| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
Có
tội [431b] tại chỗ khuất, không phải tại chỗ trống: Như
ngủ cùng nhà với người nữ, ngủ với người chưa thọ
cụ túc quá ba đêm, trải đồ ở giữa phòng, ngồi ở chỗ
người ta dùng hành lạc, ngồi ở chỗ khuất kín. Ðó gọi
là tội tại chỗ khuất, không phải tại chỗ trống. Có
tội tại chỗ trống, không phải chỗ khuất: Hoặc tự mình,
hoặc sai người đem giường nệm của chúng Tăng ra trải ở
chỗ trống, mà khi đi không thưa với chúng Tăng, đi chừng
hai mươi lăm khuỷu tay, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi
là tội tại chỗ trống, không phải tại chỗ khuất. Có
tội vừa tại chỗ khuất, vừa tại chỗ trống: Như dùng
tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không ở chỗ khuất, cũng không ở chỗ trống? -
Ðó là tội xảy ra ở dưới Thềm nhà. Thế
nào là tội khi đi, không phải khi đứng? -
Tỉ-kheo kết bạn với bọn cướp, cùng với người nữ và
Tỉ-kheo-ni hẹn đi chung đường; Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê
bảo đừng đi mà cứ đi thì phạm tội. Ðó gọi là do đi,
không do đứng. Thế
nào là tội khi đứng, không phải khi đi? -
Như đứng ở bên dâm nữ, đứng nơi quán rượu, đứng tại
chỗ đánh bạc, đứng bên nhà tù, đứng giữa cửa, rồi
được Tăng, Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng đứng mà cứ
đứng, thì phạm tội. Ðó gọi là tội do đứng, không phải
do đi. Thế
nào là tội vừa do đi, vừa do đứng? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không phải khi đi, không phải khi đứng? -
Như khi ngồi, khi ngủ. Thế
nào là tội do đứng, không phải do ngồi? -
Như đứng bên dâm nữ, rồi được Hòa Thượng, A-xà-lê bảo
đừng đứng mà vẫn đứng, thì phạm tội. Thế
nào là tội do ngồi, không phải do đứng? -
Như ngồi trên giường lớn quá cỡ, dùng bông dồi làm nệm,
dùng da làm tọa cụ và ngồi bên cạnh dâm nữ, bên quán rượu,
bên chỗ đánh bạc, bên cạnh nhà tù, rồi được Tăng, Hòa
Thượng, A-xà-lê bảo đừng ngồi mà vẫn ngồi thì phạm
tội. Thế
nào là tội vừa do đứng, vừa do ngồi? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không phải do đứng, cũng không phải do ngồi? -
Ðó là tội xảy ra khi đi và khi ngủ. Thế
nào là tội khi ngồi, không phải khi ngủ? -
Như ngồi trên giường quá lượng, rồi được Tăng, Hòa Thượng,
A-xà-lê bảo đừng ngồi mà cứ ngồi, thì có tội. Thế
nào là tội khi ngủ, không phải khi ngồi? -
Ngủ cùng nhà với phụ nữ, ngủ với người chưa thọ cụ
túc quá ba đêm, ngồi giường lớn quá lượng, dùng bông dồi
vào nệm để ngồi, dùng da làm tọa cụ. Thế
nào là tội khi ngồi cũng như khi ngủ? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không phải khi ngồi, cũng không phải khi ngủ? -
Như phạm tội khi đi, khi đứng. Thế
nào là phạm tội khi ngủ, không phải khi đi? -
Như ngủ cùng một nhà với phụ nữ, cho đến ngủ trên nệm
bằng da. Thế
nào là phạm tội khi đi, không phải khi ngủ? -
Như Tỉ-kheo làm bạn với kẻ cướp, với phụ nữ (cùng đi
chung đường), rồi được Hòa Thượng, A-xà-lê bảo đừng
đi mà cứ đi, thì phạm tội. Thế
nào là phạm tội khi ngủ cũng như khi đi? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là phạm tội không phải khi ngủ, cũng không phải khi
đi? -
Như phạm tội khi ngồi, khi đứng. Thế
nào là phạm tội không phải chỗ vắng, cũng không phải chỗ
nhiều người? -
Như được khuyên can ở chỗ vắng ba lần mà không bỏ. Thế
nào là phạm tội ở chỗ nhiều người, không phải ở chỗ
vắng? -
[431c] Như được khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần mà
không bỏ. Thế
nào là phạm tội ở chỗ vắng, cũng như ở chỗ nhiều người? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là phạm tội không phải chỗ vắng, không phải chỗ nhiều
người? -
Như ở giữa chúng Tăng. Thế
nào là phạm tội ở chỗ nhiều người, không phải ở giữa
chúng Tăng? -
Như được khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần không bỏ. Thế
nào là phạm tội ở giữa chúng Tăng, không phải ở chỗ
nhiều người? -
Như được khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần mà không bỏ. Thế
nào là phạm tội ở chỗ nhiều người cũng như ở giữa
chúng Tăng? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không ở chỗ nhiều người, không ở giữa Tăng? -
Như được khuyên can ba lần ở chỗ vắng mà không bỏ. Thế
nào là tội ở giữa Tăng, không phải ở chỗ vắng? -
Như được khuyên ở giữa Tăng ba lần mà không bỏ. Thế
nào là tội ở chỗ vắng, không phải ở giữa Tăng? -
Như được khuyên ở chỗ vắng ba lần mà không bỏ. Thế
nào là tội vừa ở giữa Tăng, vừa ở chỗ vắng? -
Như dùng tay đánh người, huơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không phải ở giữa Tăng, không phải ở chỗ
vắng? -
Như được can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Thế
nào là tội thuộc mùa đông, không phải mùa Xuân? -
Tỉ-kheo đến ngày 15 tháng 8 mà không xả y tắm mưa tới ngày
16 mới xả, thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế
