| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ MƯỜI CỦA 92 PHÁP ÐƠN ÐỀ. [394c] 87.
GIỚI: VÔ CỚ VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
tôn giả Ðà-phiêu-ma-la-tử được Tăng cử làm quản lý trông
coi chín việc như trước đã nói, cho đến Ðà-phiêu-ma-la-tử
có ngón tay út bên phải phóng quang phát sáng, theo thành phần
mà giao phòng: A-luyện-nhã ở chung với A luyện nhã, khất
thực ở chung với khất thực, y phấn tảo ở chung với y
phấn tảo, người ăn một lần ở chung với người ăn một
lần, thường ngồi ở chung với người thường ngồi, ngồi
ở chỗ trống ở chung với người ngồi ở chỗ trống, nệm
cỏ ở chung với người nệm cỏ, đọc kinh ở chung với người
đọc kinh, pháp sư ở chung với pháp sư, học Luật ở chung
với người học Luật, A la hán ở chung với A la hán, Tam minh
ở chung với Tam minh, Lục thông ở chung với Lục thông, không
oai nghi ở chung với không oai nghi. Khi ấy, nhóm sáu Tỉ-kheo
nói với Ðà Phiêu: -
Thưa Trưởng lão! Cho sáu người chúng tôi ở chung một chỗ. -
Ðợi vị Hạ tọa thấp nhất trong nhóm của các thầy đến
lượt nhận phòng, rồi tùy ý mà ở chung. Khi
người bạn Hạ tọa của họ đến phiên được căn phòng
xấu, giường nằm, giường ngồi, gối nệm các vật đều
xấu xí cũ kỹ, và phòng ăn riêng cũng thô sơ tồi tàn, họ
bèn bảo nhau: -
Trưởng lão Ðà Phiêu như là kẻ thù truyền kiếp của chúng
ta, giao cho chúng ta căn phòng xấu xí, thức ăn tồi tệ. Nếu
vị trưởng lão này còn sống lâu trong đời sống phạm hạnh
thì chúng ta còn bị đau khổ vô cùng. Nhưng Thế Tôn chế
giới không cho phép vô cớ vu khống người
khác phạm tội Ba la di, nay ta hãy vu khống ông ấy phạm tội
Tăng già bà thi sa. Ðoạn,
họ đi đến chỗ Ðà Phiêu, nói như sau: -
Trưởng lão, ông phạm tội Tăng già bà thi sa. -
Tôi không phạm tội đó. - Có
ai ăn trộm mà lại tự bảo mình là kẻ trộm! Thế
nhưng, ông đã phạm tội Tăng già bà thi sa. Ðoạn,
họ đi đến chỗ vắng, đi đến chỗ nhiều người, đi đến
giữa chúng Tăng vu khống Tỉ-kheo Ðà Phiêu phạm tội Tăng
già bà thi sa. Khi ấy, Tỉ-kheo Ðà Phiêu bèn đem sự việc
đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền hỏi: -
Ông có việc đó không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Ông không có tội ấy, Thế Tôn biết ông thanh tịnh. -
Bạch Thế Tôn, tuy Thế Tôn biết con vô tội, nhưng mong Thế
Tôn hãy khiến cho những người kia cũng tin như vậy, chớ
để họ vu khống mãi mà mất lợi ích. -
[395a] Vậy hãy gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến đây. Khi
họ đến rồi, Phật bèn hỏi lại sự kiện kể trên: -
Các ông có việc đó thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác. Các ông không từng nghe Ta dạy phải sinh
lòng cung kính, dùng thân, miệng, ý thương xót các vị đồng
phạm hạnh hay sao? Nay vì sao các ông lại vô cớ vu khống
người khác phạm tội Tăng già bà thi sa? Ðó là việc phi
pháp, phi Luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy
để nuôi lớn thiện pháp được. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo vì giận dữ không vui mà vô cớ vu khống Tỉ-kheo
khác phạm Tăng già bà thi sa, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Giận
dữ: Gồm
chín việc não loạn và vô cớ nổi giận. Việc thứ mười
là uất hận, thì kẻ phàm phu và người đang học vẫn còn.
Nhưng tâm không vui thì A la hán vẫn còn. Vô
cớ: Việc
đó vốn không có, không thấy, không nghe, cũng không nghi. Tăng
già bà thi sa:
Nếu vu khống một trong mười ba việc này, thì phạm tội
Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Khi
có sự tức giận nhau giữa hai Tỉ-kheo thanh tịnh và không
thanh tịnh, rồi người thanh tịnh hỏi người kia: -
Thầy thấy tôi phạm tội nào trong mười ba việc, tội thứ
nhất hay tội thứ hai? Người
kia không thấy, không nghe, không nghi, không chắc chắn, mà
ở chỗ vắng, chỗ nhiều người, giữa chúng Tăng nói như
sau: -
Tôi thấy thầy phạm tội Tăng già bà thi sa, tôi nghe thầy
phạm tội Tăng già bà thi sa, tôi nghi thầy phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Nhưng
nghe không đúng sự thật, căn cứ không đúng
; nghi không đúng sự thật, căn cứ không đúng ; những
điều đã thấy, nghe và nghi đó đều hư dối ; thấy, nghe
và nghi không phải như vậy, mà đối diện, bốn mắt nhìn
nhau, nói lời hủy báng, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
người kia thanh tịnh mà mình tưởng là không thanh tịnh, rồi
vu khống họ phạm tội Thâu Lan giá, muốn xua đuổi họ, thì
phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
người kia không thanh tịnh mà tưởng là thanh tịnh, rồi vu
khống họ phạm tội Việt-tì-ni, muốn xua đuổi họ, thì
phạm tội Thâu Lan giá. Nếu
người kia thanh tịnh mà tưởng là thanh tịnh, rồi vu khống
họ phạm tội Thâu Lan giá, muốn xua đuổi họ, thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Nếu
người kia không thanh tịnh, mà tưởng họ không thanh tịnh,
rồi hủy báng, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
vu khống Tỉ-kheo thì phạm tội Ba-dạ-đề ; vu khống Tỉ-kheo-ni
thì phạm tội Thâu Lan giá ; vu khống Thức xoa ma ni, Sa di,
Sa di ni thì phạm tội Việt-tì-ni ; vu khống người thế tục,
thì phạm tội Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói
(như trên). 88.
