữa chúng Tăng và sám hối tội Ba-dạ-đề. Vị
Tỉ-kheo thụ sám nên hỏi: -
Thầy có thấy tội này không? -
Dạ thấy. -
Ðừng tái phạm nhé. -
Tôi xin cúi đầu vâng giữ. Thế
rồi Tăng làm yết-ma, giao y đó cho một người giữ, sau đó
nên trả lại (chủ cũ). Còn phạm tội Ba-dạ-đề cho đến
Việt-tì-ni thì cũng sám hối như thế. ÐUỔI
ÐI. Gồm
bảy trường hợp: 1/
Hủy hoại tịnh hạnh của Ni;
Ðó
gọi là bảy việc nên đuổi đi. DỊ
TRỤ (Phá Pháp luân Tăng). Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, đã xảy ra vụ Ðề Bà Ðạt
Ða phá Tăng, như ở trước đã nói rõ. Thế rồi, [443a] Ðề
Bà Ðạt Ða đi đến Thành Già-da. Sau đó, Phật cũng đi tới
thành Gia Da. Hôm ấy nhằm ngày Bố-tát, Phật bảo A-nan: -
Ông đến gọi Ðề Bà Ðạt Ða về, hôm nay Tăng làm yết-ma
Bố-tát. A-nan
bèn đến đó, nói: -
Thưa trưởng lão! Hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát, đức Thế
Tôn cho gọi Trưởng lão. Ðề
Bà Ðạt Ða đáp: -
Tôi không đến. Từ nay về sau tôi không sinh hoạt chung trong
Phật pháp Tăng, không Bố-tát, Tự tứ, yết-ma chung. Từ nay
về sau, đối với giới luật điều nào muốn học hay không
muốn học đều do ý tôi quyết định. A-nan
nghe nói thế, liền suy nghĩ: "Ðây là việc kỳ quái, thốt
ra lời nói ác này lẽ nào không thương tổn đến Tăng?" Ðoạn,
A-nan trở về, đem việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn.
Phật nói với A-nan: -
Ông hãy trở lại chỗ Ðềø Bà Ðạt Ða một lần nữa. Cho
đến A-nan suy nghĩ: "Thật là kỳ quái, thốt ra lời nói ác
này chẳng lẽ không tổn thương đến Tăng sao?". Sau
khi A-nan trở về, nhóm sáu Tỉ-kheo bàn nhau: "Chắc chắn Sa-môn
Cù-đàm sẽ sai sứ đến lần thứ ba. Tất cả chúng ta phải
giữ chánh niệm Bố-tát trước. Chúng ta hãy để lại danh
dự cho hậu thế biết rằng khi Phật còn tại thế mà Ðề
Bà Ðạt Ða và nhóm sáu Tỉ-kheo đã cùng nhau phá Tăng", bèn
thực hiện Bố-tát. A-nan liền đem sự việc ấy bạch đầy
đủ lên Thế Tôn. Phật bảo: -
Ông hãy trở lại lần thứ ba, bảo Ðề Bà Ðạt Ða đến,
vì hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát. A-nan
liền đến đó, nói: -
Ðức Thế Tôn gọi các vị. Hôm nay Tăng làm yết-ma Bố-tát. Họ
đáp: -
Chúng tôi không đi. Từ hôm nay trở đi, chúng tôi không sinh
hoạt chung trong Phật pháp Tăng, không Bố-tát tự tứ và yết-ma
chung. Từ nay về sau, đối với giới luật, điều nào muốn
học hay không muốn học đều do ý tôi quyết định. Nhưng
chúng tôi đã Bố-tát xong rồi. A-nan
nghe thế, suy nghĩ: "Thực là kỳ lạ, thế là họ đã phá
hoại Tăng thật rồi", bèn trở về, đem sự việc ấy bạch
đầy đủ lên Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nghe xong, bèn đọc
kệ: "Thanh
tịnh như trăng tròn,
Ðoạn,
Phật nói với A-nan: -
Những người phi pháp đã Bố-tát xong, vậy những người
như pháp nên Bố-tát. Khi
ấy Ðề Bà Ðạt Ða phá Tăng, còn nhóm sáu Tỉ-kheo là bè
đảng phá Tăng. Ðó
gọi là Dị trụ. LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ hai mươi sáu.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||