| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
78.
GIỚI: ÐI PHI THỜI, KHÔNG BÁO NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
tôn giả Ưu Ba Nan Ðà sáng sớm thức dậy, khoác y đi vào
xóm làng, tới nhà đàn việt, nói với Ưu bà di: "Những kẻ
phàm phu khi mệnh chung phần nhiều bị đọa vào đường ác,
bà nên nghe tôi thuyết pháp". Lúc
ấy, Ưu bà di đang sắp đặt việc nhà, bận bịu nhiều việc
không rảnh để nghe thuyết pháp, nên cự nự với Tỉ kheo:
"Thôi đi! Thầy đừng lo về những người phàm phu khi chết
bị rơi vào đường ác mà hãy lo phần thầy, đừng lo việc
của người khác". Sau khi ăn xong, thầy bèn sai đệ tử chuẩn
bị y bát rồi trở lại nhà ấy, nói như trước: "Này Ưu
bà di, kẻ phàm phu khi chết sẽ rơi vào đường ác; bà nên
nghe tôi thuyết pháp". Khi
ấy, Ưu bà di vừa lo cho chồng con ăn xong, đang dùng cơm, không
rảnh để nghe pháp, nên cự nự với Tỉ kheo: "Thôi đi! Ðừng
lo về những người phàm phu sau khi chết rơi vào đường ác
mà hãy tự lo việc của thầy, chớ lo việc của người khác".
Các Tỉ kheo nghe được, bèn đem việc đó bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi thầy đến rồi,
Phật liền hỏi lại sự việc kể trên: -
Ông có làm như vậy thật chăng? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn -
Này Tỉ kheo, vậy thì sau khi ăn xong, ông đi làm việc gì? -
Có nhiều việc lắm, bạch Thế Tôn. Con muốn làm thầy thuốc
để trị liệu các chứng bệnh. -
Vì sao trước bữa ăn, sau bữa ăn, ông không bạch với những
Tỉ kheo cùng ăn với mình mà đi đến nhà dân? Từ nay về
sau, Ta không cho phép Tỉ kheo trước bữa ăn, sau bữa ăn không
bạch với Tỉ kheo cùng ăn với mình mà đi đến nhà dân. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ Phật bảo A Nan: "Ông báo tin cho các Tỉ kheo biết
rằng an cư xong, các đàn việt sẽ cúng dường y an cư". A
Nan liền thông báo với các Tỉ kheo. Các
Tỉ kheo nói: "Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép Tỉ kheo
trước hay sau bữa ăn không bạch với Tỉ kheo cùng ăn với
mình mà đi đến nhà dân. Tôi cùng các vị đồng phạm hạnh
cùng ăn, cùng sống bên nhau, vì tôn kính nhau nên không dám
thường bạch". [390a] A Nan bèn đem sự việc ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta cho phép trong lúc
sắm y (khỏi bạch)". Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo
đang sống tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả,
vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe
rồi, cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỉ kheo cùng ăn một chỗ mà trước khi ăn, sau khi ăn
không bạch với Tỉ kheo khác, đi đến nhà người khác - ngoại
trừ trường hợp đặc biệt - thì phạm tội Ba dạ đề.
Trừ trường hợp đặc biệt tức là khi sắm y, đó gọi là
trường hợp đặc biệt". Giải
thích: Cùng
ăn: Hoặc
dùng bốn thăng gạo nấu cơm, hoặc tám thăng gạo rang, hoặc
một đấu hai thăng cơm lúa mạch, hoặc nửa bát, một bát
cá thịt. Ðó gọi là cùng ăn. Trước
khi ăn: Lúc
chưa ăn. Sau
khi ăn: Khi
ăn xong, dù trời còn sớm vẫn gọi là sau khi ăn. Ði
đến nhà người khác:
như nhà của Sát lợi, nhà Bà la môn, nhà Tì xá, nhà Thủ
đà la. Bạch:
Nếu bạch vào xóm làng lúc phi thời, bạch đến tinh xá Tỉ
kheo ni, bạch rời chỗ thuyết pháp, thì không được gọi
là bạch. Mà phải bạch rằng: "Xin trưởng lão nhớ cho, con
là mỗ gấp rời chỗ cùng ăn, đi đến nhà khác". Người
kia đáp: "Vâng". Ngoại
trừ trường hợp đặc biệt:
tức lúc mà Thế Tôn bảo là không có tội. Trường
hợp đặc biệt:
Thời gian sắm y. Thời gian này, nếu không thọ y Ca thi na thì
một tháng, nếu có thọ y Ca thi na, thì năm tháng. Trong thời
gian của y này được miễn trừ năm việc: 1/ Ðược ăn biệt
chúng; 2/ Ðược ăn nhiều chỗ; 3/ Rời trú xứ không cần
bạch với người khác; 4/ Ðược cất y dư lâu ngày; 5/ Ðược
rời y ngủ chỗ khác mà không có tội. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo rời chỗ cùng ăn với người khác để đi đến nhà
khác thì phải bạch rồi mới đi, nếu không bạch mà đi thì
phạm tội Ba dạ đề. Nếu ăn ở chỗ khác mà có năm thức
ăn chính và năm thức ăn phụ thì phạm hai tội Ba dạ đề.
Nhưng nếu gặp hai trường hợp bố thí bữa ăn, thời gian
sắm y, thì không bạch với người cùng ăn, đi ăn chỗ khác
không có tội. Nếu
trú xứ của Tỉ kheo không nấu ăn, mà có người mời ăn,
thì nơi đây được gọi là cùng ăn (đồng thực). Nếu từ
đây muốn đi đến chỗ khác, thì phải bạch rồi đi, nếu
không bạch mà đi, thì như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo đã nhận trong xóm làng mời, thì nơi đó được gọi
là cùng ăn. Nếu ở tại đây thấy thời gian còn sớm muốn
đi một lát rồi trở lại thì phải bạch rồi đi; nếu không
bạch mà đi thì như trên đã nói. Nếu
trong xóm làng có đàn việt mời tăng thọ trai, rồi một Tỉ
kheo đi ngang qua nhà ấy, đàn việt bèn mời: "Thưa tôn giả,
hôm nay nhà con cúng dường trai phạn cho chúng tăng, xin mời
tôn giả ở lại thọ trai luôn". Nếu Tỉ kheo này nhận lời
mời tức là cùng ăn. Nếu thấy thì giờ còn sớm, muốn đi
nơi khác thì phải bạch rồi mới đi; nếu không bạch mà
đi thì phạm tội Ba dạ đề. Ngoài ra như trên đã nói. Nếu
đàn việt mời chúng Tăng thọ trai rồi Tỉ kheo khất thực
đi ngang qua nhà ấy, đàn việt liền mời: "Hôm nay con mời
chúng tăng thọ trai, xin tôn giả nhận con mời luôn thể".