GIỚI: XOAY VẬT CỦA TĂNG VỀ NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Khi ấy
có vị Tỉ-kheo khất thực, đến giờ, bèn khoác y, cầm bát
vào thành tuần tự khất thực, đến một nhà kia, có một
người đàn bà nói: -
[395b] Thưa tôn giả, đến ngày mỗ, con sẽ cúng dường trai
phạn và y phục cho chúng Tăng. -
Lành thay Ưu bà di, nên kíp thời vì thân mạng và tài sản
mà tu ba pháp kiên cố, thường siêng tu tập chớ nên trì hoãn. Sau
khi khất thực xong, Tỉ-kheo trở về tinh xá, nói với các
Tỉ-kheo khác: -
Này các trưởng lão, tôi mách với các vị một việc tốt. -
Việc tốt gì thế? -
Gia đình kia đến ngày ấy sẽ cúng dường trai phạn và y
phục cho chúng Tăng. Lúc
ấy, Nan-đà và Ưu-ba-nan-đà ở cách đó không xa, nghe nói
thế, liền hỏi: -
Nhà ấy ở đâu? Tên họ là gì? Cửa ngõ xoay về hướng nào? Hỏi
đầy đủ và biết rõ các việc xong, sáng sớm hôm
sau, hai người đi đến nhà ấy, nói với Ưu bà di: -
Tôi nghe có tin tốt lành. -
Tôn giả nghe được tin gì vậy? -
Bà định cúng dường trai phạn và y phục cho chúng tăng có
đúng thế không? -
Lúc đầu con có tâm nguyện ấy, nhưng e nửa chừng gặp những
trở ngại, chẳng biết có thành tựu được không! Ưu-ba-nan-đà
liền bảo Ưu bà di: -
Bà nên đem chiếc y ấy mà cúng dường cho Nan-đà. -
Nhà con không có vật gì khác nữa, chỉ có chiếc y này thôi,
nhưng con đã định cúng dường cho Tăng, giờ không thể nào
thay đổi được. Ưu-ba-nan-đà
liền lên giọng mỉa mai: -
Thế nào là Tăng? Con quạ già cũng là Tăng. Con cú già cũng
là Tăng. Tăng như cái cối lủng, cái bồn rỉ không thể đầy
đặn. Tăng như vậy đối với bà có lợi ích gì? Có thể
nuôi sống con trai, con gái bà, có thể đến nhà vua để giải
quyết những việc liên quan đến quan quyền được không?
Nan-đà có thể giúp bà làm được nhiều việc lợi ích. Bà
hãy đem chiếc y này mà cúng dường cho Nan-đà. Ưu
bà di vẫn trả lời như trước. Lúc
ấy, Nan-đà cũng khuyên bà cúng dường cho Ưu-ba-nan-đà như
cách nói ở trên. Nhưng Ưu bà di vẫn nói: -
Nhà con không có vật gì khác nữa. Con cũng muốn dùng nó cúng
dường cho tôn giả, nhưng vì đã hứa cúng dường cho Tăng,
nên không thể thay đổi được. Ưu-ba-nan-đà
nói: -
Cúng dường hay không cúng dường mặc ý bà. Rồi
bỏ đi. Bấy giờ, Ưu bà di suy nghĩ: "Chiếc y này ta cũng muốn
cúng dường cho Nan-đà, nhưng Tăng là ruộng phước tốt lành,
nên ta cũng muốn cúng dường cho Tăng. Song, Nan-đà có thế
lực lớn, sợ e ông có thể làm điều gì bất lợi cho ta".
