| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẨM TẠP TỤNG THỨ NHẤT 1.
THỂ THỨC THỌ CỤ TÚC. Trong
vòng năm năm sau khi đức Thế Tôn thành đạo, các Tỉ-kheo
Tăng đều thanh tịnh, nhưng từ đó trở về sau, dần dần
trở nên phi pháp. Do đó, Thế Tôn tùy theo sự việc mà chế
định giới bản gồm bốn loại cụ túc: 1/ Tự cụ túc; 2/
Thiện lai cụ túc; 3/ Thập chúng cụ túc; 4/ Ngũ chúng cụ
túc. 1.
Tự thọ Cụ túc: Khi
Thế Tôn ngồi dưới cội bồ đề, tâm sở cuối cùng hoát
nhiên đại ngộ, tự giác diệu chứng, như trong Diên Kinh đã
nói rõ. Ðó gọi là Tự cụ túc. 2.
Thiện lai thọ Cụ túc: Khi
Phật ở thành Vương Xá trong vườn trúc [412b] Ca-lan-đà, Ngài
nói với các Tỉ-kheo: "Như Lai độ đủ mọi hạng người,
nào Tỉ-kheo, Tỉ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Các Thầy cũng
nên bắt chước Như Lai mà hóa độ rộng rãi mọi người".
Khi các Tỉ-kheo nghe Thế Tôn dạy như vậy bèn du hành sang
các nước, hễ thấy có thiện nam tử nào cầu xin xuất gia,
thì các thầy cũng bắt chước đức Như Lai, gọi: "Thiện
lai Tỉ-kheo", để độ người xuất gia. Nhưng về oai nghi đi
đứng, nhìn bên trái bên phải, khoác y cầm bát, đều không
đúng pháp, nên bị người đời chê cười rằng: "Ðức Thế
Tôn độ Thiện lai Tỉ-kheo, thì oai nghi đi đứng, nhìn bên
trái bên phải, khoác y cầm bát, tất cả đều đúng pháp.
Các Tỉ-kheo độ người cũng gọi là Thiện lai, nhưng oai nghi
đi đứng, nhìn bên trái bên phải, khoác y cầm bát, đều
không đúng pháp". Khi
nghe nói như thế, tôn giả Xá-lợi-phất liền trải tòa ngồi
kiết già tại nơi thanh vắng, suy nghĩ như sau: "Cũng đều
là thiện lai cả mà vì sao đức Thế Tôn độ Thiện lai Tỉ-kheo
thì tất cả đều đúng pháp, còn các Tỉ-kheo độ Thiện
lai Tỉ-kheo thì đều không đúng pháp? Vậy làm thế nào để
cho các Tỉ-kheo độ người khéo thọ giới Cụ túc, tất cả
đều đúng pháp, cùng một giới, một mục đích, một trú
xứ, một cách ẩm thực, một học xứ, một giáo thuyết?".
Suy nghĩ thế rồi, vào buổi xế, Xá-lợi-phất xuất định,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi
ngồi sang một bên, bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, vừa rồi ở nơi thanh vắng con suy nghĩ như
sau: "Cũng đều gọi là Thiện lai mà vì sao đức Thế Tôn
độ người đều đúng pháp, còn các Tỉ-kheo độ người
thì đều không đúng pháp? Vậy làm thế nào để các Tỉ-kheo
độ người khéo thọ giới Cụ túc, đều đúng pháp, cùng
một giới, một mục đích, một trú xứ, một cách ăn uống,
một học xứ và một giáo thuyết? Kính xin Thế Tôn giải
thích đầy đủ giùm con. -
Như Lai độ nhóm A Nhã Kiều Trần Như năm người Thiện lai
xuất gia, khéo thọ giới Cụ túc, cùng một giới, một mục
đích, một trú xứ, một cách ăn uống, một học xứ và một
giáo thuyết; kế đến độ ba mươi người Mãn từ tử; kế
đến độ Thiện Thắng tử ở thành Ba-la-nại; kế đến độ
nhóm Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp năm trăm người; kế đến độ
Na Ðề Ca Diếp ba trăm người; kế đến độ Già Gia Ca Diếp
hai trăm người; kế đến độ Ưu Ba Tư Na hai trăm năm mươi
người; kế đến độ ông và Ðại Mục Liên mỗi nhóm hai
trăm năm mươi người; kế đến độ Ma-ha-ca-diếp, Xiển Ðà,
Ca-lưu-đà-di, Ưu-ba-li; kế đến độ con dòng họ Thích năm
trăm người; kế đến độ Bạt Cừ Ma Ðế năm trăm người;
kế đến độ bọn người trộm cướp năm trăm người; kế
đến độ con trưởng giả Thiện lai. Ðó là những Tỉ-kheo
mà Như Lai [413a] đã độ họ xuất gia, khéo thọ giới cụ
túc, cùng một giới, cùng một mục đích, cùng một trú xứ,
cùng một cách ăn uống, cùng một học xứ và cùng một giáo
thuyết. Này Xá-lợi-phất, những người mà các Tỉ-kheo hóa
độ cũng gọi là khéo xuất gia, khéo thọ Cụ túc, cho đến
cùng một giáo thuyết; đó gọi là Thiện lai thọ Cụ túc. 3.
Thập chúng thọ Cụ túc: Phật
nói với Xá-lợi-phất: --"Từ
nay Ta chế định pháp thọ cụ túc, có mười vị giới sư
hòa hợp, một lần bạch, ba lần yết-ma, không có ai ngăn
cản, đó gọi là khéo thọ cụ túc. Người muốn thọ giới
Cụ túc ban đầu vào giữa chúng Tăng, trật vai áo bên phải,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân chư Tăng, trước hết cầu
Hòa Thượng, quỳ gối sát dưới chân, nói như sau: "Con đến
cầu xin Ngài làm Hòa Thượng, Ngài hãy vì con làm Hòa Thượng,
cho con thọ cụ túc". (nói ba lần như vậy). Rồi Hòa Thượng
nên khích lệ để giới tử sinh tâm hoan hỉ. Ðoạn, giới
tử đáp: "Con xin cúi đầu vâng giữ". Trước hết Hòa Thượng
dạy giới tử tìm y bát, dạy cầu tăng chúng, dạy cầu giới
sư, dạy cầu xin chỗ thanh vắng. Rồi Tăng họp, sai người
làm Giáo Thọ. Thầy yết-ma hỏi: "Ai có thể đem
mỗ giáp nầy đến chỗ thanh vắng để dạy bảo?".
Vị giáo Thọ đáp: "Tôi có thể". Thầy yết-ma lại nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp xin thọ
cụ túc. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay đồng
ý để mỗ giáp làm Hòa Thượng cho mỗ giáp, còn mỗ giáp
kia có thể dạy bảo giới tử ở chỗ thanh vắng. Vì
Tăng đã đồng ý nên im lặng. Tôi ghi nhận việc nầy là
như vậy. Thế
rồi, Thầy Giáo Thọ nên đem giới tử đến chỗ cách chúng
Tăng không gần, không xa, rồi dạy sơ lược, hoặc đầy đủ.
