| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Đại Tạng Số 1425 LUẬT MA HA TĂNG KỲ Hán dịch: Tam Tạng Phật Đà La người Thiên Trúc, cùng Samôn Pháp Hiển, đời Đông Tấn, Trung Quốc Việt dịch: Thích Phước Sơn - Chứng nghĩa: Thích Đỗng Minh Sài Gòn, Việt Nam, PL 2543 (TL 2000)
NÓI
RÕ PHẦN THỨ CHÍN CỦA 92 PHÁP ÐƠN ÐỀ. 71.
GIỚI: NHẬN CÚNG DƯỜNG QUÁ GIỚI HẠN. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên; bấy giờ
cư sĩ Ma Ha Nam thuộc chủng tộc Lê Xa định cung thỉnh chư
Tăng về cúng dường thuốc. Nhóm sáu Tỉ kheo hay tin Ma Ha Nam
định cung thỉnh chư Tăng về cúng dường thuốc [385c] nên
muốn chọc phá để làm não lọan họ. Thế rồi, sáng sớm,
nhóm sáu Tỉ kheo khoác y, vào xóm làng, đến thẳng gia đình
đó, vái chào họ, rồi hỏi rằng: -
Tôi nghe nhà đàn việt định mời chư Tăng về nhà cúng dường
thuốc, có thật thế chăng? -
Có thật như vậy. Nhưng tôn giả có cần thứ gì không? -
Cần thuốc. -
Thế thì cần loại thuốc gì? -
Cần chừng ấy sữa đông, chừng ấy dầu, chừng ấy mật,
chừng ấy đường phèn, chừng ấy rễ thuốc, lá thuốc, hoa
thuốc, trái thuốc v.v... -
Ngay hôm nay chưa đủ, đợi kiếm đủ con sẽ cúng dường. -
Ông phải chuẩn bị thuốc đầy đủ rồi mới mời chư Tăng
chứ, cúng thuốc cho một Tỉ kheo cũng như cung cấp cho một
con voi lớn. Nay tôi chỉ xin thuốc cho một người mà còn không
đủ huống chi nhiều người. Ông chỉ cầu mong được tiếng
khen, chứ không thật tâm cúng dường. -
Thưa tôn giả, dù cho kho của nhà vua cũng chưa đủ chừng
ấy thuốc huống gì nhà con, khi nào tìm đủ con sẽ đem cúng. -
Cúng dường hay không cúng mặc ý ông. Nói
xong, nhóm sáu Tỉ kheo liền bỏ đi. Người đàn việt sau đó
tìm đủ các món thuốc, liền đến bạch rằng: "Các thứ
thuốc mà trước đây các thầy xin, nay con đã tìm đủ, các
thầy hãy đến lấy". Các Tỉ kheo nghe xong, liền cười, nói
rằng: -
Trước đây tôi chỉ nói chơi thôi chứ thực ra tôi không
cần thuốc. -
Vì sao các thầy lại thử con như vậy? Những vật sở hữu
trong nhà con, đối với Phật và các Tỉ kheo, con không tiếc
thứ gì cả. -
Ông đàn việt nổi giận sao? -
Quả thật là nổi giận. -
Nếu ông tức giận thì tôi xin tạ lỗi. -
Con không nhận sự tạ lỗi, thầy hãy đến Phật mà sám hối. Tỉ
kheo liền đến Phật sám hối. Ðức Phật hỏi: "Vì cớ gì
mà sám hối?". Họ bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ
lên Thế Tôn. Phật
khiển trách: "Này kẻ ngu si, gia đình Ma Ha Nam thuộc chủng
tộc Ly xa, đối với Phật và các Tỉ kheo, họ không hề tiếc
rẻ bất cứ một vật quí báu nào, vì sao lại quấy nhiễu
ông ta? Từ nay về sau, Ta cho phép khi thí chủ mời riêng bốn
tháng thì được nhận, ngoại trừ họ mời lại và mời lâu
dài". Ðoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống
tại thành Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười
lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng
phải nghe lại: --
Nếu thí chủ mời cúng dường riêng bốn tháng thì Tỉ kheo
được nhận, nhưng nếu nhận hơn bốn tháng thì phạm tội
Ba dạ đề. Trừ trường hợp họ mời lại, mời lâu dài,
và mời tùy ý." Giải
thích: Bốn
tháng: Hoặc
bốn tháng mùa Hạ, bốn tháng mùa Ðông hay bốn tháng mùa
Xuân. Mời
riêng: Mời
đích danh cá nhân mình. Hơn:
Hơn bốn tháng. Trừ
trường hợp mời lại:
Ðức Thế Tôn nói không có tội (nếu mình vẫn tiếp tục
nhận cúng dường). Mời
(cúng dường) lâu dài:
(Ðàn việt) mời cúng dường suốt đời. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
đàn việt nói với Tỉ kheo: "Xin tôn giả nhận sự cúng dường
của con trong bốn tháng Hạ", mà Tỉ kheo nhận họ cúng dường
cho đến quá ngày 16 tháng 8, thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu
như họ mời vào mùa Ðông, mùa Xuân thì cũng như vậy. Ðàn
việt mời các Tỉ kheo không [386a] nhất định, hoặc bốn
tháng, một tháng, nửa tháng; nếu thời gian mời đã hết
thì không được thọ nhận tiếp. Nếu
đàn việt nói: "Tôn giả thường ở đây thì con sẽ cúng
dường thực phẩm lâu dài", mà Tỉ kheo rời khỏi nơi đó
một đêm thì không được nhận thức ăn trở lại. Nhưng
nếu đàn việt nói: "Vì sao tôn giả không đến nữa?", thì
phải đáp: "Trước đây ông nói rằng nếu tôi ở thường
xuyên tại đây thì ông cúng dường thực phẩm, nhưng tôi
đã rời khỏi đây một đêm, nên không đến nữa". Khi
ấy, nếu đàn việt nói: "Rời khỏi hay không rời khỏi (không
thành vấn đề), từ nay trở đi xin tôn giả cứ đến", thì
được phép tiếp tục nhận cúng dường, không có tội. Nếu
đàn việt nói: "Xin tôn giả nhận sự cúng dường của con
cho đến khi hết kho thóc này", thì khi nhận xong, Tỉ kheo phải
thường thường hỏi người giữ kho xem kho thóc đã hết chưa.
