| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ HAI. 25/
Quan Viên. Khi
Phật an trú tại vườn Trúc Ca Lan Ðà, nơi Thành Vương Xá,
nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỉ-Kheo độ một quan viên
xuất gia, Thọ cụ túc. Viên quan hình sự thấy thế, liền
bắt Tỉ-Kheo tống đến chỗ quan tòa, nói như sau: "Vị Sa-môn
nầy lén độ quan viên". Vị
quan tòa nói: "Ðem Hòa Thượng ra bẻ gãy ba xương sườn, [420a]
dẫn giới sư đến kéo lưỡi ra, lôi thập sư ra đánh mỗi
người tám roi. Còn kẻ Thọ cụ túc kia thì dùng cực hình
trị tội". Khi
đám đông đang hộ tống các tội nhân ra khỏi thành thì nhằm
lúc vua Tần Bà Ta La trên đường đi đến Thế Tôn, trông
thấy đám đông nầy, vua liền hỏi tả hữu: "Ðó là những
người nào vậy?". Quân
hầu liền đem sự việc kể trên tâu đầy đủ với vua. Vua
nghe xong, giận dữ cực độ, liền ra lệnh thả ra, nói: "Từ
nay về sau, ai muốn xuất gia thì cho phép Thầy được tiếp
độ". Ðoạn,
vua bảo gọi quan tòa đến. Khi y đến, vua hỏi: -
Trong nước nầy ai là vua? -
Ðại vương là vua. -
Nếu Trẫm là vua thì vì sao ngươi trị tội người mà không
tâu với Trẫm? Ðoạn,
vua ra lệnh quan hữu Ty cách chức viên quan tòa, đồng thời
tịch thu hết tài sản sung vào công khố. Quan hữu Ty liền
thi hành mệnh lệnh của vua, lột chức quan của y, và tịch
thu hết tài sản của y nhập vào công khố. Các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-Kheo: --"Ước
gì tất cả các vì vua đều có lòng tin như thế! Từ nay về
sau, Ta không cho phép thu nhận quan chức xuất gia. Quan chức
có bốn loại: 1/ Hoặc có danh mà không có bổng lộc; 2/ Hoặc
có bổng lộc mà không có danh; 3/ Hoặc vừa có bổng lộc
vừa có danh; 4/ Hoặc không có danh, không có bổng lộc. Trong
đây, có danh mà không có bổng lộc, có danh và có bổng lộc,
thì ở nước nầy không cho xuất gia và các nước khác cũng
không cho. Còn loại có bổng lộc mà không có danh thì ở đây
không cho, nhưng ở nơi khác thì cho. Còn hạng không có danh,
không có bổng lộc thì ở đây cho và các nơi khác cũng cho.
Tóm lại, không nên cho quan chức xuất gia, (cho đến...) phạm
tội Việt-tì-ni". Ðó gọi là quan chức. 26/
Kẻ mắc nợ. Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ-Kheo độ kẻ mắc nợ xuất gia. Chủ nợ gặp được,
liền thôïp cổ đem đến quan tòa, nói: "Người nầy mắc
nợ tôi chưa trả mà xuất gia". Viên
quan tòa vốn có lòng tin Phật pháp, bèn nói với chủ nợ:
"Người nầy đã xả bỏ tài sản xuất gia, vì sao lại mắc
nợ?", liền tha cho đi. Chủ
nợ bèn than trách: "Người nầy vốn đang mang nợ của tôi
chưa trả, vì sao Sa-môn Thích tử lại cho y xuất gia? Ðây
là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!". Các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-Kheo ấy đến. Khi Thầy đến rồi, Phật
liền hỏi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. --
Từ nay về sau, những người mắc nợ không nên cho xuất gia.
Nếu họ đến định xin xuất gia thì trước hết phải hỏi:
"Ngươi có mắc nợ người ta không?". Nếu nói: "Có mắc nợ,
nhưng nhà tôi có vợ con ruộng đất tài sản, tôi sẽ trả",
thì nên cho xuất gia. Nếu nói: "Không mắc nợ", thì nên cho
xuất gia. [420b] Sau khi xuất gia mà chủ nợ đến đòi, nếu
món nợ ít thì lấy y bát của người ấy trả cho chủ nợ.
Nếu không đủ thì phải đem y bát của mình mà trả. Hoặc
xin thêm để giúp vào mà trả. Nếu số nợ nhiều không thể
trả nổi, thì nên nói: "Trước đây ta đã hỏi ngươi có
mắc nợ hay không thì ngươi nói là không mắc nợ, vậy ngươi
hãy tự đi xin tiền của để trả nợ người ta". Tóm lại,
người mắc nợ không nên cho xuất gia. nếu đã xuất gia thì
không nên đuổi đi. Cho đến... phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là mắc nợ. 27/
Bị bệnh. Khi
Phật an trú tại vườn Trúc Ca Lan Ðà, thành Xá-vệ, nói rộng
như trên. Bấy giờ, có một người bệnh đến chỗ lương
y Kỳ-vức, nói như sau: -
Kỳ-vức, trị bệnh cho tôi rồi Tôi sẽ trả cho ông năm trăm
lượng vàng và hai cây lụa mỏng. -
Tôi không thể trị. Tôi chỉ trị cho hai hạng bệnh nhân:
Một là đức Phật, Tỉ-Kheo Tăng; hai là nhà vua và các phu
nhân hậu cung của vua. Người
bệnh liền đi đến phòng Nan Ðà, Ưu Ba nan Ðà. Tới rồi,
Nan Ðà hỏi: -
Lão trượng, bốn đại có điều hòa không? -
Bị bệnh, không được điều hòa. Tôi đến chỗ Kỳ-vức,
dùng năm trăm lượng vàng, hai cây lụa mỏng thuê ông trị
bệnh mà ông không chịu trị, lại nói: "Tôi chỉ trị hai
hạng bệnh nhân: Phật, Tỉ-Kheo Tăng và nhà vua cùng các phu
nhân hậu cung". -
Ông bỏ năm trăm lượng vàng, hai cây lụa mỏng làm chi cho
uổng. Ông chỉ cần bỏ hai thứ: một là bỏ tóc, hai là bỏ
y phục thế tục là được. -
Thưa Thầy, thầy muốn Tôi xuất gia sao? -
Dĩ nhiên. Nan
Ðà liền độ ông ta xuất gia cho Thọ cụ túc. Thế rồi,
sáng sớm thầy khoác y thường mặc, đi đến nhà Kỳ-vức,
nói như sau: -
Ðồng tử, tôi có đệ tử đồng hành bị bệnh, hãy trị
giúp giùm tôi. -
Ðược thôi. Con định đem thuốc đến đây. Kỳ-vức
bèn mang thuốc đến tu viện, thấy người bệnh, ông nhận
diện ra ngay, liền hỏi: -
Tôn giả đã xuất gia rồi sao? -
Vâng. -
Tốt lắm. Giờ tôi sẽ trị bệnh cho Thầy. Thế
rồi, Kỳ-vức liền dùng thuốc chữa trị. Khi trị lành còn
đem hai cây lụa mỏng cúng dường và cầu chúc: "Mong tôn giả
hãy sống trong Phật pháp tịnh tu phạm hạnh". Người
bệnh ấy nhận vật cúng dường rồi liền bãi đạo, cởi
áo ca sa, mặc hai tấm lụa mỏng, đi vào trong đường hẻm,
chửi xéo như sau: "Lương y Kỳ-vức có rất nhiều con. Tôi
đem năm trăm lượng vàng, hai cây lụa mỏng thuê ông trị
bệnh mà ông không chịu trị. Nhưng khi thấy tôi xuất gia
liền chữa trị, lại còn cúng dường nữa chứ". Kỳ-vức
nghe thế, lòng rất căm hận, liền đi đến chỗ Thế Tôn,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên, bạch
với Phật: "Bạch Thế Tôn, người bệnh kia nhờ con mới được
sống mà trái lại còn nhục mạ con. Bạch Thế Tôn, con là
Ưu-bà-tắc, vì muốn cho Phật pháp được tăng trưởng, kính
xin Thế Tôn từ nay về sau đừng cho các Tỉ-Kheo [420c] độ
người bệnh xuất gia". Bấy
giờ, Thế Tôn vì đồng tử Kỳ-vức tùy thuận thuyết pháp,
chỉ bảo những điều lợi ích, khiến ông hoan hỉ, đảnh
lễ dưới chân rồi ra đi. Thế rồi, Thế Tôn đi đến chỗ
có đông các Tỉ-Kheo, trải tọa cụ ngồi, thuật lại đầy
đủ sự việc kể trên cho các Tỉ-Kheo nghe. Ðoạn, Phật nói: --"Từ
này về sau, những người bệnh không nên cho xuất gia. bệnh
nghĩa là bệnh ghẻ, bệnh lở lóet, bệnh hủi, bệnh ung thư,
bệnh trĩ, bệnh đái tháo, bệnh vàng da, bệnh sốt rét, bệnh
suyển, bệnh gầy còm, bệnh điên cuồng, bệnh nhiệt, bệnh
phong thũng, thủy thũng, bụng chướng v.v..., nói chung, nếu
uống thuốc chưa bình phục thì không nên cho xuất gia. Nếu
bệnh sốt rét trong vòng từ một đến bốn ngày mà không
tái phát thì nên cho xuất gia. Tóm lại, nếu là người bệnh
thì không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không nên
đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, Thọ cụ túc thì phạm
tội Việt-tì-ni". Ðó gọi là bệnh. 28/
Ngoại đạo. Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có Tỉ-Kheo độ ngoại đạo xuất gia. Sau khi xuất gia, hễ
ai nói về những thói xấu của ngoại đạo như: Ngoại đạo
không có lòng tin, tà kiến, phạm giới, không có tàm quí.
