| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ BA. TỘI
TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, Tỉ-kheo
A Lê Tra hủy báng khế kinh, nói với các Tỉ-kheo như sau: -
Thưa Trưởng lão, theo tôi biết pháp mà Thế Tôn thuyết giảng
thì những gì gọi là chướng đạo, khi thực hành chúng không
có gì là chướng đạo cả. Các Tỉ-kheo liền khuyên: -
Trưởng lão! Thầy đừng hủy báng khế kinh, hủy báng khế
kinh là hành vi ác tà kiến, rơi vào đường ác, đọa xuống
địa ngục. Thầy
bèn đáp: -
Ðó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ,
Thầy dạy của tôi kế thừa từ xưa đến nay, đều thấy
như vậy cả. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo các Tỉ-kheo: --
Nếu Tỉ-kheo A Lê Tra nói rằng: "Thế Tôn thuyết pháp, theo
tôi hiểu, thì những gì gọi là chướng đạo khi thực hành
chúng không có gì là chướng đạo cả", [427b] thì nên khuyên
can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba
lần và khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần. Khi
khuyên can ở chỗ vắng, trước hết nên hỏi:
"Trưởng lão A Lê Tra, có thật Thầy hủy báng khế kinh, nói
rằng: "Thế Tôn thuyết pháp, theo tôi hiểu, thì thực hành
những pháp gọi là chướng đạo, không có gì là chướng
đạo cả" phải không?". Nếu
đáp: "Thật như vậy", thì bấy giờ nên khuyên can ở chỗ
vắng như sau: "Này Trưởng lão, Thầy đừng hủy báng khế
kinh, hủy báng khế kinh là ác tà kiến, sẽ rơi vào đường
ác, đọa xuống địa ngục. Vì lòng từ, muốn được lợi
ích cho nên tôi khuyên can Thầy, Thầy hãy bỏ việc này đi.
Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa, Thầy
có bỏ việc này không?". Nếu
đáp: "Ðó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện,
cha mẹ và thầy dạy của tôi đã kế thừa từ trước đến
nay, đều thấy như vậy cả, tôi không thể bỏ", thì nên
khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu
không bỏ thì nên khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần. Nếu
cũng không bỏ nữa, thì nên đem đến giữa Tăng làm yết-ma.
Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. "Tỉ-kheo A Lê Tra hủy báng khế
kinh, nói như sau: "Theo tôi hiểu pháp mà Thế Tôn thuyết giảng,
thì khi thực hành những pháp gọi là chướng đạo, không
có gì là chướng đạo cả", rồi được khuyên can ở chỗ
vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu
thời gian của Tăng đã đến, Tăng cũng nên khuyên can ba lần. Thế
rồi, nên hỏi Thầy ở giữa Tăng: "Này trưởng lão, có thật
Thầy hủy báng khế kinh, nói rằng: "Theo tôi hiểu pháp do
Thế Tôn thuyết giảng, thì khi thực hành những pháp gọi
là chướng đạo, không có gì là chướng đạo cả" rồi được
khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần,
mà không bỏ việc ấy phải không?". Nếu
đáp: "Ðúng như vậy", thì nên khuyên can ở giữa Tăng như
sau: "Trưởng lão, Thầy đừng hủy báng khế kinh, hủy báng
khế kinh là việc ác tà kiến, bị rơi vào đường ác, đọa
xuống địa ngục. Tăng nay vì lòng từ, muốn làm lợi ích
nên khuyên can Thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần
khuyên can nữa, Thầy có bỏ việc này không?" Thầy đáp: "Ðó
là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy
dạy của tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy
như vậy, tôi không thể bỏ". Rồi được khuyên can đến
lần thứ hai, thứ ba như vậy mà vẫn không bỏ. Các
Tỉ-kheo liền đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo các Tỉ-kheo: -
Nếu Tỉ-kheo A Lê Tra đã hủy báng khế kinh, rồi được khuyên
can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người ba lần mà
không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội về việc hủy
báng khế kinh mà không bỏ. Người
làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo A Lê Tra hủy báng khế
kinh, nói như sau: "Theo tôi hiểu pháp do Thế Tôn Thuyết giảng,
thì khi thực hành những điều gọi là chướng đạo, không
có gì là chướng đạo cả", rồi được khuyên can ở chỗ
vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba lần, khuyên
can ở giữa chúng Tăng ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian
của Tăng đã đến, Tăng nay làm yết-ma cử tội Tỉ-kheo A
Lê Tra về việc hủy báng khế kinh mà không bỏ. Ðây là lời
tác bạch. (bạch như vậy xong, làm yết-ma ba lần). [427c]
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Thi
Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến, nói rằng: "Tự mình sát
sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác không có tai họa,
làm thiện không có phước báo, không có quả báo thiện ác
trong đời này hay đời sau". Các
Tỉ-kheo bèn khuyên: "Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, thầy đừng
khởi lên ác kiến, khởi lên ác kiến là bất thiện, sẽ
rơi vào ác đạo, đọa xuống địa ngục". Thầy