nào là tội thuộc mùa Xuân, không phải mùa Ðông? -
Tỉ-kheo thọ y Ca-thi-na đến ngày 15 tháng chạp thì nên xả,
nếu không xả, để đến ngày 16 thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế
nào là tội thuộc mùa Ðông, cũng thuộc mùa Xuân? -
Như dùng tay đánh người, dơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không thuộc mùa Ðông, không thuộc mùa Xuân? -
Như thời gian an cư (tức mùa Hạ) Thế
nào là tội thuộc mùa Xuân, không thuộc mùa Ha ï? -
Tỉ-kheo thọ y Ca-thi-na mà không xả để đến ngày 16 tháng
chạp thì phạm tội Việt-tì-ni. Thế
nào là tội thuộc mùa Hạ, không phải mùa Xuân? -
Tỉ-kheo đến ngày 16 tháng tư phải an cư, mà không an cư thì
phạm tội Việt-tì-ni; đến hậu an cư cũng không an cư, thì
phạm hai tội Việt-tì-ni. Thế
nào là tội thuộc mùa Xuân, cũng thuộc mùa Hạ? -
Như đánh người bằng tay, dơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không thuộc mùa Xuân, không thuộc mùa Hạ? -
Như tội phạm vào mùa Ðông. Thế
nào là tội thuộc mùa Hạ, không thuộc mùa Ðông? Vào
hai thời an cư mà không an cư, thì phạm hai tội Việt-tì-ni. Thế
nào là tội thuộc mùa Ðông, không phải mùa Hạ? -
Ðến ngày 15 tháng 8 nên xả y tắm mưa mà không xả, để
đến ngày 16 thì phạm tội. Thế
nào là tội thuộc mùa Hạ, cũng thuộc mùa Ðông? -
Như dùng tay đánh người, dơ tay dọa đánh. Thế
nào là tội không thuộc mùa Hạ, cũng không thuộc mùa Ðông? -
Ðó là tội vào mùa Xuân, tức là tội không thuộc vào mùa
Hạ, không thuộc mùa Ðông. Lại
có tội do không kiềm chế thân, không kiềm chế miệng, không
kiềm chế thân miệng; thân phạm, miệng phạm, thân miệng
đều phạm; thân làm ác, miệng làm ác, thân miệng đều làm
ác. Ðó gọi là tội. Trái
lại, vô tội nghĩa là kiềm chế thân, kiềm chế miệng, kiềm
chế thân miệng; thân không phạm, miệng không phạm, thân
miệng đều không phạm; thân không làm ác, miệng không làm
ác, thân miệng không làm ác. Ðó gọi là không có tội. Phật
nói với các Tỉ-kheo: --
Tỉ-kheo giữ luật khi cho người xuất tội, thì có tội cũng
biết, [432a], không có tội cũng biết, che giấu cũng biết,
không che giấu cũng biết. CHE
GIẤU CŨNG BIẾT. Tỉ-kheo
khi hừng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, biết đó là tội,
không cố ý che giấu, nhưng đến lúc mặt trời mọc lại
cố tình che giấu cho đến hừng đông sáng mai. Ðó gọi là
che giấu một đêm. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa, biết là có tội, không cố tâm che giấu,
nhưng đến giờ ăn lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông
hôm sau. Ðó gọi là che giấu một đêm. Ðến lúc giữa trưa,
vào buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, nửa đêm, cũng
như vậy. Tỉ-kheo
lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa biết là có tội
mà không cố tâm che giấu, cho đến cuối đêm, vẫn biết
là có tội nhưng cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm
sau. Ðó gọi là hai thời một đêm che giấu. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa mà không biết là phạm tội, đến lúc mặt
trời mọc mới biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu,
nhưng đến giờ ăn lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông
hôm sau. Ðó gọi là một đêm che giấu. Vào giữa trưa, buổi
xế, lúc mặt trời lặn và đầu đêm, cũng như vậy. Tỉ-kheo
lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết
là phạm tội, cho đến nửa đêm mới biết là phạm tội
nhưng không cố tâm che giấu, đến cuối đêm lại cố tình
che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là ba thời
một đêm che giấu. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa mà không biết là có tội, đến giờ ăn
mới biết là có tội nhưng không cố tâm che giấu, đến giữa
trưa lại cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Ðó
gọi là che giấu một đêm. Vào buổi xế, lúc mặt trời lặn,
đầu đêm cũng như vậy. Tỉ-kheo
lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa, không biết là
phạm tội, cho đến giữa đêm biết là có tội, mà không
có tâm che giấu, đến cuối đêm lại cố tình che giấu cho
đến rạng đông thì gọi là bốn thời một đêm che giấu. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, nhưng do dự không biết
nên che giấu hay không, đến lúc mặt trời mọc quyết tâm
che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là che giấu
một đêm. Cũng vậy, vào giờ ăn, giữa trưa, buổi xế, lúc
mặt trời lặn, đầu đêm, giữa đêm, cho đến cuối đêm
quyết tâm che giấu đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là hai
thời che giấu một đêm. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa mà không biết phạm tội, đến lúc mặt
trời mọc mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết
nên che giấu hay không, tới bữa ăn thì quyết tâm che giấu
cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là che giấu một đêm.