Khi nghe chê bai về những thói xấu của ngoại đạo như thế,
thì ông ta liền bênh vực: "Nầy trưởng lão, chớ nói như
thế. Trong hàng ngũ ấy cũng có những bậc hiền Thiện, cũng
giữ giới. Tất cả đều đạt được Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm và A-la-hán". Các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-Kheo ấy đến. Khi Thầy đến rồi, Phật
liền hỏi lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. --
Vì sao ngoại đạo chưa được thử thách mà ông cho họ xuất
gia? Từ nay về sau, nếu ngoại đạo chưa được thử thách,
thì không nên cho xuất gia. Nếu ngoại đạo đến xin xuất
gia thì phải cho họ sống chung trong bốn tháng để thử thách.
Vị Tỉ-Kheo nhận họ phải bạch Tăng. Khi bạch Tăng rồi,
trước hết Tăng nên cho vị ấy pháp yết-ma cầu thính, rồi
sau mới cho cầu xin. Người làm yết ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp ngoại đạo muốn xuất
gia theo giáo pháp của Như Lai. Nếu thời gian của Tăng đã
đến, Tăng nay cho mỗ giáp ngoại đạo xin sống bốn tháng
trong Tăng để thử thách. Xin
các đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp ngoại đạo muốn
xin sống bốn tháng trong Tăng để thử thách. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng, việc nầy tôi ghi nhận như
vậy. Thế
rồi người nầy phải theo Tăng xin như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Con là ngoại đạo mỗ giáp,
muốn xuất gia Thọ cụ túc trong giáo pháp của đức Như Lai.
Con là mỗ giáp theo Tăng xin sống bốn tháng thử thách. Kính
xin chư đại đức Tăng thương xót cho con sống bốn tháng.
(xin như vậy ba lần). Thế
rồi, Thầy yết-ma nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. [421a] Ngoại đạo mỗ giáp muốn
xuất gia, Thọ cụ túc trong giáo pháp Như Lai, đã xin Tăng
bốn tháng thử thách. Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay
Tăng cho ngoại đạo mỗ giáp sống bốn tháng thử thách. Ðây
là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Ngoại đạo mỗ giáp muốn xuất
gia Thọ cụ túc trong giáo pháp của đức Như Lai, đã theo
Tăng xin bốn tháng thử thách. Tăng nay cho ngoại đạo mỗ
giáp sống bốn tháng thử thách. Ðại đức nào bằng lòng
Tăng cho ngoại đạo mỗ giáp sống bốn tháng thử thách thì
im lặng; ai không bằng lòng hãy nói. Tăng
đã bằng lòng cho ngoại đạo mỗ giáp sống bốn tháng thử
thách xong, vì Tăng đã im lặng. Việc nầy tôi ghi nhận như
vậy. Sau
khi làm yết-ma xong, nếu người nầy có thể theo Tăng làm
các công việc như Sa-di, thì xếp dưới Sa-di theo thứ tự
lấy thức ăn. Nếu không thể làm việc được thì nên bảo:
"Ông tự tìm lấy Thức ăn". Thế rồi, hằng ngày nên chỉ
trích ngoại đạo ở trước mặt y như sau: Ngoại đạo không
có niềm tin, tà kiến, phạm giới, không biết hổ thẹn v.v.
khi chỉ trích các điểm như vâïy mà y nói: "Trưởng lão đừng
nói như vậy, trong hàng ngũ ấy cũng có người hiền Thiện,
có người giữ giới, tất cả đều đạt được quả Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán", thì nên nói với y: "Ngươi
hãy trở về nơi đó mà cầu A-la-hán". Nếu y nói: "Ðúng như
Trưởng lão nói, ngoại đạo có tà kiến, (cho đến...) không
biết xấu hổ, gây nghiệp địa ngục, xin Trưởng lão hãy
cứu vớt con". Ðồng thời qua bốn tháng thử thách mà tâm
y bất động không dời đổi thì nên cho xuất gia. Nếu nửa
chừng mà được Thánh pháp thì chấm dứt sự thử thách.
Nếu người ấy bỏ hình thức ngoại đạo mặc sắc phục
của người đời đến xin xuất gia thì nên cho xuất gia. Nếu
họ mặc hình thức ngoại đạo đến mà không cho bốn tháng
thử thách, liền cho xuất gia, Thọ cụ túc, thì phạm tội
Việt-tì-ni. Ðó gọi là ngoại đạo . 29/
Trẻ con. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, bên cây ni-câu-luật,
nước Ca-duy-la-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có đồng
tử con nhà họ Thích cha mẹ không cho mà các Tỉ-Kheo độ
cho xuất gia. Sau đó, các đứa con còn lại khi cha mẹ dạy
bảo, thì chúng giận dữ, nói: "Ðức Thế Tôn lúc sắp trở
thành Chuyển Luân Thánh Vương, còn bỏ nhà xuất gia, con còn
luyến tiếc điều gì mà không xuất gia?". Khi ấy, các người
họ Thích liền đến chỗ vua Bạch Tịnh tâu rằng: "Tâu đại
vương, con của tôi không cho mà các Tỉ-Kheo độ cho xuất
gia, cho nên những đứa còn lại không thể dạy bảo được.
Nếu có dạy bảo chúng, thì chúng hậm hực, nói: "Ðức Thế
Tôn khi sắp trở thành Chuyển Luân Thánh Vương mà còn bỏ
đi xuất gia, thì con còn luyến tiếc điều gì mà không xuất
gia?". Kính mong đại vương đến Thế Tôn xin một nguyện vọng:
"Nếu cha mẹ không cho thì đừng cho xuất gia". Khi
ấy, vua Bạch Tịnh cùng với các người họ Thích đến chỗ
Thế Tôn [421b], cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi
qua một bên. Ðoạn, nhà vua bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn,
các đồng tử dòng họ Thích cha mẹ không cho mà các Tỉ-Kheo
cho xuất gia. Cho nên những đứa còn lại nếu có dạy bảo
điều gì thì chúng hậm hực đòi xuất gia, nói: "Ðức Thế
Tôn sắp đạt địa vị Chuyển Luân Thánh Vương mà còn bỏ
đi xuất gia, vậy thì con còn luyến tiếc thứ gì mà không
xuất gia?" Bạch Thế Tôn, cha mẹ nghĩ đến con nhớ thương
thấu suốt xương tủy. Tôi cũng đã từng như vậy. Trong thời
gian bảy năm Thế Tôn xuất gia, khi ngồi đứng, ăn uống,
không lúc nào là tôi không
thầm khóc. Kính mong Thế Tôn chế định: Nếu cha mẹ
chưa cho phép thì các Tỉ-Kheo đừng cho xuất gia". Bấy
giờ đức Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp cho vua Bạch
Tịnh, khiến vua phát tâm hoan hỉ, đoạn, vua cúi đầu đảnh
lễ chân Thế Tôn, rồi ra đi. Khi vua đi không bao lâu, Thế
Tôn liền đến chỗ đông đúc các Tỉ-Kheo, trải tọa cụ
ngồi, tường thuật lại đầy đủ sự việc kể trên cho
các Tỉ-Kheo. Rồi Phật nhấn mạnh: --"Từ
nay về sau (đứa con nào) cha mẹ không cho phép thì không nên
cho xuất gia. Con gồm có ba loại: Con ruột, con nuôi và con
đến (xin làm con nuôi). Con ruột: tức là con do cha mẹ sinh.