liền đáp: "Ðó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy thuần thiện,
cha mẹ, thầy dạy của tôi kế thừa từ trước đến nay
đều thấy như vậy". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo: --
Nếu Thi Lợi Da Bà khởi lên ác kiến, cho đến nói rằng:
"Không có quả báo Thiện ác...", thì nên khuyên can ba lần
ở chỗ vắng, khuyên can ba lần ở chỗ nhiều người, khuyên
can ba lần ở giữa chúng Tăng. Khi
khuyên can ba lần ở chỗõ vắng, trước hết nên hỏi: "Trưởng
lão Thi Lợi Da Bà, có thật Thầy khởi lên ác kiến, nói như
sau: "Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác
không có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có
quả báo thiện ác trong đời
này và đời sau" phải không?". Nếu
đáp: "Ðúng như vậy", thì nên khuyên can:
"Trưởng lão, Thầy đừng khởi lên ác kiến, khởi lên ác
kiến là không tốt, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa
ngục. Nay tôi vì lòng từ, muốn làm lợi ích nên khuyên can
Thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai lần khuyên can nữa,
Thầy có bỏ ác kiến này không?". Nếu đáp: "Ðó là cái thấy
tốt đẹp, cái thấy thuần thiện, cha mẹ, thầy giáo của
tôi đã kế thừa từ trước đến nay, đều thấy như vậy,
tôi không thể bỏ", thì nên khuyên can đến lần thứ hai,
thứ ba. Nếu cũng không bỏ, thì nên khuyên can ở chỗ nhiều
người ba lần cũng như vậy. Nếu vẫn không bỏ nữa, thì
nên đem đến giữa Tăng, làm yết-ma cử tội. Người làm
yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà
kiến, nói rằng: "Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho
đến... làm ác không có tai họa, làm thiện không có phước
báo, không có quả báo thiện ác trong đời này hay đời sau",
rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ
nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng
đã đến, Tăng nay nên khuyên can ba lần ở giữa chúng Tăng. Bấy
giờ Tăng nên hỏi: -
Này Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, có thật thầy nói như sau:
"Tự mình sát sinh, dạy người sát sinh, cho đến làm ác không
có tai họa, làm thiện không có phước báo, không có quả
báo thiện ác trong đời này hay đời sau", rồi được khuyên
can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba
lần mà vẫn không bỏ việc ấy phải không?". Nếu
đáp: "Ðúng như vậy", thì nên khuyên can ở giữa Tăng: - Này
trưởng lão, thầy đừng khởi lên ác tà kiến, khởi lên
ác tà kiến như vậy là không tốt, sẽ rơi vào đường ác,
đọa vào địa ngục. Chúng Tăng vì lòng từ, muốn làm lợi
ích nên khuyên can thầy. Một lần khuyên can đã xong, còn hai
lần khuyên can nữa, Thầy có bỏ ác tà kiến này không? Nhưng
Thầy vẫn đáp: "[428a] Ðó là cái thấy tốt đẹp, cái thấy
thuần thiện, cha mẹ, thầy giáo của tôi đã kế thừa từ
trước đến nay, đều thấy như vậy. Tôi không thể bỏ". Khuyên
can như vậy một lần không bỏ, cho đến ba lần khuyên can
vẫn không bỏ. Do
vậy, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo: -
Nếu Thi Lợi Da Bà khởi lên ác tà kiến, rồi được khuyên
can ba lần mà không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội
về việc không bỏ ác tà kiến. Người làm yết-ma nên nói
như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Thi Lợi Da Bà khởi
lên ác tà kiến rồi được khuyên can ba lần ở chỗ vắng,
khuyên can ba lần ở chỗ nhiều người, khuyên can ba lần ở
giữa chúng Tăng mà vẫn không bỏ. Nếu thời gian của Tăng
đã đến, Tăng nay làm yết-ma cử tội Thi Lợi Da Bà về việc
không bỏ ác tà kiến. Ðây là lời tác bạch. (bạch xong,
ba lần yết-ma, cho đến) Tăng đã bằng lòng nên im lặng.
Tôi ghi nhận việc nay là như vậy. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo
Ma Lâu Gia Tử khởi lên biên kiến, nói rằng: -
Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên. Các
Tỉ-kheo khuyên: -
Trưởng lão! Thầy đừng khởi lên biên kiến, biên kiến này
là ác kiến, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống địa ngục. Thầy
đáp: -
Ðó là cái thấy tốt, cái thấy thiện; cha mẹ và thầy tôi
từng kế thừa và đều thấy như vậy từ xưa đến nay. Tôi
không thể bỏ. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo các Tỉ-kheo: -
Nếu Tỉ-kheo Ma Lâu Gia Tử khởi biên kiến, nói rằng: - "Thế
giới là hữu biên, thế giới là vô biên", thì nên khuyên
can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người ba
lần và khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần. Khi
khuyên can ở chỗ vắng, nên hỏi: -
Trưởng lão, có thật Thầy khởi lên biên kiến, nói rằng:
"Thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên" không?". Nếu
đáp: "Ðúng như vậy", thì bấy giờ nên khuyên can: "Trưởng
lão, đó là ác kiến, sẽ rơi vào đường ác, đọa xuống
địa ngục. Nay tôi vì lòng từ, muốn được lợi ích nên
khuyên thầy. Một lần khuyên đã xong, còn hai lần khuyên nữa.