Suy nghĩ thế rồi, bà quyết định không cúng dường nữa. Các
Tỉ-kheo nghe thế, bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế
Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy đến
rồi, Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Này kẻ ngu si, ông đã gây nên ba việc xấu này: kẻ bố thí
mất phước, người thọ nhận mất lợi và khinh hủy chúng
Tăng. Ông không từng nghe Ta dùng vô lượng phương tiện khen
ngợi ít muốn và chê trách muốn nhiều hay sao? Ðó là việc
phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc
đó để nuôi lớn thiện pháp được. [395c]
Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại
thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi
ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo biết vật ấy thí chủ định cúng cho Tăng mà
vận động họ cúng cho người khác, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Biết:
Hoặc tự biết, hoặc do nghe người khác mà biết. Vật:
Gồm có tám thứ kể cả thanh tịnh và không thanh tịnh. Ðịnh
cúng: Ðã
quyết định chỗ cúng dường vật đó. Tăng:
gồm có tám loại, như trên đã nói. Vận
động: Chuyển
vật đó cho người khác. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Nếu
người ta đem phẩm vật đến hỏi Tỉ kheo: "Thưa tôn giả,
con muốn đem vật này cúng dường, vậy nên cúng dường nơi
nào?", thì nên đáp: "Tùy ý ông (bà) thích nơi nào thì nên
cúng dường nơi đó". -
Vậy, cúng dường nơi nào được quả báo lớn? -
Cúng dường cho Tăng được quả báo lớn. -
Tăng ở đâu giữ giới, con định cúng dường họ? -
Không có tăng nào lại phạm giới. -
Vị Tỉ-kheo nào siêng năng tu tập, biết quí trọng giữ gìn
các vật dụng, thường sống tại đây, để con thường gặp
mặt. -
Tỉ-kheo mỗ giáp siêng năng tu tập, biết quí trọng giữ gìn
các vật dụng, thường sống tại đây, cúng dường cho Tỉ-kheo
ấy thì có thể thường gặp mặt. Nếu
thí chủ nói: "Con muốn cúng dường vật này cho tôn giả",
thì nên đáp: "Thí chủ nên cúng dường cho tăng". Nếu
thí chủ lại nói: "Con đã cúng dường cho Tăng rồi, ý con
muốn cúng dường cho tôn giả, mong tôn giả vui lòng nhận
cho", thì bấy giờ nhận lấy không có tội. Nếu
Tỉ-kheo biết vật đó thí chủ định cúng dường cho Tăng
mà tìm cách xoay về cho mình, thì phạm tội Ni tát Kì Ba-dạ-đề. Nếu
xoay về cho người khác thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu
Tỉ-kheo biết vật đó thí chủ định cúng dường cho Tăng
này mà mình tìm cách xoay về cho Tăng khác, thì phạm tội
Việt-tì-ni. Nếu
thí chủ định cúng dường vật đó cho nhóm người này mà
mình tìm cách xoay về cho nhóm người khác, thì phạm tội
Việt-tì-ni. Nếu...
cho súc sanh này mà xoay về cho súc sinh khác thì phạm tội
Việt-tì-ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên). 89.
GIỚI: CỐ Ý NÓI DỐI ÐỂ CHẠY TỘI. Khi
Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
Tăng chúng cứ mỗi nửa tháng tụng giới, nhóm sáu Tỉ-kheo
nghe tụng đến bốn việc thì im lặng, nghe tụng đến mười
ba việc thì nổi giận, nghe tụng đến ba mươi việc liền
xầm xì, nghe đến chín mươi hai việc bèn đứng dậy nói:
- Trưởng lão, những điều đó do Thế Tôn nói sao? Thế Tôn
nói tại đâu vậy? Nếu tôi còn sống lâu ở đời thì sẽ
phải nghe những điều như thế này nhiều lắm. Ðây chính
là mẹ của pháp phát sinh ra cấm giới như thế này! Các
Tỉ-kheo nghe những lời ấy, cảm thấy hổ thẹn, bèn đem
sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi
nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi
lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc xấu. Vì Như Lai muốn cho các đệ tử được
lợi ích, nên chế giới cứ nửa tháng tụng một lần. Vì
sao các ông lại chê bai, ngăn cản? [396a] Ðó là việc phi pháp,
phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc đó để
nuôi lớn thiện pháp được. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu vào dịp nửa tháng tụng giới mà Tỉ-kheo nói như sau:
"Nay tôi mới biết những pháp này được đưa vào kinh để
tụng vào dịp tụng giới của mỗi nửa tháng". Nhưng các
Tỉ-kheo biết Tỉ-kheo ấy đã từng ngồi nghe tụng giới hai,
ba lần, thậm chí còn nhiều hơn, nên không thể lấy lý do