Con nuôi: tức cha mẹ xin trẻ con còn nhỏ đem về nuôi dưỡng.
Con tự đến: tức người tự đến nương tựa xin làm con.
Ở đây, con ruột thì nước nầy không cho phép (cha mẹ không
cho mà độ họ xuất gia) mà các nước khác cũng không cho
phép. Còn con nuôi và con tự đến xin nương tựa, thì nước
nầy không cho phép, nhưng các nước khác thì cho phép. Tóm
lại, nếu đứa con cha mẹ không cho thì không nên cho xuất
gia. Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ
họ xuất gia, Thọ cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là con. 30/
Ðầy tớ. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, dưới cây Ni-câu-luật,
nước Ca-duy-la-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có một người
đầy tớ của dòng họ Thích, chủ nhà không đuổi mà các
Tỉ-Kheo độ y xuất gia. Do thế, bọn đầy tớ còn lại khi
được chủ nhà dạy bảo, phân công công việc, chúng không
chịu phục tùng mà hậm hực, nói: "Tôn giả Xiển Ðà mà
còn xuất gia, thì tôi còn luyến tiếc thứ gì, thà bỏ đi
xuất gia còn được người ta lễ bái cung kính cúng dường". Khi
ấy, các người họ Thích bèn đi đến chỗ vua Bạch Tịnh,
tâu: "Thưa đại vương, bọn gia nô của chúng tôi, chúng tôi
không đuổi mà các Tỉ-Kheo độ họ xuất gia. Do thế, số
còn lại khi được phân công công việc thì chúng hậm hực,
nói: "Tôn giả Xiển Ðà mà còn xuất gia thì tôi còn luyến
tiếc thứ gì; bỏ đi xuất gia còn được người ta lễ bái
tôn kính cúng dường". Thưa đại vương, dòng họ Thích chúng
tôi có nhiều đầy tớ dùng để sai khiến làm các công việc.
Kính mong đại vương đến Phật, cầu xin một nguyện vọng:
những đầy tớ nào chủ không đuổi thì đừng cho xuất gia".
Thế rồi, vua Bạch Tịnh cùng với các người họ Thích đi
đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi sang một bên, đem sự việc kể trên bạch đầy đủ
với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chế định rằng
từ nay về sau những nô bộc nào chủ không đuổi thì các
Tỉ-Kheo đừng cho xuất gia". [421c]
Khi ấy, đức Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp cho vua Bạch
Tịnh, khiến ông phát tâm hoan hỉ, rồi vua cúi đầu đảnh
lễ chân Thế Tôn mà ra về. Khi vua đi không bao lâu, Thế Tôn
bèn đi đến chỗ có đông Tỉ-Kheo, trải tọa cụ ngồi, trình
bày lại đầy đủ sự việc kể trên với các Tỉ-Kheo. Ðoạn,
Phật nói: --"Từ
nay về sau, những nô bộc nào chủ không đuổi thì không nên
cho xuất gia. Nô bộc gồm có năm loại: Sanh ra từ trong nhà;
mua về; bắt được; người ta cho; tự đến. 1)
Sinh ra từ trong nhà: Do tì thiếp trong nhà sinh ra.
Ở
trong đây, ba loại đầy tớ: sinh từ trong nhà, mua về và
bắt được thì ở đây không cho phép (nếu chủ không đuổi
thì không được độ xuất gia) mà
các nơi khác cũng không cho phép. Còn hai loại: do người
ta cho, tự đến làm nô bộc, thì ở đây không cho phép, nhưng
ở các nơi khác thì cho phép. Tóm lại, nếu gia chủ không
đuổi thì không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không
nên đuổi đi. Nếu ai cho họ xuất gia Thọ cụ túc thì phạm
tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là đầy tớ. 31/
Thân thể dị dạng. Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
các Tỉ-Kheo độ những người mà các phần trên thân thể
dị dạng xuất gia, bị người đời chê cười rằng: "Vì
sao Sa-môn Thích tử lại độ những người thân thể dị dạng?
Người xuất gia lẽ ra thân thể phải hoàn hảo, đây là hạng
người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!". Các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Tỉ-Kheo ấy đến. Khi Thầy đến rồi, Phật
liền hỏi lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, những người thân thể dị dạng không nên
cho xuất gia. Thân thể dị dạng nghĩa là mắt lé, lưng gù,
chân què, gót lệch, răng hô, đầu bự; những người có thân
thể dị dạng như vậy không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất
gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia Thọ
cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi là thân thể dị
dạng. 32/
Hình dáng xấu xí. Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, nói rộng như trên, được
chư Thiên và người đời cúng dường. Bấy giờ, các Tỉ-Kheo
độ những người có hình dáng xấu xí xuất gia, như quá
đen, quá trắng, quá vàng, quá đỏ, quá cao, quá lùn, quá lớn,
quá bé, bị người đời chê cười rằng: "Vì sao Sa-môn Thích
tử lại độ những kẻ có hình dáng xấu xí xuất gia? Người
xuất gia thì hình dáng phải đoan trang, mà những người nầy
thì hình dáng xấu xí, không ai thích nhìn cả. Ðây là hạng
người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!". Lại có người
chế nhạo: "Những Sa-môn nầy chỉ có hai hạng người họ
không độ mà thôi, một là người chết, hai là người không
thích xuất gia. Nếu không độ thì đồ chúng không tăng trưởng". [422a]
Các Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Tỉ-Kheo ấy đến. Khi Thầy đến, Phật
liền hỏi lại đầy đủ sự kiện kể trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. --Từ
nay về sau, những người có hình dáng xấu xí không nên độ
xuất gia. Hình dáng xấu xí nghĩa là quá đen, quá trắng, quá
vàng, quá đỏ, quá cao, quá lùn, quá thô, quá bé. Vì lẽ,
những kẻ có hình dáng xấu xí thì khi người ta vui vẻ còn
không muốn nhìn, huống gì khi người ta tức giận. Do đó,
những người có hình dáng xấu xí không nên cho xuất gia.
Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ
xuất gia Thọ cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi
là những hình dáng xấu xí. Nếu
rơi vào trong 32 trường hợp trên thì không thể gọi là Thọ
cụ túc. Trái lại, nếu thanh tịnh, như pháp thì gọi là Thọ
cụ túc. Bây
giờ đề cập đến vấn đề yết-ma và việc yết-ma. YẾT-MA. Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, các Tỉ-Kheo ở Chiêm Ba nổi
lên tranh chấp, sống không hòa hợp. Một Tỉ-Kheo cử tội
một Tỉ-Kheo, hai Tỉ-Kheo cử tội hai Tỉ-Kheo, nhiều Tỉ-Kheo
cử tội nhiều Tỉ-Kheo. Các Tỉ-Kheo bèn đem sự kiện ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không
cho phép một người cử tội một người, cho đến nhiều
người cử tội nhiều người". Ðoạn, Phật nói với các
Tỉ-Kheo: "Từ nay về sau nên làm yết-ma. Yết-ma
gồm có: bốn loại yết-ma, hai loại yết-ma, một lần bạch
một lần yết-ma, một lần bạch ba lần yết-ma, bốn người
làm yết-ma, năm người làm yết-ma, mười người làm yết-ma,
hai mươi người làm yết-ma, nếu thành tựu năm điều phi
pháp, không hòa hợp thì làm yết-ma xong phải sám hối; nếu
thành tựu năm điều như pháp, hòa hợp thì làm yết-ma xong
không sám hối". 1/
Bốn loại yết-ma:
gồm có: phi pháp hòa hợp yết-ma; như pháp bất hòa hợp yết-ma;
như pháp hòa hợp yết-ma; bất như pháp bất hòa hợp yết-ma.