Nếu Tỉ kheo nhận [390b] lời mời, thì nơi đây tức là chỗ
cùng ăn. Nếu bỗng chốc, Tỉ kheo suy nghĩ: "Tâm bố thí của
đàn việt này rất trọng hậu, ta không thể tiêu hóa nổi
bữa bố thí này, chi bằng ta đi khất thực chỗ khác để
tạm nuôi thân", rồi bỏ đi, thì phải bạch; nếu không bạch
mà đi thì phạm tội Ba dạ đề. Ngoài ra, như trên đã nói. Nếu
hai Tỉ kheo ai cũng có chỗ để ăn, cùng đi trên đường tới
xóm làng rồi bàn nhau: "Hôm nay, chúng ta hãy ăn trước tại
một nhà, rồi sau đó.. cùng ăn bữa ăn sau tại nhà khác",
thì một Tỉ kheo nên bạch rồi mới đi, nếu không bạch mà
đi thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu đến nhà ăn trước mà
có cả năm thức ăn chính và năm thức ăn phụ, thì phạm
hai tội Ba dạ đề. Nếu rời người cùng ăn, ăn chỗ này
chỗ khác mà nhằm lúc có bố thí thức ăn hay thời gian của
y, thì cả hai trường hợp ấy đều không có tội. Người
thứ hai cũng vậy. Nếu
Tỉ kheo đi khất thực tại một nhà được một thăng, hai
thăng, cho đến một hộc, thì nhận lấy không có tội. Nếu
một nhà mà được bốn thăng gạo tẻ, hoặc tám thăng gạo
rang, một, hai thăng gạo lúa mạch, hoặc nửa bát, một bát
cá thịt, thì không được đi xin thêm chỗ khác nữa. Ở đây,
thế nào là phạm, thế nào là không phạm? Nghĩa là tất cả
các thứ cháo-trừ cháo cá thịt-và cháo ấy khi múc ra khỏi
nồi, viết trên mặt không thành chữ (tức cháo lỏng); tất
cả bánh; tất cả gạo rang; tất cả trái cây (đều không
được kể là) ăn biệt chúng, hay ăn rồi ăn lại, ăn no rồi
ăn nữa. Thế nên nói (như trên). 79.
GIỚI: VÀO VƯƠNG CUNG QUÁ SỚM. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Ở đây,
thuật lại trường hợp phu nhân Mạt lợi mà kinh Trung A hàm
đã đề cập có liên quan đến việc các trưởng lão Tỉ
kheo theo thứ tự vào cung giáo giới. Bấy giờ, tôn giả Ưu
đà di theo thứ tự vào cung giáo giới thì gặp lúc phu nhân
Mạt lợi mặc y phục mỏng manh, trơn láng, trang sức vàng
bạc ngọc báu trên y phục, đang ngồi giữa hậu cung. Khi Ưu
đà di vào cung, phu nhân trông thấy sinh tâm cung kính, bỗng
đứng bật dậy, Vì được trang điểm bằng vàng bạc ngọc
báu nặng và trơn nên y phục tuột xuống đất, khiến phu
nhân hổ thẹn đứng trân người ra. Các thị nữ bèn lây
thân đứng che phu nhân. Ưu đà di thấy thế liền bỏ đi ra,
về lại tinh xá nói với các Tỉ kheo: "Này các trưởng lão,
lâu nay Vua Ba Tư Nặc che giấu bảo vật, hôm nay tôi đã thấy
được". -
Thầy thấy thứ gì vậy? -
Thấy phu nhân Mạt lợi. -
Này trưởng lão, thầy là người xuất gia, nếu đi vào xóm
làng thì phải xem như đi vào nơi hoang vắng, không nên tham
luyến thanh sắc, khi thấy thì phải coi như không thấy, nghe
thì phải coi như không nghe (mới được). -
Tôi đã thấy thực, mà có thể nói là không thấy sao? Các
Tỉ kheo bèn đem nhân duyên ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
dạy: -
Từ nay về sau Ta không cho phép Tỉ kheo vào trong cung vua. Do
các Tỉ kheo không vào trong cung nên các phu nhân khác [390c]
buộc tội phu nhân Mạt lợi: -
Ngươi đã làm cho các Tỉ kheo không vào cung nữa, khiến chúng
ta không được nghe pháp và đảnh lễ chư Tăng. -
Vì sao lại oán tôi? Các vị hãy tự đi cầu xin đại vương
(về việc đó). Các
phu nhân liền đến thưa với vua: "Thưa đại vương, vì cớ
gì mà các Tỉ kheo không vào cung giáo giới nữa?". Khi
Vua Ba Tư Nặc nghe những lời ấy, liền thân hành đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng qua một bên,
rồi bạch với Phật: -
Bạch Thế Tôn, vì sao các Tỉ kheo không vào cung giáo giới
nữa? -
Vì trong đó có những điều tội lỗi, Như Lai đã thấy nên
không cho họ vào nữa. -
Bạch Thế Tôn, trong đó có những tội lỗi gì con có thể
nghe được không? -
Này đại vương, Tỉ kheo không được vào vương cung vì nơi
đó có mười tội lỗi như trong kinh Trung A hàm đã nói. -
Bạch Thế Tôn, vì Phật thấy những tội lỗi nên cấm Tỉ
kheo vào vương cung; khi con chưa phát sinh lòng tin, thì chính
tay phải của con, con còn không tin, huống gì các Tỉ kheo?
Nay Phật đã chế giới thì phải tùy thuận. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
bảo vật của phu nhân vua Sát lợi đã làm lễ quán đỉnh
chưa cất mà Tỉ kheo bước vào khỏi cửa vương cung thì phạm
tội Ba dạ đề." Giải
thích: Vua:
Gồm có các chủng tộc Sát lợi, Bà la môn, Ưu già la vương,
Xả già da vương, Bà na vương v.v... Nếu
vì vua ấy không thuộc dòng dõi Sát lợi (thì Tỉ kheo) vào
vương cung không có tội. Nếu
vì vua ấy thuộc dòng dõi Sát lợi mà không được làm lễ
quán đỉnh, (thì Tỉ kheo) vào (vương cung) không có tội. Nếu
vì vua ấy thuộc dòng dõi Sát lợi đã làm lễ quán đỉnh
mà không có lãnh thổ, thì Tỉ kheo vào vương cung không có
tội. Nếu
vì vua ấy thuộc dòng dõi Sát lợi, đã làm lễ quán đỉnh,
có đất nước thì Tỉ kheo không được vào vương cung. Vào
cung: Vào nội
cung. Phu
nhân của vua chưa cất bảo vật:
phu nhân của vua chưa cởi những châu báu trang sức đem cất.