không biết để hòng chạy tội. Vì thế Tăng phải căn cứ
theo tội đã phạm mà quở trách rằng: "Trưởng lão, thầy
đã mất lợi ích, vào những dịp tụng giới mỗi nửa tháng
thầy không tôn trọng, không nhất tâm, không lắng tai nghe
giới pháp". Quở trách xong, (bảo sám hối) tội Ba-dạ-đề. Giải
thích: Nửa
tháng: 14 ngày
hay 15 ngày. Giới:
12 giới kinh. Chạy
tội: Nghĩa
là nói rằng: "Nay tôi mới biết là pháp ấy được đưa vào
giới bản để tụng mỗi nửa tháng". Nhưng kỳ thực Tỉ-kheo
tụng giới đã biết vị ấy từng ngồi nghe tụng giới hai,
ba lần, thậm chí còn nhiều hơn. Thế nên, Tỉ-kheo ấy không
thể lấy lý do không biết để mong thoát tội. Do vậy, tùy
theo tội đã phạm, rồi căn cứ theo pháp, luật mà quở trách
như sau: "Trưởng lão, thầy đã mất lợi ích, vào dịp tụng
giới mỗi nửa tháng, thầy không tôn trọng, không nhất tâm,
không lắng tai nghe giới pháp". Quở trách như vậy rồi, bắt
sám hối tội Ba-dạ-đề. Ba-dạ-đề:
Như trên đã nói. Tỉ-kheo
sau khi thọ giới Cụ túc nên đọc hai bộ Luật (của Tỉ-kheo
và Tỉ-kheo-ni). Nếu không thể đọc cả hai bộ thì nên đọc
một bộ. Nếu không thể đọc một bộ thì nên đọc đủ
năm chúng thiên giới. Nếu không thể đọc hết năm thiên
thì nên đọc bốn thiên giới. Nếu không thể đọc hết bốn
thiên thì nên đọc ba thiên. Nếu không thể đọc hết ba thiên
thì nên đọc hai thiên. Nếu không thể đọc hết hai thiên
thì nên đọc một thiên và các bài kệ. Khi
Bố tát nên tụng đủ năm thiên giới. Nếu không thể tụng
cả năm thiên thì nên tụng bốn thiên. Nếu không thể tụng
cả bốn thiên thì nên tụng ba thiên. Nếu không thể tụng
cả ba thiên thì nên tụng hai thiên. Nếu không thể tụng cả
hai thiên thì nên tụng một thiên và các bài kệ. Ngoài ra,
những việc khác như Tăng thường nghe. Nếu không tụng thì
phạm tội Việt-tì-ni. Tăng nên mời một vị tụng lưu loát
để tụng, còn những người khác chú tâm lắng nghe. Phật
dạy: -
Khi tụng giới, các Tỉ-kheo không được ngồi thiền hay làm
những việc khác, mà tất cả đều phải chú ý lắng nghe.
Nếu bốn việc (bốn Ba la di) lắng nghe mà mười ba việc không
nghe, thì phạm tội Việt-tì-ni. [396b] Nếu mười ba việc lắng
nghe mà hai Bất định không nghe, thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu hai giới Bất định nghe mà ba mươi việc không nghe thì
phạm tội Việt-tì-ni. Nếu ba mươi việc nghe mà chín mươi
hai việc không nghe thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu chín mươi
hai việc nghe mà bốn Ba-la-đề-đề-xá-ni không nghe thì phạm
tội Việt-tì-ni. Nếu bốn Ba-la-đề-đề-xá-ni nghe mà pháp
chúng học không nghe
thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu pháp
chúng học nghe mà bảy Diệt tránh không nghe thì phạm tội
Việt-tì-ni. Nếu giữa chừng không nghe một Thiên nào thì
phạm tội Việt-tì-ni. Nếu tất cả đều không nghe thì phạm
tội Ba-dạ-đề. Tội này không thể đến sám hối riêng với
một người, mà phải sám hối giữa Tăng chúng, trước một
người giữ giới, có uy đức mà mình kính trọng. Rồi người
này nên khiển trách: "Này trưởng lão, thầy đã mất lợi
ích. Vì khi nửa tháng tụng giới thầy không tôn trọng, không
nhất tâm, không chú ý lắng nghe giới pháp". Khiển trách xong,
bắt sám hối tội Ba-dạ-đề. Thế nên nói: "Nhà
ăn, vào vương cung,
BỐN
PHÁP ÐỀ XÁ NI. 1.
GIỚI: NHẬN THỨC ĂN TẠI A-LUYỆN-NHÃ. Khi
Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích ở Ca Duy La Vệ,
nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỉ-kheo ở A-luyện-nhã
được cha mẹ, chị em, bà con thuộc dòng họ Thích sai sứ
giả đem các thức ẩm thực đến cho các thầy. Nhưng những
kẻ đem thức ăn hoặc ăn hết một nửa, hoặc ăn một phần
ba, hoặc ăn hết sạch ở dọc đường. Thế rồi, các Tỉ-kheo
có người về thăm nhà, được thân nhân hỏi: "Trước đây
tôi có sai người đưa thức ăn, thầy có nhận được hết
không?". Trong số ấy, ai nhận được hết thì bảo là nhận
hết ; nhận một nửa thì bảo là nhận một nửa ; nhận một
phần ba thì bảo là nhận một phần ba ; không nhận thì bảo
là không nhận. Thân nhân nghe vậy, nổi giận mắng sứ giả:
"Quân tệ ác chết tiệt! Ta sai ngươi đem thức ăn, vì sao
ngươi dám ăn?", bèn lấy roi quất hắn. Bị đánh đau, tên