[432b]Cũng vậy, giữa trưa, buổi xế, khi mặt trời lặn, đầu
đêm cũng thế. Tỉ-kheo
lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết
là phạm tội, cho đến nửa đêm mới biết là phạm tội,
nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, đến cuối
đêm mới quyết định che giấu cho đến rạng đông hôm sau.
Ðó gọi là ba thời che giấu một đêm. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa, mà không biết phạm tội, mãi đến giờ
ăn mới biết là phạm tội, nhưng do dự không biết nên che
giấu hay không, tới giữa trưa mới quyết định che giấu
cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là che giấu một đêm.
Vào buổi xế, lúc mặt trời lặn, đầu đêm, cũng như vậy. Tỉ-kheo
lúc rạng đông phạm tội Tăng già bà thi sa mà không biết
là phạm tội, cho tới giữa đêm mới biết là phạm tội,
nhưng do dự không biết nên che giấu hay không, đêán cuối
đêm mới quyết định che giấu cho tới rạng đông hôm sau.
Ðó gọi là bốn thời che giấu một đêm. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo lúc rạng đông phạm tội
Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến
khi mặt trời mọc lại quyết định không che giấu, cho đến
cuối đêm lại quyết tâm che giấu cho tới rạng đông hôm
sau. Ðó gọi là che giấu một đêm. Lại
có trường hợp che giấu: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi
sa, rồi lại ở cách vách, cách hào, ở chỗ tối nói nhỏ,
xưng tên một Tỉ-kheo mỗ giáp khác phạm tội Tăng già bà
thi sa. Ðó không gọi là phát lồ, vì biết mà nói dối, phạm
tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là che giấu. Trường
hợp không che giấu: Nếu ở chỗ ngăn cách, hoặc cách hào,
ở chỗ tối nói nhỏ, tự xưng tên của người khác phạm
tội Tăng già bà thi sa, thì được gọi là phát lồ, nhưng
xảo trá, phạm tội Việt-tì-ni. Lại
có trường hợp không che giấu: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già
bà thi sa, không ở chỗ cách vách, cách hào, chỗ tối, không
nói nhỏ, không xưng tên người khác mà tự xưng tên mình
phạm tội. Ðó gọi là không che giấu. Lại
có trường hợp không che giấu: Không phải tội mà tưởng
là tội, sinh nghi, nghi không biết nên che giấu hay không, nghi
đêm (?). Nếu phát lồ thì gọi là không che giấu. Lại
có trường hợp không che giấu: Không cố tâm che giấu, chưa
phát lồ được, rồi hoặc quên, hoặc bỏ đạo, hoặc nhập
định, hoặc mệnh chung. Ðó gọi là không che giấu. Phật
nói với các Tỉ-kheo: -
Tỉ-kheo giữ luật khi cho ai xuất tội, thì có tội nên biết,
không có tội nên biết, che giấu nên biết, không che giấu
nên biết, phát lồ nên biết, không phát lồ nên biết; hoặc
là che giấu không phát lồ, hoặc là phát lồ không che giấu,
hoặc là vừa che giấu vừa phát lồ, hoặc là không che giấu
cũng không phát lồ đều nên biết. Thế
nào là che giấu không phát lồ? -
Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni,
biết là phạm tội mà cố tâm che giấu [432c] không nói với
người khác. Ðó gọi là che giấu không phát lồ. Thế
nào là phát lồ, không che giấu? -
Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội mà
không cố tâm che giấu, nói với người khác. Ðó gọi là
phát lồ, không che giấu. Thế
nào gọi là vừa che giấu, vừa phát lồ? -
Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội,
định che giấu, nhưng sau đó nói với người khác. Ðó gọi
là vừa che giấu, vừa phát lồ. Thế
nào là vừa không che giấu, vừa không phát lo? -
Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội,
không cố tâm che giấu, suy nghĩ: "Ðợi đúng lúc, đúng chỗ,
đúng người ta sẽ sám hối đúng pháp". Ðó gọi là vừa
không che giấu vừa không phát lồ. PHÁP
BIỆT TRỤ. Phật
bảo các Tỉ-kheo: -
Tỉ-kheo giữ luật khi cho ai xuất tội, thì có tội phải biết,
không có tội phải biết, che giấu phải biết, không che giấu
phải biết, phát lồ phải biết, không phát lồ phải biết,
nên cho Biệt trụ phải biết, không nên cho Biệt trụ phải
biết". Thế
nào là không nên cho Biệt trụ? -
Không có tội thì không nên cho; không che giấu, không nên cho;