Nếu họ bảo rằng đã hết, thì không được nhận cúng dường
tiếp nữa. Nhưng nếu đàn việt hỏi: "Vì sao tôn giả không
đến nữa?", thì hãy đáp: "Trước kia tôi chỉ nhận mời
ăn hết kho thóc này, nay kho thóc đã hết, nên tôi không đến
nữa". Bấy
giờ, nếu đàn việt nói: "Tôi không chỉ nói một kho mà còn
có nhiều kho khác, vậy từ nay về sau xin tôn giả cứ đến",
thì tiếp tục nhận cúng dường nữa, không có tội. Nếu
đàn việt mời cúng dường sữa đông, mía thì cũng như vậy. Nếu
đàn việt nói: "Xin tôn giả nhận con mời cúng dường cho
đến hết sữa của con bò cái này, thì sau khi nhận, phải
thỉnh thoảng hỏi xem sữa con bò cái ấy đã hết chưa, nếu
họ bảo đã hết thì không được nhận cúng dường tiếp.
Nếu họ hỏi: "Vì sao tôn giả không đến nữa?", thì hãy
đáp: "Trước đây tôi chỉ nhận mời cúng dường cho đến
hết sữa của con bò cái này. Nay sữa nó đã hết, nên không
đến nữa". Bấy
giờ, nếu đàn việt nói: "Tôi không phải chỉ có một con
bò mà còn những con bò khác nữa, vậy, từ nay trở đi tôn
giả cứ đến", thì tiếp tục nhận cúng dường không có
tội. Nếu
đàn việt nói: "Xin tôn giả nhận sự cúng dường của con
cho tới khi nào chàng rể của con còn ở tại đây", thì Tỉ
kheo nên nhận. Nhưng khi chàng rể ra đi thì không được nhận
cúng dường tiếp. Nếu đàn việt hỏi: "Vì sao tôn giả không
đến nữa?"thì hãy đáp: "Trước kia tôi chỉ nhận sự cúng
dường trong bao lâu chàng rể còn ở tại đây, nay anh ta đã
đi, nên tôi không tới nữa". Bấy
giờ, nếu họ nói: "Xin thầy nhận sự cúng dường của con
trở lại", thì khi ấy, nhận tiếp sự cúng dường, không
có tội. Nếu
đàn việt nói: "Xin tôn giả nhận bữa cơm trước giờ ăn
của con", thì không được đòi bữa ăn sau. Nếu họ mời
bữa ăn sau thì không được đòi bữa ăn trước. Nếu họ
mời dùng nước uống phi thời thì không được đòi thuốc
và các thứ khác. Nếu họ xin cúng dường dầu thoa chân thì
không được đòi nước uống phi thời. Nếu họ xin cúng dường
thuốc thì nên đòi thuốc. Nếu
họ nói: "Con xin cúng dường y phục, ẩm thực, ngọa cụ,
thuốc men suốt đời cho tôn giả", thì bấy giờ được tùy
ý đòi những thứ ấy, không có tội. Thế nên nói (như trên). 72.
GIỚI: CHỐNG CỰ LẠI SỰ KHUYÊN HỌC. Khi
Phật an trú tại nước Câu Diệm Di, nói rộng như trên, bấy
giờ, các Tỉ kheo nói với Xiển Ðà: -
Trưởng lão phải học, đừng phạm năm thiên tội. -
Nay tôi không nghe lời các ông. Nếu tôi thấy những Trưởng
lão nào các căn tịch tịnh, nghe nhiều, giữ giới, hiểu sâu
sắc, thì tôi sẽ chất vấn họ; nếu họ có chỉ bảo điều
gì thì tôi sẽ chấp hành. Các
Tỉ kheo bèn đem [386b] sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn.
Phật liền bảo gọi Tỉ kheo Xiển Ðà đến. Khi thầy đến
rồi, Phật liền hỏi các việc trên: -
Ông có nói như thế thật không? -
Bạch Thế Tôn, có thật như vậy. -
Ðó là việc xấu. Ông không từng nghe ta dùng vô số phương
tiện khen ngợi đức tùy thuận, chê trách sự trái nghịch
hay sao? Vì sao ông lại bướng bỉnh tự thị? Ðó là điều
phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy, không thể dùng việc
đó để nuôi lớn thiện pháp được. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại nước
Câu diệm di phải tập họp lại tất cả, vì mười điều
lợi ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng
phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo nào được các Tỉ kheo khuyên bảo phải học, đừng
phạm năm thiên tội mà đáp rằng: "Nay tôi không nghe lời
các ông. Nếu thấy có những trưởng lão nào các căn tịch
tịnh, nghe nhiều, giữ giới, hiểu biết sâu sắc, thì tôi
sẽ hỏi họ, nếu họ có chỉ bảo điều gì thì tôi sẽ
chấp hành", thì phạm tội Ba dạ đề. Vì Tỉ kheo muốn được
lợi ích trong chánh pháp thì phải học và phải hỏi han các
Tỉ kheo khác". Giải
thích: Năm
thiên tội: 1/
Tội Ba la di; 2/ Tăng già bà thi sa; 3/ Ba dạ đề; 4/ Ba la đề
đề xá ni; 5/ Việt tì ni. Ðừng
phạm: Khuyên
bảo học mười hai việc sau đây: 1/ Bài tựa của giới kinh;
2/ Bốn Ba la di; 3/ Mười ba Tăng già bà thi sa; 4/ Hai pháp Bất
định; 5/ Ba mươi Ni tát kỳ ba dạ đề; 6/ Chín mươi hai Ba
dạ đề; 7/ Bốn Ba la đề đề xá ni; 8/ Chúng học pháp; 9/
Bảy pháp Diệt tránh; 10/ Pháp tùy thuận; (ở đây chỉ kể
có mười thứ) phải học chớ có phạm. Nếu khi được người
khác khuyên như thế mà đáp rằng: "Tôi không nghe lời ông.