sứ giả khóc rống lên kêu than: "Vì ông Sa-môn bất nhân ấy
mà ta bị đánh". Các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi các Tỉ-kheo đó đến. Khi họ
đến rồi, Phật liền hỏi lại đầy đủ sự kiện kể trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao các ông ở A-luyện-nhã trước hết không nhắn với
người bên ngoài, người ở ngoài cũng không nhận được
tin tức của người ở trong, mà tự tay lấy thức ăn [396c]
để ăn? Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo ở A luyện
nhã, trước không thông tin bên ngoài, bên ngoài cũng không
nhận được tin bên trong, mà tự tay nhận lấy (thức ăn). Lại
nữa, khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích ở Ca
Duy La Vệ, nói rộng như trên. Vì năm việc lợi ích nên cứ
năm hôm đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri đi tuần tra
phòng các Tỉ-kheo một lần ; Ngài thấy một Tỉ-kheo đang
đau ốm, nhan sắc tiều tụy,
tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo, khí lực ông có đầy đủ không? -
Con bị bệnh rất khổ sở, bạch Thế Tôn. -
Ông không thể uống thuốc hợp với bệnh, ăn thức ăn hợp
với bệnh được sao? -
Vì Thế Tôn chế giới không cho phép Tỉ-kheo ở A-luyện-nhã
trước không thông tri cho người ở ngoài, người ở ngoài
cũng không nhận được tin bên trong mà tự tay nhận lấy (vật
thực). Bạch Thế Tôn, con bị bệnh không thể ra ngoài, nên
mới tiều tụy khổ sở thế này. -
Từ nay Ta cho phép Tỉ-kheo bệnh được nhận (vật thực) ngay
trong trú xứ. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo ở A luyện nhã, trước không thông tri, không
nói là Tỉ-kheo đang bệnh ; người bên ngoài cũng không được
tin bên trong, mà tự tay nhận lấy (vật thực), hoặc nhai,
hoặc ăn, thì Tỉ-kheo này phải đến bên Tỉ-kheo khác sám
hối như sau: Thưa trưởng lão, tôi phạm tội đáng quở trách,
xin hối lỗi với trưởng lão". Ðây là giới Ba-la-đề-đề-xá-ni
thứ nhất". Giải
thích: A-luyện-nhã:
Như trên đã nói. Trước
không thông tri:
Thông tri có hai cách, nói rõ số lượng và không nói rõ số
lượng. 1/
Có nói số lượng: Bảo phải gởi vào chừng ấy, chừng ấy
thứ ẩm thực. 2/
Không nói số lượng: Chỉ nói đơn giản là gởi thức ăn
vào mà không liệt kê số lượng là bao nhiêu. Bên ngoài không
nhận được tin bên trong. Người ở ngoài tinh xá không nhận
được tin của người ở trong tinh xá. Bệnh:
Bệnh tả, bệnh lạnh, bệnh phong. Những người có các chứng
bệnh như vậy không thể ra ngoài tinh xá để lấy thức ăn,
nên đức Thế Tôn bảo là (ăn ở trong tinh xá) không có tội. Tự
tay nhận lấy:
Dùng tay mình nhận đồ từ tay người khác, dùng bát nhận
đồ từ bát người khác. Nhai:
Khi ăn bánh, trái cây v.v... Ăn:
Khi ăn năm loại thức ăn chính. Nếu nhai hoặc ăn thì Tỉ-kheo
này phải đến Tỉ-kheo khác sám hối như sau: "Thưa trưởng
lão, tôi phạm phải tội đáng trách, xin hối lỗi với trưởng
lão". Người nhận sám hối nên hỏi: -
Thầy có thấy tội không? -
Thưa thấy. -
Cẩn thận chớ có tái phạm. -
Xin cúi đầu lãnh nhận. Ba-la-đề-đề-xá-ni:
Tội này phải hướng đến người khác phát lồ, không được
che giấu. Nếu
vì Tỉ-kheo ấy đưa thức ăn, mình nói với Tỉ-kheo khác mà
Tỉ-kheo khác nhận, thì không có tội. Nếu
vì Tỉ-kheo ấy đưa thức ăn, mình nói với Tỉ-kheo ấy mà
Tỉ-kheo khác nhận, thì không có tội. Nếu
vì Tỉ-kheo ấy đưa thức ăn, mình nói với Tỉ-kheo ấy mà
Tỉ-kheo ấy nhận thì không có tội. Nếu
vì Tỉ-kheo khác đưa thức ăn, mình [397a] nói với Tỉ-kheo
khác mà Tỉ-kheo khác nhận, thì không có tội. Nếu
người đưa thức ăn trước đó đã cho biết số lượng (của
thức ăn) mà Tỉ-kheo nhận kiểm tra tương ưng với số lượng
ấy thì được nhận ngay tại tinh xá. Nếu không tương ứng
thì nên bảo họ mang về. Nếu có thư gởi đến mà đọc
thư thấy tương ưng, thì nên nhận. Nếu không tương ứng
thì bảo họ đem về. Nếu bì thư có đóng dấu mà mở thư
xem thấy đầy đủ, thì nhận ; nếu không đầy đủ, thì
bảo họ đem về. Nếu
người đưa thức ăn trước đó không nói rõ số lượng,
thì khi thức ăn mang đến, nên ra ngoài cổng tinh xá để nhận.
Nếu bỗng dưng họ mang đến, vào khỏi cổng, thì không nên
nhận. Nếu có tịnh nhân thì nên bảo họ đưa cho tịnh nhân.