tội không quyết định, che giấu không quyết định, đêm
không quyết định, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi,
thì không nên cho Biệt trụ. Thế
nào là nên cho Biệt trụ? -
Có tội thì nên cho; che giấu thì nên cho; chắc chắn có tội,
chắc chắn che giấu, chắc chắn qua đêm, đương sự có yêu
cầu thì nên cho. Cho
Biệt trụ không đúng pháp, cho Biệt trụ đúng pháp. Thế
nào là cho Biệt trụ không đúng pháp? -
Tội không chắc chắn, che giấu không chắc chắn, đêm không
chắc chắn, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi, chúng
Tăng không thành tựu, tác bạch không thành tựu, yết-ma không
thành tựu. Ðó gọi là cho Biệt trụ không đúng pháp. Thế
nào là cho biệt trụ đúng pháp? -
Có tội, tội chắc chắn, chắc chắn che giấu, chắc chắn
trải qua đêm, đương sự có yêu cầu, chúng Tăng thành tựu,
tác bạch thành tựu, yết-ma thành tựu. Nếu mỗi thứ đều
thành tựu, đó gọi là cho Biệt trụ đúng pháp. Hành
Ba-lợi-bà-sa không đúng pháp, hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp. Thế
nào là hành Ba-lợi-bà-sa không đúng pháp? -
Tại chùa không có Tỉ-kheo, nửa chừng phạm tội bị phát
giác, cùng ở chung với Tỉ-kheo khác đồng phòng, đồng có
ngăn cách, Tỉ-kheo khách đến không bạch, Tăng tập họp đúng
thời, phi thời không bạch. Ðó gọi là hành Ba-lợi-bà-sa
không đúng pháp. Thế
nào là hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp? -
Tại chùa có Tỉ-kheo đang sống, trong thời gian hành Ba-lợi-bà-sa
không tái phạm, không bị cử tội, ở phòng riêng, ngăn cách
riêng với Tỉ-kheo khác, khi Tỉ-kheo khách đến có bạch, khi
Tăng tập họp đúng thời hay phi thời đều bạch. Ðó gọi
là hành Ba-lợi-bà-sa đúng pháp. Ðêm
không gián đoạn, đêm có gián đoạn. Thế
nào là đêm không gián đoạn? -
Trong chùa có Tỉ-kheo đang ở, cho đến khi Tăng tập họp đúng
thời, phi thời đều có bạch. Ðó gọi là đêm không gián
đoạn. Thế
nào là đêm có gián đoạn? -
Trong chùa không có Tỉ-kheo ở, cho đến khi Tăng tập họp
đúng thời, phi thời đều không bạch. Ðó gọi là [433a]ø
đêm có gián đoạn. Ngoài
ra còn có nửa chừng phạm tội, nửa chừng không phạm tội. Thế
nào gọi là nửa chừng phạm tội? -
Sau khi phát lồ, Tăng chưa cho hành Ba-lợi-bà-sa, bèn phạm
lại, hành Ba-lợi-bà-sa nửa chừng rồi tái phạm. Ðó gọi
là nửa chừng phạm tội. Thế
nào gọi là nửa chừng không phạm tội? -Trong khoảng thời
gian ấy không tái phạm. Ðó gọi là nửa chừng không phạm
tội. Tỉ-kheo
hành Ba-lợi-bà-sa nên tùy thuận hành bảy việc sau đây: 1)
Việc thuộc Tỉ-kheo; 2) Việc thuộc Tỉ-kheo-ni; 3) Việc thuộc
quyến thuộc; 4) Việc vào làng xóm; 5) Làm việc nhọc trong
chúng; 6) Việc nhận người khác lễ bái; 7) Việc vương gia. 1/
Thế nào là việc thuộc Tỉ-kheo? -
Không được nhận sự lễ bái của Tỉ-kheo; không được
nói tội của Tỉ-kheo; không được bàn luận với Tỉ-kheo;
không được nói tội của Sa-di; không được thưởng phạt
Sa-di; không được bàn luận
với Sa-di; không được làm sứ giả cho Tỉ-kheo; không
được đi trước sau cùng hàng với Tỉ-kheo vào thôn xóm;
khi Tăng chúng tập họp không được thay mặt cho chúng thuyết
pháp, trừ khi sống một mình. Ðó gọi là việc thuộc Tỉ-kheo. 2/
Thế nào là việc thuộc Tỉ-kheo-ni? -
Không được nhận sự lễ bái của Tỉ-kheo-ni; không được
nói tội của Tỉ-kheo-ni; không được bàn luận với Tỉ-kheo-ni;
không được nói tội của Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được
Thưởng phạt Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được luận bàn
với Thức-xoa-ma-ni, Sa-di-ni; không được ngăn Tỉ-kheo-ni Bố-tát
tự tứ; không được chận Tỉ-kheo-ni đứng ngoài cổng; không
được đến dạy bảo Tỉ-kheo-ni, dù trước đó Tăng đã
sai cũng không được đến. Ðó gọi là việc thuộc Tỉ-kheo-ni. 3/
Thế nào là việc thuộc về quyến thuộc? -
Không được độ người, không được cho người thọ cụ
túc, không được nhận sự nương tựa của người khác và
nuôi Sa-di, không được nhận sự cung cấp của Tỉ-kheo, không
được đưa kinh cho người khác, không được theo người khác
nhận những bản kinh, khi tụng kinh phải tụng nhỏ tiếng.