Thầy có bỏ biên kiến này không? ". Nếu
đáp: "Ðó là cái thấy tốt, cái thấy thiện. Cha mẹ và thầy
tôi từng kế thừa và đều thấy như vậy từ xưa đến nay,
nên tôi không thể bỏ", thì nên khuyên can như vậy đến lần
thứ hai, thứ ba. Nếu
cũng không bỏ, thì nên khuyên can ở chỗ nhiều người ba
lần cũng như vạây. Nếu vẫn không bỏ, thì nên làm yết-ma
cử tội ở giữa chúng Tăng. Người làm yết-ma nên nói như
sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-kheo Ma Lâu Già Tử này khởi
lên biên kiến, nói: "Thế giới là hữu biên, thế giới là
vô biên", rồi được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên
can ở chỗ nhiều người ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian
của Tăng đã đến, Tăng cũng nên khuyên can ba lần. Bấy
giờ, ở giữa Tăng trước hết nên hỏi: -
Trưởng lão! Có thật thầy khởi lên biên kiến, nói: "Thế
giới là hữu biên, thế giới là vô biên", [428b] rồi được
khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều người
ba lần, mà không bỏ biên kiến này phải không?" Nếu
Thầy vẫn đáp: "Ðúng như vậy", thì bấy giờ nên khuyên
can ở giữa chúng Tăng: "Trưởng lão! Thầy đừng khởi lên
biên kiến. Biên kiến này là ác kiến, phải rơi vào đường
ác, đọa xuống địa ngục. Tăng nay vì lòng từ, muốn được
lợi ích, nên khuyên Thầy. Một lần khuyên đã không xong,
còn hai lần khuyên nữa, Thầy có bỏ biên kiến này không?" Nhưng
thầy vẫn đáp: "Ðó là cái thấy tốt, cái thấy thiện. Cha
mẹ và thầy tôi từng kế thừa và đều thấy như vậy từ
xưa đến nay, nên tôi không thể bỏ." Rồi
được khuyên can đến lần thứ hai, thứ ba cũng như vậy
mà vẫn không bỏ. Do vậy, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo các Tỉ-kheo: -
Nếu Tỉ-kheo Ma Lâu Già Tử này khởi lên biên kiến, rồi
được khuyên can ở chỗ vắng, ở chỗ nhiều người ba lần
mà không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma cử tội về việc không
bỏ biên kiến, như trên đã nói. Ðó gọi là yết-ma cử tội. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-kheo Thi Lợi Da
Bà thường thường phạm tội Tăng già bà thi sa, liền nói
với các Tỉ-kheo: -
Thưa các Trưởng lão, cho tôi pháp Ma-na-đỏa. Các
Tỉ-kheo bèn hỏi: -
Trưởng lão, vì sao thầy xin pháp Ma-na-đỏa? Thầy
đáp: "Vì tôi phạm tội Tăng già bà thi sa. Các
Tỉ-kheo trước đó đã biết Thầy thường phạm tội Tăng
già bà thi sa, nên nói: -
Trưởng lão Thi Lợi Da Bà, Tăng tập trung hòa hợp làm yết-ma
chất vấn, những gì trưởng lão đã phạm thì nên trình bày
tất cả trong một lần yết-ma. Lần thứ hai, thứ ba cũng
nói như vậy. Thế
rồi, Thầy đáp: -
Chính tôi vi phạm tội đó. Nhưng
sau khi làm yết-ma xong, thầy suy nghĩ:
"Vì sao ta đợi làm yết-ma trở lại? Ta nên nói tất cả trong
một lần làm yết-ma", rồi nói với các Tỉ-kheo: -
Thưa các Trưởng lão, cho tôi pháp Ma-na-đỏa. -
Vì sao thầy lại đòi pháp Ma-na-đỏa? -
Vì tôi phạm tội Tăng già bà thi sa. -
Trưởng lão phạm khi nào? -
Phạm vào khi ấy. -
Trước đây chúng tôi đã nói với trưởng lão rằng Tăng
đang tập trung hòa hợp làm yết-ma, trưởng lão có phạm những
gì thì hãy nói ra tất cả trong một lần làm yết-ma, vì sao
không nói? -
Vì tôi hổ thẹn nên không nói ra tất cả. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Thi Lợi Da Bà đến. Khi Thầy đến rồi, Phật
liền hỏi đầy đủ sự kiện trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Này kẻ ngu si! Khi phạm không biết hổ thẹn, khi cầu Thanh
tịnh vì sao lại hổ thẹn? Ðây là việc ác, phi pháp, phi
luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi
lớn thiện pháp được. TRÁCH
NHIỆM CỦA TỈ-KHEO ÐOÁN SỰ. [428c]
Thế rồi, Phật nói với các Tỉ-kheo: -
Khi vị Tỉ-kheo trì Luật cho ai pháp xuất tội, thì họ nói
có tội cũng biết, không tội cũng biết; che giấu cũng biết,
không che giấu cũng biết; phát lồ cũng biết, không phát lồ
cũng biết; nên cho biệt trú cũng biết, không nên cho biệt
trú cũng biết; như pháp cho biệt trú cũng biết, không như
pháp cho biệt trú cũng biết; như pháp hành Ba Lợi Bà Sa cũng
biết không như pháp hành Ba Lợi Bà Sa cũng biết,; nửa chừng
có tội cũng biết, nửa chừng không có tội cũng biết; đêm
gián đoạn cũng biết, đêm không gián đoạn cũng biết; tùy
thuận làm cũng biết, không tùy thuận làm cũng biết; nên
cho pháp Ma-na-đỏa cũng biết, không nên cho pháp Ma-na-đỏa
cũng biết; cho Ma-na-đỏa đúng pháp cũng biết, cho ma-na-đỏa
không đúng pháp cũng biết; hành Ma-na-đỏa rốt ráo cũng biết,
hành Ma-na-đỏa không rốt ráo cũng biết; nên cho pháp xuất
tội cũng biết, không nên cho pháp xuất tội cũng biết; cho
pháp xuất tội đúng pháp cũng biết, cho pháp xuất tội không
đúng pháp cũng biết; cùng che giấu cũng biết, không cùng
che giấu cũng biết; che giấu vô lượng cũng biết, Tỉ-xá-già-cước
cũng biết; hoặc có trường hợp tội hợp mà không phải
đêm hợp; hoặc là đêm hợp mà không phải tội hợp; hoặc
là tội hợp mà đêm cũng hợp; hoặc là tội không hợp mà
đêm cũng không hợp; hoặc tội cũ, tội trung gian. (Ðó gọi
là Tỉ-kheo trì luật). (Lại
nữa) Tỉ-kheo thành tựu bốn pháp sau đây gọi là người
giữ luật. Ðó là: Biết có tội, biết không có tội, biết
tội nặng, biết tội nhẹ. Ðó gọi là bốn pháp. Lại
nữa, thành tựu bốn pháp sau đây gọi là người giữ luật:
Biết có tội, biết không có tội, không xem tội nặng thành
tội nhẹ, không xem tội nhẹ thành tội nặng. Ðó gọi là
bốn pháp. Lại
nữa, thành tựu bốn pháp: Biết có tội, biết không có tội,
không bảo người không có tội là có tội, không bảo người
có tội là không tội. Ðó gọi là bốn pháp. Lại,
thành tựu bốn pháp: Không xem tội nặng là tội nhẹ, không
xem tội nhẹ là tội nặng, không xem người không phạm tội
là phạm tội, không xem người phạm tội là không phạm tội.