Ðó gọi là bốn loại yết-ma. 2/
Hai loại yết-ma:
Bố-tát yết-ma; cung kính yết-ma. Ðó gọi là hai loại yết-ma. 3/
Một lần bạch một lần yết-ma:
Gồm có hai mươi tám vấn đề, đó là: 1) Xuất yết-ma; 2)
Ngủ không lìa y; 3) Ngủ rời y; 4) Chỉ chỗ làm phòng; 5) Chỉ
chỗ làm phòng lớn; 6) Chỉ chỗ làm phòng trước; 7) Người
chia bát; 8) Người chia thăm (thẻ); 9) Thử nghiệm ngoại đạo;
10) Cột túi xách vào gậy vác đi; 11) Trông coi giường nệm;
12) Trông coi việc nấu ăn; 13) Trông coi việc phân phối người
đi ăn; 14) Trông coi việc chia phòng; 15) Trông coi việc giữ
y; 16) Trông coi việc thưởng y; 17) Trông coi việc chia y; 18)
Trông coi việc lấy vải; 19) Trông coi việc cắt vải; 20) Trông
coi việc chia vải; 21) Trông coi việc chia hoa; 22) Trông coi việc
chia hương; 23) Trông coi việc chia quả; 24) Trông coi việc chia
nước nóng; 25) Trông coi việc chia bánh; 26) Trông coi việc
tùy ý cử tội; 27) Trông coi việc chia cháo; 28) Trông coi việc
chia các vật lặt vặt. Ðó gọi là 28 việc. 4/
[422b] Một lần bạch ba lần yết-ma:
Gồm có tám trường hợp, đó là: 1) Chiết phục; 2) Không
nói; 3) Tẫn xuất; 4) Phát hỉ; 5) Cử tội; 6) Biệt trú; 7)
Ma-na-đỏa; 8) Xuất tội. Ðây thuộc về một lần bạch ba
lần yết-ma. 5/
Yết-ma gồm bốn người:
Như Yết-ma Bố-tát và các trường hợp cử người thì bốn
người có thể làm được. Ðó gọi là yết-ma gồm bốn người. 6/
Yết-ma gồm năm người:
Gồm các trường hợp: Thọ Tự tứ; Thọ cụ túc ở Thâu-na
biên địa; tất cả các tội Ni-tát-kì thì năm người có
thể làm được. Ðó gọi là yết-ma gồm năm người. 7/
Yết-ma gồm mười người:
Gồm các trường hợp: Tỉ-Kheo Thọ cụ túc; Tỉ-Kheo-ni thọ
cụ túc, thì mười người được làm. Ðó gọi là yết-ma
gồm mười người. 8/
Yết-ma gồm hai mươi người:
Xuất tội Tỉ-Kheo, xuất tội Tỉ-Kheo-ni (?) thì hai mươi người
được làm. Ðó gọi là yết-ma gồm hai mươi người. 9/
Làm yết-ma trong năm trường hợp phi pháp thì làm xong phải
sám hối: 1)
Ðương sự không hiện diện; 2) Không hỏi; 3) Không nêu lỗi;
4) Làm phi pháp; 5) Không hòa hợp. Ðó gọi là làm yết-ma trong
năm trường hợp phi pháp, làm xong phải sám hối. 10/
Làm yết-ma trong năm trường hợp như pháp, làm xong không sám
hối: 1) Ðương
sự hiện diện; 2) Có hỏi; 3) Hỏi xong bèn nêu lỗi; 4) Làm
đúng pháp; 5) Tăng hòa hợp. Ðó gọi là làm yết-ma thuộc
năm trường hợp đúng pháp, làm xong không sám hối. Trường
hợp nào cần hai mươi người làm yết-ma thì mười người
làm không thành tựu. Trường hợp cần mười người làm yết-ma
thì năm người làm không thành tựu. Trường hợp cần năm
người làm yết-ma thì bốn người làm không thành tựu. Trường
hợp cần một lần bạch ba lần yết-ma thì một lần tác
bạch không thành tựu. Trường hợp cần một lần bạch một
lần yết-ma thì một lần bạch không thành tựu. Trường hợp
đơn bạch yết-ma mà làm yết-ma cầu thính thì không thành
tựu. Trái
lại, cần làm yết-ma cầu thính mà tác bạch thì thành tựu.
Cần tác bạch yết-ma mà bạch nhất yết-ma thì thành tựu.
Cần bạch nhất yết-ma mà bạch Tam yết-ma thì thành tựu.
Cần làm yết-ma với bốn người mà làm yết-ma với năm người
thì thành tựu. Cần làm yết-ma với năm người mà làm yết-ma
với mười người thì thành tựu. Cần làm yết-ma với mười
người mà làm yết-ma với hai mươi người thì thành tựu.
Ðó gọi là yết-ma. VIỆC
YẾT-MA 1/
Việc yết-ma Tỉ-Kheo Thọ cụ túc; 2/ Việc yết-ma Tỉ-Kheo-ni
Thọ cụ túc; 3/ Việc yết-ma Chi mãn; 4/ Việc yết-ma già pháp
thanh tịnh; 5/ Việc yết-ma bất cụ túc thanh tịnh; 6/ Việc
yết-ma không sinh giới; 7/ Việc yết-ma tội căn; 8/ Việc yết-ma
không xả căn; 9/ Việc yết-ma xả căn; 10/ Việc yết-ma hòa
hợp căn. 1/
Việc yết-ma Tỉ-Kheo Thọ cụ túc: Người
Thọ cụ túc cầu xin Hòa Thượng; Hòa Thượng dạy tìm y bát;
dạy cầu Tăng chúng; dạy cầu giới sư; dạy cầu Thầy giáo
Thọ dạy bảo ở chỗ thanh vắng. Do các việc ấy phát sinh
ra yết-ma và bạch yết-ma. Hai vấn đề nầy [422c] đều thuộc
về việc yết-ma Thọ cụ túc của Tỉ-Kheo. 2/
Việc yết-ma Tỉ-Kheo-ni Thọ cụ túc: Khi
Tỉ-Kheo-ni cho giới tử Thọ cụ túc xong, liền dẫn đến
giữa chư Tăng, Tăng nên hỏi Tỉ-Kheo-ni:
"Giới tử thanh tịnh, không có già nạn đấy chứ?"
Giới sư Ni đáp: "Thanh tịnh". Do các việc ấy phát sinh yết-ma
và bạch yết-ma. Hai việc đó đều thuộc về trường hợp
yết-ma khi Tỉ-Kheo-ni Thọ cụ túc. 3/
Việc yết-ma chi mãn: Người
Thọ giới cụ túc đã cầu Hòa Thượng, Hòa Thượng đã dạy
tìm y bát, dạy cầu thỉnh chúng Tăng, dạy cầu thỉnh giới
sư, dạy cầu thỉnh Thầy giáo Thọ để dạy bảo ở chỗ
thanh vắng, Thầy giáo Thọ dẫn giới tử vào giữa Tăng, xin
Tăng Thọ cụ túc, hỏi về các già nạn, nói về bốn pháp
y cứ. Do các việc đó mà phát sinh yết-ma và bạch yết-ma.