Dạy sơ lược thì như sau: "Lát nữa đây Tăng sẽ hỏi, nếu
điều gì có thì ngươi nói là có, điều gì không thì ngươi
nói là không". Dạy đầy đủ thì như cách vấn đáp giữa
Tăng sau đây. Thầy giáo Thọ vào giữa Tăng, bạch: "Tôi đã
hỏi mỗ giáp (giới tử) xong, y tự nói mình thanh tịnh, không
bị các già nạn". Thầy yết-ma nên nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp xin thọ
cụ túc, mỗ giáp đã dạy bảo ở chỗ thanh vắng xong. Nếu
thời gian của Tăng đã đến, Tăng bằng lòng để mỗ giáp
làm Hòa Thượng cho mỗ giáp, thì cho phép mỗ giáp vào giữa
Tăng. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp làm Hòa Thượng cho mỗ
giáp, nay Tăng bằng lòng cho mỗ giáp vào giữa Tăng. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng, tôi ghi nhận việc nầy là
như thế. Người
muốn thọ giới Cụ túc phải vào giữa chúng Tăng, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân của chư Tăng, rồi đến trước giới
sư quỳ gối chấp tay, giới sư trao cho y bát, dạy nói như
sau: "Ðây là bát của con, tùy theo nhu cầu mà thọ dụng, là
vật dùng để khất thực, nay con xin thọ trì. (nói ba lần
như vậy). Ðây là y Tăng-già-lê, đây là y Uất-đa-la-tăng,
đây là y An-đà-hội, đó là ba y của con. Ba y nầy [413b] con
nguyện Thọ trì không khi nào ngủ rời khỏi chúng". (nói như
vậy ba lần). Thầy
yết-ma nên nói như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ cụ
túc, mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ thanh vắng xong.
Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng bằng lòng để mỗ
giáp làm Hòa Thượng cho mỗ giáp. Mỗ giáp muốn theo Tăng
xin thọ cụ túc. Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp làm Hòa Thượng cho mỗ
giáp. Mỗ giáp muốn theo Tăng xin Thọ cụ túc. Vì
Tăng bằng lòng nên im lặng; tôi ghi nhận việc nầy là như
vậy. Thế
rồi, giới sư dạy giới tử cầu thính như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Con là mỗ giáp theo Hòa Thượng
mỗ giáp thọ cụ túc. A-xà-lê mỗ giáp đã hỏi han chỉ bảo
con ở chỗ thanh vắng xong. Con
là mỗ giáp, Hòa Thượng của con là mỗ giáp, nay con theo Tăng
xin thọ cụ túc. Kính mong Tăng cho con thọ Cụ túc. Xin thương
xót con. (nói như vậy ba lần). Thầy
yết-ma nói với chư Tăng: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo Mỗ giáp thọ cụ
túc. Mỗ giáp A-xà-lê đã hỏi han dạy dỗ y ở chỗ thanh
vắng xong. Nay y theo Tăng xin thọ cụ túc. Nếu thời gian của
Tăng đã đến, Tăng nay bằng lòng để mỗ giáp làm Hòa Thượng
cho mỗ giáp. Mỗ giáp muốn hỏi già nạn ở giữa chúng Tăng. Xin
các đại đức lắng nghe. Mỗ giáp làm Hòa Thượng cho mỗ
giáp. Mỗ giáp muốn hỏi già nạn ở giữa chúng Tăng. Vì
Tăng bằng lòng nên im lặng, việc nầy tôi ghi nhận như vậy. Ðoạn,
Thầy yết-ma nói với giới tử: -
"Thiện nam tử hãy lắng nghe. Giờ đây là lúc phải chí thành,
là lúc phải nói thật, ở trước chư thiên, thế gian, Thiên
ma, các bậc phạm hạnh Sa-môn, Bà-la-môn, người đời, A-tu-la,
nếu không nói thật tức là lừa dối các vị ấy. Ðồng
thời cũng là lừa dối đối với chúng Thanh Văn của đức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Ðó là tội rất nặng. Nay
ta hỏi ngươi ở giữa chúng Tăng, điều gì có thì nói có,
điều gì không thì nói không: -
Cha mẹ đã cho phép ngươi chưa? -
Ngươi đã cầu xin Hòa Thượng chưa? -
Ba y và bát đã đủ chưa? -
Ngươi có phải là trang nam tử không? -
Ðã đủ hai mươi tuổi chưa? -
Ngươi không phải là loài phi nhân đấy chứ? -
Ngươi không phải là kẻ bất năng nam (lại cái) đấy chứ? -
Tên của ngươi là gì? -
(đáp: tên là mỗ giáp). -
Hòa Thượng của ngươi tên là gì? (đáp:
tên là mỗ giáp). -
Ngươi không phá hoại tịnh hạnh của Tỉ-kheo-ni đấy chứ? -
Ngươi không phải là kẻ trộm pháp đấy chứ? -
Ngươi không phải là kẻ đang đào thoát đấy chứ? -
Ngươi không phải là kẻ tự ý xuất gia đấy chứ? -
Ngươi không giết hại cha mẹ đấy chứ? -
Ngươi không giết hại A-la-hán đấy chứ? -
Ngươi không phá hòa hợp Tăng đấy chứ? -
Ngươi không có ác tâm làm cho thân Phật ra máu đấy chứ?
(Mặc dù Phật Niết-bàn đã lâu, nhưng ở đây căn cứ theo
văn xưa mà hỏi). -
Trước đây ngươi đã từng thọ Cụ túc chưa? (Nếu
đáp đã từng thọ, thì hỏi tiếp) -
Ngươi không phạm bốn giới Ba-la-di đấy chứ? (Nếu
đáp đã phạm, thì nên bảo đi ra, không được thọ Cụ túc.
Nếu đáp không phạm thì lần lượt hỏi tiếp mười ba giới
Tăng- tàn, hỏi từng giới một xem có phạm hay không. Nếu
đáp phạm, thì hỏi khi thọ Cụ túc xong, y theo pháp sám hối
các tội ấy được không? Nếu đáp được, thì hỏi tiếp
) -
Trước đây đã từng xả giới chưa? (Ðáp:
đã xả). -
[413c] Ngươi không phải là đầy tớ đấy chứ? -
Ngươi không phải là con nuôi đấy chứ? -
Ngươi không mắc nợ người khác đấy chứ? -
Ngươi không phải là công chức đấy chứ? -
Ngươi không âm mưu làm chính trị đấy chứ? -
Ngươi không phải là người có cả hai căn đấy chứ? -
Ngươi có phải là bậc trượng phu không? -
Ngươi không có các chứng bệnh: Ghẻ lở, bỏng da, mụt nhọt,
ung thư, bệnh trĩ, đái tháo, vàng da, sốt rét, suyễn, bệnh
gầy còm, điên cuồng, bệnh nhiệt, phong thũng, thũng nước,
bụng phù thũng, nói chung các chứng bệnh như thế và những
bệnh khác nữa trên thân ngươi không có đấy chứ? (Ðáp:
không có). Hỏi
xong, Thầy yết-ma lại nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ
túc. Mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo ở chỗ thanh vắng xong.
Mỗ giáp đã theo Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ đã cho phép,
đã cầu thỉnh Hòa Thượng, ba y và bát đã đầy đủ. Trang
nam tử nầy đã đủ hai mươi tuổi, tự nói mình thanh tịnh,
không có các già nạn. Nếu thời gian của Tăng đã đến,
nay Tăng cho mỗ giáp thọ Cụ túc. Hòa Thượng là mỗ giáp.