Trong trường hợp này, nếu Tỉ kheo bước vào khỏi cửa vương
cung, thì phạm tội Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
nhà vua mới làm cung điện, có lòng tin, hoan hỉ, mời Tỉ
kheo như sau: "Thưa tôn giả, xin tôn giả hãy vì tôi mà sử
dụng trước cung điện này", thì Tỉ kheo nên đáp: "Ðức
Thế Tôn chế giới không cho chúng tôi vào vương cung". Nếu
nhà vua nói tiếp: "Tôn giả có cách nào giúp khai thông vấn
đề này không?", thì nên đáp: "Chỉ khi nào phu nhân của vua
cởi châu báu trong người ra, thì tôi mới vào vương cung được".
Và khi phu nhân đã cởi hết châu báu ra rồi, thì Tỉ kheo
được vào. Nhưng khi vào rồi, nếu phu nhân của vua lại tuần
tự mang các bảo vật vào, thì Tỉ kheo không được bỏ ra
đi, mà cứ ngồi yên, khi ấy không có tội. Nếu như trong
khoảng thời gian ấy Tỉ kheo đi ra ngoài đại tiểu tiện,
[391a] thì không được vào trở lại. Nếu vào lại thì phạm
tội Ba dạ đề. Nếu
tại những nơi vua thường du ngoạn ngắm cảnh như ao hồ
rừng núi, có lập ra hành cung, mà phu nhân của vua đã cởi
hết châu báu đeo trong mình, đồng thời nơi đây có bảy
lớp cửa, thì Tỉ kheo vào cửa thứ nhất, thứ nhì, thứ
ba cho đến cửa thứ sáu không có tội. Nhưng nếu bước một
chân vào cửa thứ bảy thì phạm tội Việt tì ni; nếu bước
cả hai chân vào khỏi cửa thứ bảy, thì phạm tội Ba dạ
đề. Nếu vua đã đi du ngoạn, khi phu nhân đã cởi hết bảo
vật trong mình, hành cung trống không, mọi người vào xem,
thì Tỉ kheo vào không có tội. Hoặc giả, vua có lòng tin,
quí mến Tỉ kheo, dùng tay dắt Tỉ kheo vào, thì vào không
có tội. Thế nên nói (như trên). 80.
GIỚI: DÙNG XƯƠNG, SỪNG LÀM ỐNG ÐỰNG KIM. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên; trong thành
này có người thợ làm ngà voi tên là Pháp Dự. Bấy giờ,
có một Tỉ kheo đến nhà ấy, nói: "Này đàn việt, hãy làm
giúp tôi một ống đựng kim". Người thợ này bèn làm cho
thầy một ống đựng kim không lớn, không nhỏ, màu sắc tươi
nhuận, thầy liền cầm về phòng. Các Tỉ kheo trông thấy
thế, liền hỏi: "Trưởng lão, thầy được ống đựng kim
ở đâu mà không lớn, không nhỏ, màu sắc tươi nhuận như
vậy?". Thầy đáp: "Ông thợ làm ngà voi tên là Pháp Dự làm
cho tôi đó". Các Tỉ kheo nghe thế bèn đến đó xin. Người
thợ ngà voi thầm nghĩ: "Các Tỉ kheo đều cần đến ống
đựng kim, hơn nữa chúng Tăng là ruộng phước tốt đẹp,
vậy ta nên mời chúng Tăng đến nhà cúng dường ống đựng
kim". Nghĩ thế, ông bèn đi đến tinh xá Kỳ Hoàn, cúi đầu
đảnh lễ chân chư tăng, bạch rằng: "Con là Pháp Dự, xin
mời chư Tăng đến nhà con cúng dường ống đựng kim". Các
Tỉ kheo nghe vậy, ai nấy đều đến lấy, có người lấy
một cái, có người lấy hai, ba, thậm chí lấy mười cái,
do thế, ngà voi hết sạch. Ðàn việt liền nói: "Ngà đã hết,
giờ chỉ còn xương, vị nào cần thì con sẽ làm". Các Tỉ
kheo đáp: "Chúng tôi đều cần". Nhưng rồi xương cũng hết,
nên người thợ thưa: "Xương cũng hết cả, giờ chỉ còn
sừng, thầy nào cần, con sẽ làm". Các Tỉ kheo đáp: "Chúng
tôi đều cần". Nhưng vì những người đến đòi quá đông,
người thợ không lấy gì để cung cấp nổi. Bấy
giờ, tôn giả Xá Lợi Phất đến giờ khất thực, bèn khoác
y, cầm bát vào thành Xá Vệ khất thực, tuần tự đi đến
nhà ấy. Bà vợ của Pháp Dự vốn có tín tâm, hoan hỉ, hơn
nữa đã từng quen biết Xá Lợi Phất, nên đem thức ăn ra
cúng dường, đồng thời cúi đầu đảnh lễ dưới chân,
rồi đứng ngay trước mặt. Xá Lợi Phất liền hỏi: "Này
chị em, gia cảnh thế nào? Cơ nghiệp có gia tăng không?" -
Trong nhà cũng tàm tạm, nhưng cơ nghiệp không gia tăng. -
Vì sao vậy? -
Thưa tôn giả, ông chồng con mời các Tỉ kheo về nhà cúng
dường ống đựng kim, các Tỉ kheo hoặc lấy một cái, hoặc
lấy hai, ba, thậm chí lấy đến mười cái, nên ngà hết sạch;
rồi lấy xương, xương hết, lại lấy sừng. Nhưng vì có
quá nhiều người đến đòi nên không lấy gì để cung ứng.
Thưa tôn giả, mọi sinh họat trong gia đình con như việc ăn
của con cái, cung cấp sưu thế cho quan trên đều dựa vào
cái nghề này. Vì tôn giả là người mà con rất kính trọng
nên mới dám bộc bạch như vậy. Cũng vì thế mà chồng con
[391b] khi ở nhà thì nói là không ở nhà, đang thức thì bảo
là ngủ v.v... Bấy
giờ, tôn giả Xá Lợi Phất bèn tùy thuận thuyết pháp, làm
cho bà hoan hỷ, rồi trở về tinh xá, đem sự tình ấy bạch
lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi các Tỉ kheo đến. Khi các
thầy đến rồi, Phật liền hỏi lại đày đủ các việc
kể trên: -
Các ông có việc như thế thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, ta không cho phép dùng ngà voi, xương, sừng
làm ống đựng kim. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo dùng răng, xương, sừng làm ống đựng kim, thì phạm
tội Ba dạ đề". Giải
thích: Răng:
Như các loại răng voi, răng cá, răng ma già la, răng heo v.v... Xương:
Như các loại xương voi, xương ngựa, xương bò, xương lạc
đà, xương rồng... Sừng:
Như các loại sừng bò, sừng trâu, sừng tê giác, sừng nai,
sừng dê v.v... Làm:
Hoặc tự mình làm, hoặc sai người khác làm thì phải phá
bỏ rồi sám hối tội Ba dạ đề; nếu không phá bỏ mà sám
hối thì phạm tọâi Việt tì ni. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Khi
đức Thế Tôn chế giới không cho dùng răng, xương, sừng
làm ống đựng kim, thì các Tỉ kheo bèn dùng vàng, bạc, lưu
ly, pha lê, ngọc báu để làm. Vì vậy Phật dạy: "Ta không
cho phép dùng vàng, bạc, châu báu làm ống đựng kim mà nên
dùng đồng, sắt, bạch lạp, chì, thiết, tinh đồng, đồng
trắng, tre, gỗ, lụa Khâm bà la, lông chim, cho đến dùng cái
đai của túi đựng bát để làm". Thế nên nói (như trên). 81.