Nếu tôi thấy có trưởng lão nào các căn tịch tịnh, nghe
nhiều, giữ giới, hiểu biết sâu sắc, thì tôi sẽ hỏi han,
nếu vị ấy có chỉ bảo điều gì thì tôi sẽ chấp hành",
thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu
khi có người khác khuyên: "Trưởng lão, trong năm thiên tội
Ba la di, tăng già bà thi sa, Ba dạ đề, Ba la đề đề xá ni,
Việt tì ni, Trưởng lão phải học, chớ có phạm", mà đáp:
"Tôi không nghe lời ông. Nếu tôi thấy có trưởng lão nào
các căn tịch tịnh, nghe nhiều, giữ giới, hiểu biết sâu
rộng thì tôi sẽ hỏi han vị ấy, và khi vị ấy có chỉ
bảo điều gì thì tôi sẽ tuân hành", thì phạm tội Ba dạ
đề. Hoặc
khi có người khuyên nên học bốn chúng (thiên) tội, ba chúng
tội, hai chúng tội, một chúng tội, bốn Ba la di, chớ có
phạm, mà đáp: "Tôi không nghe lời ông. Nếu tôi thấy có
trưởng lão nào các căn tịch tịnh, nghe nhiều, giữ giới,
hiểu biết sâu rộng, thì tôi sẽ hỏi han vị ấy, và khi
vị ấy có chỉ bảo điều gì thì tôi sẽ chấp hành", thì
phạm tội Ba dạ đề. Nếu
có người khuyên: "Trưởng lão, trong sáu pháp "tác xả"là
yết ma chiết phục, yết ma không nói chuyện, yết ma khu xuất,
[386c] yết ma phát hỉ, yết ma cử tội, yết ma biệt trú,
trưởng lão nên học, chớ có phạm", mà đáp: "Tôi không nghe
lời ông. Nếu tôi thấy có trưởng lão nào các căn tịch
tịnh, nghe nhiều, giữ giới, hiểu biết sâu rộng, thì tôi
sẽ hỏi han vị ấy, và khi vị ấy có chỉ bảo điều gì
thì tôi sẽ tuân hành", thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu
có người khuyên: "Trưởng lão, trong sáu pháp tác xả yết
ma, Tăng đã làm pháp yết ma Chiết phục (đối với trưởng
lão), vậy trưởng lão nên tỏ ra phục tùng, mềm mỏng, bỏ
tính bướng bỉnh (cho đến pháp yết ma biệt trú cũng như
vậy), trưởng lão phải học, chớ có phạm", mà đáp: "Tôi
không nghe lời ông. Nếu tôi thấy có trưởng lão nào các
căn tịch tịnh, nghe nhiều, giữ giới, hiểu biết sâu rộng
thì tôi sẽ hỏi vị ấy, và khi vị ấy có chỉ bảo điều
gì thì tôi sẽ tuân hành", thì phạm Ba dạ đề. Nếu
có người khuyên: "Trưởng lão, phải học, hiền thiện, giữ
giới, đọc tụng kinh pháp thì sẽ được đạo quả Tu đà
hoàn, tư đà hàm, A na hàm, A la hán", thì không được đáp
theo lối thông thường rằng: "Tôi sẽ học", mà nên đáp:
"Tôi vì lẽ đó nên mới xuất gia". Thế nên nói (như trên). 73.
GIỚI: UỐNG CÁC THỨ RƯỢU. Khi
Phật an trú tại nước Câu Diệm Di, nói rộng như trên. Bấy
giờ, tại Câu Diệm Di có con rồng dữ tên Am Bà La có thể
làm cho trời hạn không mưa, khiến lúa thóc thất thu, nhân
dân đói khổ, chịu đủ thứ tai ương. Lúc ấy, tôn giả
Thiện Lai bèn đến đó hàng phục con rồng dữ, như trong Kinh
Thiện Lai Tỉ kheo đã nói rõ. Khi đã hàng phục được con
rồng dữ thì đất nước trở lại phong thịnh, nhân dân cảm
ân đức của thầy nên muốn báo đáp. Bấy giờ, có năm trăm
nhà hào phú vì Tỉ kheo Thiện Lai mà thiết lập chỗ cúng
dường thường xuyên, treo cờ xí, đặt giường ghế, mời
chư Tăng cúng dường, và mời riêng Tỉ kheo Thiện Lai về
nhà cúng dường các thứ mỹ thực. Lúc ấy có một nhà sau
khi cúng dường thức ăn bèn đem rượu có màu sắc như nước
lã ra cúng dường Thiện Lai. Nhân khát nước nên thầy uống
thứ rượu đó, rồi trở về tịnh xá. Bấy giờ, nhằm ngày
đại hội, Thế Tôn đang thuyết pháp, thì Thiện Lai bị hơi
men chếch choáng, hôn mê, nằm dang chân sóng xoải trên đất,
trước mặt Thế Tôn. Phật biết nhưng vẫn hỏi các Tỉ kheo: -
Tỉ kheo nào mà nằm dang chân trước mặt Như Lai như thế? -
Bạch Thế Tôn, vì Tỉ kheo Thiện Lai uống quá nhiều rượu
nên bị say nằm như thế đó. -
Tỉ kheo Thiện Lai này trước đây có bao giờ ngủ ban ngày
không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Tỉ kheo Thiện Lai khi chưa say rượu có bao giờ nằm xoải
chân trước mặt Phật không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Khi uống nhiều rượu mà muốn đừng say có được không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Giả sử Tỉ kheo Thiện Lai không uống rượu thì khi nghe pháp
vi diệu, bất tử [387a] có muốn bị mất lợi ích, không chịu
nghe pháp không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Tỉ kheo Thiện Lai này vốn từng hàng phục rồng dữ, nay có
thể hàng phục nổi con ểnh ương không? -
Thưa không thể hàng phục, bạch Thế Tôn. -
Giá mà rồng Am bà la nghe được chuyện này ắt sẽ không
vui. Từ nay về sau Ta không cho phép Tỉ kheo uống rượu. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ tôn giả Na Di Sí uống rượu đường phèn quá nhiều
rồi trở về tịnh xá, thì gặp lúc đại hội, Thế Tôn đang
thuyết pháp, nhưng vì bị hơi men chếch choáng nên Na Di Sí
hôn mê bất tỉnh, nằm dang chân sóng xoải trước Thế Tôn.