(một lần bạch, ba lần yết-ma, cho đến) Tăng bằng lòng
nên im lặng, việc nầy tôi ghi nhận như vậy. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
có Tỉ-kheo chưa có tuổi hạ, mặc y sạch mới nhuộm đẹp
đẽ, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ thăm hỏi. Thế rồi,
sau đó vào một dịp khác, Tỉ-kheo nầy mặc y rách rưới
dơ bẩn, đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ thăm hỏi. Phật biết
nhưng vẫn hỏi: -
Tỉ-kheo, trước đây ông mặc y sạch sẽ mới nhuộm đẹp
đẽ, đến chỗ Ta, nay vì sao mặc y rách rưới như thế? -
Bạch Thế Tôn, đây là chiếc y ngày trước, nhưng vì đã
lâu năm nên bị hư rách. -
Ông không thể vá lại được sao? -
Bạch Thế Tôn, con có thể vá, nhưng không lấy gì để vá. -
Ông không thể đi nhặt những y phục cũ rách tại những con
đường hẻm đem về giặt, nhuộm sạch rồi vá sao? -
Bạch Thế Tôn, y phấn tảo bẩn thỉu, con rất nhờm gớm
không thể dùng được. -
Này Tỉ-kheo, thôi thôi đi, đừng nói như thế. Y phấn tảo
ít phiền toái, dễ tìm, nên giặt cho sạch, không có các lỗi,
họp với pháp phục của Sa-môn, dựa vào đó mà sống đời
xuất gia. Thế
rồi, Thế Tôn đi đến chỗ có đông Tỉ-kheo, trải tọa cụ
ngồi, thuật lại đầy đủ sự việc kể trên. Ðoạn, Phật
nói với các Tỉ-kheo: "Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri muốn
làm lợi ích cho chúng Thanh Văn, chế ra pháp y cứ đầu tiên
nầy. Nếu Thiện nam tử nào có lòng tin chân chánh, kham nhẫn
được thì cho thọ Cụ túc, còn ai không kham nhẫn được
thì không nên cho Thọ". Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích bên cây Ni-câu-luật,
tại Ca-duy-la-vệ, vì năm sự lợi ích nên đức Như Lai Ứng
Cúng Chánh Biến Tri cứ năm hôm đi tuần tra phòng các Tỉ-kheo
một lần. Năm sự lợi ích đó là: 1/
Xem các đệ tử Thanh Văn có ưa thích các việc hữu vi hay
không;
Vì
năm việc đó mà Ngài đi đến phòng các Tỉ-kheo, bỗng thấy
một Tỉ-kheo bị bệnh tê liệt vàng vọt gầy ốm, Phật biết
nhưng vẫn hỏi: -
Tỉ-kheo, khí lực của ông có điều hòa không? -
Bạch Thế Tôn, con bị bệnh đói khát, khí lực không đầy
đủ. -
Ông không thể đi khất thực sao? -
Bạch Thế Tôn, ở nước Câu-tát-la nầy chỉ có thể xin đồ
ăn thừa của người ta, chứ không thể xin đồ ăn còn nguyên
vẹn, mà thức ăn thừa thì dơ bẩn, con không thể ăn được,
cho nên mới bị gầy ốm. -
Này Tỉ-kheo, thôi thôi đi, chớ nói như thế. Xin đồ ăn thừa
ít phiền toái, dễ được, hợp pháp, không có lỗi lầm,
nhờ đó mà đời sống xuất gia được dễ dàng. Thế
rồi, Thế Tôn đi đến chỗ có nhiều Tỉ-kheo, trải tọa
cụ, ngồi trình bày lại đầy đủ việc kể trên với các
Tỉ-kheo. Ðoạn, Phật nói với các Tỉ-kheo: --"Từ
hôm nay, Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì muốn lợi ích
cho chúng Thanh Văn, chính thức chế định pháp y cứ thứ hai
nầy. Nếu Thiện nam tử nào có lòng tin chân chính kham nhẫn
được thì cho thọ Cụ túc, còn ai không thể kham nhẫn được
thì không nên cho thọ". Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Ðức Như
Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cứ năm hôm đi tuần tra phòng
các Tỉ-kheo một lần, thấy một Tỉ-kheo ngồi dưới gốc
cây, nói như sau: "Sa-môn xuất gia tu phạm hạnh, ngồi dưới
gốc cây khổ cực, ban ngày thì bị gió lùa nắng đốt, ban
đêm thì bị muỗi mòng châm chích, ta không thể chịu nổi". Phật
liền nói với Thầy: "Im, im đi, đừng nói như thế. Ngồi
dưới gốc cây ít phiền toái, dễ chịu, thanh tịnh, không
có các lỗi lầm, phù hợp với phép tắc Sa-môn, đời sống
xuất gia lấy đó làm chỗ nương tựa". Thế
rồi, đức Thế Tôn đi đến chỗ đông đúc các Tỉ-kheo,
trải tọa cụ ngồi, tường thuật sự việc trên với các
Tỉ-kheo. Ðoạn, Phật nói: --"Từ
hôm nay, Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri vì muốn lợi ích
cho chúng Thanh Văn, chính thức chế định pháp y cứ thứ ba
nầy. Nếu Thiện nam tử nào có lòng tin chân chính, biết kham
nhẫn thì cho thọ Cụ túc, còn ai không kham nhẫn được thì
không nên cho Thọ". Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, dưới cây Ni-câu-luật,
tại Ca-duy-la-vệ, đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cứ
năm hôm đi thị sát phòng các Tỉ-kheo một lần, thấy một
Tỉ-kheo đang bị bệnh tê liệt, vàng vọt gầy ốm, tuy biết
nhưng Phật vẫn hỏi: -
Này Tỉ-kheo, khí lực ông có điều hòa không? -
Bạch Thế Tôn, con bị bệnh rất khổ sở, khí lực không
điều hòa. -
Ông không thể uống thuốc phù hợp với bệnh, ăn thức ăn
phù hợp với bệnh sao? -
Bạch Thế Tôn, con không có tiền mua thuốc, cũng không ai cúng
dường, nên bị bệnh khốn khổ. -
Ông không thể uống trần khí dược sao? -
Bạch Thế Tôn, loại trần khí dược nầy [414b] do bẩn, con
không uống được. -
Này Tỉ-kheo, thôi thôi đi, đừng nói như thế. Loại trần
khí dược ít phiền toái, dễ tìm, sạch sẽ, không có các
lỗi lầm, phù hợp với nếp sống của Sa-môn, y cứ vào đó
mà sống đời sống xuất gia. Thế
rồi, Phật đi đến chỗ đông đúc các Tỉ-kheo, trải tọa
cụ ngồi, tường thuật lại sự việc kể trên với các Tỉ-kheo.