GIỚI: LÀM CHÂN GIƯỜNG CAO QUÁ CỠ. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
vào các ngày trai trong tháng như ngày mồng tám, mười bốn,
rằm, nhân dân trong thành rời khỏi thành đi đến đảnh lễ
Thế Tôn. Lúc ấy, hoàng tử của Vua Ba Tư Nặc cũng đến
đảnh lễ. Sau đó, ông đi đến chỗ Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà,
cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi bạch rằng: "Tôi muốn
đi tham quan xin chỉ cho tôi xem các chỗ". Các thầy đáp: "Rất
tốt", rồi dẫn hoàng tử lên gác, nói: "Hãy xem những cây
cột, kèo, đòn dông, xà, trính với những nét chạm trổ và
các hình vẽ tinh xảo". Lần lượt đi đến chỗ ở của Nan
Ðà, hoàng tử thấy trên sàn nhà màu xanh đặt một chiếc
giường cao lớn, trên giường trải một cái nệm dày, êm
ái, hai đầu giường để những cái gối. Thấy thế, liền
hỏi: -
Thưa tôn giả, giường nệm này của ai vậy? -
Của tôi đấy. -
Những thứ này quá sang trọng, không thích hợp cho Tỉ kheo. -
Nếu không thích hợp với tôi thì ai nên dùng nó? -
Vua hay hoàng tử sử dụng chúng mới thích hợp. -
Tôi không phải hoàng tử sao? Nếu đức Thế Tôn không xuất
gia thì Ngài xứng đáng làm Chuyển luân thánh vương, thống
trị bốn phương thiên hạ, tất cả các ngươi sẽ là con
dân của chúng ta. [391c] Nhưng Thế Tôn không thích làm như
thế mà xuất gia, thành Phật, làm đấng Pháp vương. Ta là
con của đấng Pháp vương, giả sử trang sức những thứ sang
trọng hơn nữa cũng vẫn thích hợp, huống gì những vật
thô sơ như vậy. Vương
tử nghe rồi, hổ thẹn im lặng. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Nan Ðà,
Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi các thầy tới rồi, Phật liền hỏi
lại sự việc kể trên: -
Các ông có những việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao các ông trang bị giường nệm lộng lẫy để cho người
đời đàm tiếu? Từ nay về sau, ta không cho phép làm giường
quá mức độ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Sau khi Thế Tôn chế giới không cho làm giường cao quá mức
quy định, các Tỉ kheo liền theo quy định cắt bớt chân giường
nhưng lại kê thêm dưới chân. Bấy giờ nhằm các ngày chay
trong tháng như mồng tám, mười bốn, rằm, dân chúng trong
thành ra ngoài thành đi đến đảnh lễ Thế Tôn. Vương tử
của Vua Ba Tư Nặc cũng tới đảnh lễ. Rồi ông đi đến
chỗ Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà, nói: "Xin tôn giả hãy chỉ cho tôi
xem các nơi". Cuối cùng, ông đến phòng Nan Ðà, thấy chân
giường bị cắt, liền hỏi: -
Vì sao mà cắt cái chân giường này? -
Cắt bớt cho đúng theo sự quy định của Thế Tôn. -
Nếu Thế Tôn bảo cắt bớt đầu mà lại kê thêm dưới chân
thì có khác gì nhau? Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền dạy: "Từ nay về sau làm chân giường phải đúng
theo mức quy định, Ta không cho phép kê thêm dưới chân". Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo làm chân giường thì phải làm đúng mức quy định,
nghĩa là chiều cao tám ngón tay, ngoại trừ chỗ tra vào thành
giường; nếu làm quá mức quy định thì phải cắt bỏ bớt,
rồi sám hối tội Ba dạ đề." Giải
thích: Tỉ
kheo: Như trên
đã nói. Loại
giường ngồi, giường nằm:
gồm tất cả có mười bốn loại, như đã nói ở trước.
Nếu làm quá mức qui định thì phạm tội. Làm:
Hoặc tự mình làm, hoặc sai người khác làm. Tu
già đà: Ðức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Tám
ngón tay: Tám
ngón tay của Phật. Quá:
Quá mức quy định. Trừ
chỗ tra vào thành giường:
Từ chỗ lỗ trống trở xuống, (nếu thừa) thì cắt bớt,
rồi sám hối tội Ba dạ đề. Nếu không cắt bớt mà sám
hối, thì phạm tội Việt tì ni. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình làm giường rồi ngồi suốt ngày trên đó thì phạm
một tội Ba dạ đề. Nếu đứng dậy rồi ngồi lại thì
mỗi lần ngồi phạm một tội Ba dạ đề. Nếu
ngồi trên giường người khác thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
kê thêm chân giường cũng phải kê đúng kích thước đã quy
định và vững chắc. Nếu
mình là Tỉ kheo khách đi đến trú xứ nào mà được phân
phối giường theo thứ tự, nhưng giường cao quá mức quy định
thì nên bảo thầy tri sự cho mượn cái cưa. Nếu hỏi mượn
để làm gì, thì đáp: "[392a] Cái giường này cao quá mức
độ, tôi muốn cưa bớt chân cho đúng pháp". Nếu thầy tri
sự nói: "Ðừng cưa bớt, đàn việt thấy sẽ không vui", và
mình cũng không ở đó lâu thì nên đào đất chôn chân giường
xuống cho bằng mức quy định. Nếu mình còn ở lại lâu,
thì nên dùng ống bằng gỗ bọc lại đoạn chân giường bị
chôn dưới đất, đừng để nó bị hư hoại. Nếu
Tỉ kheo vào xóm làng đến nhà đàn việt ngồi, mà ngồi cái
giường cao, thì không được ngồi để thòng đôi chân. Nếu
đó là gia đình quen biết cũ thì nên bảo họ đưa cái ghế
nhỏ để gác chân. Nếu đó không phải là nhà quen biết cũ
thì nên bảo họ đưa viên gạch hay cục gỗ dùng để gác
chân mà ngồi. Nhưng nếu ngồi trên giường cao ở nhà phước
thiện thì không có tội. Thế nên nói (như trên). 82.