Hai vấn đề nầy được gọi là việc yết-ma Chi mãn. 4/
Việc yết-ma già pháp thanh tịnh. Việc
ngăn cản hợp lệ. Do vấn đề nầy sinh ra yết-ma và bạch
yết-ma. Hai việc nầy đều thuộc về việc yết-ma già pháp
thanh tịnh (ngăn cản hợp lệ). 5/
Việc yết-ma không đủ thanh tịnh. Do
các chi tiết không hợp lệ mà phát sinh ra yết-ma và bạch
yết-ma. Hai vấn đề nầy đều thuộc về việc yết-ma không
đủ thanh tịnh (không hợp lệ). 6/
Việc yết-ma không sinh giới . Phá
hoại Tịnh hạnh của Tỉ-Kheo-ni, sống trong tăng với tâm
trộm pháp, kẻ lừa đảo, mắc tội ngũ nghịch, phạm tội
Ba-la-di, Sa-di có tà kiến. Do các việc nầy phát sinh yết-ma
và bạch yết-ma. Hai vấn đề nầy đều thuộc về việc yết-ma
không sinh giới (không phát huy giới thể). 7/
Việc yết-ma tội căn: Gồm
năm Thiên tội là Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ba-dạ-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni,
Việt-tì-ni. Do các việc nầy phát sinh ra yết-ma và bạch yết
ma. Hai vấn đề nầy đều thuộc về việc yết-ma tội căn. 8/
Việc yết-ma không xả căn. Tỉ-Kheo
được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, ở chỗ nhiều người
ba lần, ở giữa chúng Tăng ba lần mà không bỏ lỗi lầm,
do đó, phát sinh ra yết-ma và bạch yết-ma. Hai vấn đề nầy
đều thuộc về việc yết-ma không xả căn (bỏ gốc tội). 9/
Việc yết-ma xả căn. Người
được khuyên can ở chỗ vắng ba lần, khuyên can ở chỗ nhiều
người ba lần, khuyên can ở giữa chúng Tăng ba lần liền
bỏ gốc của tội. Do các việc nầy phát sinh yết-ma và bạch
yết-ma. Hai vấn đề nầy đều thuộc về việc yết-ma xả
căn (bỏ gốc của tội). 10/
Việc yết-ma hòa hợp căn: Tỉ-Kheo
Tăng tập họp phát thẻ, người không đến thì gởi dục,
xướng việc Tăng hòa hợp, do các việc nầy phát sinh ra yết-ma
và bạch yết-ma. Hai vấn đề nầy đều thuộc về việc yết-ma
hòa hợp. Các
vấn đề vừa nêu thuộc về việc yết-ma. (Bây giờ đến
các pháp yết-ma khác). 1.Yết
ma chiết phục: Khi
Phật an trú tại Thành Xá-vệ, các Tỉ-Kheo tại Chiêm-ba tranh
chấp, cãi vã nhau, sống không hòa hợp. Các Tỉ-Kheo bèn đem
sự việc ấy đến [423a] bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Nên cho phép yết-ma chiết phục". Pháp yết-ma chiết phục
nầy gồm có tất cả năm việc, được Phật chế định tại
thành Xá-vệ. Ðó là: 1) Tám trường hợp quan hệ thân mật;
2) Thường thường phạm tội; 3) Ði đến những bạn bè xấu
ác tại chỗ không nên đến mà đi sớm về trễ; 4) Tranh chấp
cãi vã nhau; 5) Tôn kính người nhỏ tuổi. (1)
Tám trường hợp quan hệ thân mật: a.
Khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, Tỉ-Kheo Từ Ðịa dùng thân
quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật, thân miệng quan
hệ thân mật (với người khác). Dùng
thân quan hệ thân mật nghĩa là cùng ngồi chung một giường,
ngủ chung một giường, ăn chung một bát, mặc chung y phục,
cùng đi cùng về. Ðó gọi là dùng thân quan hệ thân mật. Dùng
miệng quan hệ thân mật nghĩa là hai bên có tâm ô nhiễm,
nói những lời quyến luyến nhau. Ðó gọi là dùng miệng quan
hệ thân mật. Dùng
thân miệng quan hệ thân mật nghĩa là cùng ngồi một giường,
ngủ một giường, ăn một bát, mặc y phục chung, cùng đi
cùng về. Khi nói, thì nói những lời quyến luyến nhau với
tâm ô nhiễm. Ðó gọi là dùng thân miệng quan hệ thân mật. Thế
rồi, các Tỉ-Kheo khuyên can: "Trưởng lão Tỉ-Kheo Từ Ðịa,
thầy đừng dùng thân quan hệ thân mật, dùng miệng quan hệ
thân mật, dùng thân miệng quan hệ thân mật (với người
khác)". Khuyên can như vậy một lần không bỏ, thậm chí đến
ba lần cũng không bỏ. Các Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến
bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Nếu Tỉ-Kheo Từ Ðịa
nầy dùng thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật,
thân miệng quan hệ thân mật (với người khác) mà khuyên
can ba lần không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma chiết phục
về việc dùng thân quan hệ thân mật (với người khác). Thầy
yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo từ Ðịa dùng thân
quan hệ thân mật (với người khác), đã được khuyên can
ba lần mà không bỏ. Tăng nay cho Tỉ-Kheo Từ Ðịa pháp yết-ma
chiết phục về việc dùng thân quan hệ thân mật (với người
khác). Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo từ Ðịa dùng thân quan
hệ thân mật với người khác, Tăng đã khuyên can ba lần
mà không bỏ. Nay Tăng cho Tỉ-Kheo Từ Ðịa pháp yết-ma chiết
phục về việc dùng thân quan hệ thân mật với người khác.
Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Tỉ-Kheo Từ Ðịa pháp
yết-ma chiết phục về việc dùng thân quan hệ thân mật với
người khác, thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Ðây
là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ hai, thứ ba cũng nói
như vậy.) Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-Kheo Từ Ðịa pháp yết-ma chiết phục
về việc dùng thân quan hệ thân mật với người khác, vì
Tăng im lặng. Tôi ghi nhận việc nầy như vậy. Vấn
đề dùng miệng quan hệ thân mật, dùng thân miệng quan hệ
thân mật cũng nói như thế. b.
Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, bấy giờ Ưu-đà-di
dùng thân quan hệ thân mật, dùng miệng quan hệ thân mật,
dùng thân miệng quan hệ thân mật với Tỉ-Kheo-ni Hiếu Sinh.
Dùng thân quan hệ thân mật nghĩa là tay nắm trong tay, cùng
ngồi, cùng mặc chung y phục. Ðó gọi là dùng thân quan hệ
thân mật. Dùng
miệng quan hệ thân mật nghĩa là nói những lời quyến luyến
với nhau bằng tâm ô nhiễm. Ðó gọi là dùng miệng quan hệ
thân mật. [423b]
Dùng thân miệng quan hệ thân mật nghĩa là tay nắm trong tay
cùng ngồi, cùng mặc chung y phục, dùng tâm ô nhiễm nói với
nhau bằng những lời quyến luyến. Ðó gọi là thân miệng
quan hệ thân mật. Khi
ấy, các Tỉ-Kheo khuyên can: "Trưởng lão Ưu-đà-di, thầy đừng
dùng thân quan hệ thân mật, dùng miệng quan hệ thân mật,
dùng thân miệng quan hệ thân mật với Tỉ-Kheo-ni Hiếu Sinh".
Khuyên can một lần, hai lần, ba lần như vậy mà không bỏ.
Các Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Phật liền nói với các Tỉ-Kheo: "Ông Ưøu-đà-di nầy với
Tỉ-Kheo-ni Hiếu Sinh dùng thân quan hệ thân mật, miệng quan
hệ thân mật, thân miệng quan hệ thân mật mà can gián ba
lần không bỏ thì Tăng nên cho pháp yết-ma chiết phục về
việc dùng thân quan hệ thân mật. Người làm yết-ma nên nói
như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Thầy Ưu-đà-di nầy với Tỉ-Kheo-ni
Hiếu Sinh dùng thân quan hệ thân mật, Tăng đã khuyên can ba
lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng
cho Ưu-đà-di pháp yết-ma chiết phục về việc dùng thân quan
hệ thân mật. Ðây là lời tác bạch. Bạch
xong, ba lần yết-ma, cho đến... Vì Tăng bằng lòng nên im lặng,
tôi ghi nhận như vậy. Về
miệng quan hệ thân mật, thân miệng quan hệ thân mật cũng
nói như trên. chúng
sinh). Lại nữa, lúc bấy giờ Tỉ-Kheo Bạt-đà-lê với Tỉ-Kheo-ni
Bạt-đà-thi-lê dùng thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ
thân mật, thân miệng quan hệ thân mật, cũng giống như trong
trường hợp Ưu-đà-di ở trên đã nói rõ. d.
Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-Kheo
Tô Tì Ðề cùng với Tỉ-Kheo-ni Tô Tì Ðề Di sống quan hệ
thân mật về thân, quan hệ thân mật về miệng, quan hệ thân
mật về thân miệng như trong trường hợp Tỉ-Kheo-ni Hiếu
Sinh ở trên đã nói rõ. đ.
Lại nữa, bấy giờ có Tỉ-Kheo đến nhà cư sĩ cùng với
vợ ông dùng thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật,
thân miệng quan hệ thân mật. Thân quan hệ thân mật nghĩa
là cùng với phụ nữ tay nắm trong tay cùng ngồi, đem hương,
hoa, quả, dưa đưa cho nhau, nhờ người khác làm liên lạc.
Ðó gọi là dùng thân quan hệ thân mật. Miệng
quan hệ thân mật nghĩa là nói với nhau bằng những lời quyến
luyến với tâm ô nhiễm. Ðó gọi là miệng quan hệ thân mật. Thân
miệng quan hệ thân mật thì giống như hai trường hợp trên
đã nói đầy đủ. Ðó gọi là thân miệng quan hệ thân mật. Khi
ấy, các Tỉ-Kheo khuyên can: "Trưởng lão, Thầy đừng dùng
thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật, thân miệng
quan hệ thân mật với đàn bà", khuyên can như vậy đến ba
lần mà không bỏ. Các Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến
bạch lên Thế Tôn, cũng như trường hợp Ưu-đà-di đã nói
rõ ở trên. e.
Lại nữa, khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, bấy giờ có
Tỉ-Kheo cùng với người bất năng nam (lại cái) dùng thân
quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật, thân miệng quan
hệ thân mật. Thân quan hệ thân mật nghĩa là tay nắm trong
tay, cùng ngồi, cùng đi cùng về. Ðó gọi là thân quan hệ
thân mật. Miệng
quan hệ thân mật nghĩa là [423c] nói với nhau bằng những
lời thân thiện với tâm ô nhiễm. Ðó gọi là miệng quan
hệ thân mật. Thân
miệng quan hệ thân mật thì như hai việc trên đã nói đầy
đủ. Ðó gọi là thân miệng quan hệ thân mật. Khi
ấy, các Tỉ-Kheo khuyên can: "Trưởng lão, Thầy đừng dùng
thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật, thân miệng
quan hệ thân mật với kẻ bất năng nam". Khuyên can như vậy
đến ba lần mà không bỏ. Các Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn, cũng như trường hợp Ưu-đà-di ở
trên đã nói rõ. g.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Ưu-đà-di
với đệ tử đồng hành, dùng thân quan hệ thân mật, miệng
quan hệ thân mật, thân miệng quan hệ thân mật, cũng như
trong trường hợp Tỉ-Kheo Từ Ðịa ở trên đã nói rõ. h.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Xiển
Ðà dùng thân quan hệ thân mật, miệng quan hệ thân mật,
thân miệng quan hệ thân mật với đồng tử, cũng như trong
trường hợp Tỉ-Kheo Từ Ðịa ở trên đã nói rõ. Trên
đây là tám trường hợp sống quan hệ thân mật. (2)
Thường thường phạm tội: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-Kheo Thi Lợi Da
Bà thường thường vi phạm các tội thuộc
năm Thiên tội. Các Tỉ-Kheo khuyên can rằng: "Trưởng
lão, thầy đừng vi phạm các tội thuộc năm Thiên tội". Ðược
khuyên can như vậy một lần không bỏ, khuyên can lần thứ
hai không bỏ, khuyên can đến lần thứ ba cũng không bỏ. Các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ-Kheo: "Nếu ông Thi Lợi Da Bà thường
thường phạm các tội trong năm Thiên tội, thì hãy làm pháp
yết-ma chiết phục về việc thường thường phạm tội ấy.
Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Thi-Lợi Da Bà nầy thường
thường phạm tội, đã được khuyên can ba lần mà không bỏ.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, nay Tăng cho Tỉ-Kheo Thi
Lợi Da Bà pháp yết-ma chiết phục về việc thường thường
phạm tội. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Thi-Lợi Da Bà thường thường
phạm tội, đã được khuyên can đến ba lần mà không bỏ.
Nay Tăng cho Tỉ-Kheo Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma chiết phục
về việc thường thường phạm tội. Các đại đức nào bằng
lòng Tăng cho Tỉ-Kheo Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma chiết phục
về việc thường thường phạm tội thì im lặng; ai không
bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ
hai, thứ ba cũng nói như vậy). Tăng
đã bằng lòng cho Tỉ-Kheo Thi Lợi Da Bà pháp yết-ma chiết
phục về việc thường thường phạm tội, vì Tăng đã im
lặng. Tôi ghi nhận việc nầy là như vậy. Ðó
gọi là thường thường phạm tội. (3)
Ði vào Thôn xóm quá sớm, đi về quá tối, làm bạn với kẻ
xấu, kẻ ác, cùng đi đến những chỗ không nên đến. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-Kheo Ca-lộ đi
vào Thôn xóm quá sớm, đi về quá tối, kết bạn với kẻ
ác, kẻ xấu, đi đến những nơi không nên đến. Ði
đến quá sớm nghĩa là đi vào Thôn xóm khất thực quá sớm.
Ði về quá tối nghĩa là rời khỏi Thôn xóm quá tối. Kết
bạn với kẻ ác nghĩa là kết bạn với kẻ quản tượng,
chăn ngựa, kẻ cắp, quân ăn cướp, đứa đánh xúc xắc,
kết thân với những kẻ như vậy gọi là kết bạn với kẻ
ác. [424a] Làm bạn với kẻ xấu thì cũng như các bạn ác
kể trên. Ði đến chỗ không nên đến nghĩa là đến nhà
đàn bà góa, nhà con gái lớn tuổi chưa có chồng, nhà dâm
nữ, nhà kẻ lại cái, Tỉ-Kheo-ni bị tiếng xấu, Sa-di-ni bị
tiếng xấu. Ðó gọi là đến chỗ không nên đến. Trong
các trường hợp ấy, các Tỉ-Kheo khuyên can: "Trưởng lão,
Thầy đừng ra đi quá sớm, trở về quá tối, (cho đến...)