Nếu không có tịnh nhân thì nên bảo họ để dưới đất,
đợi tịnh nhân đến, rồi sai tịnh nhân đem thức ăn ấy
ra khỏi cổng, bấy giờ Tỉ-kheo mới được nhận. Nếu
Tỉ-kheo bị bệnh không thể ra ngoài, thì ở trong tinh xá nhận
thức ăn, không có tội. Nếu
người bà con đem thức ăn đến những nơi du ngoạn như công
viên, hồ ao thắng cảnh, rồi họ lấy thức ăn đưa cho Tỉ
kheo, thì Tỉ-kheo tùy ý nhận, không có tội. Nếu
Tỉ-kheo khi đi đường suy nghĩ: "Ta đến tinh xá mỗ sẽ ăn",
mà lại đến nơi khác ăn, thì phải sám hối. Nhưng nếu đến
tinh xá mỗ gặp lúc Tăng ở đây được mời phó trái, thì
mình bỏ đi, không có tội. Thế nên nói (như trên). 2.
GIỚI: NHẬN THỨC ĂN CỦA TỈ-KHEO-NI. Khi
Phật an trú tại Tì-xá-li, nói rộng như trên. Nhân đây hãy
nhắc lại nhân duyên của Tỉ-kheo-ni Thi Lợi Ma cho đến Phật
nói với các Tỉ-kheo: "Phước đức bậc nhất trong hàng Thanh
Văn ni của Ta chính là Tỉ-kheo-ni Thi Lợi Ma. Lúc ấy nạn
đói hoành hành, khất thực khó khăn, vào giờ khất thực
Tỉ-kheo-ni Thi Lợi Ma khoác y, cầm bát vào thành Tì-xá-li tuần
tự khất thực. Bỗng cô thấy một Tỉ kheo, liền hỏi: -
Tôn giả có được thức ăn không? Vị
Tỉ-kheo ấy bèn đưa cái bát không cho cô xem. Thấy thế, cô
suy nghĩ: "Thầy là bậc tôn túc của ta mà khất thực không
có", đoạn đem thức ăn trong bát của mình sớt cho Tỉ-kheo
ấy. Tỉ-kheo ấy được thức ăn bèn trở về tinh xá gọi
các Tỉ-kheo khác cùng ăn. Các
Tỉ-kheo liền hỏi: -
Trưởng lão, ở đâu mà được thức ăn ngon thế này? Thầy
đáp: -
Tôi được thức ăn này từ Tỉ-kheo-ni Thi Lợi Ma đó. Các
Tỉ-kheo nghe thế, ai nấy đều đến đó đòi, lần lượt
nhau cho đến năm trăm Tỉ-kheo (?) đều nhận được thức
ăn. Lo cho các Tỉ-kheo xong, cô mới tìm thức ăn cho mình thì
mặt trời đã quá ngọ, nên mất bữa ăn, cô đành trở về
tinh xá. Sáng sớm hôm sau, các Tỉ-kheo lại khoác y, cầm bát
đến đứng ngoài cửa tinh xá Tỉ-kheo-ni. Tỉ-kheo-ni thấy
vậy liền vào nói với Thi Lợi Ma: -
Các Tỉ-kheo hôm nay đang đứng chờ ngoài cửa. Thi
Lợi Ma nghe rồi, liền bảo đệ tử: -
Lấy y bát ra đây để ta mặc đi khất thực giúp cho các vị
tôn túc. Thế
rồi, cô tuần tự lo cung cấp cho năm trăm người xong [397b]
mới lo cho mình, thì đã quá ngọ, đành nhịn đói trở về.
Ðến ngày thứ ba cũng thế, cô lo cung cấp tuần tự cho năm
trăm người, nhưng chỉ còn một người chưa được thức
ăn. Thế nên, vị Tỉ-kheo này bèn đi theo sau Thi Lợi Ma vào
một nhà kia. Do cô nhịn đói liên tục ba ngày nên thân thể
hao mòn, ngất xỉu té nằm trên đất. Lúc ấy, các bà thấy
vậy hãi kinh, định đỡ cô dậy, thì cô bảo: -
Khoan, khoan đã! Ðể tôi nghĩ xem vì sao mà té xuống đất. Rồi
cô nhớ lại là vì mình đã khất thực giúp cho các bậc tôn
túc, còn mình thì không được ăn cho nên bị hao mòn, ngất
xỉu. Ðoạn, cô đứng dậy phủi đất cát, sửa lại y phục
chỉnh tề, suy nghĩ: "Người bố thí có lợi ích vô thượng,
nhớ đến việc bố thí khiến tâm sinh hoan hỉ, vì hoan hỉ
nên được tam muội thanh tịnh, dùng tam muội quán chiếu thấy
rõ sự sinh diệt của năm ấm, việc bố thí có công dụng
trang nghiêm tự tâm, điều phục các căn". Nhờ vậy cô nhập
được kim cương định, dứt sạch mọi lậu hoặc (ô nhiễm),
chứng được tam minh trong chánh pháp. Sau khi Tỉ-kheo-ni Thi
Lợi Ma chứng ngộ, người phụ nữ kia bèn đưa cô vào trong
nhà tắm rửa, rồi trải tòa mời ngồi, đoạn đem thức ăn
ra cúng dường. Lúc ấy, vị Tỉ-kheo kia vẫn còn đứng đợi
ngoài cửa. Người phụ nữ ấy sợ thầy lại đòi thức ăn,
bèn đứng án ngữ giữa cửa. Thi Lợi Ma thấy bà đứng chận
trước cửa liền sinh nghi, không hiểu vì sao bà lại đứng
chận trước cửa, bèn nghiêng đầu nhìn ra, thì thấy góc
y của Tỉ kheo, liền nói: -
Ðó là vị tôn sư của tôi, khất thực không được. Rồi
mời: -
Xin tôn giả vào lấy thức ăn. Người
phụ nữ nói: -
Thưa cô, cô cứ ăn. Con sẽ tìm thức ăn khác cúng dường
cho thầy ấy. Thi
Lợi Ma nói: -
Lúc này đang bị nạn đói, tìm đâu ra thức ăn nữa. Ðoạn,
đem thức ăn ra cúng dường. Người
phụ nữ ấy oán trách: -
Sa-môn Thích tử không có lòng từ. Vì sao người ta đã nhịn