GIỚI: DỒN BÔNG LÀM NỆM. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ
nhằm các ngày chay trong tháng như ngày mồng tám, mười bốn,
rằm, dân chúng trong thành đi đến thăm viếng đảnh lễ Thế
Tôn. Vương tử Vua Ba Tư Nặc cũng đến đảnh lễ. Rồi ông
đến chỗ Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà, nói: "Xin trưởng lão hãy
chỉ cho tôi xem các nơi". Các thầy nói: "Tốt lắm", rồi liền
dẫn Vương tử lên trên gác, chỉ nói: "Này Vương tử, hãy
xem những cây cột, kèo, đòn dông, xà nhà, trính với những
nét chạm trổ và các hình vẽ tinh xảo kia kìa"; đoạn, dẫn
về phòng mình. Thấy trên nền phòng màu xanh có đặt một
chiếc giường đẹp, trên giường trải một tấm nệm bông,
hai đầu giường để những cái gối, rồi trải tấm ra trắng
lên trên; thấy thế, Vương tử liền hỏi: -
Ðồ đạc này của ai vậy? -
Của tôi đó. -
Những thứ này quá đẹp đẽ, lộng lẫy, không phù hợp với
tôn giả. -
Nếu không phù hợp với tôi thì ai nên sử dụng chúng? -
Vua, vương tử và đại thần dùng chúng mới thích hợp. -
Tôi không phải Vương tử sao? Nếu Thế Tôn không xuất gia
thì Ngài xứng đáng làm Chuyển luân Thánh vương, làm vua bốn
phương thiên hạ, tất cả bọn ngươi sẽ là con dân của
chúng ta; nhưng Thế Tôn không thích làm vua mà Ngài đã xuất
gia, thành Phật làm đấng Pháp luân vương. Ta là vương tử
của Pháp luân vương, giả sử trang bị hơn thế nữa cũng
vẫn thích hợp, huống gì dùng những vật thô sơ như vậy. Vương
tử nghe xong, hổ thẹn không nói lời nào. Các Tỉ kheo bèn
đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Nan Ðà, Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi họ đến rồi, Phật liền
hỏi đày đủ các việc kể trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Vì sao các ông dùng bông làm nệm khiến cho người đời đàm
tiếu? Từ nay về sau, Ta không cho phép dùng bông làm nệm. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo dùng bông làm nệm, để ngồi hay nằm thì phải moi
bỏ, rồi sám hối tội Ba dạ đề." Giải
thích: Bông:
Gồm các loại như bông a già, bông bà già, [392b] bông Cưu
tra xà, bông giác, bông cỏ, bông ca thi, bông hoa và các loại
khác. Ðó gọi là bông. Phải moi bông trong nệm ra hết rồi
sám hối tội Ba dạ đề. Khi moi bông ra, phải đập giũ làm
cho hết; nếu không hết, thì nhúng nước cho ướt tay, chà
lên làm cho sạch, rồi sám hối tội Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình làm, rồi trọn ngày ngồi trên đó, thì phạm một
tội Ba dạ đề. Nếu đứng dậy rồi ngồi trở lại, thì
mỗi lần ngồi phạm một tội Ba dạ đề. Nếu ngồi trên
bông của người khác, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu nhồi
bông làm gối dùng gối đầu, kê chân thì phạm tội Việt
tì ni. Nhưng vì bệnh mà gối đầu, kê chân, thì không có
tội. Nếu dùng da nhồi bông làm gối thì phạm hai tội Việt
tì ni. Vì cả da và bông. Nếu
Tỉ kheo vào xóm làng, rồi bị gió thổi bông bay dính trên
y, mà túm y lại ngồi, thì phạm tội Việt tì ni; phải giũ
sạch rồi mới ngồi. Nếu
xe chở bông hay có người gánh, mang bông đi rồi bông bị
gió thổi bay dính lên y của Tỉ kheo mà Tỉ kheo túm lại ngồi,
thì phạm tội Việt tì ni; phải giũ hết bông, rồi mới ngồi. Nếu
chỗ đất có phủ bông cỏ thì Tỉ kheo không được ngồi.
Nếu Tỉ kheo đi ngang qua ruộng có bông giác, khiến bông dính
trên y, thì không được ngồi, phải giũ hết rồi mới ngồi.
Nếu trải bông cỏ, bông hoa rồi ngồi lên trên, thì phạm
tội Việt tì ni. Nếu dồn đống bông cỏ, bông hoa rồi ngồi
lên trên cũng phạm tội Việt tì ni. Nếu trồng ruộng bông,
cũng phạm tội Việt tì ni. Nếu vì luật sư, pháp sư mà trải
tòa sư tử, rải hoa, mà hoa dính trên tòa thì không được
ngồi, phải phủi hết hoa, rồi mới ngồi, thì không có tội.
Thế nên nói (như trên). 83.
GIỚI: LÀM TỌA CỤ QUÁ QUY ÐỊNH. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Vì năm
điều lợi ích nên Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cứ năm
hôm đi tuần hành phòng các Tỉ kheo một lần, Ngài thấy giường
nệm ngọa cụ của các Tỉ kheo có những vết nhớp dơ bẩn
bỏ ngổn ngang khắp nơi giống như hoa mạn đà la đang phơi
giữa nắng gắt, Phật liền hỏi các Tỉkheo: -
Giường nệm ngọa cụ của ai mà dơ nhớp bẩn thỉu thế
này? -
Bạch Thế Tôn, đó là ngọa cụ của các Tỉ kheo vì không
dùng vật gì che đậy nên bị dơ nhớp như vậy. -
Từ nay về sau, Ta cho phép làm tọa cụ. Lại
nữa, khi Phật cho phép làm tọa cụ rồi, các Tỉ kheo bèn
may tọa cụ nhiều lớp. Vì năm việc lợi ích nên đức Như
Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cứ năm hôm đi tuần hành phòng
các Tỉ kheo một lần, Ngài thấy những vải vóc, tọa cụ
dơ bẩn bỏ ngổn ngang khắp nơi, giống như hoa mạn đà la
đem phơi ngoài nắng gắt, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi: -
Những tọa cụ của ai để nguyên tua vải mà may, cáu bẩn
dơ dáy thế này? -
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cho phép làm tọa cụ, [392c] Nên các
Tỉ kheo bèn để nguyên tua vải mà may như vậy. -
Vì sao các ông lại để nguyên tua vải mà may tọa cụ? Từ
nay về sau phải làm cho đúng mức, chiều dài hai gang tay tu
già đà, chiều rộng một gang tay rưỡi. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ nhiều Tỉ kheo đang ở tại giảng đường, bàn bạc
như sau: "Này Trưởng lão, Thế Tôn chế tọa cụ lớn nhỏ,
nếu trải chỗ ngồi thì hai đầu gối không có, nếu đắp
trên hai đầu gối, thì chỗ ngồi lại không có". Các Tỉ
kheo bèn đem nhân duyên ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật
liền hỏi các Tỉ kheo: -
Vị Thượng tọa trong chúng Tăng là ai? -
Xá Lợi Phất, bạch Thế Tôn. Phật
liền nói với Xá Lợi Phất: "Nhiều vị phạm hạnh bàn về
việc đó, vì sao ông ngồi im lặng mà nghe? Nay Ta phạt ông
phải đứng phơi nắng". Xá
Lợi Phất nhận sự trừng phạt, đứng phơi nắng ngoài trời.