Ðoạn, Phật dạy: --
Từ hôm nay, Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri muốn làm lợi
ích cho chúng Thanh Văn, chính thức chế định điều y cứ
thứ tư. Nếu Thiện nam tử nào có lòng tin chân chính, biết
kham nhẫn thì cho thọ Cụ túc, còn ai không kham nhẫn được
thì không nên cho thọ. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có trang thanh niên Bà-la-môn ở thôn Ðô Di đến cầu xin các
Tỉ-kheo xuất gia, thọ Cụ túc, rồi mới Thọ bốn thứ y
cứ. (Bấy giờ giới sư hỏi): -
Y phấn tảo nầy ít phiền toái, dễ được, thanh tịnh, không
có các lỗi lầm, phù hợp với nếp sống Sa-môn, y cứ vào
đó mà xuất gia, thọ Cụ túc, vậy ngươi có thể chấp nhận
dùng nó suốt đời được không? -
Không thể kham nhẫn được. -
Vậy, vì lý do gì mà ngươi xuất gia? -
Vì con thấy Sa-môn Thích tử khoác y đẹp đẽ mảnh mai, con
thích mặc loại y ấy, do thế mà xuất gia. -
Có khi nào mà tất cả các Tỉ-kheo xuất gia đều được mặc
y đẹp hết như thế nầy đâu. Rồi
các Tỉ-kheo trao cho pháp y cứ thứ hai, nói: -
Xin thức ăn thừa ít phiền toái, dễ được, thanh tịnh, không
có các lỗi lầm, phù hợp với nếp sống Sa-môn, y cứ vào
đó mà xuất gia, thọ Cụ túc, vậy ngươi có thể kham nhẫn
tuân thủ suốt đời được không? -
Con không thể kham nhẫn. -
Vậy, vì cớ gì mà ngươi xuất gia? -
Con thấy Sa-môn Thích tử ăn toàn gạo trắng lúa thơm, bánh
ngọt ngon lành, con tham những thức ngon ấy cho nên xuất gia. -
Ðâu có chuyện tất cả Tỉ-kheo xuất gia đều được ăn
những thứ ngon lành nầy. Rồi
các Tỉ-kheo trao cho pháp y cứ thứ ba, nói: -
Ngồi dưới gốc cây ít phiền toái, dễ được, thanh tịnh,
không có các lỗi lầm, phù hợp với nếp sống của Sa-môn,
nương vào đó mà xuất gia, thọ Cụ túc, ngươi có thể kham
nhẫn tuân thủ nếp sống nầy suốt đời được không? -
Con không thể kham nhẫn. -
Vậy, vì lý do gì mà ngươi xuất gia? -
Vì con thấy Sa-môn Thích tử ngồi tại những căn phòng lớn,
những lầu gác lộng lẫy, con tham sống nơi những phòng xá
nầy cho nên xuất gia. -
Có nơi nào mà tất cả Tỉ-kheo xuất gia đều được các
phòng xá tốt đẹp hết như vậy đâu. Rồi
các Tỉ-kheo trao cho pháp y cứ thứ tư, nói: -
Loại trần khí dược ít phiền toái, dễ có, thanh tịnh, không
có các lỗi lầm, thích hợp với nếp sống của Sa-môn, lấy
đó làm chỗ y cứ để xuất gia, thọ Cụ túc, trong vấn đề
nầy ngươi có thể kham nhẫn tuân thủ suốt đời được
không? -
Con không thể kham nhẫn được. -
Vậy, vì lý do gì mà ngươi xuất gia? -
Vì con thấy Sa-môn Thích tử uống sữa dầu mật đường phèn
và các thứ thuốc khác, con tham uống những thứ nầy [414c]
cho nên xuất gia. -
Ðâu có chuyện tất cả Tỉ-kheo xuất gia đều được những
món thuốc ngon lành như vậy. Thế
rồi, các Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền khiển trách: --"Vì
sao các ông cho thọ Cụ túc trước, rồi trao cho bốn sự y
cứ sau? Từ nay về sau không được cho thọ Cụ túc trước,
rồi trao cho bốn sự y cứ sau, mà phải trao cho bốn sự y
cứ trước, xem họ có kham nhẫn được hay không, rồi mới
cho thọ Cụ túc. Nếu họ nói không kham nhẫn được thì không
nên cho thọ Cụ túc. Nếu cho thọ Cụ túc trước, trao cho
bốn pháp y cứ sau, cũng được gọi là thọ Cụ túc, nhưng
tất cả Tăng đều phạm tội Việt-tì-ni. Khi trao cho bốn
pháp y cứ, trước hết phải làm yết-ma cầu thính như sau: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ
túc, mỗ giáp đã hỏi han dạy bảo giới tử ở chỗ thanh
vắng xong, giờ đến giữa Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ đã
cho phép, đã cầu xin Hòa Thượng, ba y và bát đầy đủ, trang
nam tử nầy đã đủ hai mươi tuổi, tự nói mình thanh tịnh,
không có các già nạn. Nếu thời gian của Tăng đã đến,
Tăng bằng lòng cho mỗ giáp làm Hòa Thượng. Mỗ giáp muốn
trình bày bốn pháp y cứ ở giữa Tăng. Chư
đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp làm Hòa Thượng cho mỗ
giáp, muốn nói về bốn pháp y cứ ở giữa Tăng. Vì
Tăng đã bằng lòng nên im lặng, việc nầy tôi ghi nhận như
vậy. Ðoạn,
Hòa Thượng truyền bốn pháp y cứ: -
Thiện nam tử hãy lắng nghe. Ðức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến
Tri vì muốn lợi ích cho chúng Thanh Văn, đã chính thức chế
định bốn pháp y cứ nầy. Nếu Thiện nam tử có lòng tin
chân chính kham nhẫn được thì mới cho thọ Cụ túc, còn
không kham nhẫn được thì không cho thọ. Y phấn tảo nầy
ít phiền toái, dễ được, thanh tịnh, không có các lỗi,
phù hợp với nếp sống của Sa-môn, lấy đó làm chỗ nương
tựa mà xuất gia thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo; vậy ngươi
có thể kham nhẫn thọ trì y phấn tảo nầy suốt đời được
không?". Ðáp:
Ðược. Vậy,
nếu được các loại y như Khâm-bà-la, y Ðiệp, y Sô ma, y
Câu-xá-da, y Xá-na, y Ma, y Khâu mâu đề (thì ngươi hãy thọ
trì). -
Xin thức ăn dư thừa ít phiền toái, dễ được, thanh tịnh,
không có các lỗi, phù hợp với nếp sống Sa-môn, nương vào
đây mà xuất gia, thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo, vậy ngươi
có thể kham nhẫn khất thực sống suốt đời được không? Ðáp:
Ðược. Vậy,
nếu vào các ngày mồng tám, mười bốn, mười lăm trong tháng,
những dịp thuyết giới, dịp bốc thăm, dịp Thí chủ mời,
được các bữa ăn (thì ngươi hãy thọ dụng). -
Ngồi dưới gốc cây ít phiền toái, dễ thanh tịnh, không
có các lỗi, phù hợp với nếp sống Sa-môn, nương vào đây
mà xuất gia, thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo, vậy ngươi
có thể kham nhẫn tuân hành suốt đời ngồi dưới gốc cây
được không? Ðáp:
được. Tuy
nhiên, khi được những ngôi nhà lớn, những ngôi nhà có lầu
gác, ngôi nhà có cửa lớn, ngôi nhà trong hang (thì ngươi có
thể sử dụng). -
Loại trần khí dược ít phiền toái, dễõ được, thanh tịnh,
không có các lỗi, phù hợp với nếp sống Sa-môn, nương vào
đây mà xuất gia, thọ Cụ túc, được làm Tỉ-kheo, ngươi
có thể [415a] kham nhẫn uống trần khí dược suốt đời được
không? Ðáp:
Ðược. Vậy,
nếu được sữa tươi, sữa chua, dầu, mật, đường phèn
và mỡ ( thì ngươi hãy thọ dụng). Tóm
lại, ngươi phải tùy thuận học tập tuân thủ bốn Thánh
chủng nầy (bốn pháp y cứ). Thế
rồi, Thầy yết-ma nói: -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ
túc, mỗ giáp đã chất vấn dạy bảo (giới tử) ở chỗ
thanh vắng xong. Giờ đây mỗ giáp theo Tăng xin thọ Cụ túc.
Cha mẹ đã cho phép, đã cầu xin Hòa Thượng, ba y và bát đầy
đủ. Trang nam tử nầy đã đủ hai mươi tuổi, tự nói mình
thanh tịnh, không có các già nạn, đã kham nhẫn bốn pháp
y cứ. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng nay cho mỗ giáp
thọ Cụ túc. Hòa Thượng là mỗ giáp. Ðây là lời tác bạch. -
Xin đại đức Tăng lắng nghe. Mỗ giáp theo mỗ giáp thọ Cụ
túc, mỗ giáp đã chất vấn dạy bảo ở chỗ thanh vắng xong.
Giờ đây, mỗ giáp theo Tăng xin thọ Cụ túc. Cha mẹ đã cho
phép, đã cầu xin Hòa Thượng, ba y và bát đầy đủ. Trang
nam tử nầy đã đủ hai mươi tuổi, tự nói mình thanh tịnh,
không có các già nạn, đã kham nhẫn bốn pháp y cứ. Nay Tăng
cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa Thượng là mỗ giáp. Các đại
đức nào bằng lòng việc Tăng cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa
Thượng là mỗ giáp thì im lặng. Ai không bằng lòng hãy nói.