Nếu trước đó đã có đệ tử nên bảo họ nương tựa người
khác, phải cắt đứt sự thân thiết. Ðó gọi là việc thuộc
về quyến thuộc. 4/
Thế nào là việc đi vào xóm làng? -
Không được đi vào xóm làng quá sớm, trở về quá trễ,
không được đi trước hay sau trong hàng ngũ của Sa-môn vào
xóm làng, không được đến nhà đàn việt quen biết, không
được ở những ngôi già-lam không có Tăng, khi ngồi, khi ăn
đều ở dưới Tỉ-kheo, không được sai người đi đón Thức
ăn, không được cùng người đi đón Thức ăn, trừ khi đến
phiên mình. Ðó gọi là việc vào xóm làng. 5/
Thế nào là làm những việc nhọc trong chúng? -
Sáng sớm thức dậy quét Tháp, viện, phòng Tăng, đem nước
đến cho Tăng, rửa ráy chỗ đại tiểu tiện của Tăng. Tất
cả những việc có thể làm được như thế phải tùy sức
mà làm. Không được gởi dục, không được nhận sự gởi
dục của người khác, trừ khi đến phiên mình. Ðó gọi là
làm những việc nhọc trong chúng. 6/
Thế nào là nhận sự lễ bái? -
[433b] Không được nhận tất cả sự lễ bái; bạch nhất
yết-ma, bạch tam yết-ma đều không được nhận. Ðó gọi
là nhận sự lễ bái. 7/
Thế nào là việc thuộc nhà vua? -
Không được ỷ thế lực của vua, đại thần, cư sĩ, kẻ
hung ác; không được chê Phật, chê pháp, chê Tăng, chê người
làm yết-ma; chỉ tự trách mình, không được chê người khác.
Ðó gọi là việc thuộc nhà vua. Tỉ-kheo
hành Ba-lợi-bà-sa phải chấp hành bảy việc này. Ðó gọi
là tùy thuận hành. Nếu không làm thì gọi là không tùy thuận
chấp hành. PHÁP
MA-NA-ÐỎA. Ngoài
ra, có các việc: không nên cho Ma-na-đỏa, nên cho Ma-na-đỏa. Thế
nào là không nên cho ma-na-đỏa? -
Không có tội thì không nên cho; che giấu mà chưa cho pháp Biệt
trụ thì không nên cho; một nửa che giấu, một nửa không
che giấu thì không nên cho; tội chưa quyết định, che giấu
chưa quyết định, đêm chưa quyết định, thì không nên cho;
Ba-lợi-bà-sa chưa quyết định thì không nên cho. Ðương sự
không đòi hỏi, không yêu cầu thì không nên cho Ma-na-đỏa. Thế
nào là nên cho Ma-na-đỏa? -
Có tội, che giấu, hành Ba-lợi-bà-sa xong; tội quyết định,
che giấu quyết định, đêm quyết định, Ba-lợi-bà-sa quyết
định, đương sự có yêu cầu thì nên cho Ma-na-đỏa. Nhưng
cho có hai trường hợp cho không đúng pháp và cho đúng pháp. Thế
nào là cho không đúng pháp? -
Không có tội, cho đến đương sự không yêu cầu, không đòi
hỏi; chúng không thành tựu, bạch không thành tựu, yết-ma
không thành tựu. Nếu mỗi một việc nào không thành tựu
thì gọi là cho không đúng pháp. Thế
nào là cho đúng pháp? -
Có tội, cho đến đương sự có yêu cầu đòi hỏi, chúng
thành tựu, bạch thành tựu, yết-ma thành tựu, mỗi thứ đều
thành tựu. Ðó gọi là cho đúng pháp. Hành
Ma-na-đỏa không rốt ráo và hành Ma-na-đỏa rốt ráo. Thế
nào là hành Ma-na-đỏa không rốt ráo? -
Tăng chúng không đủ số thì không gọi là hành
Ma-na-đỏa; nửa chừng tái phạm bị phát hiện; cùng
ở với Tỉ-kheo trong một phòng, một chỗ có che chắn; không
bạch với Tỉ-kheo khách; khi Tăng tập họp đúng thời hay
phi thời không bạch; hằng ngày không bạch với chúng tăng
trong cương giới. Ðó gọi là thi hành Ma-na-đỏa không rốt
ráo. Thế
nào là hành Ma-na-đỏa rốt ráo? -
Chúng Tăng đủ số; nửa chừng không tái phạm, không bị
cử tội; không ở với Tỉ-kheo khác cùng một phòng, một
chỗ có che chắn; Tỉ-kheo khách đến có bạch; khi Tăng tập
họp đúng thời hay phi thời có bạch; hằng ngày có bạch
với Tăng trong cương giới. Ðó gọi là hành Ma-na-đỏa rốt
ráo. Ðêm
(6 đêm Ma-na-đỏa) bị dở dang, đêm không bị dở dang. Thế
nào là đêm bị dở dang? -
Trong khoảng 6 đêm Ma-na-đỏa chúng Tăng không đủ số, cho
đến hằng ngày không bạch với Tăng trong cương giới. Ðó
gọi là 6 đêm Ma-na-đỏa bị dở dang. Thế
nào là 6 đêm Ma-na-đỏa không dở dang? -
Trong khoảng 6 đêm Ma-na-đỏa chúng Tăng đủ số, cho đến
hằng ngày có bạch với Tăng trong cương giới. Ðó gọi là
đêm Ma-na-đỏa không dở dang. Nửa
chừng phạm tội, nửa chừng không phạm tội. Thế
nào là nửa chừng phạm tội? -
Trong khoảng thời gian chưa cho pháp Ma-na-đỏa mà phạm tội;