Các Tỉ kheo liền đến trước Thế Tôn sám hối và bạch
rằng: "Bạch Thế Tôn, tôn giả Xá Lợi Phất thân thể mảnh
mai yếu đuối, xin Thế Tôn tha thứ lỗi lầm cho thầy, chớ
để thầy mất vui". Phật
nói: "Chẳng những ngày nay tâm ông ấy không thể lay chuyển
mà trong thời quá khứ cũng đã từng như vậy, như trong kinh
Xà Bản Sinh đã nói rõ. Con rắn lúc ấy là Xá Lợi Phất,
tâm nó rất kiên cố không hề lay chuyển". Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Vì năm việc lợi ích nên cứ năm hôm đức Như Lai Ứng Cúng
Chánh Biến Tri đi tuần hành qua phòng các Tỉ kheo một lần,
thấy tấm nệm của Tăng ở giữa mới tốt, nhưng hai bên
dơ bẩn, Phật biết mà vẫn hỏi: -
Này Tỉ kheo, ngọa cụ này của ai mà ở giữa thì mới tốt
nhưng hai bên dơ bẩn thế này? -
Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn chế tọa cụ nhỏ che không đủ,
nên chỗ được che thì sạch, còn chỗ không che thì dơ. -
Từ nay về sau, Ta cho phép làm tọa cụ hai lớp, nhưng không
được làm một cách tùy tiện, mà nên dùng loại vải cũ
nhỏ may thành hai lớp. Nếu dùng vải Khâm bà la thì một lớp,
còn vải Kiếp bối thì làm hai lớp. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, tôn giả A Na Luật vắt tọa cụ trên vai, đến
đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Phật biết mà vẫn hỏi: -
Vật gì trên vai ông vậy? Bạch
Thế Tôn, đó là tọa cụ nhỏ. Song cái tọa cụ này nhỏ
quá, xin Thế Tôn cho phép tăng thêm lên. -
[393a]Tăng thêm chừng bao nhiêu là vừa đủ? -
Bạch Thế Tôn, chừng một gang tay. -
Ta cho phép tăng thêm một gang tay. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo làm tọa cụ thì phải làm đúng kích thước chiều
dài hai gang tay Tu già đà, chiều rộng một gang tay rưỡi,
lại tăng thêm (mỗi chiều) một gang tay nữa. Nếu làm quá
mức quy định thì phải cắt bỏ bớt, rồi sám hối tội
Ba dạ đề." Giải
thích: Làm:
Hoặc tự mình làm, hoặc sai người khác làm. Tọa
cụ: Ðức
Thế Tôn cho phép làm với mức độ chiều dài hai gang tay Tu
già đà, chiều rộng một gang tay rưỡi. Chiều
dài: tức
chiều dọc. Chiều
rộng: tức
chiều ngang. Tu
già đà: Ðức
Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Gang
tay: Gang tay
của đức Như Lai dài hai thước bốn tấc (?) Thêm
một gang tay:
Gấp hai, ba lớp (miếng) vải rồi kết nối thêm vào tọa
cụ. Nếu quá mức qui định thì cắt bớt rồi sám hối tội
Ba dạ đề. Nếu không cắt bớt mà sám hối, thì phạm tội
Việt tì ni. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình làm, hoặc sai người khác làm chiều dài đúng cỡ,
chiều rộng quá cỡ, thì khi làm xong phạm tội Ba dạ đề;
khi sử dụng phạm tội Việt tì ni. Nếu
tự mình làm hoặc sai người khác làm chiều rộng đúng cỡ,
chiều dài quá cỡ, hay ở giữa đúng cỡ, ở ngoài rìa quá
cỡ, hay ở ngoài rìa đúng cỡ, ở giữa quá cỡ, thì khi làm
xong phạm tội Ba dạ đề; khi sử dụng phạm tội Việt tì
ni. Khi
gấp lại, xếp lại, rấm nước rồi đem phơi khô mà vẫn
còn dài lớn quá cỡ, thì phạm tội Ba dạ đề; nếu sử
dụng thì phạm tội Việt tì ni. Khi làm phải làm đúng cỡ,
không được làm quá cỡ. Tọa
cụ là loại vật dụng bằng vải vóc dùng để ngồi, nên
không được làm ba y, không được tịnh thí, hay dùng để
lót củi, cỏ hoặc lau chùi, mà chỉ được dùng để trải
ngồi. Nếu
đi đường thì được xếp lại để trên túi y, hay vắt trên
vai rồi mang đi. Thế nên nói (như trên). 84.
GIỚI: MAY Y CHE GHẺ QUÁ KÍCH THƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Vì năm
sự lợi ích nên Thế Tôn cứ năm hôm đi tuần tra phòng ở
của các Tỉ kheo một lần, thấy y bị dính đày máu mủ của
ghẻ lở đang phơi nắng, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi các
Tỉ kheo: -
Y của ai mà dơ bẩn thế này? -
Bạch Thế Tôn, vì các Tỉ kheo bị bệnh ghẻ lở nên y phục
dơ bẩn như thế. -
Từ nay về sau, Ta cho phép các Tỉ kheo được may y che ghẻ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, Thế Tôn cho phép may y che ghẻ, các Tỉ kheo không
cắt các tua ở lề tấm vải mà may nguyên như vậy. Vì năm
sự lợi ích nên cứ năm hôm Thế Tôn đi tuần tra phòng ở
của các Tỉ kheo một lần; Ngài thấy những chiếc y che ghẻ
được may với những tua vải, dính đày máu mủ đang phơi
ngoài nắng. Tuy biết [393b] nhưng Phật vẫn hỏi các Tỉ kheo. -
Y của ai mà may cả những tua vải, dơ bẩn như thế này? -
Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn cho phép may y che ghẻ, các Tỉ
kheo may nguyên cả những tua vải, nên bị dính máu mủ dơ
như thế đó. -
Vì sao các ông để nguyên cả tua vải may y che ghẻ? Từ nay
về sau may y che ghẻ phải đúng với kích thước. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo may y che ghẻ thì phải may đúng theo kích thước, chiều
dài bốn gang tay Tu già đà, chiều rộng hai gang tay rưỡi.