Ðó gọi là bốn pháp. Lại,
thành tựu năm pháp sau gọi là người giữ luật: Biết rõ
sự tranh chấp, biết rõ nguyên nhân sự tranh chấp, biết rõ
cách dập tắt sự tranh chấp, biết rõ cách phân biệt về
việc chấm dứt tranh chấp, biết rõ cách dập tắt tranh chấp
làm cho ngưng hẳn. Ðó gọi là năm pháp. Lại,
thành tựu sáu pháp: tức năm việc trên, thêm việc khéo dập
tắt sự tranh chấp đã tích lũy. Ðó gọi là sáu pháp. Lại,
thành tựu bảy pháp: Biết có tội, biết không có tội, biết
tội nặng, biết tội nhẹ, không đem tội nặng làm tội nhẹ,
không đem tội nhẹ làm tội nặng, khéo biết cách làm yết-ma.
[429a] Ðó gọi là bảy pháp. Lại,
thành tựu tám pháp: Tức bảy việc trên, thêm việc biết
rõ tình huống nào nên tụng giới đầy đủ hay giản lược.
Ðó gọi là tám pháp. Lại,
thành tựu chín pháp: Ðó là tám việc trên, tăng thêm việc
khéo tụng giới, khéo biết nghĩa, không quên, hiểu rõ, khéo
biết pháp yết-ma. Ðó gọi là chín pháp. Lại,
thành tựu mười pháp: Tức ngoài chín việc trên, thêm việc
khéo điều phục các căn, phạm hạnh viên mãn, hiểu sâu pháp
yết-ma. Ðó gọi là mười pháp. Lại,
thành tựu năm pháp gọi là người giữ luật. Ðó là: Trì
giới, biết có tội, biết không có tội, biết rõ tình huống
nào nên tụng giới đầy đủ hay giản lược, khéo biết pháp
yết-ma. Ðó gọi là năm pháp. Lại,
thành tựu bốn pháp. Ðó là: Trì giới, biết rõ có tội,
biết rõ không có tội, biết rõ pháp yết-ma. Ðó gọi là
bốn pháp. Lại,
thành tựu ba pháp: Biết có tội, biết không có tội, biết
pháp yết-ma. Ðó gọi là ba pháp. Lại,
thành tựu hai pháp. Ðó là: Biết có tội, biết không có tội.
Ðó gọi là hai pháp. Lại,
thành tựu một pháp. Ðó là: khéo biết pháp yết-ma. Ðó gọi
là người giữ luật, cho đến thành tựu mười bốn pháp
thì gọi là người giữ luật bậc nhất; ngoại trừ đức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri (thì không ai làm được).
Mười bốn pháp đó như sau: 1/ Biết có tội; 2/ Biết không
có tội; 3/ Biết tội nặng; 4/ Biết tội nhẹ; 5/ Biết có
che giấu; 6/ Biết không che giấu; 7/ Biết tội có thể trị;
8/ Biết tội không thể trị;
9/ Biết đã được Thanh tịnh; 10/ Biết chưa được
Thanh tịnh; 11/ Ðược công đức của bốn Thiền, hiện được
an lạc; 12/ Ðược Thiên nhãn, thiên nhĩ và túc mạng thông;
13/ Dứt sạch hữu lậu; 14/ Ðược Vô lậu (hết cấu uế).
Ðó gọi là mười bốn pháp. Người thành tựu mười bốn
pháp này là bậc nhất trong tất cả các người giữ luật,
ngoại trừ Ðức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Phật
nói với các Tỉ-kheo: -
Tỉ-kheo Ưu-ba-li thành tựu mười bốn pháp kể trên, là người
giữ luật bậc nhất, có tội cũng biết, không có tội cũng
biết, cho đến dứt sạch hữu lậu, đạt được vô lậu
tuệ giải thoát. Có
tội cũng biết: tức biết năm thiên tội: Ba-la-di, Tăng già
bà thi sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Việt-Tì-ni. Ba-la-di:
Dâm, trộm, giết người, tự xưng được pháp hơn người. Tăng
già bà thi sa:
Cố ý xuất tinh, xúc chạm người nữ, nói lời ô uế, cho
đến làm hoen ố nhà người ở thôn xóm. Ba-dạ-đề:
Gồm ba mươi Ni-tát-kì, chín mươi hai Ba-dạ-đề thuần túy. Ba-la-đề-đề-xá-ni:
Ở nơi A-luyện-nhã, không bệnh mà nhận Thức ăn của Tỉ-kheo-ni,
ăn Thức ăn do Tỉ-kheo-ni chỉ điểm, khất thực tại nhà
học gia. Việt
Tì-ni: Gồm mười
ba việc như sau: 1)
A-già-dữ; 2) Thâu-lan-giá; 3) Xú Thâu-lan; 4) Không làm; 5) Không
[429b] nói; 6) Ðột-cát-la; 7) Ác thanh; 8) Oai nghi; 9) Phi oai nghi;
10) Ác oai nghi; 11) Ác tà mạng; 12) Ác kiến; 13) Tâm sinh hối
Tì-ni. 1)
A-già-dữ: Như ngoại đạo Thân ma, như Tôn giả Bạt-đà-lợi,
như các Tỉ-kheo-ni ở thành Vương Xá, các trường hợp như
thế đều phải đến Phật sám hối. Ðó gọi là A-già-dữ. 2)
Thâu-lan-giá: Lấy trộm dưới năm tiền, đụng vào vật đáng
giá năm tiền mà chưa dời khỏi chỗ. Ðó gọi là Thâu-lan-giá. 3)
Xú-Thâu-lan: Dùng tâm nhiễm ô đùa giỡn với nam căn. Ðó
gọi là Xú-Thâu-lan. 4)
Không làm: Nếu Hòa Thượng, A-xà-lê bảo làm việc gì mà
đúng pháp thì phải làm; nếu không làm thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu bảo gọi phụ nữ, lấy rượu đến, thì nên nói với
Hòa Thượng, A-xà-lê: "Con nghe nói trong giới luật (việc đó)
không được làm". Ðó gọi là không làm. 5)
Không nói: Nếu Hòa Thượng, A-xà-lê cùng gọi, nghe mà không
đáp, thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu trong miệng đang ngậm