Phật biết mà vẫn hỏi các Tỉ kheo: -
Tỉ kheo nào mà nằm xoải chân trước Như Lai như vậy? -
Bạch Thế Tôn, đó là Tỉ kheo Na Di Sí, vì uống quá nhiều
rượu đường phèn nên nằm say khước như thế đó. -
Tỉ kheo Na Di Sí trước đây có bao giờ nằm ngủ ban ngày
không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Tỉ kheo Na Di Sí trước khi say rượu có từng nằm xoải chân
trước Phật không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Nếu uống nhiều rượu mà muốn cho không say có được không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Nếu Tỉ kheo Na Di Sí không uống rượu thì khi nghe thuyết
pháp vi diệu, bất tử, có thể để mất cơ hội lợi ích
mà không chịu nghe pháp không? -
Thưa không, bạch Thế Tôn. -
Từ nay về sau, Ta không cho phép các Tỉ kheo uống rượu đường
phèn. Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà
chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --
"Nếu Tỉ kheo uống
rượu đường phèn thì phạm tội Ba dạ đề." Giải
thích: Rượu:
Gồm có mười loại, là: Hòa, điềm, thành, động, tạc, tí,
hoàng, tiết, điến, thanh. 1.
Hòa: Dùng
cơm tấm, bún nát trộn với nước rồi đựng vào trong thạp,
thì dù một giọt nhỏ như đầu ngọn cỏ hay đầu sợi tóc
cũng không được thấm vào miệng, huống gì dùng ly để uống.
Nếu uống thì phạm tội Ba dạ đề. Ðó gọi là hòa. 2.
Ðiềm: Gây
rượu vừa biến thành vị ngọt rồi uống thì phạm tội
Ba dạ đề. Ðó gọi là điềm. 3.
Thành: Khi
chất rượu đã thành khí vị mà uống, thì phạm tội Ba dạ
đề. Ðó gọi là thành. 4.
Ðộng: Khi
hơi nồng của rượu đã biến hoại mà uống thì phạm tội
Ba dạ đề. Ðó gọi là động. 5.
Tạc: Vị
rượu đã biến hoại trở thành chua mà đem uống thì phạm
tội Ba dạ đề. Ðó gọi là tạc. 6.
Tí: Ðem tấm
lụa trắng giặt sạch rồi ngâm vào trong rượu, thỉnh thoảng
lấy ra phơi nắng, rồi ngâm trở lại, dành khi đi đến những
nơi hoang dã, đem vắt lấy nước mà uống, thì phạm tội
Ba dạ đề. Ðó gọi là tí. 7.
Hoàng: Rượu
thành màu vàng trong chưa biến thành xanh, đem uống thì phạm
tội Ba dạ đề. Ðó gọi là hoàng. 8.
Tiết: Bã
rượu. (trong nguyên bản không giải thích). 9.
Ðiến: Cặn
đục [387b] dưới đáy thùng rượu, nếu uống thì phạm tội
Ba dạ đề. Ðó gọi là Ðiến. 10.
Thanh: Rượu
ở trên mặt thùng có màu trong xanh như dầu, thì dù một giọt
nhỏ như đầu ngọn cỏ hay đầu sợi tóc cũng không được
thấm vào miệng, huống gì dùng ly để uống. Nếu uống thì
phạm tội Ba dạ đề. Ðó gọi là thanh. Rượu
đường phèn:
Gồm có mười loại, là: Hòa, điềm, thành, động, tạc, tí,
hoàng, tiết, điến, thanh. Hòa:
Ðường phèn trộn với nước của mầm cây rồi đem ngâm
trong thùng thì dù chỉ một giọt nhỏ như đầu cộng cỏ
hay đầu sợi tóc cũng không được thấm vào miệng, huống
gì dùng ly để uống. Nếu uống thì phạm Ba dạ đề. Còn
chín loại sau như trên đã nói. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. *
Ngoài ra còn có các loại: Miến mạch nhân sâm, mễ phạn sâm,
mạch phạn sâm, mộc mạch sâm, xiểu sâm. 1.
Miến mạch nhân sâm:
Bột lúa mạch trộn với nước mầm cây đem ngâm vào trong
thùng, loại này dù một giọt nhỏ như cộng cỏ hay đầu
sợi tóc cũng không được thấm vào miệng, huống gì dùng
ly để uống. Nếu uống thì phạm tội Ba dạ đề. 2.
Mễ phạn sâm:
Gạo trộn với nước mầm cây đem ngâm vào trong thùng, nếu
uống loại này thì phạm tội Ba dạ đề. 3.
Mạch phạn sâm:
Dùng gai lúa mạch trộn với nước mầm cây ngâm vào trong
hũ mà uống, thì phạm tội Ba dạ đề. 4.
Mộc mạch sâm:
Dùng cây lúa mạch trộn với nước mầm cây đem ngâm vào
trong hũ rồi uống thì phạm tội Ba dạ đề. 5.
Xiểu sâm:
Gạo lúa mạch đem rang rồi ngâm vào trong hũ cho lên men, thì
dù một giọt nhỏ như đầu ngọn cỏ hay đầu sợi tóc cũng
không được thấm vào miệng, huống gì dùng ly để uống.
Nếu uống thì phạm tội Ba dạ đề. Sau
bữa ăn, uống nước Xiểu sâm thì không có tội. Nếu ăn
men rượu thì phạm tội Việt tì ni. Nếu dùng men rượu trộn
với cơm mà ăn thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu ăn đường
phèn rồi uống nước thì không có tội. Nếu ăn bã rượu
thì phạm tội Việt tì ni. Nếu hợp ba loại (trên) mà uống
thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu uống rượu ngũ cốc, rượu
đường phèn thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu uống rượu nho
thì phạm tội Việt tì ni. Nếu uống nước tu lâu, nan đề
hay ăn xác của nó đều phạm tội Việt tì ni. Nếu ăn quả
Khư la, Ca tỉ đa, tỉ la bà, Câu đà la thì phạm tội Việt
tì ni, vì chúng làm cho người ăn bị say. Trừ
mười bốn loại nước trái cây ép như nước ép trái am bà
la cho đến nước ép trái da bà, được phép lọc cho trong
rồi uống. Nhưng nếu chúng biến thành màu rượu, vị rượu,
mùi rượu thì tất cả đều không được phép uống. Vì uống
nước trái cây lên men làm cho người uống bị say, do đó
không được phép uống. Ngoại trừ uống rượu mía đắng,
rượu nho đắng và nước ép trái cây. Thế nên nói (như trên). 74.