đi tới chỗ Sa-di-ni bị tiếng xấu". Nhưng khuyên can một
lần, hai lần, ba lần vẫn không bỏ. Do vậy, các Tỉ-Kheo
bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
bảo các Tỉ-Kheo: "Nếu Tỉ-Kheo Ca Lộ ra đi quá sớm, trở
về quá tối, cho đến đi tới những chỗ không nên đến,
rồi được khuyên can đến ba lần mà không bỏ, thì Tăng
nên làm yết-ma chiết phục về việc đi vào Thôn xóm quá
sớm. Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Ca-Lộ đi vào Thôn xóm
quá sớm, rồi được khuyên can đến ba lần mà không bỏ.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho Tỉ-Kheo Ca Lộ
pháp yết-ma chiết phục về việc đi vào Thôn xóm quá sớm
nầy. Ðây là lời tác bạch. (bạch xong, ba lần yết-ma, cho
đến) Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, việc nầy tôi ghi
nhận như vậy. Vấn
đề trở về quá tối, kết bạn với kẻ xấu, kẻ ác, đi
đến những chỗ không nên đến (cách khuyên can và làm yết-ma)
cũng như thế. (4)
Tranh chấp cãi vã nhau. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-Kheo Mã Túc tự
cao, tự đại tranh luận cãi vã với người khác. Các Tỉ-Kheo
bèn khuyên can: "Trưởng lão Tỉ-Kheo Mã Túc, Thầy đừng có
tranh cãi". Khuyên can như vậy một lần không bỏ, hai lần,
ba lần cũng không bỏ. Các Tỉ-Kheo liền đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỉ-Kheo:
"Khi năm điều sau đây hiện hữu thì biết là sự tranh cãi
sẽ phát sinh. Ðó là: 1) Yết-ma đúng pháp mà nói là phi pháp;
2) Tập họp đúng pháp mà nói là phi pháp; 3) Xuất tội đúng
pháp mà nói là phi pháp; 4) Xả vật đúng pháp mà nói là phi
pháp; 5) Kết tội đúng pháp mà nói là phi pháp. Ðó gọi là
năm điều phi pháp. Trái với năm điều trên thì gọi là
đúng pháp. Các Tỉ-Kheo nên khuyên bảo như sau: "Này
Trưởng lão, Tỉ-Kheo cần phải thành tựu năm pháp sau đây
khi vào trong chúng. Ðó là:1) Nói nhỏ nhẹ khi vào trong chúng;
2) Khi nghe yết-ma phải tin tưởng; 3) Ðã tin tưởng thì phải
tuân hành; 4) Nếu thấy yết-ma không đúng pháp mà không thể
ngăn cản được thì nên gởi dục; 5) Nếu không thể gởi
dục thì nên cho Tỉ-Kheo ngồi bên cạnh biết là mình không
bằng lòng". Khi Tỉ-Kheo nghe những lời khuyên bảo ấy liền
nói: "Tôi biết nói năng khéo léo, vì sao phải nói nhỏ khi
vào trong chúng? Tôi cũng là kẻ đa văn, vì sao nghe yết-ma
liền phải tin? Tôi biết rõ phép tắc, vì sao nghe liền phải
tuân hành? Tôi cũng thông thạo yết-ma, vì sao nghe yết-ma không
đúng pháp lại không thể ngăn cản mà phải gởi dục? Tôi
đã đến được, vì sao phải báo người ngồi bên cạnh biết
là mình không bằng lòng? Tôi sẽ ngăn cản". Phật
nói với các Tỉ-Kheo: "Khi năm pháp hiện hữu khiến sự tranh
chấp phát sinh, thì Tăng nên làm yết-ma chiết phục. Năm pháp
đó là: 1) Tự cao; 2) Tính tình thô lỗ, hung ác; [424b] 3) Nói
những lời vô nghĩa; 4) Nói không đúng lúc; 5) Không thân cận
với người thiện. Ðó gọi là năm pháp hiện hữu Tăng nên
làm yết-ma chiết phục. Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Mã Túc tự cao, tranh
luận cãi vã với người khác, được khuyên can ba lần mà
không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay làm
yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Mã Túc về tính tự cao. Ðây là
lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Mã Túc tự cao, tranh luận
cãi vã với người khác, đã được khuyên can ba lần mà không
bỏ. Nay Tăng làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Mã Túc về tính
tự cao. Các đại đức nào bằng lòng Tăng làm yết-ma chiết
phục Tỉ-Kheo Mã Túc về tính tự cao thì im lặng. Ai không
bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất. (lần thứ
hai, thứ ba cũng nói như vậy). Tăng
đã bằng lòng làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Mã Túc về
tính tự cao xong, vì Tăng im lặng. Việc nầy tôi ghi nhận
như vậy. Bốn
việc sau cũng nói như thế. (5)
Tôn kính người nhỏ tuổi. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
Tỉ-Kheo Xiển Ðà độ một chàng trai trẻ xuất gia, rồi tự
mình lo cung cấp các thứ. Buổi sáng sớm Thầy đến vấn
an, đem đổ đồ đại tiểu tiện và ống nhổ cho y, rồi
đem để lại chỗ cũ. Thầy lại xoa bóp thân thể, trao cho
y bát, rồi cùng vào xóm làng, nhường cho y đi trước. Khi
đến nhà đàn việt, Thầy lại bảo y ngồi ở chỗ cao, nhận
phần cúng dường trước. Khi y ăn xong, Thầy lấy bát đem
rửa sạch rồi cất lại chỗ cũ, đồng thời nhuộm y, hơ
bát, trải giường nệm cho y. Khi đêm đến, Thầy thắp đèn,
đem ống nhổ và bô đại tiểu tiện đến cho y. Các Tỉ-Kheo
thấy thế bèn khuyên can: "Nầy trưởng lão, thầy đừng cung
cấp cho người trẻ, người trẻ phải cung cấp cho thầy chứ".
Thầy đáp: "Ðúng như trưởng lão nói. Nhưng chàng trai trẻ
nầy trước kia vốn là nhạc sĩ xuất gia, cho nên tôi rất
ái mộ, tôn kính và tự thấy hổ thẹn, phải lo cung cấp
cho y". Các
Tỉ-Kheo khuyên can như vậy một lần không bỏ, rồi khuyên
can đến lần thứ hai, thứ ba cũng không bỏ. Do thế, các
Tỉ-Kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi Xiển Ðà đến. Khi thầy đến rồi, Phật
liền hỏi đầy đủ sự việc kể trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Này kẻ ngu si! Ðối với Như Lai, ông không ái mộ, tôn kính,
hổ thẹn, tùy thuận, mà trái lại, đối với anh chàng tuổi
trẻ, ông lại tỏ ra ái mộ, tôn kính, hổ thẹn, tùy thuận
như thế. Ðoạn,
Phật bảo các Tỉ-Kheo: "Vì Tỉ-Kheo Xiển Ðà ái mộ người
còn trẻ, vậy Tăng nên làm yết-ma chiết phục về việc ái
mộ, cung cấp cho người còn trẻ. Người làm yết-ma nên nói
như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Xiển Ðà ái mộ, tôn
kính cung cấp hầu hạ người còn trẻ, đã được khuyên
can ba lần mà không bỏ. Nếu thời gian của Tăng đã đến,
Tăng nay làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Xiển Ðà về việc
ái mộ, cung cấp [424c] cho người còn trẻ. Ðây là lời tác
bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Xiển Ðà ái mộ, cung cấp
cho người còn trẻ, đã được khuyên can ba lần mà không
bỏ. Tăng nay làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Xiển Ðà về
việc ái mộ, cung cấp cho người còn trẻ. Các đại đức
nào bằng lòng Tăng làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Xiển Ðà
về việc ái mộ, cung cấp cho người còn trẻ thì im lặng,
ai không bằng lòng hãy nói. Ðây là lần yết-ma thứ nhất.
(lần thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng làm yết-ma chiết phục Tỉ-Kheo Xiển Ðà về
việc ái mộ, cung cấp cho người còn trẻ, vì im lặng. Tôi
ghi nhận việc nầy là như vậy. Về
các vấn đề tôn kính, hổ thẹn, tùy thuận cũng nói như
thế. Ðó gọi là yết-ma chiết phục. 2.
Yết-ma không nói chuyện. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ Tỉ-Kheo Mã Túc đã
được Tăng làm yết-ma chiết phục mà không tuân hành, việc
đáng làm mà không làm, việc đáng bỏ mà không bỏ. Các Tỉ-Kheo
bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền
dạy: "Nếu Tỉ-Kheo Mã Túc đã được Tăng làm yết-ma chiết
phục mà không tuân hành, việc nên làm thì không làm, việc
nên bỏ thì không bỏ, thì Tăng nên làm yết-ma không nói chuyện.
Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Mã Túc nầy đã được
Tăng làm yết-ma chiết phục mà không tuân hành, việc nên
làm thì không làm, việc nên bỏ thì không bỏ. Nếu thời
gian của Tăng đã đến, Tăng nay làm yết-ma không nói chuyện
với Tỉ-Kheo Mã Túc. Ðây là lời tác bạch. (Bạch xong, ba
lần yết-ma, cho đến) Tăng bằng lòng nên im lặng, tôi ghi
nhận việc nầy là như vậy. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ có một
người lẩn thẩn xuất gia, thường phạm các giới nhỏ như
ăn riêng chúng, ăn nhiều chỗ, cất thức ăn mà ăn, cùng ăn
chung bát với người khác, ngủ cùng phòng với phụ nữ, ngủ
chung với người khác quá ba đêm, cùng ngủ chung một giường,
cùng ngồi một giường, ăn trái cây không hợp lệ, nhận
thịt sống, nhận thóc, nhận vàng bạc. Các Tỉ-Kheo bèn khuyên
can: "Trưởng lão, không nên làm những việc đó". Thầy đáp:
"Trưởng lão đã bảo tôi, tôi sẽ tuân hành". Các Tỉ-Kheo
tự nhủ: "Ông Thầy lẩn thẩn nầy có tâm tu hành". Nhưng
sau đó, Thầy thường thường phạm các tội nhỏ như ăn riêng
chúng, cho đến nhận vàng bạc. Các Tỉ-Kheo lại khuyên can:
"Nầy ông thầy lẩn thẩn, Thầy không nên làm những việc
ấy". Thầy đáp: "Trưởng lão đã cho tôi biết, tôi sẽ tuân
hành". Thế nhưng, sau đó lại thường thường vi phạm. Các
Tỉ-Kheo tự nhủ: "Ông Thầy lẩn thẩn nầy xuất gia mà không
biết tri ân, không thuận theo lời chỉ bảo, quanh co, không
thật, không muốn tu học". Rồi các Tỉ-Kheo đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: "Ông Thầy lẩn
thẩn ấy xuất gia mà không biết tri ân, không thuận theo lời
chỉ bảo, [425a] vậy Tăng nên làm yết-ma không nói chuyện.