Ðây là yết ma lần thứ nhất. Vậy có thành tựu không? (lần
thứ hai, thứ ba cũng nói như thế). Tăng
đã bằng lòng cho mỗ giáp thọ Cụ túc, Hòa Thượng là mỗ
giáp. Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng, việc nầy tôi ghi
nhận như vậy. (Ðoạn,
quay sang nói với giới tử): -
"Này Thiện nam tử, ngươi đã thọ Cụ túc, một sự thọ
Cụ túc tốt đẹp, một lần bạch, ba lần yết-ma, không có
các già nạn, chúng Tăng hòa hợp không phải là không hòa
hợp, từ mười chúng (mười giới sư) hay mười chúng trở
lên. Nay ngươi phải kính trọng Phật, kính trọng pháp, kính
trọng Tỉ-kheo Tăng, kính trọng Hòa Thượng, kính trọng A-xà-lê.
Ngươi đã may mắn gặp được, đừng để mất đi. Thân người
khó được, Phật xuất thế khó gặp, nghe pháp cũng khó, chúng
Tăng hòa hợp, ý nguyện thành tựu, khó có dịp đảnh lễ
đấng Thích Sư Tử (Phật) và chúng Thanh Văn, ngươi đã được
giới Cụ túc, như hoa vô ưu rời khỏi bùn và nước vậy,
phải nương vào giới pháp mà tu tập pháp Niết-bàn vi diệu.
Ðó là bài tựa của giới, bốn pháp Ba la di, mười ba pháp
Tăng-già-bà-thi-sa, hai pháp Bất định, ba mươi pháp Ni-tát-kì-ba-dạ-đề,
chín mươi hai pháp Ba-dạ-đề, bốn pháp Ba-la-đề-đề-xá-ni,
các pháp chúng học, bảy pháp Diệt tránh, pháp tùy thuận.
Nay ta dạy bảo ngươi đại khái như thế, sau nầy Hòa Thượng,
A-xà-lê sẽ nói cho ngươi rộng rãi hơn. Ðó
gọi là Thập chúng thọ giới". 4.
Ngũ chúng thọ Cụ túc: Khi
Phật an trú tại rừng Thi Ðà nơi thành Vương Xá, lúc ấy
trong thành có một cư sĩ [415b] tên là Uất Kiền, vốn dòng
tôn thất, hào quí, tài sản vô lượng. Ông nghe đức Như
Lai xuất hiện trong đời, đang trú tại rừng Thi Ðà, lòng
rất hoan hỉ phấn khởi, muốn mời Phật và chúng Tăng cúng
dường trai phạn, liền cho trang hoàng nội thất, quét tước
sạch sẽ. Bấy giờ, trong thành Xá-vệ có một cư sĩ tên
là A Na Bân Chi, vốn là bạn chí thiết của Uất Kiền, đến
chơi nhà Uất Kiền, thấy ông đang bận rộn trang hoàng quét
tước, liền hỏi: "Này Cư sĩ, vì sao mà chuẩn bị khẩn trương,
định gả chồng, cưới vợ, mời Bà-la-môn, nhà vua hay đại
thần chăng?". Cư
sĩ đáp: "Tôi không gả con, cưới vợ, mời Bà-la-môn, nhà
vua hay đại thần gì cả. Ông không nghe con của vua Bạch Tịnh
xuất gia, thành Phật, hiệu là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến
Tri xuất hiện trên đời nầy sao? Hiện nay Ngài đang ở tại
rừng Thi Ðà. Nay tôi quét dọn trang hoàng chính là muốn mời
Phật và chúng Tăng, cho nên mới khẩn trương như vậy". Bân
Chi nghe thế lòng rất vui mừng, liền hỏi: "Tôi
muốn thăm viếng đảnh lễ Ngài có được không?". Cư
sĩ đáp: "Có thể thăm được. Ðức Phật có tình thương
bao la, không ai yết kiến mà không có lợi ích. Ông hãy biết
lúc nào nên làm gì". Ông ta nghe rồi, lòng tôn kính bộc phát
mạnh mẽ, mong mau đến sáng. Ðức Phật hiểu rõ tâm ông,
liền phóng quang ngay trong đêm tối, ánh sáng chiếu khắp trong
thành. Bân Chi thấy ánh sáng, tưởng là trời đã hừng đông,
liền ra đi, thì cửa tự nhiên mở. Ông đi lần đến cửa
thành, cửa thành cũng mở ra, khi ra khỏi thành, bỗng thấy
một ngôi miếu thờ trời nằm ở ven đường. Ông muốn tới
đó lễ bái trước rồi mới đến viếng Phật sau, thì khi
vừa hướng đến ngôi miếu, bỗng dưng trời đất tối sầm.
Ông cảm thấy hoảng sợ, tới lui đều mờ mịt, không biết
đi lối nào. Lúc ấy, trên không có vị trời nói với Bân
Chi: "Giờ đây chính là đúng lúc, hãy đi tới, đừng sợ",
rồi đọc kệ: "Dùng
Thất bảo trang hoàng,
Dùng
Thất bảo trang hoàng,
Thân
Thất bảo anh lạc,
Lúc
bấy giờ A Na Bân Chi nghe bài kệ ấy rồi, lòng sinh kính tín
bội phần, liền đi đến chỗ Phật, [415c] cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, rồi đứng qua một bên. Phật liền thuyết
pháp, dạy bảo những điều lợi ích, khiến ông hoan hỉ.
Ông bèn bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn, con muốn trở về
thành Xá-vệ thiết lập tinh xá, để mời Phật và chúng Tăng
an trú. Kính xin Thế Tôn thương xót nhận lời thỉnh cầu
của con. Ðồng thời xin Thế Tôn sai một Tỉ-kheo trông coi
việc xây cất". Như trong kinh Tỉ La đã nói rõ, cho đến Phật
nói với Xá-lợi-phất và Mục-liên: "Các ông hãy đến đó
xem xét địa hình địa thế, tùy trú xứ của Tăng mà trông
coi sắp xếp, bố trí phòng ốc". Xá-lợi-phất
và Mục-liên vâng lời Phật dạy liền đi đến đó. Khi ấy,
Cư sĩ Bân Chi bèn dùng mười tám ức tiền vàng mua một khoảnh
đất, mười tám ức tiền vàng làm tăng phòng, mười tám
ức tiền vàng cúng dường chúng tăng, cọng tất cả là năm
mươi tư ức tiền vàng. Vị cư sĩ nầy lại muốn cúng dường
thêm nữa, bèn sai Phú Lâu Na vào biển tìm châu báu. Do oai
thần của Phật nên bốn Ðại Thiên Vương, Ðế Thích và
Phạm Thiên Vương hộ vệ người nầy, khiến ông đi về bảy
lần, được châu báu vô số mà không gặp tai nạn gì hết. Thế
rồi, Phú Lâu Na thưa với Bân Chi: "Kính mong cư sĩ cho phép
tôi xuất gia". Cư sĩ liền chuẩn thuận, đoạn, dẫn đến
chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng qua
một bên, bạch với Phật: "Người nầy muốn xuất gia, kính
mong Thế Tôn thương xót tiếp độ". Phật liền tiếp độ. Sau
khi xuất gia, ông thưa với Phật: "Bạch Thế Tôn, kính xin
Thế Tôn dạy bảo tóm lược cho con, con muốn đến nước
Thâu-na, nương theo lời dạy ấy mà tu hành". Phật
liền tùy thuận dạy bảo, như trong Diên Kinh đã nói rõ. Phú
Lâu Na thọ giáo rồi, liền đi đến nước Thâu Na. Trong nước
nầy có một Trưởng giả tên là Thát Bà, kiến tạo phòng
Chiên đàn. Ở đây xin nói rõ về nhân duyên của Ức Nhĩ,