GIỚI: KHINH THƯỜNG NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại nước Câu Diệm Di, nói rộng như trên. Bấy
giờ Tăng đang hòa hợp định làm yết ma, thì Xiển Ðà không
đến. Tăng bèn sai sứ giả tới gọi Tỉ kheo Xiển Ðà rằng
Tăng đang hòa hợp định làm yết ma, trưởng lão hãy đến,
nhưng Xiển Ðà không chịu đến. Các
Tỉ kheo liền bàn nhau: "Xiển Ðà rất ương bướng, nếu gọi
đến chắc là ông không đến, trái lại, nếu bảo đừng
đến có khi ông lại đến", bàn xong, bèn sai sứ giả đến
bảo: "Trưởng lão đừng đến". Thế
là Xiển Ðà nói: "Thôi, Thôi đi, [387c] tất cả các thầy
đều đến bảo tôi đừng đến". Nói
xong, Xiển Ðà liền đến, vào giữa chúng Tăng. Các Tỉ kheo
bảo Xiển Ðà ngồi, nhưng thầy không ngồi. Các Tỉ kheo lại
nói: -
Trưởng lão đừng ngồi. Xiển
Ðà liền nói: "Các thầy đều ngồi cả vì sao bảo tôi đừng
ngồi", bèn ngồi xuống. Các
Tỉ kheo lại nói: "Trưởng lão, thầy nên bàn về vấn đề
này". -
Tôi không nói. -
Trưởng lão đừng nói. -
Các thầy đều nói, tại sao bảo tôi đừng nói? Rồi
thầy nói mãi không ngừng làm trở ngại những người khác.
Các Tỉ kheo lại bảo: "Trưởng lão nên đi ra ngoài một lát";
nhưng thầy không chịu đi. Các
Tỉ kheo lại nói: "Trưởng lão chớ có đi", thì thầy bèn
bỏ đi. Do thế, Tăng không hòa hợp, ai nấy đều đứng dậy
bỏ đi, khiến Tăng không làm yết ma được. Các Tỉ kheo bèn
đem sự việc ấy đến bạch với Thế Tôn. Phật liền bảo
gọi Tỉ kheo Xiển Ðà đến. Khi thầy đến rồi, Phật bèn
hỏi lại các việc trên: -
Ông có những việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác. Này Xiển Ðà, ông không từng nghe Ta dùng
vô lượng nhưng tiện ca ngợi hạnh tùy thuận, ăn nói nhỏ
nhẹ, chê trách tính ương bướng hay sao? Vì sao ông lại tỏ
ra ương bướng tự thị? Ðó là việc phi pháp, phi luật chẳng
phải điều ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn
thiện pháp được. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại Câu diệm
di phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo khinh thường người khác thì phạm tội Ba dạ đề". Giải
thích: Khinh
thường người khác:
Gồm có tám trường hợp: bảo đến mà không đến; bảo đừng
đến lại đến; bảo ngồi mà không ngồi; bảo đừng ngồi
lại ngồi; bảo nói mà không nói; bảo đừng nói lại nói;
bảo đi mà không đi; bảo đừng đi lại đi, thì phạm tội
Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Nếu
Tỉ kheo Tăng tập họp định làm các pháp yết ma như yết
ma Chiết phục, không nói, tẫn xuất, phát hỉ, cử tội, biệt
trú, thì tất cả đều phải đến. Nếu coi thường người
khác không thèm đến thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu
Tỉ kheo đang vá y, xông bát, hoặc vì lý do đau ốm không đến
được, nên gởi dục, thì không có tội. Nếu
bảo đừng đến, mà coi thường cứ đến, thì phạm tội
Ba dạ đề. Nhưng nếu trong tăng có việc, cần gặp, xin Tăng,
Tăng cho phép, thì đến không có tội. Nếu
có người bảo: "Trưởng lão hãy ngồi", nhưng khinh thường
không ngồi, thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu chỗ ngồi
có máu mủ, xin Tăng cho phép, rồi không ngồi, thì không có
tội. Nếu
có người bảo: "Trưởng lão chớ ngồi", mà khinh thường
người ấy, cứ ngồi, thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu
vì già yếu bệnh hoạn, đứng lâu mỏi mệt, xin phép Tăng,
Tăng cho phép, rồi ngồi, thì không có tội. Nếu
có người bảo: "Trưởng lão hãy nói", mà khinh thường người
ấy không nói, thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu vì tài
hèn, lời nói vụng về, khiến người ta không kính phục,
giả sử có nói thì pháp yết ma cũng không thành tựu, Tăng
cũng không hòa hợp, bèn xin Tăng, Tăng cho phép, rồi không
nói, thì không có tội. Nếu
có người bảo đừng nói, mà khinh thường người ấy, cứ
nói, [388a] thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu suy nghĩ: "Giả
sử ta không nói thì việc yết ma không thành, Tăng không hòa
hợp, việc này ta phải nói", rồi xin Tăng, Tăng cho phép nói,
thì không có tội. Nếu
có người bảo đi mà khinh thường người ấy, không đi, thì
phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu suy nghĩ: "Nếu ta ra đi thì
việc yết ma ở đây không thành, sự việc không giải quyết
được", bèn xin tăng, được tăng cho phép, rồi không đi,
thì không có tội. Nếu
có người bảo đừng đi mà khinh thường người ấy nên cứ
đi, thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu suy nghĩ: "Nếu ta
không đi thì yết ma không thành, sự việc không giải quyết
được", bèn xin phép Tăng, được Tăng cho phép, rồi ra đi
thì không có tội. Nếu
Tăng bảo đến mà không đến, bảo đừng đến lại đến,
bảo ngồi mà không ngồi, bảo đừng ngồi lại ngồi, bảo
nói mà không nói, bảo đừng nói lại cứ nói, bảo đi mà
không đi, bảo đừng đi lại cứ đi, thì mỗi sự vi phạm,
phạm một tội Ba dạ đề. Nếu
trong nhóm nhiều người hoặc trong phạm vi thầy trò, bảo
đến mà không đến, cho đến bảo đi mà không đi, thì mỗi
sự vi phạm, phạm một tội Việt tì ni. Nếu
Hòa thượng, thầy giáo thọ bảo đến mà không đến, cho
đến bảo đi mà không đi, thì cứ mỗi sự vi phạm, phạm
một tội Việt tì ni. Thế nên nói (như trên). 75.