ăn cả ba hôm, đói xỉu suýt mất mạng, mà còn theo đòi thức
ăn? Các
Tỉ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi các Tỉ-kheo đến. Khi các thầy đến rồi,
Phật liền hỏi lại đầy đủ sự việc kể trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỉ-kheo tự tay nhận lấy
thức ăn của Tỉ-kheo-ni không phải bà con tại nhà bạch y. Lại
nữa, khi Phật an trú tại Tì-xá-li, nói rộng như trên. Bấy
giờ, tôn giả A Lợi Tra thân thể lở loét bị người ta nhờm
gớm, nên không cho thức ăn. Mỗi lần đi khất thực, nếu
thầy chưa vào cửa thì họ đóng cửa không cho vào, nếu đã
vào rồi thì họ đuổi ra, không cho. Ðức Như Lai Ứng Cúng
Chánh Biến Tri vì năm điều lợi ích nên cứ năm hôm đi tuần
hành qua phòng các Tỉ-kheo một lần ; thấy thân thể A Lợi
Tra bị lở loét, Phật biết nhưng vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo, sức khỏe của ông có điều hòa không? -
Bạch Thế Tôn, con chỉ lo đói khát thôi. -
Này Tỉ kheo, ông không thể đi khất thực sao? -
[397c] Bạch Thế Tôn, con có thể đi khất thực, nhưng vì thân
thể con bị lở loét, khiến người ta nhờm gớm, nên cứ
mỗi lần đi khất thực, nếu chưa vào cửa thì họ đóng
cửa không cho vào, nếu đã vào cửa thì họ đuổi ra không
cho. -
Sao ông không đến chỗ Tỉ-kheo-ni Thi Lợi Ma xin thức ăn? -
Vì Thế Tôn chế giới không cho tự tay nhận thức ăn của
Tỉ-kheo-ni không phải bà con tại nhà bạch y ; mà cô ấy không
phải bà con nên con không dám đến. -
Từ nay về sau, Ta cho phép Tỉ-kheo bệnh được đến. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ
phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới
cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu Tỉ-kheo không bệnh mà tự tay nhận thức ăn của Tỉ-kheo-ni
không phải bà con tại nhà bạch y, hoặc nhai, hoặc ăn, thì
Tỉ-kheo ấy phải đến hối lỗi với Tỉ-kheo khác như sau:
Thưa trưởng lão, tôi phạm phải tội đáng trách, xin hối
lỗi với trưởng lão". Ðây gọi là Ba la đề đề xá ni". Giải
thích: Không
phải bà con:
không phải cha mình, không phải mẹ mình. Bệnh:
Ðức Thế Tôn bảo là không có tội. Nhưng không phải là
nói về những bệnh chút chút mà là nói về những bệnh như
ghẻ chốc, lở loét, ung thư khiến cho người ta nhờm gớm.
Ðó gọi là bệnh. Tại
nhà bạch y:
Tại nhà của người thế tục. Tỉ-kheo-ni:
Thọ Cụ túc giới giữa hai bộ Tăng. Tự
tay nhận lấy:
Hoặc tay này nhận từ tay khác, hoặc bát này nhận từ bát
khác. Nhai:
Như ăn các loại bánh, trái cây v.v... Thức
ăn: Năm thức
ăn chính. (Nếu đã nhận thức ăn thì) Tỉ-kheo này phải đến
hối lỗi với Tỉ-kheo khác rằng: "Thưa trưởng lão, tôi phạm
tội đáng trách, xin hối lỗi với trưởng lão". Tỉ-kheo nhận
sám hối nên hỏi: -
Thầy có thấy tội không? -
Dạ thấy. -
Cẩn thận chớ tái phạm. -
Xin cuối đầu lãnh thọ. Ba-la-đề-đề-xá-ni:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ-kheo không bệnh mà tự tay nhận thức ăn của Tỉ-kheo-ni
không phải bà con tại nhà người thế tục, thì khi nhận
phạm tội Việt-tì-ni, khi ăn phạm pháp hối quá. Người
không phải bà con, mình tưởng là không phải bà con mà nhận
thức ăn thì phạm tội hối quá. Người
không phải bà con, mình nghi ngại mà nhận thức ăn thì phạm
tội hối quá. Người
không phải bà con mà mình tưởng là người bà con rồi nhận
thức ăn thì phạm tội Việt-tì-ni. Người
bà con mà mình tưởng là không phải bà con, rồi nhận thức
ăn, thì phạm tội Việt-tì-ni. Người
bà con mà mình nghi, rồi nhận thức ăn thì phạm tội Việt-tì-ni. Người
bà con mình tưởng là người bà con (rồi nhận thức ăn) thì
không có tội. Vì
người khác mà nhận thì phạm tội Việt-tì-ni. Nhưng nếu
vì người bệnh mà nhận thì không có tội. Hoặc ăn thức
ăn còn lại của người bệnh cũng không có tội. Khi
Thức xoa ma ni, Sa di ni đem thức ăn đến thì hãy bảo họ
để xuống đất, rồi mình nhận lại từ tay người khác
thì không có tội. Nếu
Tỉ-kheo-ni tự tay mang thức ăn đến để xuống đất rồi
thưa: "Xin tôn giả nhận gấp cho con", [398a] khi ấy mình nhận
thì không có tội. Hoặc nhận thức ăn tại chỗ ở của Tỉ-kheo-ni
cũng không có tội. Thế nên nói (như trên). 3.