cơm mà giọng nói không thay đổi thì nên đáp. Nếu không
thể đáp được, thì nuốt cơm rồi mới đáp. Nếu Hòa Thượng,
A-xà-lê hỏi như sau: "Vì sao nghe ta gọi mà không trả lời",
thì nên thưa với Hòa Thượng, A-xà-lê: "Trong miệng con đang
ngậm cơm, cho nên không đáp được". Ðó gọi là không nói. 6)
Ðột-cát-la: Như Thế Tôn nói với nhóm sáu Tỉ-kheo Ưu-đà-di
và các Tỉ-kheo khác rằng: "Làm việc đó không tốt". Ðó
gọi là Ðột-cát-la. 7)
Ác thanh: Giả tiếng kêu của voi, tiếng của ngựa, bò, lừa,
lạc đà v.v... , tất cả tiếng của loài súc sinh như thế;
hoặc kéo dài hơi ra rồi kêu đứt đoạn, hoặc kêu gấp rồi
kéo dài ra. Ðó gọi là ác thanh ( tiếng kêu chối tai). 8)
Oai nghi: Sáng sớm Thức dậy nên rửa dọn sạch nơi đại
tiểu tiện, rồi đổ đầy nước tại nơi đại tiểu tiện,
lại phải quét tháp, viện, phòng Tăng. Nếu lấy, cho, làm
các việc, thậm chí buộc một sợi chỉ mà không bạch với
Hòa Thượng y chỉ, A-xà-lê thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là oai nghi. 9)
Phi oai nghi: như sửa tóc, trang điểm mắt, làm đẹp mặt mày,
giũ y, làm cho giải lụa bóng sáng, buộc lưng, hơ bát làm
cho sáng bóng, dùng gương soi mặt. Ðó gọi là phi oai nghi (trái
oai nghi). 10)
Ác oai nghi: Thân có oai nghi xấu, miệng có oai nghi xấu, thân
miệng có oai nghi xấu; thân tai hại, miệng tai hại, thân miệng
tai hại; thân tà mạng, miệng tà mạng, thân miệng tà mạng.
Ðó gọi là ác oai nghi (oai nghi xấu). 11)
Ác tà mạng: Thân quanh co, miệng quanh co, Tâm quanh co, hiện
cử chỉ thân ái để hy vọng người ta cúng dường. Ðó gọi
là ác tà mạng. 12)
Ác kiến: Tất cả các loại kiến giải như thường, đoạn
v.v... , gọi là ác kiến. 13)
Tâm sinh hối Tì-ni: Pháp chúng học oai nghi, tâm niệm ác, không
cố ý mà xúc chạm nữ nhân, đại loại như thế đều gọi
là tâm hối. Ðó gọi là [429c] Tâm sinh hối Tì-ni. CÓ
TỘI CŨNG BIẾT. Lại
nữa, hoặc có tội từ tham dục sinh; hoặc có tội từ giận
dữ sinh; hoặc có tội từ ngu si sinh; hoặc
có tội không từ tham dục, giận dữ, ngu si sinh; hoặc
có tội do hành vi của thân, không phải hành vi của miệng;
hoặc do hành vi của miệng, không phải hành vi của thân; hoặc
do hành vi của thân và miệng, hoặc không phải do hành vi của
thân và miệng; hoặc có tội từ bản thân mình sinh, không
phải từ thân người khác; hoặc từ thân người khác, không
phải từ thân mình; hoặc từ thân mình và thân người khác
sinh; hoặc không phải từ thân mình, cũng không phải thân
người khác; hoặc có tội từ miệng mình sinh, không phải
từ miệng người khác; hoặc có tội từ miệng người khác,
không phải từ miệng mình; hoặc có tội từ miệng mình cũng
từ miệng người khác; hoặc không từ miệng mình cũng không
từ miệng người khác; hoặc có tội căn cứ tâm, không căn
cứ việc; hoặc có tội căn cứ việc, không căn cứ tâm;
hoặc có tội sự nặng, không phải tâm nặng; hoặc có tội
do tâm nặng, không phải sự nặng; hoặc có tội sự nặng,
tâm cũng nặng; hoặc có tội
không phải sự nặng, cũng không phải tâm nặng; hoặc
có tội do vật của mình, không phải do vật người khác;
hoặc có tội do vật người khác, không phải do vật của
mình; hoặc do vật mình, cũng do vật người khác; hoặc có
tội không do vật mình, cũng không do vật người khác; hoặc
có tội tại một chỗ mà phạm nhiều thứ, hoặc tại nhiều
chỗ mà phạm một tội; tại nhiều chỗ phạm nhiều tội;
hoặc tại một chỗ phạm một tội; hoặc từ chỗ không có
tội dẫn đến có tội; hoặc từ chỗ có tội dẫn đến
không tội; hoặc từ chỗ có tội dẫn đến có tội; hoặc
từ chỗ không tội dẫn đến không tội; hoặc từ nguyên
nhân tọâi nặng dẫn đến tội nhẹ; hoặc từ tội nhẹ
dẫn đến tội nặng; hoặc từ tội nặng dẫn đến tội
nặng; hoặc từ tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ; có khi nhận
mà phạm tội, có khi ăn mà phạm tội; sự thành có tội,
không thọ thì có tội, thọ thì không có tội; không thực
hiện thì bị tội, thực hiện thì không bị tội; hoặc có
tội thuộc xóm làng, không thuộc nơi hoang vắng; hoặc có
tội thuộc nơi hoang vắng, không thuộc xóm làng; hoặc có
tội thuộc xóm làng, cũng thuộc nơi hoang vắng; hoặc có tội
không thuộc xóm làng, cũng không thuộc nơi hoang vắng; hoặc
có tội đúng thời, không phải phi thời; hoặc có tội phi
thời, không phải đúng thời; hoặc có tội vừa đúng thời,
vừa phi thời; hoặc có tội vừa không phải đúng thời, vừa
không phải phi thời; hoặc có tội thuộc ban đêm, không phải