Nếu may quá kích thước thì phải cắt bỏ, rồi sám hối
tội Ba dạ đề." Giải
thích: Y
che ghẻ: Thế
Tôn cho phép may với kích thước dài rộng theo gang tay của
Tu già đà, như trên đã nói. Nếu quá kích thước thì cắt
bỏ, rồi sám hối tội Ba dạ đề. Nếu không cắt bỏ mà
sám hối thì phạm tội Việt tì ni. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình may hoặc sai người khác may mà chiều dài đúng kích
thước, chiều rộng quá kích thước, hoặc chiều rộng đúng
kích thước, chiều dài quá kích thước, hoặc ở giữa đúng
kích thước, ngoài lề quá kích thước, hoặc ngoài lề đúng
kích thước, ở giữa quá kích thước, thì khi may xong phạm
tội Ba dạ đề; khi sử dụng phạm tội Việt tì ni. Khi
xếp lại đo, gấp lại đo, thấm nước đo, rồi đem phơi
khô mà còn dài rộng quá cỡ, thì làm xong phạm tội Ba dạ
đề; khi sử dụng phạm tội Việt tì ni. Cho nên cần phải
làm đúng theo kích thước. Loại
y che ghẻ và y tùy thân không được dùng làm ba y, không được
tịnh thí, không được dùng để gói củi, cỏ, hay lau chùi.
Khi muốn vào xóm làng thì mặc y che ghẻ trước mặc y tăng
già lê sau, rồi buộc chặt lại. Khi trở về, thì cởi y tăng
già lê đập giũ, xếp lại, cất vào chỗ cũ, còn y che ghẻ
thì đừng cởi, nếu cởi vảy ghẻ sẽ lột ra chảy máu,
cần ngâm mình dưới nước, nhưng không được ngâm mình ở
chỗ Tăng chúng thường tắm, mà nên ngâm ở chỗ vắng vẻ.
Sau khi y đã thấm nước thì cởi ra giặt cho sạch. Lúc tắm
xong, nên dùng nó lau mình. Cách sử dụng hằng ngày cũng đều
như vậy. Ðến khi ghẻ lành thì được dùng nó làm ba y và
tịnh thí, ngoại trừ việc dùng tiếp tục. Thế nên nói (như
trên). 85.
GIỚI: MAY ÁO TẮM MƯA QUÁ KÍCH THƯỚC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trong ba mươi
việc, nhất là vấn đề liên quan đến Tì xá Khư Lộc mẫu
bố thí y tắm mưa cho các Tỉ kheo trong vòng mười hai do diên. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Sau khi Thế Tôn cho phép may y tắm mưa, các Tỉ kheo không cắt
bỏ các tua vải, cứ để nguyên như thế mà may. Vì năm việc
lợi ích nên cứ năm hôm Thế Tôn đi tuần hành qua phòng các
Tỉ kheo một lần, thấy những tua vải của y tắm mưa bị
dơ bẩn được đem phơi nắng, tuy biết nhưng Phật vẫn hỏi: -
Y phục của ai mà để nguyên cả tua vải may dơ bẩn như thế? -
[393c] Bạch Thế Tôn, sau khi Phật cho phép may y tắm mưa, các
Tỉ kheo để nguyên cả tua vải may nên trông nhơ bẩn như
thế. -
Vì sao các ông lại để nguyên cả tua vải may y tắm mưa?
Từ nay về sau phải may đúng kích thước, chiều dài sáu gang
tay Tu già đà, chiều rộng hai gang tay rưỡi. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo may y tắm mưa phải may đúng kích thước, chiều dài
sáu gang tay Tu già đà, chiều rộng hai gang tay rưỡi. Nếu
quá kích thước thì phải cắt bỏ, rồi sám hối tội Ba dạ
đề". Giải
thích: Y
tắm mưa:
Ðức Thế Tôn quy định kích cỡ, chiều dài sáu gang tay Phật,
chiều rộng hai gang tay rưỡi. Chiều dài, chiều rộng của
gang tay Phật như trên đã nói. Nếu quá kích cỡ thì phải
cắt bỏ rồi sám hối tội Ba dạ đề. Nếu không cắt bỏ
mà sám hối thì phạm tội Việt tì ni. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình may hoặc sai người khác may mà chiều dài đúng kích
thước, chiều rộng quá kích thước, hoặc chiều rộng đúng
kích thước, chiều dài quá kích thước, hoặc ở giữa đúng
kích thước mà ở ngoài biên quá kích thước, hoặc ở ngoài
biên đúng kích thước, ở giữa quá kích thước, thì khi may
xong phạm tội Ba dạ đề; khi sử dụng phạm tội Việt tì
ni. Nếu
tự mình làm hay sai người khác làm như gấp lại, xếp lại,
thấm nước rồi đem phơi khô, mà làm xong còn dài rộng quá
cỡ, thì phạm tội Ba dạ đề; khi sử dụng thì phạm tội
Việt tì ni. Vị
Tỉ kheo nào thành tựu năm đức tính thì Tăng nên mời chia
y tắm mưa. Năm đức tính đó là: 1/ Không thiên vị; 2/ Không
giận dữ; 3/ Không sợ hãi; 4/ Không ngu si; 5/ Biết ai được
chia, ai không được chia. Thầy
yết ma nên tác bạch như sau: "Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ kheo mỗ giáp thành tựu năm
đức tính, nếu thời gian thích hợp đối với tăng, tăng
hãy mời Tỉ kheo mỗ giáp chia y tắm mưa. Ðây là lời tác
bạch. "Xin
đại đức Tăng lắng nghe. Tỉ kheo mỗ giáp thành tựu năm
đức tính, nay Tăng mời Tỉ kheo mỗ giáp chia y tắm mưa. Các
đại đức nào bằng lòng Tỉ kheo mỗ giáp chia y tắm mưa
thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. Tăng đã bằng lòng
mời Tỉ kheo mỗ giáp chia y tắm mưa, nên im lặng. Tôi ghi
nhận việc này là như vậy". Sau
khi làm yết ma xong nên xứơng ở giữa Tăng: "Thưa các đại
đức, các vật được chia ở đây sai khác không đồng nhau,
cỡ chừng bốn ngón, tám ngón tay thì theo lý không được
kể đến". Nếu không xướng như vậy thì phạm tội Việt
tì ni. Từ
ngày mồng một tháng tư trở đi, hễ được y tắm mưa, thì
lần lượt chia từ thượng tọa trở xuống. Khi đã có rồi
thì không được tắm khỏa thân, cũng không được mặc y
tắm mưa thường xuyên mà nên mặc những y cụ khác. Nếu
ở chỗ vắng hoặc chỗ nước sâu thì tắm khỏa thân không
có tội. [394a]
Không được mặc y tắm mưa làm các việc trong chúng Tăng
như dọn quá đường, lau nhà, hốt tro trắng, hốt bùn, lợp
nhà, khai thông rãnh nước, đào giếng, mà nên mặc những
cái y cũ khác làm các việc ấy. Y
tắm mưa này không được dùng làm ba y; không được dùng
tịnh thí; không được dùng vào những việc như đi lấy củi,
cỏ, hay lau chùi; không được mặc vào trong những ao nước,
vũng nước để tắm. Ðược mặc khi có mưa lớn, nhưng mưa
nhỏ thì không được mặc. Nếu cơn mưa lớn bỗng dưng hết,
mà cáu bẩn chưa sạch, thì được mặc vào trong ao, trong vũng
nước để tắm. Nếu
Tỉ kheo bị bệnh thổ tả rồi uống thuốc, hay lể đầu
chảy máu, hoặc lúc thọ trai ở chỗ trống, thì được dùng
y này làm màn để che. Y
tắm mưa này được sử dụng từ nửa tháng tư đến rằm
tháng tám. Khi mãn hạn nên xướng giữa Tăng rằng: "Thưa các
đại đức, hôm nay Tăng xả y tắm mưa". Xướng ba lần như
vậy. Khi đã xả rồi, được dùng làm ba y, hoặc tịnh thí,
hoặc dùng vào các việc khác. Thế nên nói (như trên). 86.