trong lúc cho Ma-na-đỏa rồi, phạm tội; trong khoảng thời
gian gần xong, phạm tội. Ðó gọi là nửa chừng phạm tội. Thế
nào là nửa chừng không phạm tội? -
Không có các việc kể trên, đó gọi là nửa chừng không
phạm tội. Tỉ-kheo
hành Ma-na-đỏa [433c] phải tùy thuận chấp hành 7 việc như
trên đã nói. Ðó gọi là Ma-na-đỏa. Tỉ-kheo phải tùy thuận
chấp hành, nếu không chấp hành thì gọi là không tùy thuận
hành. PHÁP
XUẤT TỘI. Có
trường hợp không nên cho xuất tội, có trường hợp nên
cho xuất tội. Trường
hợp không nên cho: -
Không có tội thì không nên cho; che giấu, chưa cho pháp Biệt
trụ thì không nên cho; hành Ma-na-đỏa chưa xong thì không nên
cho; chưa hành Ma-na-đỏa
thì không nên cho; vừa che giấu, vừa không che giấu thì không
nên cho; tội chưa quyết định, che giấu không quyết định,
đêm không quyết định, biệt trụ không quyết định, Ma-na-đỏa
không quyết định, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi,
thì không nên cho xuất tội. Trường
hợp nên cho: -
Có tội thì nên cho; che giấu tội thì nên cho hành biệt trú,
và khi hành Ma-na-đỏa xong thì nên cho; không che giấu, hành
Ma-na-đỏa xong, thì nên cho; tội quyết định, che giấu quyết
định, đêm quyết định, biệt trú quyết định, Ma-na-đỏa
quyết định và đương sự có yêu cầu, thì nên cho xuất
tội. Cho
xuất tội đúng pháp, cho xuất tội không đúng pháp. Cho
xuất tội không đúng pháp: -
Không có tội, không nên cho, cho đến chúng không thành tựu,
bạch không thành tựu, yết-ma không thành tựu. Nếu mỗi một
thứ không thành tựu thì đó gọi là cho xuất tội không đúng
pháp. Cho
xuất tội đúng pháp: -
Có tội, trường hợp nên cho, cho đến chúng thành tựu, bạch
thành tựu, yết-ma thành tựu. Nếu mỗi mỗi việc đều thành
tựu thì đó gọi là cho xuất tội đúng pháp. Trường
hợp cùng che giấu: -
Tỉ-kheo vào ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng
già bà thi sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu,
cũng thế, đến ngày Mồng hai, Mồng ba cho đến Mồng mười,
tất cả đều biết là có tội, rồi cố tâm che giấu cho
đến rạng đông hôm sau. Ðó là mười tội. Tất cả các
tội ấy đều có cùng một đêm che giấu, nên làm mười lần
yết-ma Biệt trụ, mười lần xuất tội; nhưng cũng được
làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một
lần xuất tội. Ðó gọi là cùng chung che giấu. Lại
có trường hợp cùng chung che giấu: Tỉ-kheo,
ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa,
biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, cũng thế, ngày
Mồng hai phạm hai tội, ngày Mồng ba phạm ba tội, cho đến
ngày Mồng Mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa. Tất
cả đều biết là phạm tội và đều cố tâm che giấu tất
cả cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là 55 tội Tăng già
bà thi sa. Tất cả đều có một đêm che giấu, nên làm 55
lần yết-ma biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội;
nhưng cũng được làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần
Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là cùng chung che
giấu. Lại
có trường hợp cùng chung che giấu: -
Tỉ-kheo ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già
bà thi sa, không biết [434a] là phạm tội, cũng thế, ngày Mồng
hai, ngày Mồng ba cho đến ngày Mồng mười, tất cả đều
biết là phạm tội, và cố tâm che giấu tất cả đến rạng
đông hôm sau. Ðó là mười tội cùng chung một đêm che giấu,
cho đến... cũng được làm yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa
một lần, xuất tội một lần. Ðó gọi là cùng chung che giấu. Lại
có trường hợp cùng chung che giấu: Tỉ-kheo
ngày Mồng một trong tháng, phạm một tội Tăng già bà thi
sa, không biết là phạm tội, không có tâm che giấu, cho đến
ngày Mồng mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa, tất
cả đều biết là phạm tội, cố tâm che giấu cho đến rạng
đông hôm sau. Trong 55 tội ấy đều có cùng một đêm che giấu,
cho đến... cũng có thể làm yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa
một lần, xuất tội một lần. Ðó gọi là cùng chung che giấu. Trường
hợp che giấu sai khác: -
Tỉ-kheo vào ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng
già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, tới ngày
thứ hai đến nói với người khác, rồi lại phạm tội Tăng
già bà thi sa, cho đến ngày thứ mười tới nói với người
khác rồi lại phạm tội và biết là phạm tội, nhưng cố
tâm che giấu cho đến ngày 11 mới nói với người khác. Như
vậy, trong mười tội Tăng già bà thi sa ấy tất cả đều
có một đêm che giấu sai khác, nên làm mười lần yết-ma
Biệt trụ, mười lần Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội;
nhưng cũng có thể làm một lần yết-ma Biệt trụ, một lần
Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là che giấu sai khác. Lại
có trường hợp che giấu sai khác: Tỉ-kheo vào ngày Mồng một
trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm
tội, cố tâm che giấu, đến ngày Mồng hai nói với người
khác, rồi lại phạm tội như vậy, cho đến ngày mười phạm
mười tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố tâm
che giấu, đến ngày 11 tới nói với người khác. Trong 55 tội
Tăng già bà thi sa này tất cả đều có một đêm che giấu
sai khác, nên làm 55 lần yết-ma Biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa,
55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần yết-ma
Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó
gọi là trường hợp che giấu sai khác. Trường
hợp che giấu vô lượng: Hoặc
nhớ tội, không nhớ số đêm; hoặc nhớ số đêm, không nhớ
tội; hoặc vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm; hoặc không
nhớ tội cũng không nhớ số đêm. 1/
Nhớ tội, không nhớ số đêm: Nhớ biết có phạm tội nhiều
hay ít, nhưng không nhớ là mấy đêm. 2/
Nhớ số đêm, không nhớ tội: Nhớ biết bao nhiêu đêm, nhưng
không nhớ tội nhiều hay ít. 3/
Vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm: Nhớ biết số tội nhiều
hay ít, đồng thời cũng nhớ bao nhiêu đêm. 4/
Không nhớ tội, cũng không nhớ số đêm: Không nhớ phạm
tội nhiều hay ít, cũng không nhớ là bao nhiêu đêm. Trong
trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm này, nên hỏi: -
Ông phạm tội khi nào, [433b] từ lúc chưa có tuổi (hạ) phải
không? Nếu
đương sự im lặng, thì tùy theo năm (thọ giới) mà cho pháp
Biệt trụ. -
Nếu đáp: "Không phải vậy", thì hỏi tiếp: "Một
tuổi chăng? Hai tuổi chăng? Năm tuổi chăng?". Nên tùy
theo họ im lặng ở khoảng nào mà cho pháp Biệt trụ ở khoảng
đó. Ðó là trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm. Trong
trường hợp nhớ số đêm mà không nhớ tội thì tùy theo
đêm nhiều ít mà cho pháp Biệt trụ vô lượng tội. Ðó gọi
là nhớ đêm mà không nhớ tội. Trong
trường hợp vừa nhớ tội vừa nhớ đêm thì khi đã nhớ
tội nhiều hay ít, tùy theo nhớ đêm bao nhiêu mà cho pháp Biệt
trụ. Ðó gọi là vừa nhớ tội, vừa nhớ đêm. Trong
trường hợp không nhớ tội cũng không nhớ đêm, thì nên
hỏi: "Ông phạm tội khi chưa có tuổi (hạ) phải không?". Nếu
im lặng, thì tùy theo số năm mà cho pháp Biệt trụ vô lượng
tội. Nếu
đáp: "Không phải vậy", thì hỏi tiếp: "Từ lúc chưa có tuổi
hạ phải không? hay một tuổi, hai, ba, bốn, năm tuổi?". Tùy
theo họ im lặng ở chỗ nào thì cho pháp Biệt trụ vô lượng
tội ở chỗ đó. Ðó gọi là che giấu vô lượng. Cùng
chung che giấu, che giấu sai khác, che giấu vô lượng, ba loại
này đều gọi là che giấu. Che
giấu riêng: Tỉ-kheo
ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa,
biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người
khác, ngày thứ hai lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm
che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày thứ mười
lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói
với người khác. Mười tội này mỗi tội đều che giấu
riêng, nhưng tội cuối cùng chỉ có một đêm che giấu, như
vậy hai đêm, ba đêm tính ngược lên đến tội đầu tiên