GIỚI: NGHE LÉN SỰ TRANH CÃI. Khi Phật
an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên; bấy giờ, các
Tỉ kheo xung đột nhau, cùng sống chung một chỗ mà bất hòa.
Lúc ấy, nhóm sáu Tỉ kheo đứng ở chỗ khuất lén nghe những
người này nói, rồi đem nói với những người kia, nghe những
người kia nói rồi đem nói với những người này, khiến
cho hai bên xích mích nhau, nên cùng sống chung một trú xứ
mà bất hòa. Họ cãi nhau nào là đúng pháp, phi pháp, đúng
luật, phi luật, cho đến việc ấy nên làm yết ma, việc ấy
không nên làm yết ma. Các Tỉ kheo liền đem sự việc ấy
đến bạch lên Thế Tôn. Phật bèn bảo gọi nhóm sáu Tỉ
kheo đến. Khi họ đến rồi, Phật liền hỏi về sự việc
trên: -
Các ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác, phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không
thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
khi các Tỉ kheo tranh tụng nhau mà một Tỉ kheo đứng im lặng
lắng nghe, với suy nghĩ: "Họ có nói điều gì thì ta phải
ghi nhớ"(chỉ vì mục đích đó chứ không có gì khác), thì
phạm tội Ba dạ đề". Giải
thích: Tranh
tụng: Như
nói: Việc đó đúng pháp, phi pháp, đúng luật, phi luật, cho
đến việc đó nên làm yết ma, việc đó không nên làm yết
ma. Ðứng
nghe: Hoặc
đứng cách bức tường, cách hàng rào, đứng ngoài cửa, cách
bức màn, cách tảng đá, cách đám cỏ v.v... lắng nghe với
suy nghĩ: "Họ có nói điều gì thì ta phải ghi nhớ"(chỉ vì
mục đích mách lẻo chứ không có gì khác), thì phạm tội
Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. [388b]
Khi hai Tỉ kheo đang nói chuyện riêng ở trong phòng mà một
Tỉ kheo khác muốn đi vào thì phải khảy ngón tay, dậm chân
có tiếng động, nếu người trong phòng bỗng dưng im lặng,
thì nên trở lui. Nếu người trong phòng vẫn nói không ngừng
thì đi vào không có tội. Khi
một Tỉ kheo đang ngồi trong phòng mà có hai Tỉ kheo vừa nói
chuyện riêng vừa từ ngoài đi vào thì vị Tỉ kheo ngồi trong
phòng không được im lặng mà phải khảy ngón tay, dậm chân
cho có tiếng động. Nếu hai người kia im lặng thì tự mình
phải đi ra khỏi phòng. Nếu
Tỉ kheo đấu tranh với những Tỉ kheo khác gây nên thù hận,
bèn nói rằng: "Người này đã mắng chửi ta, ta phải giết
kẻ ác này, rồi bỏ đi, thì vị Tỉ kheo nghe được điều
này, phải đến nói với người kia: "Trưởng lão nên khéo
léo đề phòng. Tôi nghe có những lời tiếng không hay, hoặc
có những Tỉ kheo khách đến tại giảng đường, phòng sưởi,
phòng ngồi thiền, hoặc thầy quản chúng, thầy tri sự sẽ
đến thăm đó." Khi
khách Tỉ kheo nghe khách Tỉ kheo nói như sau: "Trưởng lão,
chúng ta hãy lấy trộm đồ trong kho nọ, vật trong tháp kia,
thức ăn trong nhà bếp của Tăng, y bát của Tỉ kheo đó",
thì phải im lặng trở về lại giữa chúng Tăng thông báo
cho mọi người biết rằng: "Này các đại đức, đồ trong
kho nọ, vật nơi tháp kia, thức ăn trong nhà bếp đó, y bát
của Tỉ kheo ấy cần phải phòng bị, vì tôi nghe có kẻ muốn
lấy cắp". Nếu
Tỉ kheo có nhiều đệ tử thì buổi tối nên đi thăm dò các
phòng xem họ có sinh họat đúng pháp không. Nếu nghe họ bàn
luận về các câu chuyện như chuyện thế tục, chuyện của
vua chúa, chuyện trộm cướp v.v.., thì không nên vào phòng
ngay lúc ấy quở trách họ mà phải đợi khi họ đến phòng
mình rồi mới dạy bảo như sau: "Các ông vì lòng tin xuất
gia, ăn đồ do thí chủ cúng dường, phải ngồi thiền, tụng
kinh, vì sao lại bàn luận những chuyện thế tục phi pháp
như vậy? Ðó chẳng phải là những việc tùy thuận tốt lành
của người xuất gia". Nếu
nghe họ bàn luận kinh điển, đối đáp nghĩa lý, thì không
nên vào phòng khen ngợi ngay lúc ấy mà phải đợi họ đến
phòng mình rồi mới khen ngợi rằng: "Các ông có thể luận
bàn Kinh điển, giảng giải Phật pháp, như đức Thế Tôn
dạy: Khi Tỉ kheo hội họp thì nên làm hai việc, một là im
lặng như hiền thánh, hai là giảng luận Phật pháp". Khi
các Tỉ kheo đi vào xóm làng vừa đi vừa nói chuyện, thì
vị Tỉ kheo đi sau đến nơi, không được im lặng mà phải
đằng hắng, dậm chân cho có tiếng, nếu những người đi
trước cứ tiếp tục nói, thì mình đi tới không có tội. Khi
vị Tỉ kheo đang đi trước mà có các Tỉ kheo đi sau, vừa
đi vừa nói chuyện đến nơi, thì Tỉ kheo đi trước không
được im lặng, mà phải đằng hắng, dậm chân cho có tiếng
động (để những người đi sau biết). Khi Tỉ kheo đi nhiễu
tháp, hoặc sau bữa ăn đi vào trong rừng ngồi thiền thì cũng
làm như vậy. Thế nên nói (như trên). 76.