ban ngày; hoặc có tội thuộc ban ngày, không phải ban đêm;
hoặc có tội vừa thuộc ban đêm, cũng vừa thuộc ban ngày;
hoặc có tội vừa không phải ban đêm, cũng không phải ban
ngày; hoặc có tội ở chỗ che khuất, không phải chỗ trống
trải; hoặc có tội ở chỗ trống trải, không phải chỗ
che khuất; hoặc có tội vừa ở chỗ che khuất, vừa ở chỗ
trống trải; hoặc có tội không ở chỗ che khuất, cũng không
phải ở chỗ trống trải; hoặc có tội khi đi, không phải
khi đứng; hoặc có tội khi đứng, không phải khi đi; hoặc
có tội [430a] vừa khi đi, vừa khi đứng; hoặc có tội vừa
không phải khi đi, vừa không phải khi đứng; hoặc có tội
khi đứng, không phải khi ngồi; hoặc có tội khi ngồi, không
phải khi đứng; hoặc có tội vừa khi ngồi, vừa khi đứng;
hoặc có tội không phải khi ngồi, không phải khi đứng; hoặc
có tội khi ngồi, không phải khi ngủ; hoặc có tội khi ngủ,
không phải khi ngồi; hoặc có tội vừa khi ngồi, vừa khi
ngủ; hoặc có tội không phải khi ngồi, cũng không phải khi
ngủ; hoặc có tội khi ngủ, không phải khi đi; hoặc có tội
khi đi, không phải khi ngủ; hoặc có tội vừa khi đi, vừa
khi ngủ; hoặc có tội không phải khi ngủ, cũng không phải
khi đi; hoặc có tội ở chỗ vắng, không phải chỗ đông
người; hoặc có tội ở chỗ đông người, không phải ở
chỗ vắng; hoặc có tội vừa ở chỗ vắng, vừa ở chỗ
đông người; hoặc có tội không phải ở chỗ vắng, cũng
không phải ở chỗ đông người; hoặc có tội ở chỗ đông
người mà không phải ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở
chỗ giữa chúng Tăng, không phải chỗ đông người; hoặc có
tội vừa ở chỗ đông người, vừa ở giữa chúng Tăng;
hoặc có tội không phải ở chỗ đông người, cũng không
phải ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở giữa chúng Tăng
mà không phải ở chỗ vắng vẻ; hoặc có tội ở chỗ vắng
vẻ, không ở giữa chúng Tăng; hoặc có tội ở giữa chúng
Tăng, cũng ở chỗ vắng vẻ; hoặc vừa không ở giữa chúng
Tăng, cũng không ở chỗ vắng vẻ; hoặc có tội vào mùa Ðông,
không phải mùa Xuân; hoặc có tội thuộc mùa Xuân, không phải
mùa Ðông; hoặc vừa mùa Ðông, cũng vừa mùa Xuân; hoặc không
phải mùa Ðông, cũng không phải mùa Xuân; hoặc có tội về
mùa Xuân, không phải mùa Hạ; hoặc tội thuộc mùa Hạ, không
phải mùa Xuân; hoặc thuộc mùa Xuân, cũng thuộc mùa Hạ;
hoặc có tội vừa không thuộc mùa Xuân, vừa không thuộc
mùa Hạ; hoặc có tội thuộc mùa Hạ, không phải mùa Ðông;
hoặc thuộc mùa Ðông, không phải mùa Hạ; hoặc thuộc mùa
Hạ, cũng thuộc mùa Ðông; hoặc không thuộc mùa Hạ, cũng
không thuộc mùa Ðông. Có
tội từ dục sinh: Như cố ý đùa giỡn với nam căn, ma xát,
ác khẩu, tự khen mình, làm môi giới, nói với tâm hoàn toàn
nhiễm ô. Ðó gọi là tội sinh ra từ dục. Có
tội từ giận dữ sinh ra: Như vô cớ vu khống, hủy báng,
nói hai lưỡi, đánh người, đuổi đi, biết người khác đã
ăn no mà cố ý xúc não, xua đuổi người khác ở nơi xóm
làng, đánh bằng nắm tay, dơ tay dọa đánh, đứng chỗ khuất
lén nghe. Ðó gọi là tội từ giận dữ sinh ra. Có
tội từ ngu si sinh ra: Do tâm ngu si mà cho rằng thế giới thực
sự là thường hằng, hoặc thế giới là Vô thường, có các
loại kiến giải như thế, đó gọi là tội từ ngu si sinh
ra. Có
tội không do dục, giận dữ và ngu si sinh ra: Như trường hợp
A-la-hán phạm tội. Ðó gọi là tội không do dục, giận dữ
và ngu si sinh ra. Có
tội do thân không phải do miệng: Như ở cùng phòng với người
nữ, ngủ cùng phòng với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm,
ngủ cùng giường, ngồi cùng giường, ăn nhiều chỗ, ăn riêng
chúng, ăn chung một bát. Ðó gọi là tọâi do thân không phải
do miệng. Có
tội do miệng không phải do thân: Nói chung những tội thuộc
về phạm vi miệng. Ðó gọi là tội do miệng, không phải
do thân. Có
tội gồm cả thân và miệng: Như vô cớ vu khống, hủy báng,
nói hai lưỡi, đấu tranh gây rối, đuổi đi, biết người
đã ăn no mà cố tình xúc não, đuổi đi khi ở xóm làng, dùng
tay đánh người, đưa tay dọa đánh, đứng chỗ khuất nghe
lén. Ðó gọi là tội gồm cả thân và miệng. Có
tội không do thân và miệng: Như [430b] các tội từ tâm sinh.
Ðó gọi là tội không do thân và miệng. Có
tội từ thân mình, không phải từ thân người khác: Như nổi
giận tự đánh vào mình. Ðó gọi là tội từ thân mình không
phải từ thân người khác. Có
tội từ thân người khác không phải từ thân mình: Như thấy
người khác phạm tội dâm, trộm, giết người mà che giấu.