thành mười đêm che giấu, do vậy nên làm mười pháp yết-ma
Biệt trụ, mười Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội; nhưng
cũng có thể làm một lần Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa,
một lần xuất tội. Lại
có trường hợp che giấu riêng: Tỉ-kheo ngày Mồng một trong
tháng phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội,
cố tâm che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày
thứ mười phạm mười tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm
tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác. Trong 55
tội này mỗi tội đều che giấu riêng, nhưng tội cuối cùng
chỉ che giấu có một đêm, như vậy hai đêm, ba đêm, tính
ngược lên đến tội đầu tiên thành ra 55 đêm che giấu,
do đó, nên cho pháp yết-ma Biệt trụ 55 đêm, 55 Ma-na-đỏa,
55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể cho một pháp Biệt trụ,
một Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là che giấu
riêng. Hai
loại cùng che giấu, che giấu riêng này đều gọi là che giấu. Tỉ-xá-già-cước: Hoặc
là tội dài không phải đêm dài; hoặc đêm dài không phải
tội dài; hoặc tội dài, đêm cũng dài; hoặc không phải tội
dài cũng không phải đêm dài. 1/
Có trường hợp tội dài, không phải đêm dài: Tỉ-kheo suốt
ngày phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, đến
nói với người khác. Ðó gọi là tội dài, không phải đêm
dài. 2/
Có trường hợp đêm dài, [434c] không phải tội dài: Tỉ-kheo
phạm một tội Tăng già bà thi sa, biết là phạm tội, cố
tâm che giấu, không đến nói với người khác. Ðó gọi là
đêm dài, không phải tội dài. 3/
Có trường hợp tội dài, đêm cũng dài: Tỉ-kheo hằng ngày
đều phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là có tội, nhưng
che giấu một nửa, phát lồ một nửa. Ðó gọi là tội dài,
đêm cũng dài. 4/
Có trường hợp không phải tội dài cũng không phải đêm
dài: Tỉ-kheo phạm tội Tăng già bà thi sa, biết là có tội,
không cố tâm che giấu, đến nói với người khác, rồi không
phạm nữa. Ðó gọi là không phải tội dài cũng không phải
đêm dài. Ở
đây hai trường hợp tội dài đêm không dài và tội dài đêm
cũng dài thì khi hành Ba-lợi-bà-sa nên cho ăn ít mà bắt làm
việc nhiều, nếu cố tình không chấm dứt, thì nên bảo tịnh
nhân cột tay chân, đặt trên giường, rồi nói: "Nếu còn
tái phạm thì Tăng sẽ trị tội ông nặng hơn nữa". Ðó gọi
là Tỉ-xá-già-cước. Hoặc
có trường hợp tội hợp, không phải đêm hợp; hoặc có
trường hợp đêm hợp, không phải tội hợp;
hoặc có trường hợp tội hợp mà đêm cũng hợp; hoặc
có trường hợp không phải tội hợp cũng không phải đêm
hợp: 1/
Tội hợp, không phải đêm hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội
Tăng già bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng
gom lại làm yết-ma cho một trăm đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo
liền thưa: "Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh hoạn ốm yếu
không thể kham nổi, có thể cho hành tóm lược pháp Ba-lợi-bà-sa
được không?". Tăng nên nói: "Ðược", rồi làm yết-ma gom
một trăm đêm Biệt trụ thành mười đêm Biệt trụ. Ðó
gọi là tội hợp, không phải đêm hợp. 2/
Ðêm hợp, không phải tội hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội
Tăng già bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng
gom lại cho mười đêm Biệt trụ. Tỉ-kheo bèn thưa: "Thưa
trưởng lão, tôi thấy xấu hổ, muốn hành Ba-lợi bà-sa đầy
đủ". Tăng nên nói: "Ðược". Ðó gọi là đêm hợp, không
phải tội hợp. 3/
Tội hợp, đêm cũng hợp: Tỉ-kheo phạm mười tội Tăng già
bà thi sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại
cho mười đêm Biệt trụ. Ðó gọi là tội hợp, đêm cũng
hợp. 4/
Không phải tội hợp, cũng không phải đêm hợp: (Như trường
hợp trên) nhưng tất cả đều làm yết-ma cho pháp ba-lợi-bà-sa
riêng. Ðó gọi là không phải tội hợp, cũng không phải đêm
hợp. LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết quyển thứ hai mươi lăm
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||