GIỚI: MAY Y QUÁ CỠ Y PHẬT. Khi
Phật an trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy
giờ các Tỉ kheo mặc y để nguyên các tua vải. Các ngoại
đạo cũng mặc y để nguyên các tua vải. Khi ấy Ưu bà tắc
muốn đảnh lễ Tỉ kheo, lại đảnh lễ nhầm ngoại đạo,
đến khi nghe lời chúc nguyện khác lạ, mới biết không phải
là Tỉ kheo, nên thấy mắc cỡ. Trái lại, đệ tử của ngoại
đạo muốn đảnh lễ ngoại đạo, lại đảnh lễ nhầm Tỉ
kheo; hai bên có những nhầm lẫn như vậy. Các Tỉ kheo bèn
đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
"Từ nay về sau, y của Tỉ kheo phải cắt bỏ những cái tua
để tác tịnh và nhuộm để tác tịnh". Các
ngoại đạo vì muốn cho mình khác với Tỉ kheo nên dùng son,
đá đỏ nhuộm y, cầm gậy có ba nấc và chiếc bình nhỏ. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, các Tỉ kheo ở nơi
hoang dã khi được y Câu xá da, muốn mặc, bèn dùng màu để
nhuộm, như ba loại màu dùng để nhuộm y mà ở trên đã nói. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Tì xá ly, Tỉ kheo được y
Khâm bà la cũng như trên đã nói. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, tôn giả Tôn đà la
Nan Ðà vốn là con trai di mẫu của Phật, có ba mươi tướng.
Sau bữa ăn, thầy từ thành Xá Vệ đi ra, có A Nan đi theo sau,
như: trong việc ba màu y ở trên đã nói. Lại
nữa, khi Phật ở tại thành Xá Vệ, lúc ấy, tôn giả A la
quân trà may y của mình theo kích thước y của Phật, rồi
mặc đi vào thành Xá Vệ. Vị Tỉ kheo này thân lùn mà y dài,
nên kéo lê y trên đất mà đi, do vậy, bị người đời đàm
tiếu rằng: "Sa môn Thích tử kéo lê y mà đi". Lại có người
mỉa mai: "Ông không biết sao? Y của Sa môn Cù đàm không phải
do chính cha mẹ mình may, mà là nhặt của người ta vứt, nên
mới như vậy." Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. [394b]
Phật liền bảo gọi A la quân trà đến. Khi thầy đến rồi,
Phật bèn hỏi lại sự việc trên: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, nên tùy theo kích cỡ của thân mình mà may
y. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Khi
Tỉ-kheo may y thì phải căn cứ kích cỡ y của Như Lai để
may, nếu may quá kích cỡ phải cắt bỏ, rồi sám hối tội
Ba dạ đề. Cỡ y của Như Lai chiều dài chín gang tay Tu già
đà, chiều rộng sáu gang tay. Ðó gọi là cỡ y của Như Lai". Giải
thích: (Một
số vấn đề đã giải thích ở trên). Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
tự mình may hay sai người khác may mà dài đúng cỡ, rộng
quá cỡ, thì khi may xong phạm tội Ba dạ đề; khi sử dụng
phạm tội Việt tì ni. Nếu
tự mình may hay sai người khác may mà chiều rộng đúng cỡ,
chiều dài quá cỡ hoặc ở giữa đúng cỡ, ngoài biên quá
cỡ, hoặc ngoài biên đúng cỡ, ở giữa quá cỡ, hoặc gấp
lại, xếp lại, thấm nước rồi đem phơi khô mà còn dài
rộng, thì làm xong phạm tội Ba dạ đề; khi sử dụng phạm
tội Việt tì ni. Khi may nên may giảm kích thước, không được
may quá kích thước, và phải tùy theo kích cỡ của thân mà
may. Y
Tăng già lê có ba loại: Thượng, trung, và hạ. Loại thượng:
dài năm khuỷu tay, rộng ba khuỷu tay. Loại trung: dài năm khuỷu
tay, một tay không duỗi ra; rộng ba khuỷu tay, một tay không
duỗi ra. Loại hạ: dài bốn khuỷu tay rưỡi, rộng ba khuỷu
tay, một tay không duỗi ra. Khi đắp y dùng hai ngón tay căng
ra mà đắp. Y
Uất đa la tăng có ba loại: thượng, trung và hạ. Loại thượng:
dài năm khuỷu tay, rộng ba khuỷu tay. Loại trung: dài năm khuỷu
tay, một tay không duỗi ra; rộng ba khuỷu tay, một tay không
duỗi ra. Loại hạ: dài bốn khuỷu tay rưỡi, rộng ba khuỷu
tay, một tay không duỗi ra. Y
An đa hội cũng có ba loại: thượng, trung, và hạ. Loại thượng:
dài năm khuỷu tay, rộng ba khuỷu tay. Loại trung: dài năm khuỷu
tay, một tay không duỗi ra, rộng ba khuỷu tay, một tay không
duỗi ra. Loại hạ: dài bốn khuỷu tay rưỡi, rộng ba khuỷu
tay, một tay không duỗi ra. Cuối
cùng cho đến loại Phú tam mạn đà la, quần v.v... Thế nên
nói (như trên). LUẬT
MA HA TĂNG KỲ Hết
quyển hai mươi.
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||