cuối cùng, ông cầu xin xuất gia, và được Phú Lâu Na độ
cho xuất gia, làm Sa-di cho đến bảy năm, vì ở đây chúng
Tăng khó tìm, nên không được thọ Cụ túc. Sau bảy năm,
Thát Bà mới làm xong phòng Chiên đàn, rồi trang trí đẹp
đẽ, mời chúng Tăng nhiều nơi về thiết trai cúng dường,
đoạn, đem căn phòng ấy cúng dường cho Phú Lâu Na. Bấy
giờ, nhân dịp chúng Tăng tập họp, Phú Lâu Na bèn mời mười
vị Tăng tinh thông giới luật, cho Ức Nhĩ thọ Cụ túc. Thọ
Cụ túc xong, Ức Nhĩ liền bạch với Hòa Thượng: "Con muốn
đến Xá-vệ thăm viếng đảnh lễ đức Thế Tôn, kính xin
Hòa Thượng chuẩn thuận". Phú
Lâu Na đáp: "Tùy ý. Nhưng ông hãy nhân danh Ta thăm hỏi đức
Thế Tôn và xin Ngài chấp thuận năm nguyện vọng". Ức
Nhĩ thọ giáo rồi liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân, đứng hầu một bên. Phật liền nói với
A-nan: "Ông hãy trải giường nệm cho Tỉ-kheo khách". Khi
Phật bảo A-nan trải giường nệm thì phải biết là vị ấy
sẽ ngủ cùng phòng với Thế Tôn. Còn khi Phật bảo tôn giả
Ðà-phiêu-ma-la-tử [416a] thì phải biết là vị ấy theo thứ
tự mà nhận phòng. Ðức Như Lai đầu hôm thuyết pháp cho
chúng Thanh Văn, nửa đêm Ngài trở về phòng, hào quang thường
sáng tỏ. Phật liền hỏi Tỉ-kheo khách: -
Ông có tụng kinh không? -
Có tụng, bạch Thế Tôn. -
Tụng kinh gì? -
Tụng Kinh Bát Bạt Kỳ. -
Ông hãy tụng xem. Thầy
bèn tụng nho nhỏ. Khi tụng xong, hỏi đến câu cú nghĩa lý
thì thầy đều đáp đâu đó rành mạch. Phật liền ngợi
khen: "Tốt lắm Tỉ-kheo! Câu cú chữ nghĩa mà ông vừa tụng
đều giống y những gì trước kia Ta đã nói". Thế rồi, Thế
Tôn bèn nói kệ: "Thánh
nhân chẳng thích ác,
Ðoạn,
Phật
tiếp: "Lành thay, trong hàng đệ tử của Ta người thông hiểu
nhanh chóng bậc nhất chính là Ức Nhĩ". Ức Nhĩ liền đứng
dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, rồi trình bày việc
Hòa Thượng mình xin Phật năm nguyện vọng. Ðức Như Lai nghe
xong, sáng sớm hôm sau thức dậy, đi đến chỗ có đông Tỉ-kheo,
trải tọa cụ ngồi, nói với các Tỉ-kheo: -"Phú
Lâu Na ở nước Thâu Na sai Ức Nhĩ đến xin Ta năm nguyện
vọng. Từ nay về sau, Ta cho phép tại nước Thâu Na biên địa
được thực hiện năm nguyện vọng sau đây: 1/
Ở Thâu-na biên địa dân chúng thích sạch sẽ, Ta cho phép
được tắm rửa hằng ngày. Còn ở đây nửa tháng mới tắm
một lần. 2/
Tại Thâu-na biên địa có nhiều ngói gạch đá cuội và gai
gốc, Ta cho phép mang dép da hai lớp, còn ở đây chỉ được
mang dép một lớp. 3/
Ở Thâu-na biên địa ít có phu cụ mà có nhiều thứ da, Ta
cho phép dùng da làm phu cụ, còn ở đây thì không cho. 4/
Ở Thâu-na biên địa có ít vải vóc mà nhiều y phục của
người chết, Ta cho phép mặc y phục của người chết và
ở đây cũng cho phép mặc. 5/
Ở Thâu-na biên địa có ít Tỉ-kheo, Ta cho phép năm người
được truyền giới Cụ túc, còn ở đây phải đủ mười
người mới được truyền giới Cụ túc. Ðó là cách thọ
Cụ túc tốt lành nhất, trước mười người một lần bạch,
ba lần yết-ma thọ Cụ túc. Còn ở Thâu-na biên địa trước
năm người, một lần bạch, ba lần yết-ma thọ Cụ túc. Ðó
gọi là bốn cách thọ Cụ túc. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ tôn giả Ưu-ba-li có hai Sa-di, một người tên là
Ðà Bà Già, còn người kia tên là Bà-la-già. Hai Sa di nầy
được nuôi từ nhỏ dần dần lớn lên, đủ hai mươi tuổi,
tôn giả muốn cho thọ Cụ túc, liền suy nghĩ: "Nếu cho một
người thọ trước thì người sau ắt hẳn sẽ oán hận, không
hiểu cùng một Hòa Thượng, cùng một Tăng chúng, cùng một
giới sư, hai người thọ giới cùng một lúc có được không?" Suy
nghĩ thế rồi, Ưu-ba-li liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu
đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi sang một bên, đem đầy đủ
sự việc kể trên bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn, cùng một
Hòa Thượng, [416b] một giới sư, một chúng, hai người cùng
thọ giới một lần có được không?" Phật
dạy: --"Ðược.
Cũng thế, hai người, ba người cùng thọ một lần cũng được,
nhưng không được thọ một lần nhiều người (bốn người
trở lên); đó gọi là thọ Cụ túc. Nếu một giới tử mà
hai Hòa Thượng, ba Hòa Thượng, nhiều Hòa Thượng thì không
thể gọi là thọ Cụ túc. Không có Thầy yết-ma thì không
thể gọi là thọ Cụ túc. Hai người, ba người cùng với
một Thầy yết-ma, còn Hòa Thượng tách riêng với một chúng
để thọ, thì không gọi là thọ Cụ túc. Hai người làm yết-ma
hai người, ba người làm yết-ma ba người, còn riêng Hòa Thượng
cho thọ cùng một chúng, thì không thể gọi là thọ Cụ túc. Lại
nữa, nếu Hòa Thượng ở trong số mười người (Thập sư)
thì không thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu đem người muốn
thọ Cụ túc tính cho đủ số mười người, đem Tỉ-kheo-ni
tính cho đủ số mười người, đem người gởi dục tính
cho đủ số mười người, đều không thể gọi là thọ Cụ
túc. Nếu không xưng tên Hòa Thượng, không xưng tên giới
tử, không xưng tên chúng Tăng, thì không thể gọi là thọ
Cụ túc. Nếu
Hòa Thượng nói yết-ma, giới tử nói yết-ma, Tỉ-kheo-ni nói
yết-ma, đều không thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu
Hòa Thượng ở trên không trung, giới tử ở trên không trung,
Tăng ở trên không trung, tất cả ở trên không, đều không
thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu một nửa ở dưới đất,
một nửa ở trên không, cũng không thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu
bị che chắn ngăn cách thì không thể gọi là thọ Cụ túc.