GIỚI: LẴNG LẶNG BỎ CUỘC HỌP MÀ ÐI. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
Tỉ kheo Tăng tập họp định làm yết ma cử tội đệ tử
đồng hành và đệ tử y chỉ của Ưu Ba Nan Ðà. [388c] Ưu
Ba Nan Ðà nghe chúng Tăng định làm yết ma cử tội đệ tử
mình, liền đứng dậy bỏ đi. Sau đó, các Tỉ kheo thấy có
chỗ ngồi bỏ trống, liền điểm danh xem ai đến, ai không
đến, thì mới hay chỗ trống đó là của Ưu Ba Nan Ðà. Do
vậy, Tăng sinh bất hòa, ai nấy đều đứng dậy bỏ đi, không
thể làm yết ma. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch
lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu Ba Nan Ðà đến. Khi
thầy đến, Phật liền hỏi vấn đề vừa rồi: -
Ông có việc đó thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. -
Ðó là việc ác. Vì sao trong lúc Tăng định giải quyết sự
việc, ông im lặng đứng dậy bỏ đi mà không thưa với các
Tỉ kheo? Ðó là việc phi pháp, phi luật, trái lời ta dạy,
không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. Ðoạn,
Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành Xá
Vệ phải tâïp họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế
giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại: --"Nếu
Tăng định giải quyết sự việc, mà Tỉ kheo im lặng đứng
dậy bỏ đi, không bạch với các Tỉ kheo, thì phạm tội Ba
dạ đề." Giải
thích: Tăng
định giải quyết sự việc:
Có hai trường hợp: Một là thuyết pháp, tụng luật; hai là
làm yết ma chiết phục, cho đến yết ma biệt trú. Im
lặng đứng dậy bỏ đi:
Ðứng dậy rời khỏi chỗ ngồi, ra đi. Không
bạch: Nếu
bạch không đúng lúc để vào xóm làng thì không được gọi
là bạch. Hoặc bạch để đến tịnh xá của Ni giáo giới,
cũng không được gọi là bạch. Hoặc bạch để rời chỗ
ngồi ăn cũng không được gọi là bạch. Khi
Tăng tập họp thuyết pháp, tụng luật, thì nên bạch rằng:
"Con xin rời giảng đường, ra đi". Tăng đáp: "Ðược". Nếu
Tăng tập họp để làm yết ma chiết phục, cho đến yết
ma biệt trú, thì phải vừa bạch vừa gởi dục với Tỉ kheo.
Nếu ở giữa chúng Tăng, không bạch mà đi, thì phạm tội
Ba dạ đề. Ba
dạ đề:
Như trên đã nói. Khi
Tăng tập họp định làm yết ma chiết phục, cho đến yết
ma biệt trú mà Tỉ kheo muốn ra đi, thì phải bạch và gởi
dục rồi mới đi; nếu không bạch mà chỉ gởi dục thì phạm
tội Ba dạ đề; nếu bạch mà không gởi dục thì phạm tội
Việt tì ni; nếu không bạch, không gởi dục, thì phạm một
tội Ba dạ đề, một tội Việt tì ni; nếu vừa bạch vừa
gởi dục thì không có tội. Nếu chỉ đi đại tiểu tiện
trong chốc lát, rồi trở vào không bỏ dở việc của Tăng,
thì không có tội. Nếu suy nghĩ: "Có thể ta trở lại trễ",
thì nên bạch và gởi dục (rồi mới đi). Nếu
Tăng đang thuyết pháp, tụng luật, thì phải bạch rồi mới
đi. Nếu không bạch mà đi, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
Tỉ kheo đang nghe nhiều Tỉ kheo tụng kinh thì phải bạch rồi
mới đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Việt tì ni.
Nếu người tụng kinh ngừng tụng mà nói sang việc khác, thì
ra đi không có tội. Nếu
Tỉ kheo nghe Tỉ kheo khác đang đọc kinh, thì nên bạch rồi
mới đi. Nếu không bạch mà đi, thì phạm tội Việt tì ni. Nếu
Tỉ kheo nghe Tỉ kheo khác đang tụng kinh thì phải bạch [389a]
rồi mới đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Việt tì
ni. Thế nên nói (như trên). 77.
GIỚI: VÀO LÀNG MÀ KHÔNG BÁO NGƯỜI KHÁC. Khi
Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ,
các Tỉ kheo ở nơi hoang vắng (a luyện nhã) phi thời đi vào
xóm làng, bị người đời chê trách rằng: "Vì sao Sa môn Thích
tử ở nơi hoang vắng mà đi vào xóm làng lúc phi thời, muốn
tìm thứ gì vậy?". Các
Tỉ kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn, Phật
liền bảo gọi Tỉ kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật
bèn hỏi lại sự việc kể trên: -
Ông có làm việc đó thật không? -
Có thật như vậy bạch Thế Tôn. -
Vì sao ông ở nơi hoang vắng mà lại đi vào xóm làng lúc phi
thời, đến nỗi bị người đời chê trách? Từ nay về sau,
Ta không cho phép Tỉ kheo ở nơi hoang vắng đi vào xóm làng
lúc phi thời mà không thưa với Tỉ kheo khác. Lại
nữa, khi Phật an trú tại thành Xá Vệ, nói rộng như trên.
Bấy giờ, có hai Tỉ kheo sống tại nơi hoang vắng. Một Tỉ
kheo đang tô phòng thì bị rắn cắn, liền nói với bạn: "Trưởng
lão, tôi bị rắn cắn". Người
ấy đáp: "Ðợi tôi mặc y Tăng già lê rồi sẽ đi đến gọi
y sĩ Kỳ vực". Nhưng trong lúc thầy lấy y thì người kia bị
tắt tiếng, và khi lấy y xong thầy thưa: "Thưa Trưởng lão,
tôi đi vào xóm làng lúc phi thời đây". Lúc
ấy, vị Tỉ kheo kia không thể đáp được, thầy phải thưa
đến ba lần rằng: "Thưa Trưởng lão, tôi vào xóm làng lúc
phi thời". Thế nhưng, người kia vẫn không nói được. Thầy
bèn suy nghĩ: "Ðức Thế Tôn chế giới không
cho phép Tỉ kheo ở nơi hoang vắng đi vào xóm làng lúc phi
thời mà không thưa với Tỉ kheo khác. Ta đành phải chờ xem
hạnh nghiệp của Thầy ấy như thế nào thôi". Thế là vị
Tỉ kheo kia liền mệnh chung. Các Tỉ kheo bèn đem sự việc
ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi vị Tỉ
kheo ấy đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi rõ sự
tình vừa rồi: -
Ông có xử sự như vậy thật không? -
Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. Phật
liền nói với các Tỉ kheo: "Ông ấy nếu dùng từ tâm gọi
tên bốn đại Long vương thì không đến nỗi phải chết.