GIỚI: ĂN THỨC ĂN DO NI VẬN ÐỘNG. Khi
Phật ở tinh xá Ca Lan Ðà Trúc Viên tại thành Vương Xá, nói
rộng như trên. Bấy giờ, một gia đình quen biết của Tỉ-kheo-ni
Thâu Lan Nan-đà mời chư tăng thọ trai. Thâu Lan Nan-đà đứng
trước nhóm sáu Tỉ-kheo chỉ bảo, nói với đàn việt: - Ðưa
cơm cho Tỉ-kheo này, đưa canh cho Tỉ-kheo kia, đưa thịt cá
cho Tỉ-kheo nọ. Ðàn
việt vâng lệnh dọn thức ăn đầy đủ cho nhóm sáu Tỉ kheo.
Các Tỉ-kheo bèn chê trách: -
Vì sao nhóm sáu Tỉ-kheo để cho Tỉ-kheo-ni bảo đàn việt
dọn nhiều thức ăn cho mình mà không quở trách? Các
Tỉ-kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền bảo gọi nhóm sáu Tỉ-kheo đến. Khi họ đến rồi,
Phật bèn hỏi lại sự việc trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao các ông để cho Tỉ-kheo-ni bảo dọn thức ăn nhiều
cho mình một cách thiên vị mà không quở trách? Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ-kheo đang sống tại thành Vương
Xá phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
Nếu nhà bạch y mời chư Tăng thọ trai, mà Tỉ-kheo-ni đứng
trước Tỉ kheo, chỉ bảo đàn việt: "Ðưa cơm cho vị này,
đưa canh cá thịt cho vị kia", thì các Tỉ-kheo nên nói với
Tỉ-kheo-ni ấy: "Này chị em, hãy để yên đấy, đợi các
Tỉ-kheo ăn xong đã". Nếu
như không có một người nào trong số các Tỉ-kheo nói với
Tỉ-kheo-ni rằng: "Này chị em, hãy để yên đấy, đợi các
Tỉ-kheo ăn xong đã", thì các Tỉ-kheo phải hướng đến Tỉ-kheo
khác sám hối như sau: "Thưa trưởng lão, tôi phạm tội đáng
trách". Pháp sám hối này được gọi là Ba la đề đề xá
ni. Giải
thích: Nhà
bạch y: Nhà
người thế tục. Mời:
Hoặc mời ngày nay, hoặc ngày mai. Thức
ăn: Năm thức
ăn chính và năm thức ăn phụ. Tỉ-kheo-ni:
Người đã thọ giới Cụ túc giữa hai bộ Tăng (Ni). Ðưa:
Như nói: "Sớt thêm cơm cho vị này, múc thêm canh cho vị kia,
đem cá thịt cho vị nọ". Nên
nói với Tỉ-kheo-ni:
Qua sự thấy nghe hay biết, nên bảo rằng: "Này chị em, hãy
để yên đấy, đợi các Tỉ-kheo ăn xong đã". Nếu
người ấy dừng lại thì tốt, nếu không dừng lại, thì
nhắc nhở đến lần thứ hai, thứ ba. Nếu không nói mà cứ
nhận thì phạm tội Việt-tì-ni. Nếu
ăn thì phạm pháp Hối quá. Tỉ-kheo này phải hướng đến
Tỉ-kheo khác tạ lỗi như sau: "Thưa trưởng lão, tôi phạm
tội đáng trách". Pháp Hối quá này người nhận sám hối
nên hỏi: -
Thầy có thấy tội ấy không? -
Dạ thấy. -
Hãy cẩn thận chớ tái phạm. -
Xin cúi đầu lãnh thọ. Ba-la-đề-đề-xá-ni:
Như trên đã nói. Nếu
chưa quở trách đủ ba lần mà ăn thì phạm tội Việt-tì-ni.
Nếu đủ ba lần mà người ấy không đình chỉ, thì ăn không
có tội. [398b] Một người quở trách rồi, tất cả đều
ăn không có tội. Hoặc không thấy, không nghe thì ăn không
có tội. Hoặc Ni tự làm đàn việt thì không có tội. Nếu
đàn việt chưa mời Tăng lần nào nên không biết cách thức,
thì khi ấy, Tỉ-kheo-ni có thể chỉ bảo họ tôn trí hình
tượng, dọn các thức ăn, rồi mới ngồi. Nếu không mời,
không phải năm thức ăn chính, thì chỉ bảo không có tội.
Thế nên nói (như trên).
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||