Nếu một nửa ở chỗ che khuất, trung gian có vật ngăn cách
thì không thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu một nửa bị che
khuất, một nửa ở chỗ khoảng trống mà đưa tay ra không
chạm vào nhau, thì không thể gọi là thọ Cụ túc. Nếu tất
cả đều ngồi ở chỗ trống mà đưa tay ra không chạm vào
nhau, hoặc tất cả đều ngồi ở chỗ khuất, không nghe thấy
nhau, đều không thể gọi là thọ Cụ túc. Lại
nữa, nếu ngủ, hoặc si ám, điên cuồng, tâm loạn, bị bệnh
khổ bức bách, đều không thể gọi là thọ Cụ túc. Lại
nữa, nếu giới tử không nói, hoặc chỉ suy nghĩ, hoặc kêu
lớn, đều không thể gọi là thọ Cụ túc. Lại
nữa, nếu sai người mang thư tín đến, hoặc đưa tay ra dấu,
đều không thể gọi là thọ Cụ túc. Ðương sự không hiện
diện, không hỏi giới tử, giới tử không muốn thọ giới,
làm yết-ma phi pháp, Tăng không hòa họp, tác bạch không thành
tựu, yết ma không thành tựu, hoặc một trong những việc
đó không thành tựu thì không thể gọi là thọ Cụ túc. CÁC
GIÀ NẠN. Lại
nữa, nếu có các Trường hợp như hủy hoại tịnh hạnh của
Tỉ-kheo-ni; trú trong chúng với tâm trộm pháp; kẻ lừa đảo;
phạm ngũ nghịch; sáu hạng không phải nam tử; nhỏ quá; già
quá; bị chặt tay; bị chặt chân; tay chân đều bị chặt;
bị cắt tai; bị cắt mũi; tai mũi đều bị cắt; hoặc mù;
hoặc điếc; hoặc bị mù điếc; hoặc câm; què; hoặc bị
câm què; [416c] hoặc bị đánh có sẹo; hoặc bị đóng dấu;
hoặc bị rút gân; hoặc gân bị giãn; xương
sống bị còng; làm quan chức; mắc nợ; bệnh; ngoại
đạo; trẻ con; đầy tớ; thân thể dị dạng; hình dáng xấu
xí, đều không thể gọi là thọ Cụ túc. 1/
Hủy hoại tịnh hạnh của Tỉ-kheo-ni: Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, lúc ấy, đồng tử Ly Xa là An Bà
La phá hoại tịnh hạnh đệ tử của Tỉ-kheo-ni Pháp Dự.
Thế rồi, Tỉ-kheo-ni Pháp Dự bèn đi đến chỗ Thế Tôn,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên, bạch
với Phật: "Bạch Thế Tôn, đồng tử Ly Xa phá hoại phạm
hạnh đệ tử của con". Nói như thế rồi bèn lễ Phật mà
ra đi. Khi ấy, Phật liền nói với A-nan: "Ông hãy lấy y Tăng-già-lê
của Ta lại đây, để Ta đi vào thành Tì-xá-li". A-nan bèn
lấy y Tăng-già-lê đưa cho Thế Tôn. Ðức Như Lai Ứng Cúng
Chánh Biến Tri từ khi thành Phật đến giờ, chưa khi nào đi
vào thành ấp xóm làng sau bữa ăn. Khi ấy, Thế Tôn cùng A-nan
vào thành Tì-xá-li. Bấy giờ, năm trăm người Ly-xa đang tập
họp tại ngôi nhà nghị luận, định bàn bạc về những việc
khác, trông thấy Thế Tôn từ xa đi đến, họ liền bảo nhau:
"Không hiểu đức Như Lai có việc gì mà sau bữa ăn đi vào
thành?". Thế rồi, lập tức các Ly-xa đứng dậy trải tòa
ra nghênh đón Thế Tôn, quỳ gối chắp tay, bạch rằng: "Lành
thay Thế Tôn, xin Thế Tôn ngồi trên tòa nầy". Khi
ấy, Thế Tôn bèn trải tọa cụ mà ngồi, đoạn, các người
Ly- xa cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, rồi ngồi qua một
bên. Phật liền nói với các Ly-xa: "Quyến thuộc của các
ngươi, các ngươi phải bảo hộ, cũng như đệ tử Tỉ-kheo-ni
của Ta, Ta cũng phải bảo hộ. Nếu có ai xâm phạm, hoặc
muốn hay không muốn phá hoại phạm hạnh, thì theo phép tắc
của Ta, suốt đời không nói chuyện, không ở chung, không
ăn chung". Các
người Ly-xa liền bạch với Phật: "Cũng như phép tắc của
Thế Tôn, hễ kẻ nào phá hoại phạm hạnh thì chúng tôi không
nói chuyện, không ở chung, không ăn chung. Phép tắc thế tục
của chúng tôi cũng như vậy, suốt đời không nói chuyện,
không ở chung, không ăn chung". Khi
ấy, đức Thế Tôn tùy nghi thuyết pháp cho các Ly- xa, khiến
họ sinh tâm hoan hỉ, rồi ra đi. Sau khi Ngài đi không bao lâu,
Tỉ-kheo-ni Pháp Dự liền đến chỗ Ly-xa, nói như sau: "Này
các cư sĩ, đồng tử Ly-xa Am Bà La đã hủy hoại phạm hạnh
đệ tử của tôi. Ðó là việc bất thiện, không phải pháp
tùy thuận". Các
Ly-xa nghe thế liền tự bảo nhau: "Vừa rồi, chính đức Thế
Tôn muốn nói về việc nầy đây", bèn cảm thấy rất xấu
hổ, nói với Tỉ-kheo-ni: "Vậy, Ni-sư
muốn chúng tôi trừng trị bằng cách nào đây?" Tỉ-kheo-ni
nói: "Ðổi họ ông ta, công bố ông ta không còn là người
Ly-xa nữa, xoay cửa nhà ông ta về hướng Tây, phá nhà bếp
ông ta, hủy mái nhà ông ta xung quanh một khuỷu tay". Các
Ly-xa đáp: "Xin thọ giáo", liền tuyên bố Am Bà La không còn
là Ly-xa nữa, rồi xoay cửa nhà ông ta về hướng Tây, cho
đến phá hủy [417a] mái nhà ông ta. Bấy
giờ đức Thế Tôn đi đến giữa đám đông Tỉ-kheo, trải
tọa cụ ngồi, trình bày lại đầy đủ sự việc kể trên
với các Tỉ-kheo. Trong trường hợp phá tịnh hạnh Tỉ-kheo-ni:
Nếu (hành dâm với) Ni A-la-hán, A-na-hàm mà lúc đầu, lúc
giữa và lúc cuối tất cả (đều thọ lạc) thì gọi là phá
hoại tịnh hạnh của Ni. Nếu Ni Tư-đà-hàm, Ni Tu-đà-hoàn,
Ni phàm phu giữ giới mà (khi hành dâm) lúc đầu thọ lạc
thì gọi là hoại tịnh hạnh của Ni, còn lúc giữa và lúc
cuối (thọ lạc) thì không gọi là hoại tịnh hạnh. Khi
ấy có một (Tỉ-kheo) ngớ ngẩn, lúc còn là người thế tục
đã hoại tịnh hạnh của Ni, tâm sinh nghi hoặc, liền bạch
với Phật: "Bạch Thế Tôn, lúc con còn là người thế tục
đã hủy hoại tịnh hạnh của Ni". Phật bèn nói với các
Tỉ-kheo: "Ông (Tỉ-kheo) ngớ ngẩn nầy tự nói: Ðã hủy hoại
tịnh hạnh của Ni, vậy hãy đuổi đi". Các
Tỉ-kheo liền đuổi vị ấy. Phật
lại dạy: --"Nếu
kẻ nào hoại tịnh hạnh của Ni thì không nên cho họ xuất
gia. Nếu đã xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ
xuất gia, thọ Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi
là hoại tịnh hạnh của Tỉ-kheo-ni". 2/
Sống trong chúng để trộm pháp: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có đàn việt đến tinh xá cúng dường trai phạn cho chúng
Tăng, thì có một người đen điêu, bụng bự đến ngồi chỗ
của Thượng tọa. Trong chốc lát, Thượng Tọa đến hỏi: -
Ông bao nhiêu hạ lạp? -
Ngồi ở đây ăn cơm thì bình đẳng cả, còn phải vất vả
hỏi tuổi tác làm gì? Vì
Thượng Tọa có uy đức nghiêm trang, bèn bảo: "Ối chao! Ông
đi xuống dưới kia". Ông bèn đến ngồi chỗ của Thượng
Tọa thứ hai. Trong khoảnh khắc, Thượng Tọa thứ hai đến,
hỏi: -
Ông bao nhiêu tuổi hạ? -
Ngồi đây ăn cơm thì bình đẳng cả, còn phải vất vả hỏi
tuổi tác để làm gì? Cứ
như vậy, lần lượt đến chỗ của Sa-di. Sa-di xua đuổi,
hỏi: -
Ai là Hòa Thượng của ông? Ai là thầy ông? Sa-di
có mấy giới? Sa-di phải thuộc bao nhiêu thứ? Loại
thứ nhất gọi là gì? (Ðó là: 1/ Tất cả chúng sinh đều
ngước lên mà ăn; 2/ Hai loại danh, sắc;
3/ Ba cảm thọ; 4/ Bốn Thánh đế; 5/ Năm ấm; 6/ Lục
nhập; 7/ Thất giác ý; 8/ Bát Chánh đạo; 9/ Chín cõi của
chúng sinh cư trú; 10/ Thập nhất thiết nhập. Phép của Sa-di
là phải nhớ những điều như vậy). -
Tôi là đệ tử lớn nhất của Nan-đà, Ưu Ba Nan-đà. Các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật
nói: --"Ông
ta không phải là đệ tử lớn nhất của Nan-đà, Ưu Ba Nan-đà.