Bốn đại Long vương đó là: Trì Quốc Long Vương,Y La Quốc
Long Vương, Thiện tử Long Vương và Hắc Bạch Long vương.
Nên nói rằng: "Ta có lòng từ đối với chúng sanh không có
chân.Ta có lòng từ đối
vớichúng sanh hai chân.
Ta có lòng từ đối với chúng sanh bốn chân. Ta có lòng từ
đối với chúng sanh nhiều chân. Chớ có làm hại những chúng
sanh hai chân của ta. Chớ có làm hại nhữngchúng
sanh bốn chân của Ta. Chớ có làm hại những chúng sanh
nhiều chân của Ta. Chớ có làm hại các chúng sanh của Ta.
Mong được sự vô lậu, dùng thiện tâm của các bậc hiền
thánh mà nhìn nhau, chớ có sinh ra ác ý". Giá như vị Tỉ kheo
kia gọi tên của bốn đại Long vương thì đã không bị chết.
Từ nay về sau, Ta cho phép lúc gấp rút (không cần theo qui
định)". Thế
rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỉ kheo đang sống tại thành
Xá Vệ phải tập họp lại tất cả, [389b] vì mười lợi
ích mà chế giới cho các Tỉ kheo, dù ai nghe rồi cũng phải
nghe lại: --"Nếu
Tỉ kheo sống tại a luyện nhã, đi vào xóm làng lúc phi thời,
không bạch với Tỉ kheo khác - ngoại trừ trường hợp dặc
biệt - thì phạm tội Ba dạ đề." Giải
thích: Sống
tại a luyện nhã:
Tại những nơi cách xa thành ấp xóm làng năm trăm cung, mỗi
cung dài năm khuỷu tay, không có dân chúng cư trú, thì gọi
là a huyện nhã. Phi
thời: Sau
khi ăn xong, dù thời gian còn sớm cũng vẫn là phi thời. Xóm
làng: Thôn
xóm có bờ tường ngăn cách nhau hoặc là ở lẫn lộn (không
cáh biệt nhau). Bạch:
Nếu bạch xin rời nhà ăn, thì không gọi là bạch. Hoặc bạch
xin đến tịnh xá của Ni để giáo giới, thì không gọi là
bạch. Hoặc bạch xin rời khỏi nơi thuyết pháp, thì không
gọi là bạch. Cần phải bạch như sau: "Thưa Trưởng lão,
tôi vào thôn xóm lúc phi thời". Người kia nên đáp: "Vâng". Tỉ
kheo: Chỉ
cho những Tỉ kheo có mặt trong cường giới, chứ không phải
là những đồ chúng đang hiện diện. Ngoại
trừ trường hợp đặc biệt:
Nếu Tỉ kheo bị các chứng bệnh hoặc bị rắn cắn cần
phải đi gọi thầy thuốc, thì Thế Tôn bảo là không có tội
(khi ra đi không bạch). Nếu
hai Tỉ kheo sống tại a luyện nhã, muốn cùng đi, thì phải
bạch lẫn nhau, rồi mới đi. Nếu một người đi trước,
thì người sau khi muốn đi phải bạch với Tỉ kheo khác; nếu
không có Tỉ kheo khác, thì nên thầm nghĩ: "Khi đến giữa
đường, ra khỏi cửa, đến xóm làng, hay tại tinh xá của
Ni, mà gặp Tỉ kheo thì ta sẽ bạch. Bạch xong, ta sẽ vào
xóm làng lúc phi thời." Nếu
Tỉ kheo đang đi trên đường từ xóm làng này sang xóm làng
khác mà thấy ở ven đường có tháp hoặc chỗ thờ chư thiên,
thì phải thuận đường đi thẳng qua: Nếu con đường ở
dưới tháp miếu ấy xoay về bên trái mà mình đi vòng theo
chiều bên phải thì phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu có hỏa
hoạn, ác thú đến hay bị người rượt đuổi, thì đi qua
không có tội. Nếu
Tỉ kheo đi đường xa, gặp trời tối, muốn vào xóm làng
ngủ nghỉ thì không được mang vác túi xách cồng kềnh đi
vào. Nếu bên ngoài làng có nước thì nên dừng nghỉ ở trong
rừng, trước hết sai hai Tỉ kheo tắm rửa sạch sẽ, khoác
y Tăng già lê, buộc lại chặc chẽ, bạch lẫn nhau, rồi khiến
họ vào thôn xóm xin chỗ ngủ tạm. Nếu xin được chỗ ngủ
thì phải xin đàn việt cung cấp những thứ cần thiết, rồi
trở ra khỏi xóm làng, nói với các Tỉ kheo rằng: "Ðã xin
được chỗ ngủ". Bấy
giờ, các Tỉ kheo nên rửa tay chân sạch sẽ, nếu cần uống
thức uống phi thời thì nên uống ngay khi ấy, đừng để
vào xóm làng mới uống mà bị người ta chê trách là Sa môn
ăn đêm. Ðoạn, phân công mang vác các túi xách, mặc y tăng
già lê, buộc lại chặc chẽ, cầm tích trượng, mang giày
dép, bạch hỏi nhau rồi mới vào xóm làng. Khi đã đến chỗ
dừng nghỉ, mà muốn đi ra khỏi xóm làng lấy củi, cỏ, nước,
thì nên theo con đường cũ mà ra, không có tội. Nếu muốn
đi con đường khác thì phải bạch, [389c] nếu không bạch
mà đi, thì phạm tội Ba dạ đề. Nếu muốn đi tìm dầu xoa
chân, nước uống phi thời, đi khuyến hóa thức ăn sáng hôm
sau, thì phải bạch rồi mới đi. Nếu không bạch mà đi thì
phạm tội Ba dạ đề. Nhưng nếu trong xóm làng có tăng già
lam, trên đường có nhà cửa liên tiếp nhau, thì đi (mà không
bạch) không có tội. Nếu đi con đường khác thì phải bạch,
nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba dạ đề. Thế nên
nói: "Chưa
đủ, đi với cướp,
x |
c
|
|||||||||||||||||||||||