Ðó gọi là tội từ thân người khác, không phải từ thân
mình. Có
tội vừa từ thân mình vừa từ thân người khác phát sinh:
Như ngủ cùng nhà với phụ nữ, ngủ với người chưa thọ
cụ túc quá ba đêm, ngủ cùng giường, ngồi cùng giường
với người khác, ăn nhiều chỗ, ăn riêng chúng, ăn chung bát.
Ðó gọi là tội vừa từ thân mình vừa từ thân người khác
phát sinh. Có
tội không từ thân mình, cũng không từ thân người khác:
Như tất cả những tội thuộc lĩnh vực miệng, ngoại trừ
việc dạy người chưa thọ cụ túc đọc bài. Ðó gọi là
tội không từ thân mình, cũng không từ thân người khác. Có
tội từ miệng mình, không phải từ miệng người khác: Tất
cả tội thuộc về miệng, trừ việc dạy người chưa thọ
cụ túc đọc bài. Ðó gọi là tội từ miệng mình, không
phải từ miệng người khác. Có
tội từ miệng người khác không phải từ miệng mình: Nếu
Tăng giải quyết sự việc phi pháp mà Tỉ-kheo không gởi dục,
cũng không cho người khác biết mình không đồng ý, im lặng
lắng nghe. Ðó gọi là tội từ miệng người khác, không phải
từ miệng mình. Có
tội vừa từ miệng mình vừa từ miệng người khác: Như
cùng đọc chung từng câu với người chưa thọ cụ túc. Ðó
gọi là tội vừa từ miệng mình, vừa từ miệng người khác. Có
tội không do miệng mình, cũng không do miệng người khác:
Như các tội từ thân và tâm phát sinh. Ðó gọi là tội không
do miệng mình, cũng không do miệng người khác. Có
tội căn cứ vào tâm không căn cứ vào sự: Như trường hợp
nên hỏi: dùng tâm gì để trộm cắp? Dùng tâm gì để giết
người? Dùng tâm gì để xúc
chạm phụ nữ? Dùng tâm gì để làm hại cỏ tươi?
Dùng tâm gì để đào đất? Ðó gọi là căn cứ vào tâm,
không căn cứ vào sự. Có
tội căn cứ vào sự, không căn cứ vào tâm: Chẳng hạn không
nên hỏi: Dùng tâm gì để hành dâm? Dùng tâm gì để ăn phi
thời? Dùng tâm gì để uống rượu? Dùng tâm gì để ngủ
cùng nhà với người nữ? Dùng tâm gì để ngủ cùng phòng
với người chưa thọ cụ túc quá ba đêm? Nếu phạm thì nên
trị phạt đúng pháp. Ðó gọi là căn cứ vào sự, không căn
cứ vào tâm. Có
tội sự nặng, không phải tâm nặng: Như Tỉ-kheo phi thời
mà cho là đúng thời để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó
gọi là sự nặng, không phải tâm nặng. Có
tội tâm nặng, không phải sự nặng: Tỉ-kheo đúng thời mà
cho là phi thời rồi ăn, thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi
là tội tâm nặng, không phải sự nặng. Có
tội sự nặng, tâm cũng nặng: Như phi thời tưởng là thời
để ăn thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là sự nặng,
tâm cũng nặng. Có
tội sự nhẹ, tâm cũng nhẹ: Như các pháp thuộc chúng học
và oai nghi. Ðó gọi là sự nhẹ, tâm cũng nhẹ. Có
tội từ vật của mình phát sinh, không phải từ vật người
khác: Như Tỉ-kheo cố lấy trộm nhằm vật của chính mình,
thì phạm tội Thâu-lan-giá. Ðó gọi là từ vật của mình
phát sinh, không phải từ vật của người khác. Có
tội từ vật của người khác, không phải từ vật của mình:
Như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật của người khác
dưới năm tiền, [430c] thì phạm tội Thâu-lan-giá, nếu đủ
năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Ðó gọi là từ vật của
người khác phát sinh, không phải từ vật của mình. Có
tội vừa từ vật của mình vừa từ vật của người khác
phát sinh: như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật chung của
mình và người khác dưới năm tiền, thì phạm tội Thâu-lan-giá,
đủ năm tiền thì phạm tội Ba-la-di. Ðó gọi là tội từ
vật của mình và của người phát sinh. Có
tội không phải từ vật của mình, cũng không phải từ vật
của người: Như Tỉ-kheo dùng tâm trộm cắp lấy vật không
có chủ, thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là tội không
phải từ vật của mình, cũng không phải từ vật của người
khác. Có
tội tại một chỗ mà phạm nhiều tội: Như Tỉ-kheo xin tại
một chỗ mà được tám món ăn ngon, rồi ăn mỗi thứ tại
mỗi chỗ, thì phạm tám tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là tại
một chỗ mà phạm nhiều tội. Có
trường hợp tại nhiều chỗ mà phạm một tội: Như Tỉ-kheo
xin tại nhiều chỗ được tám Thức ăn ngon, rồi ngồi ăn
tại một chỗ thì phạm một tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là
tại nhiều chỗ mà phạm một tội. Có
trường hợp tại nhiều chỗ phạm nhiều tội: Như Tỉ-kheo
xin tại tám chỗ được tám món ăn ngon, rồi ăn tám lần,
phạm tám tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là tại nhiều chỗ phạm
nhiều tội. Tại
một chỗ phạm một tội: Như tại một chỗ xin được tám
món ăn ngon, rồi ngồi ăn tại một chỗ. Ðó gọi là tại
một chỗ phạm một tội. Từ
nguyên nhân vô tội mà thành có tội: Như Tỉ-kheo vô tội
mà xin sám hối về tội phạm thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là từ nguyên nhân vô tội mà thành có tội. Từ
nguyên nhân có tội mà thành vô tội: Như làm phòng lớn, phòng
nhỏ, tất cả các loại vải vóc, rồi được ba lần khuyên