Ðây là người tự động xuất gia. Nếu người như thế ấy
mà chưa từng tham dự Bố-tát, Tự-tứ, sau nầy có lòng tốt
muốn xuất gia, thì nên cho xuất gia thọ Cụ túc. Nếu đã
từng tham dự Bố-tát, Tự- tứ thì gọi là kẻ sống trong
chúng để ăn trộm, không cho xuất gia, thọ Cụ túc. Nếu
là con vua hay con quan đại thần [417b] vì tị nạn mà khoác
Ca sa, nhưng chưa tham dự Bố-tát Tự-tứ, thì nên cho xuất
gia. Nếu đã từng tham dự Bố-tát, Tự-tứ thì không cho xuất
gia. Nếu Sa-di suy nghĩ: "Trong khi Thuyết giới không biết bàn
luận về vấn đề gì?", rồi lén chui trước dưới giường
của Thượng Tọa để nghe trọâm, giá như ông ta thông minh,
nhớ tất cả các lời từ lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối
trong khi thuyết giới, thì sau nầy không được thọ Cụ túc.
Nếu đần độn, hoặc ngủ, hoặc tâm ý đang nghĩ những chuyện
khác, không nhớ những lời nói lúc đầu, lúc giữa và lúc
cuối trong khi thuyết giới, thì sau nầy được thọ Cụ túc.
Nếu sống trong chúng để ăn trộm thì không nên cho xuất
gia. Nếu đã xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ
xuất gia, thọ Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó gọi
là kẻ ở trong chúng để ăn trộm". 3/
Kẻ lừa đảo: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
có một người trước bữa ăn, mặc theo hình thức của Sa-môn,
tay cầm bát đen, vào xóm làng khất thực. Sau bữa ăn, ông
lại mặc theo hình thức ngoại đạo, tay cầm bát bằng gỗ,
theo người ta vào nơi công viên, hồ nước, chỗ du ngoạn
trong rừng để khất thực, bị người đời chê bai: "Vì sao
Sa-môn Thích tử vào trong xóm làng đến nhà tôi khất thực,
giờ lại vào trong rừng, không làm sao thoát được ông ta?"
Lại có người nói: "Ông không biết sao? Kẻ Sa-môn nầy dối
trá, vì y phục ẩm thực nên vào cả hai nơi". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
nói: --"Ðó
gọi là kẻ lừa đảo, bỏ hình thức Sa-môn, khoác hình thức
ngoại đạo, rồi lại bỏ hình thức ngoại đạo khoác hình
thức Sa-môn. Những kẻ lừa đảo như vậy không nên cho xuất
gia. Nếu đã cho xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ
họ xuất gia, thọ Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ðó
gọi là kẻ lừa đảo". 4/
Ngũ vô gián (ngũ nghịch): Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
Bà-la-môn Ðô Di vốn là Thiện tri thức cũ của Xá-lợi-phất,
đến chỗ Xá-lợi-phất, nói như sau: -
Tôn giả, cho tôi xuất gia. -
Ðó là việc tốt. Ông vốn là Bà-la-môn thường tương phản
với Sa-môn, do đâu mà có tín tâm, theo ai nghe pháp, phát tâm
hoan hỉ, theo Thế Tôn chăng, hay theo các Tỉ-kheo? -
Tôi cũng chẳng có tín tâm gì, lại không hoan hỉ, cũng chẳng
theo ai nghe pháp cả. Chỉ vì tôi giết mẹ nên muốn đoạn
trừ tội nầy, do đó mà xuất gia. -
Ðợi tôi hỏi đức Thế Tôn đã. Thế
rồi, Xá-lợi-phất đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật nói: "Người nầy giết mẹ, gây tội vô gián, vốn
là hạt giống thối nát, đối với chánh pháp không thể phát
sinh Thánh Thiện, không nên cho xuất gia". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên.
Bà-la-môn Ðô Do vốn là [417c] Thiện tri thức cũ của A Nan,
đến chỗ A Nan, nói: -
Tôn giả, tôi muốn xuất gia. -
Ðó là việc tốt. Cho
đến Phật nói với A-nan: --"Người
nầy giết cha, tạo nên tội vô gián, là hạt giống mục nát,
đối với chánh pháp không thể thành tựu đạo quả. Giá
như bảy đức Phật cùng xuất hiện một lúc, thuyết pháp
cho y nghe, thì đối với chánh pháp, rốt cuộc cũng không thể
sinh ra Thiện tâm. Ví như cây đa-la đã bị chặt đầu thì
không thể sống, không còn xanh, cũng không còn mầm sống ở
bên trong. Tội vô gián nầy cũng như vậy, đối với chánh
pháp không thể sinh mầm móng Thánh Thiện. Nếu kẻ nào gây
ra năm tội vô gián, thì không nên cho xuất gia. Nếu đã cho
xuất gia thì phải đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia, thọ
Cụ túc thì phạm tội Việt-tì-ni. Ngoài ra, ba tội vô gián
kia cũng như vậy. Ðó gọi là năm tội vô gián". 5/
Sáu loại người không thể làm đàn ông: Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
các Tỉ-kheo ban đêm đang ngủ trong phòng thì có kẻ đến
rờ mó từ gót chân lên đến bắp vế, đến bụng, rồi lần
tới chỗ kín. Tỉ-kheo định chụp bắt, thì anh ta liền chạy
thoát. Rồi anh ta lại đến những nơi khác như hội trường,
phòng sưởi, nơi nào cũng làm như thế. Sáng hôm sau, các Tỉ-kheo
tập trung một chỗ bàn tán nhau: "Nầy các Trưởng lão, đêm
qua trong khi ngủ thì có người đến rờ mó khắp người rồi
lần tới chỗ kín, tôi định bắt lấy thì anh ta chạy thoát". Lại có Tỉ-kheo khác nói: "Tôi cũng gặp trường hợp như thế". Cho đến nhiều người cũng gặp như thế. Rồi một Tỉ-kheo suy nghĩ: "Ðêm nay ta phải rình để bắt hắn". |