Người làm yết-ma nên nói như sau -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Ông Thầy lẩn thẩn nầy xuất
gia mà không biết tri ân, không thuận theo lời chỉ bảo. Nếu
thời gian của Tăng đã đến, Tăng làm yết-ma không nói chuyện
với ông thầy lẩn thẩn nầy. Ðây là lời tác bạch. (bạch
xong, ba lần yết-ma, cho đến) Vì Tăng bằng lòng nên im lặng,
tôi ghi nhận việc nầy là như vậy. Ðó
gọi là pháp yết-ma không cùng nói chuyện. 3.
Pháp yết-ma tẫn xuất. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ nhóm sáu Tỉ-Kheo
đang ở tại ấp Ca Thi, làm những việc trái oai nghi, nói những
lời trái oai nghi, hành động và nói năng trái oai nghi ; thân
làm điều tai hại, miệng nói lời tai hại, thân miệng gây
tai hại; thân làm việc tà vạy, miệng nói điều tà vạy,
thân miệng đều tà vạy, như trong giới Tăng-già-bà-Thi-sa,
khi nhóm sáu Tỉ-Kheo ở thôn Hắc Sơn trên kia đã nói rõ.
Ðó gọi là yết-ma tẫn xuất. 4.
Pháp yết-ma phát hỉ. Pháp
yết-ma nầy gồm có các trường hợp: 1) Hỉ-Ưu Bà Di; 2) Xá-na-giai;
3) Du Ngao Ngư tử; 4) Ca-lộ; 5) Ma-ha-nam; 6) Nhóm sáu Tỉ-Kheo. (1)
Hỉ Ưu Bà Di. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Nan Ðà du hành các
nước, rồi trở về Xá-vệ. Vào buổi sớm, thầy khoác y
thường mặc, cầm bát, đi đến nhà Ưu Bà Di. Hỉ Ưu Bà Di
trông thấy, rất hoan hỉ, đon đả chào hỏi: "Lành thay sư
phụ! Vì sao mà ít đến quá vậy?", liền mời ngồi. Ngồi
xong, Nan Ðà nói: -
Tôi ít khi đến, vậy bà định cúng dường thứ gì đây? -
Tùy Thầy cần gì thì cúng dường nấy, hoặc bữa ăn trước,
hoặc bữa ăn sau, hoặc cháo, bánh, trái, tùy Thầy cần thứ
gì, thì con sẽ làm. -
Tôi cần bữa ăn trước, hãy nấu cho ngon. -
Y theo lời dạy, con sẽ nấu thật ngon, xin thầy sáng mai hãy
đến sớm. Nan
Ðà nói thế rồi, liền ra đi. Sau đó, Ưu Bà Di sáng sớm
thức dậy, sắm sửa bữa ăn sớm ngon lành, trải chỗ ngồi,
rồi lần hồi chờ đợi. Nhưng Nan Ðà vì nhiều việc nên
quên mất, không đến. Ưu Bà Di chờ đợi đã quá giờ mà
không thấy đến, bèn chọn những thức ăn ấy thứ nào để
dành được thì để dành, thứ nào không để dành được
thì ăn. Ðợi như thế đến ngày thứ hai, thứ ba vẫn không
thấy đến, liền đem ra ăn hết. Tới ngày Thứ tư, Nan Ðà
mới đến, hỏi: "Ưu Bà Di khỏe chứ?". Ưu Bà Di nổi sùng,
nói: -
Sư phụ đã nhận lời mời của con đến ăn bữa ăn sớm,
vì sao không tới? -
Ưu Bà Di tức giận sao? -
Tức giận. -
Nếu vậy, tôi xin sám hối. -
Thầy hãy đến sám hối với đức Thế Tôn. Nan
Ðà bèn đi đến sám hối với Phật. Phật hỏi:
"Vì cớ gì mà sám hối?". Nan Ðà liền đem sự việc kể trên
bạch đầy đủ với Phật. Phật khiển trách: "Nầy kẻ ngu
si! Ưu Bà Di nầy đối với Phật và các Tỉ-Kheo Tăng không
hề tiếc rẻ một thứ gì. Vậy, vì sao ông lại nhiễu loạn
người ta?". Thế rồi, Phật bảo các Tỉ-Kheo: "Ưu Bà Di nầy
là một người có niềm tin kiên cố, thế mà Nan Ðà đã nhiễu
loạn [425b] khiến cho bà không vui. Vậy nay Tăng nên cho Nan
Ðà pháp yết-ma phát hỉ. Người làm yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Nan Ðà đã nhiễu loạn người
thế tục sinh tâm không hoan hỉ. Nếu thời gian của Tăng đã
đến, Tăng cho Nan Ðà pháp yết-ma làm cho người thế tục
sinh tâm hoan hỉ. Ðây là lời tác bạch. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ-Kheo Nan Ðà đã nhiễu loạn
người thế tục, làm cho họ không hoan hỉ. Tăng nay cho Nan
Ðà pháp yết-ma làm cho người thế tục sinh tâm hoan hỉ.
Các đại đức nào bằng lòng Tăng cho Nan Ðà pháp yết-ma
làm cho người thế tục sinh tâm hoan hỉ thì im lặng, ai không
bằng lòng hãy nói. Ðây là yết-ma lần thứ nhất.(lần thứ
hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho Nan Ðà pháp yết-ma làm cho người thế tục
sinh tâm hoan hỉ, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc nầy là như
vậy. Ðó
gọi là hỉ Ưu Bà Di (làm cho Ưu Bà Di sinh tâm hoan hỉ). (2)
Xá-na-giai. Khi
Phật
an trú tại thành Xá-vệ, bấy giờ, cư sĩ Chất Ðế Lệ mời
Tăng về cúng dường thuốc. Nhóm sáu Tỉ-Kheo nghe thế, liền
bảo nhau: "Cư sĩ mời Tăng về cúng dường thuốc, chúng ta
hãy đến thử nghiệm ông ta". Thế rồi đến giờ khất thực,
bèn khoác y thường mặc, cầm bát đi đến nhà ấy, chào hỏi
nhau xong, liền hỏi: -
Tôi nghe nói cư sĩ mời Tăng về cúng dường thuốc, có thật
thế không? -
Ðúng như vậy. Thầy cần thuốc sao? -
Tôi cần một gánh xá-na-giai. -
Ðợi con tìm có rồi sẽ đưa. -
Kỳ quái, không chuẩn bị thuốc trước mà lại mời Tăng?
Ông không biết sao? thuốc của một Tỉ-Kheo uống bằng Thức
ăn của con voi chúa to lớn trên núi Tuyết. Ông không thực
tâm cúng dường, mà chỉ cầu danh. -
Thưa Thầy, trong kho của nhà vua cũng chưa đủ chừng ấy thuốc,
huống gì nhà con, đợi con tìm có rồi sẽ đưa thầy. -
Cho hay không cho tùy ý ông. Nói
xong, Thầy liền bỏ đi. Sau đó, cư sĩ sai người đến xóm
Tượng, nước Câu Lân Ðề, tìm được Xá Na Giai, bèn đến
thưa: "Thưa thầy, con đã tìm được Xá Na Giai Thầy hãy tới
lấy". Nghe nói thế, họ bèn nhìn nhau cười khúc khích. Cư
sĩ liền chê trách: |