can. Ðó gọi là từ nguyên nhân có tội mà thành ra vô tội. Từ
nguyên nhân có tội dẫn đến có tội: Khi Tăng tụng giới,
được hỏi đến ba lần rằng ai có tội thì sám hối như
pháp, ai không có tội thì im lặng, mà bấy giờ người có
tội không làm đúng pháp, lại không nói cho người khác biết,
cũng không thầm nghĩ: "Ðể rồi tôi sẽ sám hối đúng pháp
với người Thanh tịnh và thông cảm", vẫn cứ im lặng, thì
phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là từ nguyên nhân có tội
dẫn đến có tội. Từ
nguyên nhân không có tội dẫn đến không có tội: Như trường
hợp không làm, không phạm. Ðó gọi là từ nguyên nhân không
có tội dẫn đến không có tội. Từ
nguyên nhân tội nặng dẫn đến tội nhẹ:
Như Tỉ-kheo phạm tội Ba-dạ-đề mà đến sám hối với người
ác tà kiến, biên kiến, người bắt buộc phải học (người
đang sám hối tội Ba-la-di). Ðó gọi là từ nguyên nhân tội
nặng dẫn đến tội nhẹ. Từ
tội nhẹ dẫn đến tội nặng: Như Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni
mà đến sám hối với người hủy báng khế kinh, người bắt
buộc phải học, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là từ
tội nhẹ dẫn đến tội nặng. Từ
tôi nặng dẫn đến tôi nặng: Như Tỉ-kheo phạm tội Ba-dạ-đề
mà đến sám hối với người hủy báng khế kinh, người bắt
buộc phải học, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là từ
tội nặng dẫn đến tội nặng. Từ
tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ: Tỉ-kheo phạm tội Việt-tì-ni
mà đến sám hối với người chưa thọ cụ túc, thì không
được gọi là sám hối mà còn phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là từ tội nhẹ dẫn đến tội nhẹ. [431a]
Khi nhận phạm tội: Như nhận thịt sống, lúa thóc, vàng bạc,
voi, ngựa, lạc đà, lừa, bò, dê, nô tì, phụ nữ, ruộng
đất, nhà cửa. Ðó gọi là khi nhận phạm tội. Có
trường hợp khi ăn phạm tội: Như ăn riêng chúng, ăn nhiều
chỗ, ăn cùng bát, ăn trái cây không hợp pháp. Ðó gọi là
khi ăn phạm tội. Việc
thành tựu mà có tội: Như làm phòng nhỏ, phòng lớn, được
khuyên can đến ba lần. Ðó gọi là việc thành tựu mà có
tội. Có
trường hợp không thọ thì có tội, thọ thì không có tội:
Như khi thọ y Ca-thi-na thì được giải tỏa năm giới là:
ăn riêng chúng, ăn nhiều chỗ, đi đâu không cần thưa với
người cùng ăn với mình, cất y dư lâu ngày, rời y mà ngủ.
Ðó gọi là không thọ thì có tội, thọ thì không có tội. Không
thực hiện thì có tội, thực hiện thì không có tội: Khi
Tỉ-kheo được y mới mà không dùng ba màu để nhuộm cho hoại
sắc, hoặc dùng một màu để nhuộm, tác tịnh rồi thọ dụng,
thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ðó gọi là không thực hiện thì
có tội, thực hiện thì không có tội. Có
tội tại xóm làng không phải tại chỗ hoang vắng: Khi vào
xóm làng không mặc y tăng-già-lê, không buộc đai, không cột
dây lưng, không cầm bát, không thưa với người cùng ăn chung,
vào xóm làng lúc phi thời. Ðó gọi là tội tại xóm làng,
không phải tại nơi hoang vắng. Có
tội tại nơi hoang vắng không phải tại xóm làng: Tỉ-kheo
làm bạn với kẻ trộm, hẹn với phụ nữ, Tỉ-kheo-ni cùng
đi chung đường. Ðó gọi là tội tại nơi hoang vắng, không
phải tại xóm làng. Có
tội vừa tại nơi hoang vắng, vừa tại xóm làng: Ðấm người
bằng nắm tay, đưa tay dọa đánh người. Ðó gọi là tội
vừa tại nơi hoang vắng, vừa tại xóm làng. Có
tội không phải nơi hoang vắng, không phải xóm làng: Tội
xảy ra ở nơi cửa vua. Ðó gọi là tội không phải nơi hoang
vắng, cũng không phải tại xóm làng. Có
tội đúng thời chứ không phải phi thời:
Như ăn riêng chúng, ăn tại nhiều nơi, ăn chung một bát, moi
dưới bát mà ăn, ăn tám món ngon, ăn trái cây chưa tác tịnh.
Ðó gọi là tội đúng thời, chứ không phi thời. Có
tội phi thời chứ không phải đúng thời:
Phi thời đi vào xóm làng mà không bạch, ăn phi thời, đi giáo
giới Tỉ-kheo-ni đến chiều tối. Ðó gọi là tội phi thời
chứ không phải đúng thời. Có
tội vừa đúng thời, mà vừa phi thời: Như dùng tay đánh
người, huơ tay dọa đánh. Ðó gọi là tội vừa đúng thời,
vừa phi thời. Có
tội vừa phi thời, vừa không phải phi thời: như phạm tội
đúng vào giữa trưa. Ðó gọi là tội vừa phi thời, vừa
không phải phi thời. Có
tội thuộc ban đêm, không phải ban ngày: Như ngủ cùng một
nhà với người nữ, ngủ với người chưa thọ cụ túc quá
ba đêm, giáo giới Tỉ-kheo-ni cho đến chiều tối. Ðó gọi
là tội thuộc ban đêm, không thuộc ban ngày. Có
tội thuộc ban ngày, không thuộc ban đêm: Như ăn riêng chúng,
cho đến ăn trái cây không hợp pháp. Ðó gọi là tội thuộc
ban ngày, không thuộc ban đêm. Có
tội vừa thuộc ban ngày, vừa thuộc ban đêm: Như dùng tay
đánh người, huơ tay dọa đánh. Ðó gọi là tội vừa thuộc
ban ngày, vừa thuộc ban đêm. Có
tội vừa không thuộc ban ngày, vừa không thuộc ban đêm: Như
tội xảy ra lúc rạng đông. Ðó gọi là tội vừa không thuộc
ban ngày, vừa không thuộc ban đêm.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||